1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chứng chỉ quỹ đầu tư

102 546 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo định nghĩa của Luật Công Ty Đầu Tư 1940 của Mỹ thì QĐT là các tổ chức tài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật và quy chế của Liên bang và các tiểu bang Theo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

Khoa Quản lý Kinh doanh

  

BÀI TẬP THỰC HÀNH Tìm hiểu về chứng chỉ quỹ, công ty quản lý quỹ và thị trường chứng chỉ

quỹ đầu tư tại Việt Nam hiện nay

Sinh viên thực hiện: NGUYỄN THỊ VÂN

Giáo viên hướng dẫn: NGUYỄN PHƯƠNG ANH

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

cụ tài chính trên thị trường chứng khoán Người ta thường biết đến các tổ chức nàyvới tên các quỹ đầu tư tập thể.

Nếu thị trường chứng khoán và công ty chứng khoán là các khái niệm tương đốiquen thuộc đối với công chúng đầu tư tại Việt Nam thì quỹ đầu tư chứng khoándường như còn là khái niệm mới mẻ đối với các nhà đầu tư Vì vậy, đề tài nghiêncứu của nhóm em nhằm giúp mọi người hiểu rõ hơn về sự hình thành và sự pháttriển của quỹ đầu tư chứng khoán cũng như hoạt động của quỹ trên thị trườngchứng khoán Việt Nam

Nội dung bài thực hành của nhóm em gồm 3 phần phần chính:

Phần Chương 1: Lý thuyết chung về chứng chỉ quỹ đầu tư, công ty quản lý quỹ, thịtrường chứng chỉ quỹ đầu tư

Phần Chương 2: Phân tích Tình hình hoạt động của thị trường chứng chỉ quỹ đầu tư

ở Việt Nam từ khi thành lập đến nay

Phần Chương 3: Đánh giá và đưa rabiện pháp kiến nghị, đề xuất phát triển quỹ đầu

tư Việt Nam

Trang 4

CHƯƠNG 1I - LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHỨNG CHỈ QUỸ ĐẦU TƯ, CÔNG TY QUẢN LÝ QUỸ, THỊ TRƯỜNG CHỨNG CHỈ QUỸ ĐẦU TƯ

1.1 QUỸ ĐẦU TƯ

1.1.1 Khái niệm quỹ đầu tư

Khi bắt đầu tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán , một trongnhững khó khăn lớn nhất mà nhà đầu tư phải vượt qua đó là việc lựa chọnchứng khoán để đầu tư Việc này được sự trợ giúp bởi các nhà môi giới( broker) hoặc kinh doanh chứng khoán(dealer) Tuy nhiên, dù được thông tin

và tư vấn đến đâu đi chăng nữa, nhà đầu tư vẫn được xem như là người quyếtđịnh cuối cùng, và do đó hiệu quả đầu tư của họ xét cho cùng lệ thuộc vào cácđiều kiện và phẩm chất cá nhân Thị trường chứng khaons lại tập hợp rấtnhiều các sản phẩm đa ngành, thế nên cho dù người đầu tư có tập trung vàomột lĩnh vực nào thì cũng không làm sao nắm vững hết các chiều hướngchuyển biến một cách ngọn ngành được Chính vì vậy, nhiều người đầu tư đãlựa chọn cho mình một phương tiện để thực hiện đầu tư tốt nhất vào thị

trường chứng khoán thông qua các quỹ đầu tư.

Theo định nghĩa của Cadogan Financials thì QĐT (hay còn gọi là công

ty ủy thác đầu tư) là một định chế tài chính phi ngân hàng, trung gian giữa

người có vốn (thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn thông tin khác nhau) vàngười cần vốn (sử dụng các khoản tiền đó để đầu tư vào các tài sản khác nhauthông qua công cụ cổ phiếu, trái phiếu và tiền tệ) Tất cả các khoản đầu tư nàyđều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi CTQLQ, ngân hàng giám sát vàcác cơ quan thẩm quyền khác

Theo định nghĩa của Luật Công Ty Đầu Tư 1940 của Mỹ thì QĐT

là các tổ chức tài chính được quản lý chặt chẽ và phải tuân theo các điều luật

và quy chế của Liên bang và các tiểu bang

Theo định nghĩa Luật Chứng Khoán của Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam số 70/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006 thì

QĐT chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của NĐT với mục đích kiếmlợi nhuận từ việc đầu tư vào chứng khoán hoặc các dạng tài sản đầu tư khác,

kể cả bất động s ản, trong đó NĐT không có quyền kiểm soát hàng ngày đốivới việc ra quyết định đầu tư của quỹ Khi tham gia vào quỹ, các NĐT sẽnhận được CCQ là loại chứng khoán do CTQLQ đại diện phát hành, xác nhậnquyền và lợi ích hợp pháp của NĐT đối với tài sản hoặc vốn của quỹ theo tỷ

lệ tương ứng với số đơn vị quỹ của NĐT đó trong vốn điều lệ quỹ

Trang 5

Hay, quỹ đầu tư chứng khoán là mô hình đầu tư mà theo đó nguồnvốn của quỹ được đầu tư chủ yếu vào chứng khoán và các nhà đầu tư ủy tháccho công ty quản lí quỹ quyền điều hành trực tiếp quỹ

Dưới sự điều hành của công ty quản lí quỹ, thông qua quỹ đầu tư, tiền đầu tư của các cá nhân và tổ chức được luân chuyển theo sơ đồ sau

Khi tham gia vào quỹ, các NĐT sẽ nhận được chứng chỉ quỹ (CCQ) là loạichứng khoán do CTQLQ đại diện phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp phápcủa NĐT đối với tài sản hoặc vốn của quỹ theo tỷ lệ tương ứng với số đơn vị quỹcủa NĐT đó trong vốn điều lệ quỹ Xét về tỉ suất đầu tư,tất cả những người đầu tưtrong cùng một quỹ đều đạt được những kết quả như nhau, không phân biệt sốlượng vốn góp của mỗi người nhiều hay ít Kết quả đó là do thành quả hoạt độngđầu tư chung của quỹ quy định Tuy nhiên, người đầu tư không được phép trực tiếpthực hiện các quyền và nghĩa vụ đối với tài sản trong danh mục đầu tư của quỹ

Trang 6

Về bản chất, CCQ cũng giống như cổ phiếu của một công ty: là bằng chứngxác nhận quyền sở hữu, hưởng lợi nhuận trên phần vốn góp và đặc biệt được niêmyết trên TTCK để mua bán giữa các NĐT,Nhằm mục đích huy động vốn,làm tăngvốn chủ sở hữu của công ty Cho nên, CCQ cũng được gọi là một chứng khoàn vốnnhư cổ phiếu

Tuy nhiên, giữa chứng chỉ quỹ và cổ phiếu vẫn mang những nét khác nhaukhông thể giống nhau hoàn toàn được Cụ thể như sau:

Giống nhau

- Xác nhận quyền sở hữu

- Hưởng lợi nhuận trên phần vốn góp

- Được niêm yết trên TTCK để giao dịch

- Không có quyền tham gia biểuquyết quản lí công ty( đều do ctquản lí quỹ quyết định

- Có quyền biểu quyếttham gia quản lí công ty(CPPT)

- Khi mua CCQ, công ty QLQ sẽgiúp NĐT ra quyết định đầu tư

và theo dõi khoản đầu tư

- NĐT sẽ phải dựa vào

sự đánh giá của mình để raquyết định đầu tư và tự theodõi khoản đầu tư

1.1.2 Nguồn gốc hình thành quỹ đầu tư

QĐT có nguồn gốc từ Châu Âu, khởi thủy ở Hà Lan từ giữa thế kỷ 19,đến nửa cuối thế kỷ 19 thì được du nhập sang Anh Mặc dù có nguồn gốc từ Châu

Âu nhưng Mỹ mới là nơi các QĐT phát triển mạnh nhất QĐT đầu tiên chính thứcxuất hiện ở Mỹ vào năm 1924, có tên là Massachusetts Investor Trust, với quy môban đầu là 50.000USD Sau này, quy mô quỹ này đã tăng lên 392.000USD với sựtham gia của trên 200 NĐT

Trong thời kỳ từ 1929 đến 1951, suy thoái kinh tế và những vụ sụp đổ củaTTCK thế giới đã kiềm hãm tốc độ tăng trưởng của ngành quản lý quỹ Tuy nhiên,

Trang 7

sự phục hồi của TTCK trong những năm 1950 đến 1960 đã thúc đẩy sự phát triểnmạnh mẽ của các QĐT Một hiện tượng mang tính tiêu biểu trong giai đoạn này là

sự bùng nổ các QĐT chuyên đầu tư vào cổ phiếu có tốc độ tăng trưởng cũng nhưmức độ rủi ro cao

Từ những năm 1980 trở lại đây, thị trường quản lí quỹ đã liên tục phát triển

và mở rộng, đến nay đãtrở thành một ngành dịch vụ thịnh vượng mũi nhọn, một bộphận cấu thành quan trọng của TTCK Quá trình phát triển TTCK các nước đã thúcđẩy việc hình thành các QĐT góp phần gia tăng việc luân chuyển vốn vào các thịtrường này

1.1.3 Đặc điểm quỹ đầu tư chứng khoán

Qũy đầu tư chứng khoán có 3 đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, quỹ đầu tư chứng khoán luôn dành đa số vốn đầu tư của Quỹ để đầu tư vào chứng khoán, quỹ vừa là một tổ chức phát hành chứng khoán lại vừa là một tổ chức kinh doanh chứng khoán Đặc điểm này phân biệt quỹ đầu tư chứng

khoán với các loại quỹ đầu tư khác Qua việc phát hành cổ phiếu hay chứng chỉ quỹđầu tư, quỹ thu được một khối lượng tiền khá lớn, sau đó chúng sẽ được quỹ sử

dụng đầu tư vào các loại chứng khoán Lợi nhuận thu được từ việc đầu tư sẽ được

phân chia cho các nhà đầu tư mua cổ phần của quỹ Nói chung, quỹ chủ yếu thu lợi

từ hoạt động đầu tư chứ không nhằm thu lãi hàng tháng do Quỹ có thể xây dựng danh mục đầu tư đa dạng và hợp lý theo quyết định của các nhà đầu tư nhằm tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro Trước đây, Nghị định 144/2003/NĐ-CP quy định quỹ đầu tư chứng khoán phải dành tối thiểu 60% giá trị tài sản của quỹ vào lĩnh vực chứng khoán Ngoài việc chủ yếu đầu tư vào chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán cũng có thể tiến hành đầu tư vào những lĩnh vực khác như góp vốn, kinh doanh bất động sản v.v

Thứ hai, quỹ đầu tư chứng khoán được quản lý và đầu tư một cách chuyên nghiệp bởi công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và ngân hàng giám sát Nói

một cách khác, các nhà đầu tư đã uỷ thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư chứngkhoán việc quản lý quỹ và tiến hành hoạt động đầu tư chứng khoán từ số vốn củaquỹ Công ty quản lý quỹ có thể cử ra một cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện việcquản lý quỹ gọi là nhà quản trị quỹ Nhà quản trị được chọn thường phải là người

có thành tích và được sự ủng hộ của đa số nhà đầu tư Để đảm bảo công ty quản lýquỹ đầu tư chứng khoán tiến hành hoạt động đúng như mong muốn của các nhà đầu

tư, quỹ đầu tư chứng khoán cần phải có một ngân hàng giám sát Ngân hàng này sẽthay mặt các nhà đầu tư để giám sát cũng như giúp đỡ quỹ đầu tư chứng khoán hoạt

Trang 8

động đúng mục tiêu mà các nhà đầu tư đã đề ra, tránh tình trạng công ty quản lýquỹ tiến hành các hoạt động đi ngược lại lợi ích của nhà đầu tư.

