1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phuong phap phan tich tac pham van hoc

42 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 133,5 KB
File đính kèm Phuong phap phan tich tac pham van hoc.rar (40 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc dạy văn thường quá nghiêng về việc thẩm bình. Trong giờ văn chủ yếu là giáo viên (GV) giảng văn cho học sinh (HS) nghe. GV nói lại cho HS nghe cách hiểu của mình về tác phẩm nào đó một cách say sưa mà không cần biết HS của mình có cảm nhận được không. Khi dạy các tác phẩm văn học, GV thường quên hoặc chưa chú ý hình thành cho HS kiến thức, kỹ năng đọc, hiểu tác phẩm nên học tác phẩm nào, HS chỉ biết tác phẩm ấy. Vì thế mắc phải tình trạng mặc dù đã được học rất nhiều thơ văn ở các thể loại khác nhau, vào các thời kỳ khác nhau nhưng học sinh chỉ biết phân tích, bình giảng được các bài đã nghe giảng trên lớp, thậm chí chỉ làm được bài khi đã được trang bị các bài văn mẫu. Đề thi chỉ cần cho phân tích một tác phẩm văn học nào đó khác đi một chút là đa số HS đành bó tay, hoặc viết một cách ngô nghê dẫn tới lệch đề, thậm chí lạc đề. Kết quả là điểm bài làm văn rất thấp. Để giúp GV HS khắc phục được những tình trạng trên, nâng cao năng lực đọc hiểu và cảm nhận tác phẩm các em phát huy được tính chủ động, sáng tạo, thể hiện lại được những điểm đã phân tích, phát hiện thêm được những ý mới, chi tiết mới trong mỗi bài... từ đó giúp các em làm tốt bài làm văn, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: Một vài suy nghĩ về phương pháp phân tích tác phẩm văn học .

Trang 1

sở giáo dục và đào tạo hà nội

phòng giáo dục quận cầu giấy

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Nh chúng ta đã biết dạy văn - học văn là quá trình khámphá, tìm hiểu, cảm nhận cái đẹp Một trong những yêu cầucủa việc dạy văn - học văn là phải đọc, hiểu văn và cảm nhận

đợc cái hay, cái đẹp của văn

Chúng ta không thể không thừa nhận việc dạy văn - họcvăn trong nhà trờng có những bớc chuyển biến tốt hơn diễn

ra liên tục trong hai thập kỷ qua Kết quả này có đợc là nhờ có

sự đóng góp của các giáo viên, cán bộ quản lý và các nhàkhoa học

Tuy nhiên, có một thời ngời ta đánh đồng tác phẩm vănhọc với bài minh họa chính trị, minh họa cho chủ trơng, đ-ờng lối Đến cải cách giáo dục, do cần điều chỉnh cách hiểunày nên chỉ tập trung học và dạy các tác phẩm văn học hìnhtợng- sử dụng yếu tố tởng tợng, h cấu (fiction)

Trong những năm gần đây, Bộ Giáo dục & Đào tạo lạitiến hành những cải cách mới, mặc dù công cuộc cải cách

đang trong giai đoạn thí điểm nhng tôi nhận thấy học sinh

đã có những tiến bộ rõ rệt, nhất là khi sách giáo khoa đãcung cấp đợc cách đọc – hiểu văn bản cho học sinh với những

hệ thống câu hỏi – bài tập và những chỉ dẫn cụ thể cho họcsinh tự tìm hiểu văn bản

Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy, tôi thấy có hai điềunổi cộm:

- Việc dạy văn thờng quá nghiêng về việc thẩm bình.Trong giờ văn chủ yếu là giáo viên (GV) giảng văn cho học sinh(HS) nghe GV nói lại cho HS nghe cách hiểu của mình về tácphẩm nào đó một cách say sa mà không cần biết HS củamình có cảm nhận đợc không

- Khi dạy các tác phẩm văn học, GV thờng quên hoặc chachú ý hình thành cho HS kiến thức, kỹ năng đọc, hiểu tácphẩm nên học tác phẩm nào, HS chỉ biết tác phẩm ấy Vìthế mắc phải tình trạng mặc dù đã đợc học rất nhiều thơvăn ở các thể loại khác nhau, vào các thời kỳ khác nhau nhnghọc sinh chỉ biết phân tích, bình giảng đợc các bài đãnghe giảng trên lớp, thậm chí chỉ làm đợc bài khi đã đợctrang bị các bài văn mẫu Đề thi chỉ cần cho phân tích mộttác phẩm văn học nào đó khác đi một chút là đa số HS

Trang 3

đành bó tay, hoặc viết một cách ngô nghê dẫn tới lệch đề,thậm chí lạc đề Kết quả là điểm bài làm văn rất thấp.

Để giúp GV - HS khắc phục đợc những tình trạng trên,nâng cao năng lực đọc- hiểu và cảm nhận tác phẩm- các emphát huy đợc tính chủ động, sáng tạo, thể hiện lại đợc những

điểm đã phân tích, phát hiện thêm đợc những ý mới, chitiết mới trong mỗi bài từ đó giúp các em làm tốt bài làm

văn, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: "Một vài suy nghĩ

- Hiểu văn – dạy văn của Nguyễn Thanh Hùng – Nhà xuấtbản Giáo dục

- Bình văn của Trần Hoà Bình, Văn Giá, Lê Dy

c Dự giờ giáo viên giảng, xem xét mức độ tiếp thu của

HS, khảo sát tình hình thực tế việc học môn Ngữ văn củaHS

Trang 4

Trên cơ sở đó rút ra những biện pháp cơ bản giúp HSphân tích các tác phẩm văn học thông qua một số bài soạn-giảng minh họa.

Trang 5

là rõ Để tồn tại, con ngời thích nhận cá Để phát triển, conngời muốn có cần câu Nếu khoa học hiện đại xem chứcnăng dạy- học là phát triển thì rõ ràng phải có cách nhìn, sự

đánh giá và cả những đòi hỏi ngày càng cao với khoa học phơng pháp

So với các bộ môn học khác trong nhà trờng, ngữ văn làmôn học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệthuật Nó có khả năng nhanh nhạy nhất để đi sâu vào tâmlinh lớp bạn đọc trẻ tuổi, lắng đọng kết tinh trong tâm hồn

họ những niềm hứng thú, say mê, sự chân thành, cởi mởmộc mạc và thấm đẫm hơng vị tình đời, tình ngời, giúp họkhao khát vơn tới cái chân- thiện- mỹ

Do vậy, dạy văn - học văn chính là dạy và tập cho HS tựbiết tiếp nhận văn chơng một cách sáng tạo, là phải bồi dỡngnăng lực t duy văn học, t duy thẩm mỹ để mỗi em có thóiquen tiếp nhận chủ động những giá trị văn minh, văn hoátinh thần của dân tộc và nhân loại

I Mối quan hệ giữa văn bản văn học - đối tợng tiếp nhận của bạn đọc với học sinh trong nhà trờng- chủ thể tác động thẩm mỹ.

Văn chơng bao giờ cũng là sản phẩm của một tâm hồn,một tấc lòng nghệ sĩ rung động trớc cuộc đời Ngời sáng tácnào, dù tâm hồn có bay bổng đến đâu nhng khi sáng táccũng muốn tìm đến những bạn đọc tri âm, tri kỷ, nhữngngời muốn cùng tác giả đi đến những miền sâu kín nhấtcủa cuộc đời, của trái tim, của tâm hồn hay cũng muốn phiêu

Trang 6

lu trên những đoạn đờng đầy ma nắng gập ghềnh gai góc

mà cực kỳ hấp dẫn

Và bạn đọc cũng vậy, đọc văn chơng, họ cũng muốntìm nơi để gửi gắm tấc lòng, để thể nghiệm, nếm trải,song không phải bao giờ tác giả và bạn đọc cũng gặp nhau ởvăn bản Có khi ngời đọc có thế giới nội tâm trùng với thế giớinội tâm của nhà văn, cả hai gặp nhau trong mối quan hệqua lại đợc nảy sinh từ hai phía, giúp ngời đọc đi sâu vàothế giới huyền ảo, tạo nên sự hoà đồng thẩm mỹ Nhiều khingời đọc sáng tạo văn bản, phá vỡ chuẩn mực mà tác giả gửigắm trong văn bản, họ phát hiện thêm đợc những tầng ýnghĩa mới, một giá trị mới, đôi khi bất ngờ Cũng có khi ngời

đọc không hiểu đợc ý đồ sáng tạo của nhà văn hoặc tiếpnhận văn bản ngợc với khuynh hớng t tởng của họ

Thật ra, một văn bản văn học (VBVH) khi mới xuất hiệnphải gợi cho ngời đọc những điều họ đã biết, đặt họ vàomột hoàn cảnh, cảm xúc nhất định, chuẩn bị cho họ mộtcách tiếp cận nhất định và tạo cho họ tâm lý chờ đợi nhữngcái mới mẻ của tác phẩm

Về phía ngời đọc, họ cũng phải có một trình độ vănhoá, vốn sống, trình độ nhận thức thẩm mĩ, hứng thú, nhucầu khát vọng nhất định khi tiếp xúc với một VBVH Bởi việc

đọc VBVH góp phần làm phong phú tinh thần, thế giới quan,nhân sinh quan nhận thức cho bạn đọc Song sự phát triển

đó cũng đầy mâu thuẫn Do vậy, nếu có sự hớng dẫn, bổsung giải thích thì sự tiếp nhận của họ sẽ đúng đắn hơn,hoàn thiện hơn, tránh những sự hiểu sai, suy diễn áp đặtmột cách đáng tiếc

II.Vai trò của ngời giáo viên trong việc định hớng phân tích tác phẩm văn học.

2.1 Giáo viên - nhà phê bình văn học trong nhà ờng phổ thông.

Sự giống nhau và khác nhau giữa nhà phê bình và nhàgiáo trong quá trình phân tích VBVH là ở chỗ: ngời GV tronggiờ dạy học phải xây dựng mối quan hệ liên chủ thể: nhà văn– giáo viên – học sinh thông qua VBVH GV phải thực hiện đợccuộc đối thoại tay ba giữa ba chủ thể trên

Trang 7

GV – ngời bắc cầu nối giữa văn bản với HS, ngời tạo ra

sự hoà đồng giữa hai quá trình tác động của văn bản và sựtiếp nhận các tác động thẩm mỹ của văn bản ở HS

Khi GV và HS phân tích một VBVH, GV bao giờ cũng ớng dẫn HS phân tích văn bản đó theo một quan điểm đã

h-định hớng để giúp HS từng bớc - qua các hoạt động - hiểu

đợc giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản

Dạy văn là một nghệ thuật – nghệ thuật cảm thụ cái

đẹp và phô diễn cái đẹp Giờ dạy VBVH phải có sức hấp dẫn,thuyết phục cao từ và bằng chính cái đẹp của văn chơng,làm cho văn chơng trở nên lung linh, diệu kỳ, hấp dẫn sự say

mê của HS Ngời GV phải biết gợi, biết mở ra những điều bí

ẩn sau câu, chữ, hình ảnh nằm chết cứng trên trang giấy

để chúng lên tiếng đối thoại với mỗi HS Đây là quá trìnhngời GV hóa thân vào văn bản, sáng tạo lại văn bản thành mộttác phẩm sinh động, có hồn

2.2 Ngời giáo viên có vai trò quyết định trong việc

mở rộng, nâng cao tầm đón nhận tác phẩm văn học của học sinh và giúp các em khắc phục khoảng cách giữa văn bản và bạn đọc.