Thứ ba, quỹ đầu tư chứng khoán có tài sản độc lập với tài sản của công ty quản lý quỹ và các quỹ khác do công ty này quản lý bên cạnh đó quỹ đứng ra đầu

tư như một chủ thể duy nhất Đặc điểm này đảm bảo việc đầu tư của quỹ đầu tư

chứng khoán tuân thủ đúng mục đích đầu tư, không bị chi phối bởi lợi ích khác củacông ty quản lý quỹ Sự tách bạch về tài sản giữa công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tưchứng khoán nhằm đảm bảo công ty quản lý quỹ hoạt động quản lý vì lợi ích củacác nhà đầu tư vào quỹ chứ không vì mục đích của riêng mình Từ yêu cầu táchbạch về tài sản đã chi phối rất lớn đến nội dung những quy định pháp luật về quyền

và nghĩa vụ của công ty quản lý quỹ

1.1.4 Vai trò của quỹ đầu tư

Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và bền vững, nhất thiết phải cónhiều vốn đầu tư Nhưng làm thế nào để các tổ chức hay cá nhân đang nắm giữnhững nguồn vốn nhàn rỗi và các doanh nghiệp đang có ý tưởng kinh doanh khả thi

có thể gặp và hợp tác với nhau, cùng tìm cơ hội kinh doanh có lợi nhất Các địnhchế tài chính trung gian ra đời chính là đáp ứng nhu cầu cần những chiếc “cầu nối”giữa người có vốn và người cần vốn

Là một trong các định chế trung gian tài chính phi ngân hàng, Quỹ đầu

tư có nhiều điểm nổi bật so với các trung gian tài chính khác với vai trò:

a/ Đối với nền kinh tế thị trường nói chung

Thứ nhất,huy động vốn cho phát triển kinh tế

Như ở trên đã nói, để phát triển bền vững rất cần những nguồn vốn trung vàdài hạn Quỹ đầu tư tạo ra hàng loạt các kênh huy động vốn phù hợp với nhu cầucủa cả người đầu tư lẫn người nhận đầu tư Các nguồn vốn nhàn rỗi riêng lẻ trongcông chúng do vậy sẽ được tập trung lại thành một nguồn vốn khổng lồ, thông quaQuỹ đầu tư sẽ được đầu tư vào các dự án dài hạn, đảm bảo được nguồn vốn pháttriển vững chắc cho cả khu vực tư nhân lẫn khu vực nhà nước.Qua đó góp phầnthúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế

Không những thế, các Quỹ đầu tư còn khuyến khích được dòng chảyvốn nước ngoài:

Đối với luồng vốn gián tiếp, việc đầu tư vào Quỹ sẽ loại bỏ các hạn chế của

họ về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứngkhoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư

Đối với luồng vốn đầu tư trực tiếp, Quỹ đầu tư góp phần thúc đẩy các dự ánbằng cách tham gia góp vốn vào các liên doanh hay mua lại một phần vốn của bên

Trang 9

đối tác, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài trong việc thu hồi vốn cũng nhưtăng được sức mạnh trong nước ở các liên doanh

Thứ hai,góp phần vào sự phát triển và ổn định thị trường thứ cấp:

Các QĐT tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ và trài phiếudoanh nghiệp, cung cấp vốn cho các nghành phát triển.Với chức năng này các quỹđầu tư có vai trò quan trọng trên thị trường chứng khoán sơ cấp

Với vai trò các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán,các QĐT góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường chứng khoán thứ cấp,góp phần vào sự phát triển của thị trường này thông qua các hoạt động đầu tưchuyên nghiệp với các phương pháp phân tích khoa học

Việc đầu tư qua quỹ làm giảm tính đầu cơ ngắn hạn, qua đó làm thị trường

ổn định hơn

Thứ ba, làm đa dạng thêm các công cụ tài chính của thi trường vốn thông

qua thị trường chứng khoán

Khi nền kinh tế phát triển và các tài sản tài chính ngày càng tạo khả năngsinh lời hơn, người đầu tư có khuynh hướng muốn có nhiều công cụ tài chính đểđầu tư,để đáp ứng nhu cầu người đâu tư các quỹ đầu tư hình thành dưới nhiều dạngsản phẩm tài chính khác nhau

Thứ tư, xã hội hoá hoạt động đầu tư chứng khoán

QĐT tạo ra được phương thức đầu tư được các nhà đầu tư nhỏ, ít hiểu biết vềthị trường chứng khoán ưa thích Nó góp phần tăng tiết kiệm của công chúng bằngviệc thu hút tiền đầu tư vào quỹ

Thứ năm, nâng cao mức độ quản trị và khả năng cạnh tranh của các doanh

nghiệp nhận vốn, góp phần tạo nên sự năng động, linh hoạt cho các doanh nghiệp,đảm bảo sức hấp dẫn từ bên ngoài cho nền kinh tế quốc dân

b/ Đối với thị trường chứng khoán

Thứ nhất, quỹ đầu tư tạo sự sôi động và gia tăng tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán thể hiện ở các mặt như sau:

Quỹ đầu tư tạo nguồn cầu cho TTCK: thông qua việc đầu tư cácnguồn vốn của quỹ với tư cách là tổ chức kinh doanh chứng khoán có nguồn vốnmang tính chất tập trung cao với khối lượng lớn, quỹ sẽ tạo ra nguồn cầu chứngkhoán trong thị trường.Bên cạnh đó, việc có thêm các QĐT chứng khoán tham giavào thị trường sẽ tạo ra sự đa dạng đối với các đối tượng tham gia, góp phần tăngtính định hướng cho quyết định xem đầu tư trên TTCK là một kênh đầu tư mới bêncạnh các kênh đầu tư truyền thống như : ngoại tệ, vàng, bất động sản …

Trang 10

Tạo nguồn cung chứng khoán: việc đầu tư vào các công ty cổ phần gópphần làm tăng lượng hàng hóa trên TTCK khi các công ty niêm yết giá trên TTCK.Mặt khác, chứng chỉ quỹ đầu tư công chúng được niêm yết và trở thành hàng hóatrên TTCK qua đó làm tăng thêm lượng hàng hóa cho TTCK.

Từ việc làm tăng lượng cung cầu trên TTCK làm cho hoạt động muabán trên thị trường trở nên nhộn nhịp hơn và tạo tính thanh khoản cho thị trường

Thứ hai, góp phần bình ổn giá cả giao dịch trên thị trường thứ cấp

và tạo sự định hướng thị trường

QĐT chứng khoán thường đầu tư lâu dài hơn những nhà kinh doanh chứng khoán thuần túy Đây là một trong những lí do tạo sự ổn địnhcho thị trường chứng khoán nói chung và các cổ phiếu của các công ty mà quỹ đầu

tư vào

QĐT được quản lí bởi công ty quản lí quỹ là nhà đầu tư chuyên nghiệp

về phân tích đầu tư, do vậy việc đầu tư chứng khoán trở nên chuyên nghiệp hơn và hạn chế đến mức thấp nhất các rủi ro có thể có trên TTCK, làm cơ sở cho các nhà đầu tư cá nhân tham khảo trước khi quyết định đầu tư vào một loại chứng khoán nào đó trên TTCK.

c/ Đối với người cần vốn là các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế và các sáng kiến có thể tạo ra cơ hội kinh doanh:

QĐT vừa là người tư vấn về quản trị doanh nghiệp vừa là người tiếpthị tài chính và cung cấp thông tin đánh giá dự án đầu tư tốt nhất, giúp các doanhnghiêp đánh giá tính khả thi của dự án một bước tiến hành đặc biệt quan trọng đốivới các doanh nghiệp

QĐT chứng khoán sẽ là nhà tài trợ chuyên nghiệp thông qua hình thức đầu tưtrực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp, vừa cung cấp nguồn vốn với chi phí huy động thấpđồng thời cũng có khả năng tư vấn về tài chính, quản trị và tái cấu trúc doanhnghiệp nhằm mục đích phát triển doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào Vai trò nàyđang và sẽ phải được phát huy để thay đổi căn bản phương thức kinh doanh nhỏ lẻ,thiếu tính liên kết là một trở ngại mà không ít doanh nghiệp của Việt Nam hiện nayđang gặp phải.Thông qua Quỹ đầu tư, việc huy động vốn chỉ đơn thuần là pháthành chứng khoán với chi phí giảm đáng kể

Đối với các sáng kiến cải tiến kỹ thuật, những ý tưởng mới về thị trường cơhội và thời cơ trong sản xuất kinh doanh sẽ được QĐT đóng vai trò như những nhàtài trợ tích cực để đưa ra những điều đó thành hiện thực Qua việc đầu tư ban đầu,các ý tưởng kinh doanh tốt sẽ phát triển và gặt hái được nhiều thành công tươngxứng Trên thực tế,ta có thể thấy rất nhiều minh chứng cho việc đầu tư vào các ý

Trang 11

tưởng kinh doanh đã đem lại những thành công lớn về lợi nhuận cũng như khuyếnkhích sự sáng tạo cho các cá nhân mở ra các hướng đi mới trong sản xuất, kinhdoanh Lợi ích này của Quỹ đầu tư được đặc biệt đánh giá cao với các doanhnghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, và nhất là trong các nền kinh tế chuyển đổi

Ngoài ra, QĐT chứng khoán là một nhà đầu tư khá trung thành và ổnđịnh trong dài hạn, đồng thời luôn sẵn sàng đầu tư thêm vốn để doanh nghiệp cóthể mở rộng việc kinh doanh nếu doanh nghiệp dẫn chiếu được những điều kiệnđảm bảo khả năng phát triển của mình Lợi ích này thu được do sự kết hợp cáccông cụ huy động vốn của Quỹ Đó là các loại chứng khoán do Quỹ phát hành,cùng với hoạt động của thị trường chứng khoán cho phép trao đổi, mua bán các loạichứng khoán đó Mục đích nhằm khuyến khích các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhàđầu tư có khả năng đầu tư dài hạn, cung cấp nguồn tài chính vô cùng cần thiết cho

sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp

Tuy nhiên, vẫn còn những giới hạn nhất định về quyền kiểm soátdoanh nghiệp nhưng dù có nắm bao nhiêu cổ phần công ty thì cũng không đượctham gia vào ban quản lí công ty do đó doanh nghiệp vẫn đảm bảo quyền tự chủtrong tổ chức mọi hoạt động

d/ Đối với nhà đầu tư

Quỹ đầu tư không đóng vai trò là một định chế chung gian, nhưng là tổ chứcđầu tư có hiệu quả với vai trò tổ chức trung gian giữa nhà đầu tư và thị trường.QĐT hình thành và phát triển song song với các định chế trung gian khác Đôi khi

nó tạo ra thị trường cạnh tranh trên thị trường QĐT là trợ thủ đắc lực với nhà đầu

tư nhỏ, những người không thực sự am hiểu về thị trường, thiếu kiến thức và kinhnghiệm đầu tư QĐT đứng ra tập hợp số vốn đầu tư nhỏ vốn khó thực hiện các giaodịch trên thị trường thành khoản vốn lớn Khi đó các nhà đầu tư nhỏ sẽ dễ dàngtham gia vào các dự án đầu tư kiếm lời

Đầu tư vào quỹ là một lựa chọn thú vị và hấp dẫn bên cạnh các kênh đầu tưtruyền thống như vàng, chứng khoán, bất động sản, tiền tệ … Đầu tư một cách dễdàng, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt được các yêu cầu về lợi nhuận với mức rủi rotối thiểu, được quản lí một cách chuyên nghiệp, chặt chẽ nhưng vẫn đảm bảo được

sự năng động của thị trường… Bởi QĐT bao gồm một đội ngũ những nhà quản lý

có kiến thức chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, do đó những phân tích, đánh giá của

họ về các dự án đầu tư tốt hơn khi đó hiệu quả đầu tư cao hơn Bảo vệ lợi ích chocác nhà đầu tư Cụ thể là:

-Tiết kiệm thời gian, công sức,chi phí:

Trang 12

Khi đầu tư vào quỹ, nhà đầu tư đã gần như bắt đồng tiền “tự động làm việc”

vì đã có các chuyên gia của quỹ đảm nhận công tác chọn lựa loại hình đầu tư, phântích nhận định thị trường Do đó nhà đầu tư có thể hoàn toàn yên tâm thực hiện cáccông việc khác của mình

Khi tham gia quỹ sẽ giúp nhà đầu tư giảm thiểu được chi phí giao dịch do:Một mặt QĐT có khả năng tiếp cận các dự án đầu tư dễ dàng hơn mặt khác QĐTđược coi là một nhà đầu tư lớn nên khả năng nhận được những ưu đãi về giao dịchlớn hơn

- Đáp ứng nhiều mục tiêu đầu tư khác nhau ( đa dạng hóa danh mục đầu tư):

Dù mục tiêu đầu tư của nhà đầu tư là gì, số vốn của là bao nhiêu, quỹ luôn cócác sản phẩm phù hợp để đáp ứng và giúp họ tiếp cận các nghiệp vụ đầu tư mà cánhân không thể thực hiện như đầu tư vào thị trường trái phiếu, đầu tư vào các bộchỉ số

- Tính linh hoạt và thanh khoản cao

So với các loại hình đầu tư khác như bất động sản hay vàng phải đòi hỏi vốnlớn và không dễ bán ngay khi cần, đầu tư vào quỹ và hiện thực hóa lợi nhuận rấtthuận tiện bất cứ lúc nào bằng cách mua / bán chứng chỉ quỹ thông qua đại lý phânphối hoặc với chính công ty quản lý quỹ Người đầu tư có thể bán lại phần vốn gópcho quỹ khi có nhu cầu rút lui khỏi thị trường Khi tiến hành đầu tư riêng lẻ nhàđầu tư nhận cổ tức bằng tiền mặt không đựơc nhận lãi vốn góp và phải mất mộtkhoản chi phí tái đầu tư Do đó QĐT đem lại cho nhà đầu tư tính thanh khoản caohơn

Thuận tiện cho người đầu tư: Người đầu tư có thể mua hoặc bán chứng chỉQuỹ đầu tư trực tiếp hoặc thông qua môi giới, trung gian Việc mua bán có thểthông qua thư tín, điện thoại hay hệ thống mạng máy tính Các nhà đầu tư có thểthoả thuận với Quỹ để tái đầu tư tự động (automatic reinvestment) hoặc phân chialợi nhuận theo từng thời kỳ Nhà đầu tư còn được Quỹ cung cấp các dịch vụ nhưthông tin và tư vấn

- Tính minh bạch

Lợi ích của nhà đầu tư luôn được bảo vệ với các quy định pháp luật chặt chẽ

và quy trình giao dịch nghiêm ngặt theo sự giám sát của Ủy Ban Chứng Khoán NhàNước và ngân hàng giám sát độc lập So với các loại hình tổ chức tài chính khác,quỹ đầu tư chịu sự giám sát chặt chẽ hơn bởi nhiều quy định nhằm đảm bảo quỹkhông vi phạm đến lợi ích của các nhà đầu tư

- Quản lí tài sản chuyên nghiệp

Trang 13

Tài sản và đồng vốn của nhà đầu tư được quản lý bởi những chuyên gia đầu

tư dày dạn kinh nghiệm, đội ngũ quản lí rõ ràng trình độ chuyên môn cao am hiểuthị trường… Dù đã có hay chưa có kinh nghiệm, hoặc số vốn của bạn nhiều hay ítthì khi tham gia vào quỹ, bạn vẫn sẽ được tư vấn cặn kẽ và hỗ trợ lựa chọn sảnphẩm đầu tư phù hợp mục tiêu của mình Các chuyên gia làm việc tại quỹ cũngphải đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của ngành và quy định pháp luật để đảm bảotính chuyên nghiệp và đạo đức hành nghề của họ Cho nên,QĐT khắc phục đượcnhững hạn chế về tính chuyên nghiệp của người đầu tư riêng lẻ

Người đầu tư riêng lẻ do thiếu kinh nghiệm và hiểu biết về thị trường chonên mất nhiều thời gian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường, việc phân tíchdánh giá dự án đầu sẽ tư không sát thực dẫn đến hiệu quả đầu tư không cao

- Gia tăng mức độ an toàn

Đầu tư vào quỹ giúp nhà đầu tư hạn chế rủi ro hơn so với tự đầu tư trực tiếp

vì đã có đội ngũ chuyên gia phân tích với các công cụ, phần mềm hỗ trợ cũng nhưkhả năng thu thập thông tin tốt hơn Ngoài ra việc đầu tư sẽ được phân bổ khoa học

để phân tán rủi ro và đem lại sự an toàn cho đồng vốn của nhà đầu tư

Đồng thời, QĐT tập hợp những nguồn vốn của người đầu tư nhỏ sẽ làm tăngkhả năng đa dạng hoá đầu tư, phân tán rủi ro cho người đầu tư

e/ Đối với nhà nước.

QĐT có vai trò quan trọng đối với qua trình cổ phần hoá (CPH) và huyđộng vốn đầu tư của chính phủ Thực tế hiện nay các doanh nghiệp gặp khó khăntrong trương trình CPH do đó làm chậm trương trình cổ phần hóa của nhà nước.QĐT có thể giúp doanh nghiệp thực hiện vấn đề đó nhanh chóng và hiệu quả quaviệc cung ứng dịch vụ tư vấn xây dựng phương án CPH tham gia định giá doanhnghiệp, cơ cấu tài chính và thiết lập dự án đầu tư Từ việc phân tích trên ta có thểthấy QĐT có vai trò hết sức quan trọng đối với thị trươngchứng khoán và các chủthể liên quan Do đó muốn có thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ thì nhấtthiết phải có sự hoạt động hiệu quả của các QĐT

Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư: Việc chuyển đổi tài sản thành tiềnmặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn nhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối vớimỗi nhà đầu tư Chứng chỉ Quỹ đầu tư chính là một loại chứng khoán, do vậy,người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên thị trường chứng khoán hoặc bán lạicho bản thân Quỹ (nếu là Quỹ đầu tư dạng mở)

Trang 14

Nguồn vốn huy động

QUỸ ĐẦU TƯ

Đối tượng đầu tư Cấu trúc vận động Cơ cấu tổ chức và quản lí hoạt động

QĐT tập thể

QĐT thành viên QĐT dạng đóng

QĐT dạng mở

QĐT chứng khoán QĐT thị trường tiền tệ Quỹ khác:…

QĐT dạng công ty QĐT dạng hợp đồng( tín thác)

1.1.5 Các loại hình của quỹ đầu tư chứng khoán

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại hình quỹ đầu tư căn cứ theo

tiêu chí phân loại khác nhau và có các tiêu chí chính như sau:

Ngoài căn cứ tiêu chí phân loại chính trên còn có rất nhiều các căn cứ khác

để phân loại quỹ đầu tư như:

Theo mức độ tự do trong quản lý ( mức độ linh hoạt trong quỹ)

Quỹ đầu tư cố định: Là loại quỹ không cho người quản lý quỹ được thay đổi các

chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ ngoại trừ trường hợp người phát hành

chứng khoán nằm trong danh mục thay đổi tính chất hay quyền hạn pháp lý của

người sở hữu chứng khoán Thuận lợi của quỹ là người đầu tư có thể các định bản

Trang 15

chất của chứng khoán nằm trong danh mục đầu tư.Bất lợi của quỹ là khả năng chịuđựng kém khi giá chứng khoán trong danh mục đầu tư bị giảm.

Quỹ đầu tư linh hoạt: Là loại quỹ đầu tư cho phép người quản lý quỹ có thể thayđổi đổi các chứng khoán trong danh mục đầu tư của quỹ theo tính toán của cá nhân nhằm tránh những tổn thất có thể xảy ra đối với giá trị tài sản của quỹ.Thuận lợi của quỹ là có được tự do nhất định tron quản lý quỹ, đạt tính chuyên môn cao cho các chuyên gia, cho phép họ kiểm soát các suy giảm trong giá trị tài sản thuần trên

cổ phiếu hay chứng chỉ quỹ

Theo mục đích đầu tư

Quỹ đầu tư theo danh mục: chủ yếu mua các chứng khoán niêm yết tạo sở giao dịch chứng khoán địa phương, hoặc cổ phiếu của công ty thuộc thị trường mớinổi niêm yết tại các trung tâm tiền tệ quốc tế

Quỹ đầu tư cổ phần tư nhân: mua các cổ phần tối thiểu qun trọng của các công ty chưa niêm yết

Quỹ đầu tư mạo hiểm: chủ yếu mua cổ phần tư nhân trong các công ty mới

và nhỏ hơn Quỹ đầu tư mạo hiểm mua cổ phiếu thiểu số quan trọng của các công

ty và thường cung cấp tư vấn về quản lý

Quỹ tương hỗ trong nước: huy động vốn từ cá nhà đầu tư trong nước và mua chứng khoán được niêm yết trên thị trường chứng khoán trong nước

…….

1.5.1 Căn cứ vào nguồn vốn huy động (phương thức huy động vốn)

Căn cứ vào phương thức huy động vốn, có thể chia quỹ đầu tư chứng khoán thành hai loại là quỹ tập thể ( hay quỹ công chúng) và quỹ cá nhân (thành viên)

a/ Quỹ tập thể( công chúng):

là quỹ huy động vốn bằng việc phát hành CCQ rộng rãi ra công chúng với

số lượng tối thiểu là 100 NĐT, có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần làcác NĐT riêng lẻ ít am hiểu thị trường với số lượng vốn huy động đạt được ít nhất

là 50 tỷ đồng Việt Nam.Quỹ đại chúng cung cấp cho các NĐT nhở phương tiện đầu

tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệuquả cao do tính chuyên nghiệp ủa QĐT mang lại

đây còn gọi là quỹ đầu tư tập thể, là những quỹ đầu tư được hình thành từvốn góp của rất nhiều nhà đầu tư và ủy thác cho một công ty quản lí quỹ để thựchiện các hoạt động đầu tư của quỹ Thuật ngữ Muatual Fund có nghĩa là quỹ tương

Trang 16

hỗ, thuật ngữ này được dùng rất nhiều ở Mỹ, nơi có hệ thống các QĐT rất pháttriển Thuật ngữ này cũng là một cách gọi đối với các quỹ công chúng.