GV thực hiện giao tiếp giữa thầy và trò thông qua vănbản Bằng việc tìm ra những chi tiết, vấn đề có lợng thôngtin cao nhất để hớng dẫn học sinh phân tích, bình giá Ngờigiáo viên phải nâng cao, mở rộng tầm nhận thức cho học sinhbằng chính vốn văn học, vốn sống của mình, bằng nhữngkiến giải độc đáo đầy sức thuyết phục Với việc cắt nghĩa

lý giải văn bản GV giải mã các ký hiệu, thông tin thẩm mỹ(từ, câu, đoạn văn ) mà tác giả đã mã hoá trong văn bản đểtìm ra những thông điệp thẩm mỹ tác giả muốn gửi đếncho ngời đọc Muốn vậy, GV phải tạo ra sự bùng nổ nhận thứctrong quá trình dạy- học VBVH Sự bùng nổ đó dẫn tới sự khaisáng làm mở rộng, thay đổi, nâng cao tầm nhận thức đemlại sự hứng khởi trong sáng tạo, trong tìm tòi và phát hiện ởmỗi em

Để có thể tạo ra sự bùng nổ nhận thức, cần có những

điều kiện sau:

- Giáo viên đa ra một nghịch lý, một phản đề trongVBVH hoặc chọn một kiến giải độc đáo, bất ngờ của tác giả

Trang 8

- Tạo ra mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái cha biết đểkích thích trí tuệ, hứng thú, thị hiếu của HS.

- Khi HS vỡ lẽ trớc một vấn đề, một quan niệm đạo đức

và thẩm mỹ của tác giả làm đảo lộn các quy tắc đạo đức,chuẩn mực truyền thống và tạo ra chuẩn mực mới (ví dụ quanniệm về cái đẹp và cái xấu của Nam Cao khi tả nhân vậtThị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo)

Sự bùng nổ nhận thức có vai trò rất quan trọng trongviệc GV giúp HS nâng cao tầm đón nhận và khắc phụcnhững khoảng cách thẩm mỹ

Về phía HS, vì hoạt động tiếp nhận và hoạt động tự

định hớng diễn ra bên trong mỗi em (phụ thuộc vào cá tính,tâm lý, nhu cầu, hứng thú, niềm tin ) nên GV cần giúp các

em tự phân tích, chọn lựa những tác động thẩm mỹ trongvăn bản Hoạt động định hớng đó trở nên tích cực hơn khi

có sự tác động đúng lúc, đúng chỗ của ngời thầy, khiến các

em chủ động, tự giác, tích cực hơn khi tham gia vào cuộc

đối thoại với tác giả thông qua văn bản để mỗi em tự giáodục, tự điều chỉnh, tự phát triển cho mình

2.3 Giáo viên - ngời định hớng cho học sinh cách xác

định trung tâm thẩm mỹ.

Đây là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt bởi xác địnhtrung tâm thẩm mỹ là nhiệm vụ chính của ngời phân tíchtác phẩm Nếu không xác định đợc trung tâm thẩm mỹ, cả

GV và HS sẽ sa đà vào những chi tiết vụn vặt, thứ yếu đôikhi tràn lan mà bỏ qua vấn đề trung tâm, vấn đề cốt lõicủa tác phẩm đó

* Thế nào là trung tâm thẩm mỹ trong tác phẩm văn học?

Trung tâm thẩm mỹ trong tác phẩm văn học là vấn đềtrung tâm, cơ bản, cốt lõi của tác phẩm Trung tâm thẩm mỹphải thể hiện rõ ràng, chính xác nội dung tác phẩm, đặc tr-

ng thẩm mỹ của tác phẩm và ý đồ nghệ thuật của tác giả Nó

đóng vai trò chi phối toàn bộ tác phẩm cả về nội dung vàhình thức, làm bật sáng t tởng chủ đề của tác phẩm

* Cách xác định trung tâm thẩm mỹ khá đa dạng.

Trang 9

Đôi khi ở một tác phẩm, nhan đề lại đóng một vai trò

quan trọng, có khi quyết định Chính nhan đề sẽ giúp chongời phân tích phát hiện ra trung tâm thẩm mỹ

Cũng có khi nhan đề tác phẩm lại chính là toàn bộ t ởng chủ đề của tác phẩm do đó bắt buộc ngời phân tíchphải chú ý đến tên tác phẩm

VD: Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu, cả bài thơ tập

trung thể hiện chủ đề tình đồng chí Chủ đề ấy thấm

sâu vào từng chi tiết nghệ thuật của tác phẩm và đợc thểhiện với sự tăng tiến qua ba đoạn của bài thơ Bài thơ viếttheo thể tự do, có 20 dòng chia làm 3 đoạn Đoạn đầu có thểxem nh là sự lý giải về cơ sở của tình đồng chí Đoạn thứ hai

là những biểu hiện của tình đồng chí và sức mạnh của nó

Ba dòng thơ cuối đợc tác giả tách ra thành một đoạn kết,

đọng lại và ngân rung với hình ảnh đặc sắc “Đầu súngtrăng treo” nh là một biểu tợng giàu chất thơ về ngời lính Song sẽ là sai lầm nếu ngời phân tích chỉ dựa vàonhan đề tác phẩm, bởi nhiều khi với mục đích hấp dẫn bạn

đọc hoặc để đánh vào thị hiếu nhất thời của một số côngchúng độc giả, các tác giả đã đa ra những nhan đề hoàntoàn xa rời chủ đề Do đó trong quá trình tìm trung tâmthẩm mỹ, cần phải đặt nhan đề trong toàn bộ nội dungphản ánh của tác phẩm

VD: Bài “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, mới đọc

tên, ngỡ nhà văn nói về một điều gì im ắng, hắt hiu, giálạnh Vậy mà thật kỳ diệu, trong cái lặng lẽ của Sapa vẫnvang ngân lên những âm thanh trong sáng, vẫn ánh lênnhững sắc màu lung linh, lan toả hơi ấm tình ngời và sựsống, sự sống của rừng cây, những đoá hoa, những tấmlòng nhân hậu Chính những vang âm, sắc màu và hơi ấmcủa một vùng lặng lẽ ấy đã khơi gợi trong biết bao lớp ngời

đọc tác phẩm này tình yêu tổ quốc, tình yêu con ngời,những con ngời đã một thời biết sống đẹp, suy nghĩ đẹp,

để từ đó mà hớng tới, tìm cho mình một vẻ đẹp riêng trong

sự sống, cách sống của mỗi con ngời

* Cách chọn trung tâm thẩm mỹ

Để chọn đợc trung tâm thẩm mỹ, ngời phân tích phải

đảm bảo hai yêu cầu sau:

- Phải chú ý tới giá trị tiềm tàng của nó

Trang 10

- Phải đảm bảo mục tiêu phản ánh của tác phẩm.