Do nguồn vốn của quỹ công chúng được huy động từ nhiều nhà đầu tư nênhoạt động đầu tư của quỹ công chúng phải tuân thủ rất nhiều hạn chế nghiêm ngặtcủa pháp luật Công ty quản lí quỹ, cũng phải tuân thủ rất nhiều điều kiện khắt khe,

trong hoạt động quản lí của các quỹ này Cụ thể trong nội dung của điều 92- luật

chứng khoán 2006

Điều 92 Hạn chế đối với quỹ đại chúng

1 Công ty quản lý quỹ không được sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu

tư chứng khoán để thực hiện các hoạt động sau đây:

a) Đầu tư vào chứng chỉ quỹ của chính quỹ đại chúng đó hoặc của một quỹ đầu tư khác;

b) Đầu tư vào chứng khoán của một tổ chức phát hành quá mười lăm phần trăm tổng giá trị chứng khoán đang lưu hành của tổ chức đó;

c) Đầu tư quá hai mươi phần trăm tổng giá trị tài sản của quỹ vào chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành;

d) Đầu tư quá mười phần trăm tổng giá trị tài sản của quỹ đóng vào bất độngsản; đầu tư vốn của quỹ mở vào bất động sản;

đ) Đầu tư quá ba mươi phần trăm tổng giá trị tài sản của quỹ đại chúng vào các công ty trong cùng một nhóm công ty có quan hệ sở hữu với nhau;

e) Cho vay hoặc bảo lãnh cho bất kỳ khoản vay nào.

2 Công ty quản lý quỹ không được phép vay để tài trợ cho hoạt động của quỹ đại chúng, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải các chi phí cần thiết cho quỹ đại chúng Tổng giá trị các khoản vay ngắn hạn của quỹ đại chúng không được quá năm phần trăm giá trị tài sản ròng của quỹ đại chúng tại mọi thời điểm và thời hạn vay tối đa là ba mươi ngày.

3 Trừ trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này, cơ cấu đầu tư của quỹ đại chúng có thể sai lệch nhưng không quá mười lăm phần trăm so với các hạn chế đầu tư quy định tại khoản 1 Điều này Các sai lệch phải là kết quả của việc tăng hoặc giảm giá trị thị trường của tài sản đầu tư và các khoản thanh toán hợp pháp của quỹ đại chúng.

4 Công ty quản lý quỹ có nghĩa vụ báo cáo Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và công bố thông tin về các sai lệch trên Trong thời hạn ba tháng, kể từ ngày sai lệch phát sinh, công ty quản lý quỹ phải điều chỉnh lại danh mục đầu

tư để bảo đảm các hạn mức đầu tư quy định tại khoản 1 Điều này.

Trang 17

Mục đích của các hạn chế trên là nhằm đảm bảo sự an toàn cho quỹ đầu tưchứng khoán, bảo vệ lợi ích hợp pháp và chính đáng của các nhà đầu tư

b/Quỹ cá nhân (thành viên)

Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ CCQ cho mộtnhóm nhở cacsc NĐT dựa trên hợp đồng góp vốn của tối đa là 30 thành viên và chỉbao gồm thành viên pháp nhân với số vốn đạt được ít nhất là 50 tỷ đồng Việt Nam.Tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ đại chúng các NĐT tham gia vàocác quỹ này thường với lượng vốn lớn nhưng họ có thể thường xuyên tham gia vàotrong việc kiểm soát đầu tư của quỹ Việc kiểm soát này có thể dưới hình thức làthành viên của HĐQT, cung cấp tư vấn hoặc có ảnh hưởng đáng kể đến các thànhviên của các HĐQT của công ty nhận đầu tư

Về bản chất, quỹ thành viên là một dạng quỹ đầu tư chứng khoán tuy nhiên,quỹ này chỉ giới hạn ở một số ít nhà đầu tư tham gia góp vốn

Mục tiêu chủ yếu của việc thành lập các quỹ thành viên là để thực hiện cáchoạt động đầu tư có tính chất tương đối mạo hiểm Các hoạt động đầu tư này có thểmang lại những khoản lợi nhuận tiềm năng rất cao cho các nhà đầu tư, tuy nhiên rủi

ro cũng rất lớn

Với tính chất rủi ro như vậy, quỹ thành viên không phù hợp với việc huyđộng vốn từ quần chúng Quy mô và phạm vi huy động vốn của quỹ chỉ tập trungvào một số nhà đầu tư lớn, có tiềm lực tài chính và có khả năng chấp nhận nhữngrủi ro cao trong hoạt động đầu tư Chính vì vậy, để tham gia vào quỹ thành viên,các nhà đầu tư phải đạ được những điều kiện nhất định do pháp luật đặt ra

Với tính chất và mục tiêu như trên, các quỹ thành viên thường không phảichịu các hạn chế như quỹ công chúng

Hiện tại, hầu hết các nước có thị trường chứng khoán phát triển đều có hìnhthức đầu tư này

1.5.2 Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn

a/Quỹ đóng

Đây là hình thức quỹ phát hành CCQ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/CCQ khi NĐT có nhu cầu bán lại Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các CCQ sẽ được niêm yết trên TTCK Các NĐT có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc CCQ của mình thông qua thị trường thứ cấp Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động CCQ có thể được giao dịch

Trang 18

với giá thấp hoặc cao hơn giá trị tài sản dòng của quỹ ( NAV) Hình thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là quỹ đầu tư VF1 do công VFM huy động vốn quản lý.

Giá giao

dịch

- Dựa trên giá thị trường, phụ thuộc vào lượng cung/cầu thị trường.

- Có thể lớn hoặc nhỏ hơn giá trị NAV của Quỹ

- Giá trị NAV của quỹ phản ánh hiệu quả đầu tư nhưng chỉ mang tính tham khảo.

- NĐT trả phí giao dịch chứng khoán cho công ty chứng khoán.

Phân

phối

- Việc phân phối CCQ chỉ thực hiện trong thời gian huy động lần đầu, hoặc khi tăng vốn điều lệ Quỹ thông qua công ty chứng khoán hoặc CTQLQ.

b/Quỹ mở

Quỹ mở là quỹ được thành lập với thời gian vô hạn Sau đợt phát hành lầnđầu ra công chúng, giao dịch mua/bán của nhà đầu tư được thực hiện định kỳ căn

cứ vào giá trị tài sản ròng (NAV) Giao dịch này được thực hiện trực tiếp với công

ty Quản Lý Quỹ hoặc tại các Đại lý chỉ định

Trang 19

Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch do tính chất đặc thù của nó là NĐT được quyền bán lại CCQ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán CCQ được thực hiện trực tiếp với CTQLQ và các CCQ không được niêm yết trên TTCK Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước

có nền kinh tế và TTCK phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam Quỹ mở chỉ mới dừng lại ở khái niệm theo Luật Chứng Khoán năm 2006 và chưa có văn bản cụ thể hướng dẫn thực hiện cho loại quỹ này ở Việt Nam

Tổng vốn của quỹ mở biến động theo từng đợt giao dịch do tính chất đặc thù của nó Giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản

lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán

- Huy động vốn liên tục trong quá trình hoạt động

- Có thể mua/bán vào thời điểm định kỳ với CTQLQ

- Có thể chuyển đổi giữa các quỹ khác nhau cùng công ty quản

lý quỹ

- Không niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán

- CTQLQ phải cân bằng giữa tỷ lệ tiền mặt phù hợp và đảmbảo tính thanh khoản khi nđt muốn rút vốn

- Quy trình quản lý quỹ phức tạp hơn vì luồng tiền đượcra/vào thường xuyên – thời điểm nđt nộp tiền/rút vốn có khảnăng ảnh hưởng tới kết quả đầu tư của quỹ;

Phân phối - Chứng khoán, ngân hàng, CTQLQ) CCQ được phân phối liên tục tại các Đại lý Phân phối (Cty

Phân biệt giữa quỹ đầu tư đóng và quỹ đầu tư mở

Trang 20

Tiêu chí Quỹ mở Quỹ đóng

Việc mua/ bán lại Có mua lại Không mua lại

Thời gian hoạt động Vô thời hạn Thông thường có giới hạn và

được quy định trong bản cáo

bạch

Nơi mua bán/ giao dịch

chứng chỉ quỹ

Mua bán trực tiếptại quỹ đầu tư,người bảo lãnh pháthành hay môi giới,các đại lí được ủyquyền

Cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán tập trung

và OTC Hay nói cách khác là trên thị trường thứ cấp như thông qua HOSE

Mối quan hệ giữa giá

mua/ giá trị tài sản ròng

Ngoài ra còn có một số dạng khác xuất phát từ hai hình thái trên:

Quỹ bán mở: có sự hạn chế hơn so với Quỹ mở Nhà quản lý Quỹ đồng ý mua

cổ phiếu từ các cổ đông tại mức giá trị tài sản ròng trên mỗi cổ phiếu tại các thời gianđịnh trước

Quỹ tín thác đơn vị UIT (unit investment trust): được thành lập theo một chứng thư

uỷ thác hay một công cụ tương đương về tính pháp lý Vốn đóng góp cũng như mọi đầu

tư bằng vốn đóng góp sẽ do cá nhân hoặc tổ chức được uỷ thác giữ Ban đầu, khi thànhlập Quỹ, nhà tư vấn đầu tư thu xếp gộp vào trong một danh mục đầu tư rồi phân ra thànhcác đơn vị (giống như các cổ phần thường) để bán cho người đầu tư qua môi giới Cácđơn vị thường được bán theo giá trị tròn số (Mỹ: 1.000USD) trong lần phát hành đầu tiên

Trang 21

Các nhà môi giới, bảo lãnh phát hành sẽ đồng thời là người duy trì hoạt động mua bán cácđơn vị đó Giá các đơn vị sẽ tuỳ thuộc vào giá các chứng khoán trong danh mục đầu tưcủa Quỹ Người mua các đơn vị đầu tư này phải trả một khoản phí ban đầu cho ngườimôi giới bán, thường là 4% Chính khoản phí cao như vậy mà các nhà đầu tư ngắn hạnthấy không có lợi khi đầu tư vào loại quỹ này

1.5.3 Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và quản lí hoạt động

Dựa vào cơ cấu tổ chức và hoạt động quỹ chia quỹ đầu tư thành hai dạng đó

là quỹ đầu tư dạng công ty và quỹ đầu tư dạng hợp đồng( tín thác)

a/Quỹ đầu tư dạng công ty

Trong mô hình này, QĐT là một pháp nhân, tức là một công ty được hình thành theo quy định của pháp luật từng nước Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ

là hội đồng quản trị do các cổ đông (NĐT) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lý toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn CTQLQ, giám sát hoạt động đầu tư của CTQLQ và có quyền thay đổi CTQLQ Trong mô hình này, CTQLQ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác Mô hình này chưa xuất hiện ở Việt Nam vì theo quy định của UBCKNN, QĐT không có tư cách pháp nhân.

Công ty đầu tư hoạt động trên cơ sở Luật doanh nghiệp và các quy định tài chính chuyên ngành Được thiết lập dưới hình thức công ty cổ phần.

Công ty đầu tư huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đầu tư và bán cho người đầu tư Nhà đầu tư là cổ đông với tư cách một đông thường Cổ phiếu và chứng chỉ quỹ có thể niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường phi tập trung.

b/Quỹ đầu tư dạng hợp đồng

Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư Khác với mô hình QĐT dạng công ty,

mô hình này QĐT không phải là pháp nhân mà hoàn toàn là một lượng tiền nhất định

do các nhà đầu tư đóng góp CTQLQ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động

vốn, thực hiện đầu tư theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai trò bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa

Trang 22

Công ty quản lí quỹ

Công ty kiểm toán (Erast & Young)

Điều hành Quản lí đầu tư Nghiên cứu Kiểm toán

Quản lý Lưu lý Giám sát

định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư

để bảo vệ quyền lợi của các NĐT NĐT là những người góp vốn vào quỹ nhưng không phải là cổ đông như mô hình NĐT dạng công ty và ủy thác việc đầu tư cho CTQLQ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.