Từ đó đi tới xác định từng vấn đề sau:

+Tìm tất cả các chi tiết có giá trị đối với việc tìmtrung tâm thẩm mỹ

* Các bớc chọn trung tâm thẩm mỹ

Bớc 1: đọc kỹ tác phẩm

Bớc 2: phân tích và xác đinh nội dung phản ánh

Bớc 3: chọn những chi tiết đặc trng tiêu biểu nhất

Bớc 4: thiết lập mối quan hệ cú pháp giữa các chi tiết trongtác phẩm; sau đó sắp xếp chúng theo quan điểm nhậnthức tác phẩm của ngời phân tích bằng cách ghép nhữngchi tiết làm sáng tỏ nội dung

2.4 Giáo viên - ngời tổ chức, điều khiển hoạt động

phân tích tác phẩm văn học của học sinh.

Tổ chức cho HS tiếp nhận một VBVH nghĩa là GV tổchức cho các em tham gia vào một quá trình xã hội để đạt

đợc những hiệu quả xác định Đó là:

- Quan hệ giữa HS với tác giả thông qua văn bản để các

em nhận thức đợc hiện thực đời sống và con ngời đợc phản

ánh trong văn bản đó

- Quan hệ giữa HS với thời đại đợc phản ánh trong vănbản và thời đại mà văn bản xuất hiện

- Quan hệ giữa HS với thời đại mà các em đang sống

- Quan hệ giữa HS với GV

- Quan hệ giữa các HS với nhau trong một lớp học cụ thể Thông qua những mối quan hệ này, GV động viên HSbộc lộ những suy nghĩ của các em về những vấn đề thuộcthế giới quan chính trị, tình cảm thẩm mỹ, hoặc những vấn

đề mà tác giả đặt ra trong văn bản

Trang 11

GV có thể tổ chức cho các em thảo luận, đánh giá vàtrao đổi những tình huống hoặc những vấn đề mangtính chất nhân cách từ đó mở rộng nâng cao hiểu biết vàphát triển các phẩm chất nhân cách ở HS.

Để tổ chức và điều khiển hoạt động đánh giá VBVH,giáo viên cần chú ý: việc đánh giá không chỉ gói gọn trongvấn đề VBVH ấy đã miêu tả nh thế nào mà còn là văn bản ấy

đã đặt ra cái gì đối với ngày nay và còn có thể là cái gì

đối với tơng lai

Song vấn đề đặt ra là quá trình nhận thức của HSphải đợc nhận thức và điều khiển nh thế nào, thông qua cáchoạt động nào để phân tích

III Các phơng pháp, biện pháp cụ thể để hớng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm văn học trong nhà trờng THCS.

3.1 Phơng pháp 1: Phơng pháp đọc.

Đọc tác phẩm là hình thức hoạt động đặc thù của nhậnthức văn học Đây là hoạt động giao tiếp giữa ngời đọc vớitác giả thông qua văn bản Đó là giao tiếp văn học, giao tiếpthẩm mỹ xã hội nhằm tạo nên sự hoà đồng giữa tác giả và bạn

đọc làm cho khoảng cách giữa tác phẩm với ngời đọc đợc rútngắn lại

Đọc tác phẩm là biến chữ viết thành lời nói sinh động,biến dòng chữ vô tình thành lời nói hữu tình, từ đó giúp

HS đi sâu vào thế giới hình tợng, thế giới cảm xúc, làm chochúng hiện lên trong tâm tởng HS, từ đó các em cảm giác đ-

ợc sự vật, hình ảnh, con ngời

Giọng đọc biến đổi theo những xúc động, rung cảmcủa ngời đọc, từ đó mà ngời đọc và ngời nghe cùng cảmnhận đợc chiều sâu t tởng trong tác phẩm và ý đồ nghệthuật của nhà văn gửi gắm trong đó

Qua đọc tác phẩm, HS sẽ lĩnh hội đợc hiện thực cuộcsống, lịch sử đợc phản ánh thông qua các hình tợng nghệthuật, hiểu đợc những vấn đề về con ngời, cuộc sống, lý t-ởng, đạo đức, triết học và bớc đầu tiếp xúc với quan niệmnghệ thuật của tác giả

* Việc đọc tác phẩm phải làm rõ:

Trang 12

- Giọng điệu của nhà văn khi kể chuyện (lúc hào hùng,mạnh mẽ, lúc lại mềm mại, mợt mà, giàu chất thơ, khi thì sâulắng ).