Trang 23

Là một cơ chế hoạt động gồm công ty quản lý quỹ, người lưu giữ tài sản của quỹ và người đầu tư.

Quỹ này được tạo lập bằng việc ký hợp đồng tín thác giữa công ty quản lýquỹ và người được tín thác Người đầu tư trở thành người hưởng lợi của quỹ bằngviệc đóng tiền vào quỹ và sau đó được nắm giữ chứng chỉ quỹ

Ngoài ra, theo thông lệ quốc tế, việc phân loại các quỹ đầu tư cũng được xemxét theo hình thức đầu tư tập trung cửa quỹ Khi quỹ được thành lập, trong bản cáobạch của quỹ nêu rất rõ quỹ sẽ đầu tư lĩnh vực nào hoặc quốc gia nào…, hoặc cónhững quỹ lại taaoj trung vào một lĩnh vực nào đó như: lĩnh vực công nghiệp, lĩnhvực dịch vụ, lĩnh vực sản xuất phần mềm…

1.5.4 Căn cứ vào đối tượng đầu tư

Căn cứ vào đối tượng đầu tư quỹ đầu tư được chia ra thành rất nhiều loại vàbản thân mỗi loại lại bao gồm nhiều dạng nhỏ khác Sơ đồ trên là một số dạng nhởnói chung Cụ thể sẽ như sau:

a/Quỹ đầu tư cổ phiếu (stock fund):

Là quỹ đầu tư hoàn toàn vào một chủng loại cổ phiếu nhất định, như cổphiếu thường và cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu chưa niêm yết, mạo hiểm… để phù hợpvới nhu cầu, sở thích, điều kiện của từng nhà đầu tư cụ thể Bao gồm:

Trang 24

– Quỹ đầu tư cổ phiếu tăng trưởng (growth fund) theo đuổi sự tăng trưởngvốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu Các Quỹ này đầu tư vào cổphiếu thường của các công ty có chiều hướng tăng trưởng cao.

– Quỹ đầu tư vốn mạo hiểm (venture capital fund hay hedging fund) theođuổi sự tăng trưởng tối đa về vốn, thu nhập cổ tức không phải là yếu tố chính yếu.Các Quỹ này đầu tư vào các cổ phiếu của công ty mới, công ty đang gặp khó khănhay thuộc các ngành tạm thời không được ưa chuộng Các Quỹ này có thể sử dụngcác kỹ thuật đầu tư đòi hỏi mức rủi ro cao hơn trung bình

– Quỹ đầu tư thu nhập – vốn cổ phần (income-equity fund) theo đuổi mứcthu nhập cao bằng việc đầu tư chủ yếu vào các cổ phiếu và công ty có tiền sử trả cổtức tốt

– Quỹ đầu tư chọn ngành (industry selection fund) theo đuổi sự tăng trưởngvốn Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo vị thế của ngành hoặc theo một sốtiêu chuẩn riêng của Quỹ Hình thức đầu tư này đi ngược lại nguyên tắc đa dạnghoá danh mục đầu tư, nó tạo những rủi ro không thể lường trước

– Quỹ đầu tư chọn vốn (capital selection fund) theo đuổi sự tăng trưởng vốn.Các Quỹ này lựa chọn đầu tư cổ phiếu theo quy mô vốn của công ty, có thể là công

ty vốn lớn, trung bình hoặc vốn nhỏ

– Quỹ đầu tư tăng trưởng và thu nhập (growth and income fund) theo đuổi sựtăng trưởng vốn dài hạn và thu nhập hiện tại Các Quỹ này đầu tư vào cổ phiếuthường của các công ty có giá trị cổ phần tăng lên và có một tiền sử trả cố tức vữngchắc

b/Quỹ đầu tư vàng và kim loại quý (precious metals/ gold fund) theo đuổi sự

tăng trưởng vốn Quỹ này đầu tư vào các loại kim loại như vàng, bạc, kimcương… hoặc cổ phiếu của các công ty kinh doanh các loại kim loại này Sự tănggiảm giá trị ròng của quỹ phụ thuộc vào sự biến động giá của các kim loại này

c/Quỹ đầu tư chỉ số (index fund) theo đuổi mức thu nhập hiện tại cao

Là quỹ có danh mục đầu tư được xây dựng để mô phỏng một chỉ số cụ thể(như S&P 500 hay VN-Index) nhằm mục đích đa dạng hóa danh mục và tối thiểuhóa rủi ro phi hệ thống Loại quỹ này phù hợp với các nhà đầu tư thụ động bởi nócho phép người quản lý bỏ ra ít công sức hơn so với các loại quỹ có danh mục biếnđổi thường xuyên

Hai loại hình quỹ đầu tư chỉ số phổ biến là quỹ tương hỗ chỉ số và quỹ giaodịch chỉ số – Exchange Traded Fund (ETF) Exchange Traded Fund (Quỹ ETF) là

một hình thức quỹ đầu tư thụ động mô phỏng theo một chỉ số cụ thể Danh mục của

Trang 25

ETF gồm một rổ chứng khoán có cơ cấu như cơ cấu của chỉ số mà nó mô phỏng.Theo đó, nhà quản lý quỹ không cần tích cực tái cơ cấu danh mục của quỹ mà chỉcần bám sát theo rổ chứng khoán của chỉ số mục tiêu.

d/Quỹ đầu tư trái phiếu (bond fund):

Là quỹ đầu tư hoàn toàn vào một hoặc nhiều chủng loại trái phiếu như tráiphiếu chuyển đổi (convertible bond), trái phiếu doanh nghiệp (corporate bond), tráiphiếu chính phủ (government bond)

– Quỹ đầu tư thu nhập chính phủ (government income fund) theo đuổi lợinhuận hiện tại Các Quỹ này đầu tư vào nhiều loại chứng khoán chính phủ bao gồmtrái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình, trái phiếu thế chấp…

– Quỹ đầu tư trái phiếu công ty (corporate bond fund) theo đuổi một mức thunhập cao Danh mục đầu tư của các Quỹ này chủ yếu gồm các trái phiếu công ty vàmột tỷ lệ trái phiếu kho bạc nhất định

– Quỹ đầu tư trái phiếu địa phương dài hạn (municipal bond fund-long-term)theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi chính phủ Các Quỹ này đầu tư vào cáctrái phiếu do chính quyền địa phương phát hành nhằm cung cấp vốn cho các côngtrình địa phương như trường học, bệnh viện, cầu đường…

– Quỹ đầu tư trái phiếu chuyển đổi (convertible bond fund) theo đuổi mứcthu nhập hiện tại và sự tăng trưởng vốn trong tương lai Các Quỹ này đầu tư vàocác trái phiếu kèm theo quyền được chuyển đổi sang cổ phiếu thường theo các điều

– Quỹ đầu tư thu nhập – trái phiếu (income-bond fund) theo đuổi mức lợi nhuậnhiện tại cao Các Quỹ này đầu tư vào một tập hợp các trái phiếu công ty và tráiphiếu chính phủ

– Quỹ đầu tư trái phiếu toàn cầu (global bond fund) theo đuổi một mức thunhập cao Danh mục đầu tư của các Quỹ này chủ yếu gồm các chứng khoán nợ củacác công ty và các quốc gia trên toàn thế giới, kể cả các chứng khoán nợ quốc gia

– Quỹ đầu tư trái phiếu lợi suất cao (high-yield bond fund) theo đuổi một lợisuất cao nhưng chứa đựng một mức rủi ro cao hơn các Quỹ trái phiếu công ty

Trang 26

Danh mục đầu tư của các Quỹ này gồm chủ yếu các trái phiếu của các công ty bịđánh giá thấp.

e/Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ (money market fund)

Là quỹ đầu tư thị trường vốn ngắn hạn, mà bản chất là quỹ đầu tư tín thác(Quỹ mở) tập trung vào các sản phẩm trái phiếu ngắn hạn với các đặc điểm an toàn,lãi suất cao, thanh khoản cao

– Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ chịu thuế (taxable money market fund) theođuổi việc duy trì một giá trị tài sản thuần bền vững Các Quỹ này đầu tư vào cácchứng khoán hảo hạng, ngắn hạn được bán trên thị trường tiền tệ như tín phiếu khobạc, chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng lớn và thương phiếu Kỳ hạn trung bìnhcủa danh mục đầu tư các Quỹ này thường được giới hạn từ 3 tháng trở xuống

– Quỹ đầu tư thị trường tiền tệ miễn thuế (tax-exempt money marketfund) theo đuổi thu nhập không bị đánh thuế bởi chính phủ với mức rủi ro thấpnhất Các Quỹ này đầu tư vào các chứng khoán địa phương với kỳ hạn tương đốingắn

1.5.5 Một số loại hình quỹ đầu tư khác

Các quỹ dưới đây rất phổ biến ở các nước phát triển trên thế giới, tuynhiên vẫn chưa phổ bieenshoawcj chưa được phép thành lập theo quy định của Luậtchứng khoán Việt Nam:

a/ Quỹ tương hỗ (mutual fund)

Quỹ tương hỗ là định chế phát hành cổ phiếu ra công chúng và dùng số tiền thu được để lập một danh mục đầu tư vào các loại chứng khoán Cổ đông của quỹ tương hỗ chấp nhận mọi rủi ro và lợi tức mà quỹ có được từ danh mục đầu tư đó.Nếu giá trị của danh mục đầu tư tăng, cổ đông sẽ được lợi và ngược lại Và đa phần các quỹ tương hỗ là quỹ dạng mở

Các bước cơ bản khi tạo dựng quỹ: Quỹ quyết định các phương pháp luận đầu tư Phát hành bản cáo bạch Bán CCQ Có ba loại quỹ tương hỗ:

Quỹ cổ phiếu: còn được gọi là quỹ cổ phiếu, đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu Quỹ trái phiếu: đầu tư chủ yếu vào trái phiếu doanh nghiệp hoặc trái phiếu chính phủ

Quỹ thị trường tiền tệ: thực hiện các khoản đầu tư ngắn hạn để ấn định giá trị mỗi cổ phiếu ở giá 1$

Trang 27

Các CTQLQ tương hỗ thường cung cấp cho NĐT rất nhiều quỹ Việc giữ tiền trong tập hợp này giúp cho việc chuyển tiền giữa các quỹ được dễ dàng hơn Mỗi quỹ tương hỗ thường được ấn định rõ mục tiêu hoạt động như quỹ tương hỗ chuyên đầu tư vào các nước đang lên, hay quỹ tương hổ chuyên đầu tư vào các công ty mới khởi nghiệp , Do có nhiều hình thức và mục tiêu khác nhau nên thế giới các quỹ loại này rất phong phú

b/ Quỹ phòng hộ (Hedge Fund)

Quỹ phòng hộ là thuật ngữ dùng để chỉ một chiến lược nhằm bù đắp những rủi ro đầu tư Tại quỹ này, các NĐT ưa thích sự an toàn sẽ tham gia và

sử dụng các công cụ chứng khoán phái sinh (như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, quyền chọn, hợp đồng hoán đổi ) để bảo vệ khoản tiền đầu tư của mình, chống lại những tăng trưởng không dự tính trước cũng như sự tụt giá hay lên giá đột ngột của hàng hoá Ngày nay, các quỹ này liên tục xuất hiện, được điều hành bởi một công ty đầu tư, huy động vốn của cổ đông rồi đầu tư vào các chứng khoán phái sinh nhằm hạn chế rủi ro Quỹ này hiện chưa phổ biến ở Việt Nam.

c/ Quỹ đầu tư ETF – Quỹ đầu tư hoán đổi danh mục (Exchange-Traded Fund)

Quỹ ETF ra đời vào những năm 1990 nhằm phục vụ cho nhu cầu của một bộ phận NĐT không muốn quá “vất vả” để lựa chọn cổ phiếu đầu tư , thay vào đó họ đầu tư mô phỏng các chỉ số chứng khoán, một nhóm ngành hoặc theo theo các loại hàng hóa có tính thanh khoản cao như dầu mỏ hay vàng.

Mô hình quỹ này khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là Mỹ Hiện nay, phần lớn các quỹ ETF hoạt động trên thế giới là các QĐT chỉ số (Index Funds), theo đó đầu tư theo một chỉ số chứng khoán nhất định Dow Jones, S&P 500, FTSE 100, Với hình thức đầu tư đặc biệt của mình, quỹ ETF có khả

năng phân tán rủi ro tốt và chi phí khá thấp (thường dưới 1%) Chính điều này đãgiúp ETF thu hút các NĐT tổ chức, cũng như các cá nhân đầu tư vào ETF với mụctiêu nắm giữ lâu dài hoặc phục vụ chiến lược giao dịch ngắn hạn

Cơ chế hoạt động của ETF cũng làm cho giá CCQ thường theo sát NAV, chứ không biến động quá xa như các quỹ tương hỗ Hơn nữa, các quỹ tương

hỗ lại tính thêm 20% phí trên phần tăng trưởng của giá trị tài sản ròng, có nghĩa là lợi nhuận có được, họ phải chia cho nhà quản lý quỹ 20% Các ETF không thu khoản phí này Ngoài ra, CCQ của quỹ ETF cũng dễ dàng mua bán trên TTCK như bất kỳ cổ phiếu nào.

Trang 28

Ngoài quỹ ETF chuyên đầu tư theo chỉ số còn có 2 loại quỹ ETF khác đó

là Quỹ Đầu Tư Chỉ Số Hàng Hóa đầu tư vào một số hàng hóa nhất định như vàng, dầu mỏ hoặc một rổ các hàng hóa bằng cách nắm giữ thực sự loại hàng hóa đó hoặc dùng các hợp đồng tương lai và Quỹ ETF quản lý chủ động (Actively managed ETFs), loại quỹ ETF này mới ra đời từ năm 2008 ở Mỹ và vẫn chưa phổ biến trên thế giới.

d/ Quỹ đầu tư cân bằng

Quỹ cân bằng là loại quỹ phối hợp giữa cổ phiếu, trái phiếu và có thể có thêm công cụ thị trường tiền tệ trong cùng 1 danh mục Những quỹ cân bằng thường tập trung vào định hướng phân bổ tài sản ở mức trung bình (mua nhiều cổ phiếu hơn) hoặc bảo thủ (mua nhiều trái phiếu hơn) Mục tiêu của quỹ cân bằng là nhằm đem lại sự an toàn, tăng trưởng ổn định của tài sản nhà đầu tư.

e/ Quỹ đầu tư đặc thù

Quỹ đầu tư đặc thù là loại quỹ tập trung vào một nhóm ngành đặc biệt như y

tế, bất động sản Vì có mục tiêu đầu tư đặc thù so với quỹ cổ phiếu đầu tư dàn trảinên các quỹ này cũng đem lại mức lợi nhuận tương đối cao kèm theo mức biếnđộng cao tương ứng

f/ Qũy hưu trí

Quỹ hưu trí về bản chất là quỹ đầu tư được thành lập nhờ vào huy động vốngóp từ những nhân viên đang làm việc trong doanh nghiệp một cách đều đặn theothời gian làm việc của họ Quỹ sẽ đem tiền huy động đi đầu tư nhằm mục tiêu tạo

ra sự tăng trưởng tài sản ổn định trong dài hạn và từ đó chi trả lương hưu cho nhânviên khi họ đến tuổi hưu

Quỹ hưu trí nắm giữ một lượng vốn rất lớn và gần như các nhà đầu tư tổchức lớn ở các quốc gia trên thế giới đều là các quỹ hưu trí

1.1.6 Cơ cấu tổ chức và nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư

1.6.1 Cơ cấu tổ chức

Dù QĐT được hình thành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng về cơbản các trung gian hoạt động theo cơ cấu có các bên liên quan tham gia như sau:CTQLQ, ngân hàng giám sát, công ty kiểm toán, NĐT, các tổ chức cung cấp dịch

vụ khác…

Trang 29

Hình 3: Mô hình quỹ đầu tư

a/ Công Ty Quản Lý Quỹ

Do UBCKNN cấp phép thành lập nhằm huy động vốn thành lập và quản

lý QĐT, danh mục đầu tư chứng khoán theo như cáo bạch CTQLQ chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của QĐT cho UBCKNN Như vậy, CTQLQ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của quỹ, thực hiện chức năng về quản lý vốn tài sản thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất làm gia tăng giá trị của QĐT.

b/ Ngân hàng giám sát

Thực hiện việc kiểm tra, bảo quản, lưu ký tài sản của QĐT và giám sát CTQLQ nhằm bảo vệ lợi ích của NĐT, đồng thời tính toán giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) và công bố ra công chúng; giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công bố ra công chúng; giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo và công

bố thông tin của CTQLQ; báo cáo UBCKNN khi phát hiện CTQLQ vi phạm pháp luật hoặc điều lệ QĐT; định kỳ cùng CTQLQ đối chiếu sổ kế toán, báo cáo tài chính và hoạt động giao dịch của quỹ; làm đại lý chuyển nhượng cho quỹ; quản lý thông tin NĐT của quỹ; thực hiện kiểm toán kết quả hoạt động định kỳ của QĐT

c/ Công ty kiểm toán

Trang 30

Thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác tình hình hoạt động của QĐT, bảo đảm sự minh bạch Kiểm toán viên là nhân viên độc lập không có quan hệ với CTQLQ

d/ Đại Hội Đồng NĐT

Gồm tất cả các NĐT của quỹ, là cơ quan quyết định cao nhất của QĐT,

có quyền hạn và nghĩa vụ như theo Điều lệ quỹ phù hợp với quy định của pháp luật

e/ Ban đại diện quỹ

Đại diện cho quyền lợi của NĐT gồm từ 3 tới 10 thành viên và ít nhất 2/3 trong số đó là thành viên độc lập, không có quan hệ với CTQLQ.

f/ Các tổ chức cung cấp các dịch vụ khác

Như tổ chức bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn luật, thực hiện hoạt động hỗ trợ cho CTQLQ và QĐT phù hợp với quy định của pháp luật

1.6.2 Nguyên tắc hoạt động của quỹ đầu tư

a/ Nguyên tắc Huy huy động vốn từ nhà đầu tư

- Phương thức phát hành

Việc huy động vốn của QĐT được thực hiện thông qua phát hành chứng khoán Tuy nhiên các quỹ chỉ được phát hành một số loại chứng khoán nhất định để tạo thuận lợi cho việc quản lí quỹ của quỹ cũng như hoạt động đầu tư của những người đầu tư Tài sản của QĐT chủ yếu là để đầu tư vào chứng khoán

chứ không phải trực tiếp đem đem vào đầu tư mở rộng sản xuất Quỹ không thểphát hành trái phiếu tức đi đi vay để đầu tư vào chứng khoán vì như thế sẽ tạo nênmôi trường chứng khoán ảo.Do vậy:

Đối với các quỹ đầu tư dạng công ty, n, nguyên tắc chung là quỹ chỉ phát hành cổ phiếu, cổ phần để huy động vốn hình thành nên quỹ Tương tự như các

công ty cổ phần, cổ đông của quỹ cũng nhận được các cổ phiếu ( mô hình công ty)

xác nhận số cổ phần mình sở hữu tại công ty

Đối với các quỹ đầu tư dạng hợp đồng( quỹ dạng tín thác), thông thườnglượng vốn dự kiến hình thành nên quỹ được chia thành các đơn vị tương tự như cổ

phần của quỹ dạng công ty Quỹ sẽ phát hành và chứng chỉ hưởng lợi tức là chứng chỉ quỹ đầu tư ( quỹ dạng tín thác) xác nhận số đơn vị tương đương vốn góp của người đầu tư vào quỹ Cũng như cổ phiếu phổ thông khác chứng chỉ đầu tư có thể phát hành dưới hình thức ghi danh hoặc vô danh và có thể được chuyển nhượng như cổ phiếu

Trang 31

Ngoài ra, quỹ không được phép phát hành trái phiếu hay đi vay vốn để đầu tư Quỹ chỉ được phép vay vốn ngắn hạn để trang trải các chi phí tạm thời khi quỹ chưa có khả năng thu hồi vốn.

Phát hành chứng chỉ và niêm yết trong nước

Việc chào bán CCQ đại chúng dạng đóng bao gồm phát hành CCQ lần đầu ra công chúng và phát hành CCQ để tăng vốn Việc phát hành CCQ lần đầu thì giá trị CCQ đăng ký chào bán ít nhất 50 tỷ đồng Việt Nam Việc phát hành

CCQ để tăng vốn cho các lần đầu tư tiếp theo phải được quy định trong điều lệ

quỹ , được Đại hội NĐT thông qua và được thực hiện cho các NĐT hiện hữu của quỹ thông qua phát hành quyền mua CCQ Quyền mua CCQ này được phép chuyển nhượng Trường hợp NĐT hiện hữu không thực hiện quyền mua CCQ, phần CCQ còn dư có thể được chào bán cho các NĐT khác

Sau khi nhận được Giấy chứng nhận chào bán CCQ cấp bởi UBCKNN

về việc hồ sơ đã đủ điều kiện chào bán thì việc chào bán CCQ sẽ được thực hiện thông qua các đại lý chào bán CCQ Các tổ chức này phải đảm bảo CCQ được phân phối công bằng, công khai và đảm bảo thời hạn mua CCQ cho NĐT tối thiểu trong vòng 20 ngày

CTQLQ trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày diễn ra Đại hội NĐT đầu tiên phải tiến hành hoàn tất hồ sơ đề nghị niêm yết CCQ đến SGDCK

Phát hành CCQ và niêm yết tại nước ngoài

Vốn cho QĐT được huy động từ nước ngoài dưới các hình thức sau:

- Lập Quỹ tại Việt Nam theo Luật Chứng Khoán và chào bán toàn bộ CCQ cho NĐTNN

- Lập Quỹ ở nước ngoài theo pháp luật nước ngoài, niêm yết CCQ trên SGDCK ở nước ngoài Huy động vốn dưới hình thức này cần đáp ứng các điều kiện sau:

Có quyết định thông qua việc huy động vốn ở nước ngoài và phương án

sử dụng vốn thu được của Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty

Có phương án phát hành nêu rõ quốc gia và loại hình NĐT mà công ty

dự kiến thực hiện chào bán CCQ đã được Đại hội đồng cổ đông hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ sở hữu công ty phê duyệt, chấp thuận Phương án phát hành và phương án đầu tư phần vốn huy động phải phù hợp với các quy định pháp luật Trong trường hợp này, CTQLQ tối thiểu mười (10) ngày trước khi gửi Hồ sơ đăng ký chào bán CCQ, Hồ sơ đăng ký lập Quỹ, Hồ sơ đăng kí niêm yết CCQ đã được cơ quan có thẩm quyền của nươcs ngoài chấp thuận, cùng

Trang 32

với bản sao hợp lệ giấy chứng nhận chào bán CCQ, Giấy đăng kí lập quỹ, Giấy chấp thuận niêm yết CCq hoặc các tài liệu tương đương do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp Sau khi hoàn tất phát hành CCQ và niêm yết CCQ ở nước ngoài trong vòng 10 ngày phải gửi toàn bộ hồ sơ liên quan theo quy định của pháp luật và yêu cầu của UBCKNN.