- Phải thể hiện đợc tính cá thể hoá, tính đối thoạitrong ngôn ngữ tác phẩm qua giọng kể chuyện, cách trầnthuật (đối thoại giữa các nhân vật, lời độc thoại nội tâm, lờinói của nhân vật và lời của nhà văn )

- Phải thể hiện đợc các cung bậc cảm xúc của tác giả Qua việc thể hiện chính xác ngôn ngữ của tác phẩm,

HS dần dần hiểu đợc phong cách nghệ thuật của nhà văn,nhà thơ và tính cách của nhân vật trong các tác phẩm vănxuôi cũng nh nắm đợc giọng điệu, cảm xúc trong thơ Việc đọc tác phẩm phải đạt đợc hai yêu cầu:

+ Giúp HS tìm hiểu thế giới nghệ thuật nhận thức về cuộcsống mà nhà văn thể hiện

+ Tạo nên sự hòa điệu giữa tác giả và bạn đọc – học sinh.Việc đọc chia làm hai giai đoạn:

* Đọc đúng: Đọc trung thành với văn bản tác phẩm, ngừng

nghỉ đúng nguyên tắc, phải thể hiện đợc cao độ, cờng độ,trờng độ của từng âm thanh, không quá cờng điệu hoặctuỳ tiện trong giọng đọc

Thông thờng để đọc đúng, HS phải đọc thầm trớc mộtlần để hiểu tác phẩm, hiểu đợc t tởng tác giả, rồi vừa đọcvừa nhấn sâu vào trí tởng tợng của ngời nghe, làm bật lên ở

họ những hình ảnh và suy nghĩ qua các âm thanh, quagiọng đọc

* Đọc diễn cảm:

Cao hơn đọc đúng một bậc Kiểu đọc này yêu cầu HSphải biết phát huy chất giọng đọc cho phù hợp với giọng kểchuyện của nhà văn Đọc diễn cảm chính là quá trình tựphân tích tác phẩm bằng âm thanh của ngời đọc, đem lạicho âm thanh những quầng sáng ý nghĩa

M Gorki đã nói: “Đọc diễn cảm cũng là một hoạt độngsáng tạo nghệ thuật Có khác chăng là nhà văn đi từ t tởng

đến ngôn ngữ, ngời đọc lại đi từ ngôn ngữ đến t tởng” GVcần nhận thấy vai trò to lớn của việc đọc diễn cảm trongviệc tạo ra sự gắn bó, gần gũi giữa tiếng nói của nhà văn với

HS

Đọc diễn cảm sẽ giúp ngời đọc hình dung ra đâu làgiọng kể, đâu là giọng tả, giọng trần thuật, đối thoại và

Trang 13

đâu là giọng điệu của “ Cái tôi ngời kể chuyện”, “ cái tôi trữtình” làm nổi những cung bậc tình cảm, làm cho lời văn,lời thơ âm vang (lúc hào hùng, lúc tha thiết, lúc lắng sâu)

Việc đọc diễn cảm đòi hỏi GV- HS phải vận dụng vốnsống, vốn tri thức, năng lực liên tởng, tởng tợng hết sức phongphú của mình để đón bắt thông điệp của nhà văn trongtác phẩm

GV phải có sự hiểu biết nhất định về phong tục tập quán,nếp sống văn hoá, lịch sử, xã hội Có kinh nghiệm sống, kinhnghiệm thẩm mỹ thì mới có thể cắt nghĩa một cách chínhxác

Trang 14

Với thơ cổ, để cho việc cắt nghĩa đợc chính xác và

có hiệu quả thì cần nắm đợc đặc trng thi pháp thơ cổ,nắm đợc những vấn đề về nội dung, t tởng, phơng tiệnnghệ thuật của ngời xa

Việc cắt nghĩa bao gồm:

+ Cắt nghĩa từ: nghĩa hàm ngôn, nghĩa hiển ngôn

+ Cắt nghĩa câu: cắt nghĩa cấu trúc ngữ pháp của câu

để từ hình thức biểu đạt chỉ ra cái đợc biểu đạt trongcâu

+ Cắt nghĩa hình ảnh: để làm bật sáng hình ảnh trongbài thơ, làm rõ dụng ý nghệ thuật của tác giả

Cắt nghĩa và phân tích phải đi liền với nhau Quátrình cắt nghĩa là làm sáng tỏ những điểm sáng tạo độc

đáo của tác phẩm, góp phần làm phát triển ngày càng caonăng lực tiếp nhận độc lập của HS, đồng thời làm sâu sắcthêm sự hiểu biết về văn học nghệ thuật của các em, giúpcác em đi sâu vào sự lĩnh hội thẩm mỹ, nắm chắc nhữngyêu cầu trong giao tiếp văn học một cách trực tiếp và do đóphát triển nhân cách của HS

b Chú giải sâu

Biện pháp này dùng cho việc dạy văn học cổ và văn họcnớc ngoài Chú giải sâu là cách làm sáng tỏ một khái niệm,một phạm trù lạ bị che đậy hoặc ẩn tàng dới một hình thứcngôn ngữ bác học hoặc ngôn ngữ lịch sử để biến chúngthành cụ thể, dễ hiểu và đặt chúng trong mối quan hệ vớitác phẩm để thấy đợc ý nghĩa tác dụng của chúng trong tácphẩm

Đây là phơng pháp rất thích hợp với thơ cổ bởi vì ngônngữ thơ cổ là ngôn ngữ rất uyên bác, hàm súc Hình thứcchữ Hán, chữ Nôm vốn đã khó hiểu với HS, lại thêm các biệnpháp nghệ thuật nh : ớc lệ, tợng trng, điển tích, điển cốkhiến cho các bài thơ đó càng trở nên xa lạ và khó tiếp nhận.Vì vậy chú giải sâu chính là phơng pháp rút ngắn khoảngcách thẩm mỹ giữa HS với thơ cổ để tiếp nhận tác phẩm cóhiệu quả, giúp cho lớp HS trẻ hiện nay dễ tiếp nhận

Chú giải sâu bao gồm:

+ Chú giải từ

+ Chú giải điển cố

VD: Khi dạy đoạn trích “Kiều ở lầu Ngng Bích” của Nguyễn

Du, GV cần lu ý giải nghĩa:

Trang 15

- Trớc lầu Ngng Bích khóa xuân- từ khoá xuân có thể

chỉ ngời con gái đẹp cấm cung ( "Một nền Đồng Tớc khoáxuân hai Kiều" ), nhng ở câu này, Kiều ra lầu Ngng Bíchsau khi đã bị Mã Giám Sinh phá đời thiếu nữ, định tự tử màkhông chết đợc, thực chất là nàng bị giam lỏng Vì vậy ở

đây “khoá xuân” có ý mỉa mai, nói lên cảnh ngộ trớ trêu của

Kiều, vừa bị lừa, bị mắng, tự tử không thành, lại bị giamlỏng, Kiều rất cô đơn buồn tủi

- Nửa tình nửa cảnh: nói lên sự băn khoăn không biết

nên xử sự thế nào trớc mâu thuẫn giữa tình cảm và hoàncảnh

- Rày trông mai chờ: nói sự mong chờ hết ngày này qua

ngày khác

- Góc bể chân trời: nói nơi xa xôi hẻo lánh.

- Chân mây cuối trời: chỉ ngời phải xa rời quê hơng

không có tin tức gì

Hoặc những điển cố:

- Tin sơng: có nghĩa là “tin nhạn”, làm sứ giả đa tin tức.

- Tấm son: tấm lòng đỏ nh son, không bao giờ phai

nhạt, chỉ lòng trung thành

- Tựa cửa: dựa theo tích bà mẹ của Vơng Tôn Giả đợi

chờ con

- Quạt nồng ấp lạnh: dựa theo tích “Hoàng Lơng quạt gối

ấp chăn”, quạt khi trời nóng, làm ấm chỗ nằm khi trời lạnh, chỉ việc lễ giáo ngày xa đòi hỏi con cái phải hầu hạ phụng d-ỡng cha mẹ

- Sân lai: dựa theo tích về lão Lai Tử sống thời Xuân

Thu nổi tiếng là ngời con có hiếu, 70 tuổi rồi mà còn giả tròchơi con trẻ cho cha mẹ vui

- Gốc tử: gốc cây thị cha mẹ trồng, dùng để tỉ dụ quê

nhà Cây tử đã lớn lắm rồi, đã “vừa ngời ôm” , ý nói cha mẹ

đã già lắm

Cảnh vật trong truyện Kiều vừa là bức tranh thiên nhiên,vừa là bức tranh tâm trạng Đoạn tả cảnh trớc lầu Ngng Bích làmột trong những đoạn thơ tiêu biểu nhất cho nghệ thuậtmiêu tả kết hợp hài hoà giữa ngoại cảnh và tâm cảnh Baotrùm tâm trạng Kiều khi ở lầu Ngng Bích là những nỗi buồn:buồn nhớ ngời yêu, buồn nhớ cha mẹ và buồn cho chínhmình Làm sao có thể diễn tả đợc hết tâm trạng đó.Nguyễn Du đã chọn cách tả cảnh ngụ tình cùng với những

Trang 16

Cái khó đối với ngời GV dạy văn là làm sao trong giờ học

tạo ra đợc bầu không khí văn chơng Sẽ là tẻ nhạt nếu giờ họcvăn chỉ là một giờ truyền đạt kiến thức đơn thuần: thầygiảng, trò ghi

Với tinh thần: thầy chủ đạo, tổ chức dẫn dắt trò tựkhám phá, cảm thụ Qua một số hệ thống câu hỏi hợp lý, GVtạo ra tình huống để HS quan sát, nhận biết, đối chiếu, sosánh, hình dung, liên tởng, nhận biết về những điều cầnthiết

Muốn vậy, trớc giờ học: GV phải nghiên cứu, tìm hiểu kỹtác phẩm, hiểu đúng đợc ý định của tác giả (cách xây dựngnhân vật, thiết kế tình tiết) Vận dụng những hiểu biết,xác định kiến thức cần đạt để dự kiến cách tổ chức giờdạy

HS coi trọng việc đọc để bớc đầu nắm đợc tác phẩm,tóm tắt đợc truyện theo sự hớng dẫn của GV (coi trọng việclập hệ thống diễn biến các ý chính Dựa vào hệ thống nàybiến thành đoạn văn tóm tắt tác phẩm )

Dựa vào tiến trình lên lớp, theo mục tiêu giáo dục, giáodỡng, phát triển; theo nội dung hay tính chất để ra câu hỏi.Tuy nhiên các câu hỏi này cần đảm bảo một số tiêu chuẩnkhoa học nhất định:

- Các câu hỏi đàm thoại ngoài tính chất chính xác, rõràng phải có màu sắc văn học, có khả năng khêu gợi tìnhcảm, xúc động thẩm mỹ cho HS

- Câu hỏi phải vừa sức HS, thích hợp với khuôn khổ củamột giờ học trên lớp, vừa phải có khả năng “gợi vấn đề”, suynghĩ tìm tòi sáng tạo cho HS

- Câu hỏi không tuỳ tiện, phải đợc xây dựng thànhmột hệ thống logic, giúp HS từng bớc đi sâu vào tác phẩm

nh một chỉnh thể

- Cần có sự phối hợp cân đối giữa loại câu hỏi cụ thể

và loại câu hỏi tổng hợp gợi vấn đề Câu hỏi có khi theo lối

Trang 17

diễn dịch, có khi theo lối quy nạp nhng đều nhằm cung cấpcho HS một hệ thống kiến thức vững chắc.