Ngoài ra, phải đáp ứng các điều kiện chào bán, thành lập quỹ và niêm yết CCTQLQ dự kiến chào bán để huy động vốn và niêm yết CCQ

Trang 33

Hình 4: Quy trình phát hành và niêm yết chứng chỉ quỹ-Phương thức chào bán

Luật chứng khoán năm 2006 của Việt Nam mới chỉ quy định cách thức huyđộng vốn cho quỹ đại chúng dạng đóng và quỹ thành viên, tuy nhiên quỹ tương hỗ

có thể dùng bất kì phương pháp nào để bán cổ phiếu của mình ra công chúng.Nhưng về cơ bản, có hai phương thức chào bán chính: chào bán qua các tổ chứcbảo lãnh phát hành và quỹ trực tiếp chào bán

Chào bán qua các tổ chức bảo lãnh phát hành: đây là phương thức phổ

biến nhất để bán cổ phần của quỹ đầu tư theo mô hình công ty Theo phương thứcnày, người bảo lãnh của quỹ đóng vai trò như người bán buôn và người phân phốiđối với các hãng kinh doanh và môi giới chứng khoán Các công ty này đến lượtmình lại bán các cổ phiếu cho công chúng qua các văn phòng chi nhánh củahọ.ngoài ra, quỹ đầu tư có thể thông qua các đại lí chào bán là các ngân hàngthương mại, các công ty chứng khoán hoặc các công ty tài chính để thực hiện việcchào bán Sau đây là một số phương pháp bán được sử dụng:

Qũy- Người bảo lãnh (NBL)- Người kinh doanh (NKD)- Người đầu tư (NĐT)

NĐT đặt một lệnh về cổ phiếu QĐT cho NKD, NKD chuyển lệnh cho NBL

và NBL chuyển lệnh cho quỹ Quỹ sẽ đưa bán cho NBL tại NAV hiện hành, NBLbán cho NKD tại NAV cộng với phí nhượng lại của NBL( hay tại giá chào bán chocông chúng (POP) trừ đi chiết khấu Sau đó NKD bán lại cổ phiếu cho công chúngvới POP đầy đủ

Quỹ- Người bảo lãnh(NBL)- Người đầu tư(NĐT)

Một NĐT đặt lệnh cho NBL,NBL chuyển lệnh cho quỹ Để thực hiện giaodịch, quỹ sẽ bán cho NBL tại NAV hiện hành Sau đó, NBL sẽ cộng phí vào giá bán

và bán với POP đầy đủ ra công chúng Phí bán được chia ra trong số những ngườibán(NBL, đại diện đăng kí…)

Quỹ- Người bảo lãnh(NBL)- công ty thực hiện kế hoạch(CTTH)- Người đầu tư (NĐT)

Các tổ chức có kế hoạch hợp đồng mua theo từng giai đoạn cổ phiếu quỹđược gọi là CTTH Cổ phiếu quỹ được CTTH mua theo kế oạch và nắm giữu dưới

sự ủy thác của cá nhân và thanh toán theo định kì Phí bán tối đa của kế hoạch hợp

đồng là 9% trong suốt thời gian thực hiện kế hoạch

Trang 34

Chào bán trực tiếp từ quỹ hoặc công ty quản lí quỹ: các quỹ được trực

tiếp bán cổ phiếu của nó cho nahf đầu tư không thông qua một trung gian nào Cácquỹ đầu tư dạng hợp đồng do công ty quản lí quỹ đứng gia thành lập thường haychào bán chứng chỉ đầu tư bằng hình thức này thông qua hệ thống mạng lưới củacông ty quản lí quỹ hoặc mạng lưới của ngân hàng giám sát Các quỹ này hấp dẫnnhà đầu tư trước hết thông qua quảng cáo, thư trực tiếp cũng như bằng những bàidiễn văn, các phương tiện quảng cáo hữu hiệu

Quỹ đến người đầu tư (NĐT)

Đây là quỹ thực hiện việc chào bán trực tiếp cho công chúng mà không sử

dụng các hoạt động trung gian, quỹ này gọi là quỹ không có phí bán Quỹ sẽ thanh

toán toán toàn bộ phí có liên quan đến việc bán cổ phiếu

Bán với giá chào bán cho công chúng

Bất cứ việc bán cổ phiếu nào của quỹ cho khách hàng không phải là thànhviên của NASDAQ phải được thực hiện tại giá chào bán cho công chúng.Đường đicủa việc bán này không quan trọng, khách hàng không phải là thành viên phải chấpnhận giá chào bán cho công chúng Chỉ một thành viên của NASDAQ hoạt độngnhư Người kinh doanh hay người bảo lãnh mới có thể mua cổ phiếu của QĐT vớigiá chiết khấu từ Nhà phát hành

Hình 5: Cách thức phát hành CCQ

b/ Nguyên tắc hoạt động đầu tư

Quy trình đầu tư của quỹ đầu tư : Nghiên cứu - Phân tích rủi ro/lợi nhuận - Mục tiêu đầu tư - Phân bổ tài sản và lựa chọn chứng khoán - Xây dựng danh mục đầu tư

ĐẦU TƯ

CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN

BÁN CHỨNG CHỈQUỸ

PHÁT HÀNH CHỨNG CHỈ

QUỸBÁN TRỰC TIẾP CHỨNG CHỈ QUỸ

Trang 35

Đây là hoạt động quan trọng nhất đối với một quỹ đầu tư Các quỹ thường đầu tư rất rộng như chứng khoán, bất động sản, các công trình cơ sở hạ tầng…Bất

kỳ quỹ đầu tư nào được thành lập cũng nhằm mong muốn đạt được những mục tiêuban đầu như sau:

- Thu nhập: nhanh chóng có nguồn tri trả cổ tức

- Lãi vốn: làm tăng giá trị các nguồn vốn ban đầu thông qua đánh giá các cổ phiếu trong danh mục đầu tư của quỹ

- Thu nhập và lãi vốn: sự kết hợp giừa hai yếu tố trên

Để đạt được các mục tiêu ban đầu, mỗi wuyx đều hình thành các chính sáchđầu tư riêng của mình, trên cơ sở đó có thể xây dựng danh mục đầu tư nhằm đạtđược những mục tiêu đã đề ra Người đầu tư sẽ lựa chọn và quyết định đầu tư vàoquỹ theo khả năng và mức độ chịu rủi ro của mình dựa vào các thông tin về chínhsách và mục tiêu đầu tư của quỹ Chính sách và mục tiêu của quỹ thường được thểhiện ở tên gọi của quỹ

c/ Định giá phát hành và mua lại chứng chỉ của quỹ

Khi các nhà đầu tư đầu tư hoặc rút vốn của họ từ một quỹ, việc xác định giáphải dựa trên nguyên tắc công bằng giữa các nhà đầu tư hiện tại với các nhà đầu tưmua hoặc bán chứng chỉ Điều này được thể hiện trong cách thức xác định giá trị tàisản của quỹ khi mua bán chứng chỉ

Đối với Quỹ mở do chủ yếu đầu tư vào chứng khoán được niêm yết trên thịtrường chứng khoán nên giá trị tài sản được xác định theo giá trị của chứng khoán

đó tại thời điểm đó trên thị trường Sau khi xác định xong giá trị tài sản của quỹ sẽđược chia cho số cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ đang lưu hành để xác định giá trịcho mỗi chứng chỉ Giá bán và giá mua lại sẽ bằng giá trị của mỗi chứng chỉ cộngthêm một số chi phí cho việc mua bán đó

Giá thị trường = NAV + chi phí giao dịch

Trong đó NAV : Giá trị tài sản ròng (Net Asset Value)

Tổng giá trị tài sản ròng của quỹ bằng tổng giá trị các tài sản có và các khoảnđầu tư của quỹ trừ đi các nghĩa vụ nợ tại thời điểm tính toán

Giá trị tài sàn ròng trên một cổ phần của quỹ được tính bằng

Đối với Quỹ đóng thì giá cổ phần của quỹ sẽ phụ thuộc vào quan hệ cungcầu trên thị trường chứng khoán, nó lấy NAV làm cơ sở nhưng không gắn liền vớigiá trị NAV

Trang 36

Đối với quỹ ETF, vì được giao dịch như một loại chứng khoán niêm yết nêngiá của ETF có thể cao hơn (premium) hay thấp hơn (discount) NAV của quỹ

Khi một Quỹ đóng bán cổ phiếu với giá thấp hơn NAV thì được gọi là bánchiết khấu (Discount) và ngược lại nếu giá bán cổ phiếu lớn hơn NAV thì được gọi

là bán có thu phí (Premium)

Thông thường tại thị trường chứng khoán các nước phát triển rất ít Quỹ đầu

tư được giao dịch có mức Premium, mà phần lớn ở mức Discount từ 15% đến 20%.Chỉ số này không ổn định mà biến động theo các điều kiện của thị trường Thườngnhững quỹ được giao dịch có chỉ số ở mức Discount đều có thể đạt được mứcPremium cao trong tương lai và ngược lại

d/ Nguyên tắc bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ

Tài sản của quỹ phải được kiểm soát bởi một tổ chức bảo quản tài sản Tổchức này chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi đối với tài sản của các nhà đầu tư.Chức năng giám sát tuỳ từng mô hình quỹ mà pháp luật các nước giao cho một tổchức tín thác hay hội đồng quản trị Theo quy định của Mỹ thì tài sản của quỹ cóthể được bảo quản bởi một ngân hàng, một nhà kinh doanh môi giới chứng khoánđược đăng ký hay do chính quỹ đó quản lý Tuy nhiên, trên thế giới hiện nay thì các

tổ chức bảo quản tài sản thông thường là ngân hàng Nguyên tắc chung của hầu hếtcác nước là tổ chức bảo quản tài sản trong quá trình giám sát không có quyền quyếtđịnh hoàn toàn mà phải cùng bàn bạc, biểu quyết với các chủ thể khác như công tyquản lý quỹ… Riêng đối với hội đồng quản trị thì các tổ chức này có quyền tựquyết định nếu như nó không liên quan tới chuyên môn của hội đồng quản trị Đểđảm bảo an toàn cho tài sản của quỹ cũng như sự ổn định của thị trường chứngkhoán, một số nước nghiêm cấm Quỹ đầu tư bán khống chứng khoán

e/Nguyên tắc cung cấp thông tin cho nhà đầu tư

Việc cung cấp thông tin vừa có ý nghĩa là tạo cơ hội cho quỹ thu hút vốn đầu

tư vừa để góp phần bảo vệ lợi ích của người đầu tư Do được cung cấp thông tin màngười đầu tư đánh giá đúng về thực trạng của các khoản đầu tư, khả năng chuyênmôn của những người quản lý quỹ để có thể quyết định đầu tư đúng đắn Việc cungcấp thông tin phải tuân thủ các quy định của cơ quan quản lý nhà nước nhằm tạo sựthống nhất dễ hiểu cho các nhà đầu tư Các nước thường quy định Quỹ đầu tư khigọi vốn từ công chúng phải làm Bản cáo bạch (Prospectus) để công bố toàn bộthông tin về công ty quản lý, tổ chức bảo quản giám sát về chính sách, mục tiêu đầu

tư của quỹ…

f/ Nguyên tắc hạn chế một số giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ

Trang 37

Hầu hết các nước đều ngăn cấm các giao dịch giữa các chủ thể có liên quanvới quỹ Giao dịch giữa các chủ thể có liên quan là các giao dịch liên quan tới tàisản của quỹ giữa một bên là Quỹ đầu tư và một bên là chủ thể khác như công tyquản lý quỹ, ngân hàng bảo quản giám sát, người bảo lãnh phát hành, nhà tư vấn…

mà việc giao dịch này có khả năng ảnh hưởng đến lợi ích của người đầu tư hiện tạicủa quỹ Các trường hợp được coi là giao dịch có liên quan như:

- Việc mua bán tài sản của quỹ với người có liên quan (nhân viên, ngườiquản lý, đối tác, người làm thuê, cổ đông…)

- Các khoản vay nợ của quỹ với chủ thể liên quan - Một người có liên quanhành động như một đại lý đối với tài sản của quỹ trong việc mua bán chứng chỉ quỹđầu tư

- Người có liên quan cam kết với người thứ ba tham gia giao dịch với quỹ.Nói chung mỗi nước lại có quy định cụ thể riêng để ngăn chặn hiện tượngnày để đảm bảo hoạt động của quỹ được lành mạnh, công bằng bảo vệ lợi ích củatất cả những người đầu tư

1.1.7 Các loại phí và chi phí thông thường của một quỹ

Phí và chi phí của một QĐT cho các dịch vụ quản lí và hành chính bao gồm hai loại chính: loại mà nhà đầu tư chỉ trả khi họ bắt đầu tham gia và rút tiền khỏi quỹ và loại chi phí trực tiếp lên quỹ

1.7.1 Loại phí mà nhà đầu tư chi trả khi họ bắt đầu tham gia và rút tiền khỏi quỹ

Phí phát hành: phí trả cho công ty quản lí quỹ khi đăng kí mua CCQ

Phí hoàn tiền: Phí trả cho công ty quản lí quỹ khi nhà đầu tư rút lại tiền từ quỹ

1.7.2 Loại chi phí trực tiếp lên quỹ

Phí quản lí hàng năm: Phí trả hàng năm cho việc quản lí và hành chính của quỹ dựa trên phàn trăm giá trị tài sản thuần trung bình của quỹ

Phí thành công: phí trả cho công ty quản lí quỹ dựa trên hoạt động của quỹ

so với một mức lợi nhuận so sánh được một định mức đặt ra ban đầu, thông thường

là tính the tỉ lệ phần trăm trên phần vượt định mức

Ban giám đốc: phí và chi phí trả cho ban giám đốc của quỹ

Phí giám sát, lưu ký: phí (thường dựa trên mức phần trăm của NAV trung bình hàng năm) và các chi phí trả cho ngân hàng giám sát, lưu ký hay ban đại diện của quỹ

Dịch vụ cho các nhà đầu tư: chi phí đăng kí, hành chính, thanh toán cổ tức, phí kiểm toán

Phí định giá: phí trả cho công ty định giá, đánh giá độc lập

Trang 38

Phí liên quan tới luật pháp: Phí trả cho các đơn vị luật pháp

Phí vay: chi phí, lãi vay cho các khoản vay của quỹ

Thuế: bất kì loại thuế nào mà quỹ phải trả

Hội họp cổ đông: chi phí hội họp cho các nhà đầu tư

Phí pháp lí: phí liên quan tới các hồ sơ thành lập, pháp lí

Phí môi giới: chi phí trong việc giao dịch tài sản của quỹ

Phí thành lập: Là phí thông thường cho các quỹ đầu tư, chi phí thành lập quỹ( bản cáo bạch, phí pháp lí, phí hành chính, …) và chi phí marketing( đối với hình thức quỹ đóng

1.7.3 Phí quản lí

Quỹ đầu tư phải trả phí quản lí cho công ty quản lí quỹ hàng năm là từ 2%- 5% trên giá trị tài sản thuần của quỹ,được trả hàng tháng tương ứng bằng 1/12 của phí quản lí phải trả hàng năm (khoản phí này được ghi rõ trong bản cáo bạch của từng quỹ)

Phí quản lí chính là yếu tố khiến các công ty quản lí quỹ muốn tạo thêm nhiều quỹ Khi tăng lượng tài sản quản lí, chi phí tăng nhưng phí quản lí không hề tăng tương ứng

Các chi phsi quản lí hành chính khác như:

-phí lập các báo cáo cho các cổ đông/người hưởng lợi

-phí duy trì quản lí tài khoản của người đầu tư

1 1.8 Thu nhập của quỹ đầu tư

Thu nhập của quỹ đầu tư có được từ nhiều nguồn như: thu nhập từ lãi suất, thu nhập cổ tức, lãi trái phiếu, các khoản lãi hoặc lỗ khi bán các khoản đầu tư, giá trị thu được từ cổ phiếu/CCQ đầu tư được phát hành, lãi tiền gửi, các khoản thu nhập khác

Việc phân phối thu nhập của quỹ phải tuân thủ các quy định sau:

- Phần còn lại của thu nhập của quỹ sau khi trừ các chi phí của quỹ được phân phối cho người đầu tư theo nguyên tắc chỉ người đầu tư được ghi tên trong danh sách người đầu tư lập vào ngày đăng kí cuối cùng được quyền nhận thu nhập phân phối

Trang 39

- Quy trình và thủ tục phân phối thu nhập của quỹ cho người đầu tư được thực hiện theo quy định của pháp luật về dăng kí, lưu kí, thanh toán bù trừ và thannh toán chứng khoán.

1.1.9 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh doanh của quỹ đầu tư

Khi đánh gía hoạt động của một quỹ người ta thường dựa vào một số chi tiêu chính là tổng thu nhập mà quỹ mang lại cho các nhà đầu tư, tỉ lệ chi phí, tỉ lệ doanhthu, chất lượng công việc kinh doanh của người điều hành quỹ

Tổng thu nhập của quỹ: đây là một trong những chi tiêu quan trọng đnahs giá hoạt động cuả một quỹ, được cấu thành từ 3 khoản thu chính:

- Phân phối thu nhập từ khoản thu nhập đầu tư ròng: khoản thu nhập dầu tư bao gồm cổ tức và lãi suất thu được từ danh mục đầu tư của quỹ khấu trừ đi chi phí

- Các khoản thu nhập ròng được thừa nhận là lã vốn: các khoản thu nhập ròng được thừa nhận là các khoản đầu tư đã quyết toán xong có lãi hoặc bị lỗ

- Sự tăng giảm ròng trng giá trị tài sản ròng vì phản ánh giá trị các khoản đầu

tư vào cổ phiếu mà quỹ đang nắm giữu Ngoài ra nó cũng bao gồm các khoản thu nhập ròng được thừa nhận hoặc thu nhập ròng từ các khoản đầu tư chưa chia cho các nhà đầu tư

Tổng thu nhập được xác định bằng CT:

Đối với quỹ đóng, công thức trên chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động của người quản lí quỹ Do quỹ đóng có NAV xa rời giá của cổ phiếu/ chứng chỉ QĐT, người đầu tư xác định tổng thu nhập của quỹ dựa trên các yếu tố phân phối thu nhập, lãi vốn và chênh lệch giá trị của cổ phiếu/CCQ

Công thức tính tổng thu nhập quỹ đóng dựa trên thị giá cổ phiếu/ CCQĐT

Tỷ lệ chi phí: Là một hỉ tiêu để đánh giá việc kiểm soát các chi phí liên quan đến hoạt động của một quỹ.Tỷ lệ được xác định bằng chi phí hoạt động trong năm chia cho giá trị tài sản ròng trung bình của quỹ Phí môi giới từ các giao dịch của quỹ không tính trong tỉ lệ chi phsi này Tùy theo danh mục đầu tư, tỉ lệ

Trang 40

chi phí có thể dao động từ 0.5 % -5%.nói chung tỷ lệ này thấp hơn 1% đều được coi là thấp.

Tỷ lệ thu nhập đầu tư: được tính bằng giá trị thu nhập đầu tư dòng chia cho giá trị tài sản dòng trung bình Tương tự như lợi suất cổ tức khi đánh giá hiệu quả đầu tư của cổ phiếu thông thường

Tỷ lệ doanh thu: thể hiện tổng giá trị giao dịch mua và bán do công ty quản líquỹ tiến hành đối với quỹ được xác định bằng số lượng tài sản được bán hoặc mua chia cho giá trị tài sản ròng của quỹ trong 1 năm

Chất lượng hoạt động của người quản lí quỹ: được phản ánh qua các :

- Điều khiển rủi ro của danh mục đầu tư

- Kiểm soát chi phí giao dịch

- Kinh nghiệm và quá trình hoạt động của cty quản lí quỹ

- Học vấn và kinh nghiệm đầu tư của người điều hành

- Thường là một nhóm người quản lí tốt hơn 1 hay 2 cá nhân quản lí quỹ

1.II/2 CÔNG TY QUẢN LÍ QUỸ

1.2.1 Khái niệm về công ty quản lí quỹ

a/ Tại thị trường Mỹ:

Theo khái niệm về công ty quản lí quỹ đầu tư (Management Company) thì công

ty quản lí quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lí các quỹ đầu tư Cácquỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty,phát hành cổ phần, công ty đầu tư

sử dụng nhà tư vấn đầu tư hay người quản lí đầu tư để quyết định loại chứng khoánnào sẽ được đưa vào danh mục đầu tư của quỹ Người quản lí quỹ được toàn quyềnquản lí danh mục đầu tư mua bán chứng khoán phù hợp với các mục tiêu đầu tư củaquỹ

Công ty quản lý quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quỹ dạng đóng và dạng mở

b/ Ở Việt Nam

Theo nghị định số 86/2016/NĐ-CP ban hành ngày 01/07/2016 về quy định điềukiện đầu tư, kinh doanh chứng khoán thì công ty quản lí quỹ được định nghĩa nhưsau:

Công ty quản lí quỹ là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luậtchứng khoán để thực hiện các nghiệp vụ: Quản lí quỹ đầu tư chứng khoán, quản lídanh mục đầu tư chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán

Quỹ ở dạng:

1. Công chúng

2. Thành viên

3. Dạng đóng

Ngày đăng: 24/02/2019, 20:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Giáo trình Thị trường chứng khoán – Trường ĐHCN Hà Nội (tái bản lần thứ 3) Khác
2.David M.Darst, (2008), The Art of Asset Allocation, The McGraw-Hill Company 3.R.Russell, (2006),An Introduction to Fund Management, Securities &Investment Institute Khác
4.Nguyễn Sơn, (2010), 10 năm hoạt động TTCK Việt Nam và định hướng chiến lược giai đoạn 2010-2020, Tạp chí kinh tếvà dự báo Khác
5.Trần Đắc Sinh, (2005), Các giải pháp để đưa doanh nghiệp tiềm năng lên niêm yết trên thị trường chứng khoán, Đề tài nghiên cứu khoa học, Sở Khoa học Công nghệ TPHCM Khác
6.TS. Phan Thị Bích Nguyệt, (2006), Đầu Tư Tài Chính, Nhà xuất bản Thống kê 7.TS.Trần Ngọc Thơ, (2003), Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, Nhà xuất bản Thống kê Khác
8.TS.Trần ThịThùy Linh, (2008), QuỹĐầu Tư Chứng Khoán –Mô hình phù hợp cho các thịtrường chứng khoán mới nổi, Tạp chí phát triển kinh tếsố212 Khác
10.Quốc Hội Nước CHXHCN Việt Nam, (2006), Luật Chứng Khoánvà điều chỉnh Luật ChứngKhoán Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w