- Nói chung, câu hỏi phải căn cứ vào đặc điểm nộidung nghệ thuật của tác phẩm nhằm giúp HS nắm chắc tácphẩm

- Cũng có loại câu hỏi nằm ngoài nội dung, nghệ thuậttác phẩm nhng vẫn nhằm mục đích giúp cho HS hiểu tácphẩm Đó là loại câu hỏi hỗ trợ

GV phải tạo cho HS cùng bình đẳng thảo luận về mộtvấn đề, một hiện tợng văn học hay một nhân vật nào đótrong tác phẩm cụ thể Trong quá trình thảo luận, thầy- tròkhông chỉ khẳng định suông những kết luận quen thuộc

mà nên đẩy suy luận theo một hớng mới, biến nó thành mộtcuộc tìm kiếm chân lý Trong bầu không khí đó, HS hoặc

cố gắng tự khẳng định những suy nghĩ có tính chất pháthiện, độc đáo phù hợp với nội dung bài học hoặc sẽ hìnhthành những cảm xúc mới đạt tới mức trí tuệ và thay đổicách nghĩ cũ

GV có thể tìm ra những loại câu hỏi đi từ đơn giản

đến phức tạp, mỗi câu hỏi phải tiềm ẩn trong nó khả năng

đa dạng hoá câu trả lời để châm ngòi cho sự bùng nổ cuộctranh luận HS đợc phép phát biểu những ý kiến khác nhau,thậm chí đối lập nhau từ đó các em có thể đào sâu, khámphá ra những cách giải quyết mới và tự các em so sánh nhữngphơng án trả lời để đi tới kết luận thống nhất

Các câu hỏi luôn chứa đựng tính phức tạp, đôi khi códạng mâu thuẫn làm HS không dễ trả lời (Trên nền nội dungtác phẩm cần tìm ra những ý ngầm của tác phẩm đó)

Câu hỏi làm nhiệm vụ thu hút lôi cuốn HS đáp ứng nhucầu và có khả năng xâu chuỗi các phạm vi hiêủ biết của các

em, đồng thời phải tơng ứng với bản chất của văn chơng, vớilogic khoa học về văn học

3.4 Phơng pháp 4: Phơng pháp giảng bình.

* Vị trí quan trọng của phơng pháp giảng bình:

Giảng và bình vẫn là việc làm khá quen thuộc đối vớinhiều GV văn học Hình nh nó đã trở thành một thứ bí quyếttrong giảng văn Ai biết bình và giảng giỏi thì giờ giảng văn

sẽ hứng thú, mang màu sắc cảm xúc văn học rõ rệt Không có

Trang 18

một giờ giảng văn nào thành công mà lại thiếu đợc lời bìnhcủa GV

Trong thực tế, nhiều GV đã sử dụng phơng pháp này làchủ yếu trong các giờ lên lớp Tuy nhiên, việc đúc kết kinhnghiệm và xác định những cơ sở lý luận cần thiết cho ph-

ơng pháp này từ trớc đến nay vẫn cha đợc đặt ra một cách

đúng mức Bình giảng với t cách là một phơng pháp cũng

ch-a đợc đặt đúng với vị trí và tầm quch-an trọng củch-a nó Có thểnói giảng, bình là một phơng pháp có tính đặc thù của cảmthụ và truyền thụ văn thơ

* Nguyên tắc giảng bình:

- Giảng là phân tích- giải nghĩa, giảng giải giúp cho

HS hiểu đợc nghĩa hình ảnh và nắm đợc ý nghĩa về nộidung, hình thức nghệ thuật

- Bình là đánh giá, nêu nhận xét chủ quan của mìnhgiúp ta thởng thức đợc cái hay, cái đẹp của tác phẩm

Ngời bình văn thơ phải là ngời hiểu, cảm sâu sắc tácphẩm Hiểu biết về tác phẩm nhuần nhuyễn đến độ biếnthành rung động cảm xúc, tình cảm chủ quan

Ngời GV bình văn thơ giúp nhà văn đa tiếng nói đếnvới ngời nghe, ngời đọc một cách nhanh nhạy, sâu lắng Đểkhỏi lấn át hay nói lạc tiếng nói của nhà văn, một ý thức vềmức độ bao giờ cũng là điều hết sức cần thiết Và bài vănbao giờ cũng phải là cơ sở cho mọi lời bình giảng khen chê.Khi bình giảng, ngời GV có quyền lựa chọn và nhất thiếtphải lựa chọn điều gì, điểm gì đáng bình nhất Phạm vibình rất rộng, có thể là đề tài, là chủ đề, là kết cấu, ýnghĩa, tác dụng của tác phẩm, thậm chí có thể đi sâu vàomột khía cạnh sâu sắc, độc đáo trong phong cách của nhàvăn, nhà thơ Song điều quan trọng nhất vẫn là làm sao tạodần dần từng bớc cho HS một ấn tợng

VD: Trong kho tàng văn học cổ Việt Nam, Truyện Kiều

của Nguyễn Du là tác phẩm kiệt xuất nhất Tác phẩm khôngchỉ nổi tiếng vì cốt truyện hay, lời văn trau chuốt, giá trị tốcáo đanh thép, giá trị nhân đạo cao cả mà còn vì cácnhân vật trong truyện đợc ngòi bút sắc sảo của Nguyễn Dumô tả vô cùng đẹp đẽ, sinh động Đặc biệt là các nhân vật

mà tác giả tâm đắc nhất nh Thuý Vân, Thuý Kiều, KimTrọng,

Trang 19

Đọc Truyện Kiều, ai cũng thấy thơng yêu, quý mến ThuýKiều Bởi lẽ nàng là một con ngời tài sắc tuyệt vời nhng cũnglại là ngời có lòng thơng cảm, có tình yêu thơng dào dạt Conngời ấy đáng lẽ phải đợc sống hạnh phúc, nhng xã hội phongkiến đã chà đạp, xô đẩy số phận của nàng tới đáy xã hội.Tiếng kêu của Kiều trớc cuộc đời, trớc số phận cũng là tiếngkêu của Nguyễn Du trớc số phận, cuộc đời của những kiếpngời bị đày đọa

Hoặc: Truyện Kiều đã chinh phục đợc hàng triệu tráitim và khối óc của bạn đọc Vì sao Truyện Kiều lại có sứchấp dẫn kỳ lạ ấy? Có ngời cho rằng đó chính là do tài năngcủa Nguyễn Du? Có ngời cho đó là do tấm lòng của NguyễnDu? Có ngời cho đó là do cả hai: tài năng và tấm lòng củaNguyễn Du? Chắc chắn đúng là vậy !

- Cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa giảng và bình

Nhờ bình mà lời giảng thêm sâu nhng bình phải dựatrên giảng Giảng không bình thì ý gọn mà khô Bình màkhông giảng thì ý đồ miên man, xa vời Có khi giảng cho vỡnghĩa Không hiểu thì làm sao bình đợc GV phải chú ý giảithích từ ngữ, điển cố, ý định của nhà văn sau đó mới đivào bình

Cũng có khi giảng - bình đi song song, vừa giảng lạivừa bình Bình để đào sâu, xoáy vào ý kiến định truyền

đạt cho HS

VD: Khi giảng bài “ Bốn tháng rồi” của Hồ Chủ tịch, GV

nhất định phải giảng cho HS hiểu mấy từ: “khác loài ngời”(phi nhân loại) HS có hiểu, GV mới bình rộng ra về nỗi khổcủa Bác, về sự tàn bạo của quân thù, về khả năng vô hạn củangời cách mạng v.v

*Những cách giảng- bình quen thuộc:

- Mục đích của GV là làm sao truyền đợc rung cảm, ýkiến của mình về tác phẩm văn chơng đến đợc với HS, làmcho HS cùng rung động, cùng suy nghĩ nh mình, phù hợp với “ý

định và nghệ thuật của nhà văn” Dĩ nhiên, hiệu quả tuỳthuộc vào tài năng của từng GV

- Có khi lời bình đợc tiến hành bằng một lời tâm sự,một câu chuyện tởng là chủ quan nhng lại có tác dụng khêugợi rất sâu xa

VD: Cây lan, cây huệ, cây hồng nói chuyện bằng hơng,

bằng hoa Cây mơ, cây cải nói chuyện bằng lá Cây bầu,

Trang 20

cây bí nói bằng quả Cây khoai, cây dong nói bằng củ,bằng rễ Bao nhiêu thứ cây, bấy nhiêu tiếng nói (theo TrầnMạnh Hảo).

- Có khi lời bình là một lời khen trực tiếp nhng có ýnghĩa khái quát về giá trị của bài thơ, áng văn

VD: Trăng đã đi vào rất nhiều bài thơ của mọi thế hệ thi

sĩ Trăng cũng đã đi vào thơ Bác ở nhiều bài thơ thuộcnhững giai đoạn khác nhau Trăng là ánh sáng, là thanh bình,

là hạnh phúc, là ớc mơ, là niềm an ủi, là ngời bạn tâm tìnhcủa Bác ánh trăng làm cho cái đẹp của cảnh vật trở nên êm

đềm sâu sắc, làm cho cảm nghĩ của con ngời thêm thâmtrầm, trong trẻo Trong thơ Bác, ánh trăng luôn luôn tràn đầy

- Bình theo con đờng so sánh, đối chiếu

VD: Nếu Thuý Vân có vẻ đẹp phúc hậu, đoan trang thì

trái lại Thuý Kiều lại mang một vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà Nếu

Thuý Vân có sắc đẹp kiều diễm, với gơng mặt đầy đặn

nh trăng tròn, miệng cời tơi nh hoa, tiếng nói trong nh ngọc

thì Thuý Kiều lại có cả sắc đẹp nghiêng nớc, nghiêng thành

với đôi mắt trong nh nớc mùa thu, đôi lông mày đẹp nh dáng

núi mùa xuân Nếu cái đẹp của Thuý Vân khiến cho mây

thua nớc tóc, tuyết nhờng màu da, thì cái đẹp của Thuý Kiều

lại khiến cho hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

B - Một số bài soạn minh họa

Bài 1: Chị em Thuý Kiều

Trang 21

2 Giáo dục ý thức yêu mến, nâng niu, trân trọng cái đẹp,

đặc biệt là đối với vẻ đẹp tự nhiên và nhân cách, tài năngcuả con ngời

3 Rèn luyện kĩ năng phân tích nhân vật, kĩ năng so sánh

vẻ đẹp nhân vật

II - Các hoạt động dạy - học chủ yếu.

* Kiểm tra bài cũ:

- Tóm tắt những nét cơ bản về tác giả, tác phẩmTruyện Kiều

- Giới thiệu khái quát giá trị nội dung- nghệ thuật TruyệnKiều

* Lên lớp:

Giới thiệu bài:

Truyện Kiều là kiệt tác của ngòi bút thiên tài Nguyễn

Du Tác phẩm hay về nhiều mặt Riêng nghệ thuật tả ngờitrong Truyện Kiều đã bộc lộ nhiều nét tinh hoa trong thơNguyễn Du Đoạn thơ miêu tả nhan sắc hai chị em Thuý Kiều

xa nay vẫn đợc coi là một mẫu mực của bút pháp cổ điển.Mặc dầu Nguyễn Du vẫn tự nhún mình nói: Truyện thơ của

ông chỉ là những “ lời quê chắp nhặt dông dài” song TruyệnKiều đợc coi là “một toà kiến trúc bằng ngôn ngữ kỳ diệutrong nền văn học dân tộc và nhân loại” Riêng đoạn thơ

“Chị em Thuý Kiều” là một góc của lâu đài ngôn ngữ ấy vớilối kiến trúc rất chặt chẽ và tráng lệ Hôm nay, cô cùng các

em cùng phân tích đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” để làm

rõ điều đó

1 Vị trí, đại ý và bố cục của đoạn trích:

- Đây là đoạn trích thuộc phần nào của truyện Kiều?

Vị trí: Đoạn trích này thuộc phần đầu của truyện Kiều,

từ câu số 15 đến câu số 38 Trớc đoạn này là những câuthơ đợc Nguyễn Du viết có tính triết lý, luận đề về tài-mệnh Sau đoạn trích, Nguyễn Du kể chuyện 3 chị em(Thuý Kiều, Thuý Vân, Vơng Quan) cùng đi chơi xuân- ThuýKiều viếng mộ Đạm Tiên và lần đầu gặp Kim Trọng

- Hãy nêu đại ý của đoạn trích

Ngày đăng: 22/02/2019, 17:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w