tiểu luận pháp luật đại cương I.KHÁI NIỆM Luật kinh tế theo quan niệm truyền thống Luật kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổ chức kinh tế XHCN hoặc giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa với nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ kế hoạch của nhà nước giao. Khái niệm về luật kinh tế Khái niệm Luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau II.ĐẶC ĐIỂM NGÀNH LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM. 1. Quá trình hình thành khung pháp lý về kinh tế ở Việt Nam Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết sách quan trọng được Đại hội VI của Đảng khởi xướng năm 1986 và ghi nhận trong nhiều văn kiện khác. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991) khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, xác định rõ giai đoạn 1996 2000 là bước quan trọng của thời kỳ phát triển mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ những chủ trương, định hướng trên đây, Quốc hội Việt Nam đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật về kinh tế: “Để phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách và mục tiêu kinh tế, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, chậm phát triển thì một trong những giải pháp quan trọng là đẩy mạnh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật kinh tế”(1). Quá trình xây dựng, ban hành những văn bản pháp luật kinh tế được tiến hành qua các giai đoạn sau: Pháp luật về kinh tế giai đoạn 1986 1992 Dấu ấn đầu tiên trong việc hình thành pháp luật thời kỳ đổi mới là Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987. Trong những năm 1988 1990, Đảng và Nhà nước đã tiến hành đổi mới có hệ thống, tương đối đồng bộ và triệt để toàn bộ nền kinh tế, cụ thể là khoán 10 trong nông nghiệp; thiết lập hệ thống ngân hàng hai cấp; thông qua Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989; ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990…
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
TIỂU LUẬN PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG Chủ đề :Tìm hiểu về ngành luật kinh tế Việt Nam NHÓM :19
1 Sinh viên thực hiện:
8 Nguyễn Thùy Dương- NNA.06
9 Nguyễn Thị Hồng Anh- NNA.0
Trang 2I.KHÁI NIỆM
Luật kinh tế theo quan niệm truyền thống
Luật kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điềuchỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế và trong quátrình sản xuất kinh doanh giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổchức kinh tế XHCN hoặc giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa với nhau nhằm thựchiện nhiệm vụ kế hoạch của nhà nước giao
Khái niệm về luật kinh tế
Khái niệm
Luật kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường là tổng hợp các quy phạm phápluật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quátrình tổ chức và quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinhdoanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau
II.ĐẶC ĐIỂM NGÀNH LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM.
1 Quá trình hình thành khung pháp lý về kinh tế ở Việt Nam
Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quyết sách quantrọng được Đại hội VI của Đảng khởi xướng năm 1986 và ghi nhận trong nhiềuvăn kiện khác Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội, thông qua tại Đại hội VII của Đảng (năm 1991) khẳng định: “Phát triển nềnkinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hànhtheo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước” Đại hội lần thứ VIII của Đảngnăm 1996 tổng kết chặng đường 10 năm đổi mới, xác định rõ giai đoạn 1996 -
2000 là bước quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩy mạnh công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước
Trang 3Từ những chủ trương, định hướng trên đây, Quốc hội Việt Nam đã ban hànhhàng loạt văn bản pháp luật về kinh tế: “Để phát triển kinh tế, thực hiện các chínhsách và mục tiêu kinh tế, sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng đói nghèo, chậm pháttriển thì một trong những giải pháp quan trọng là đẩy mạnh việc xây dựng, hoànthiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật kinh tế”(1) Quá trình xây dựng, banhành những văn bản pháp luật kinh tế được tiến hành qua các giai đoạn sau:
Pháp luật về kinh tế giai đoạn 1986 - 1992
Dấu ấn đầu tiên trong việc hình thành pháp luật thời kỳ đổi mới là Luật Đất đainăm 1987 và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Trong những năm
1988 - 1990, Đảng và Nhà nước đã tiến hành đổi mới có hệ thống, tương đối đồng
bộ và triệt để toàn bộ nền kinh tế, cụ thể là khoán 10 trong nông nghiệp; thiết lập
hệ thống ngân hàng hai cấp; thông qua Pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989; ban hành Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990…
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987, Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 là bước đột phá nhằm thể chế hóa chính sách mới và ghi nhận nhiều điểm mới so với pháp luật hiện hành thời kỳ trước Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cho phép chủ đầu tư huy động nguồn vốn từ nước ngoài vào kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận từ hoạt động đầu tư… Luật Doanh nghiệp tư nhân, Luật Công ty quy định quyền sở hữu tư liệu sản xuất, quyền thừa kế vốn, tài sản, lợi ích hợp pháp khác của chủ doanh nghiệp; thừa nhận sự tồn tại và phát triểnlâu dài của doanh nghiệp tư nhân
Pháp luật về kinh tế giai đoạn 1992 - 2012
Hiến pháp năm 1992 được Quốc hội thông qua, thừa nhận nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần Đây là cơ sở pháp lý quan trọng tạo lập sự bình đẳng giữa cácthành phần kinh tế, theo hướng thành phần kinh tế tư nhân có thể cạnh tranh bìnhđẳng với kinh tế nhà nước và khẳng định sự bảo đảm đối với tài sản của cá nhân, tổchức, cũng như định rõ những trường hợp đặc biệt khi tiến hành quốc hữu hóa
Trang 4Từ năm 1996 - 2000, nhiều văn bản được ban hành như Luật Thương mại năm
1997, Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổinăm 2000)…
Từ năm 2000 - 2005, lần lượt Luật Doanh nghiệp Nhà nước (2003), Luật Cạnh tranh (2004), Bộ luật Dân sự (2005), Luật Thương mại (2005), Luật Đầu tư (2005),Luật Sở hữu trí tuệ (2005), Luật Chứng khoán (2006)… ra đời, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật, yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và tạo dựng cơ sở pháp lý cho các loại thị trường ở Việt Nam Bộ luật Lao động năm 2012 ghi nhận nhiều quyền, nghĩa vụ của người sử dụng và người lao động
Một thay đổi có tính định hướng khác là chủ trương áp dụng án lệ Ngày
24-5-2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 48-NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,trong đó xác định chủ trương về phát triển án lệ: “Nghiên cứu về khả năng khai thác, sử dụng án lệ, tập quán (kể cả tập quán, thông lệ thương mại quốc tế) và quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp, góp phần bổ sung và hoàn thiện pháp luật…” Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng xác định: “Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật, phát triển án lệ và xét
xử giám đốc thẩm, tái thẩm”
Pháp luật về kinh tế theo Hiến pháp năm 2013
Trước những thay đổi nhiều mặt của đời sống xã hội, Hiến pháp năm 2013 được ban hành, trong đó, xác lập, ghi nhận quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về kinh tế, kinh doanh, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất đai, tài nguyên thiên nhiên
2 Pháp luật về kinh tế của Việt Nam trong 30 năm đổi mới
Pháp luật tạo lập môi trường kinh doanh
Thứ nhất, pháp luật về đầu tư: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Đầu
tư ; pháp luật về kinh doanh: Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh
nghiệp tư nhân, Luật Doanh nghiệp Nhà nước…;
Thứ hai, pháp luật về lao động: Bộ luật Lao động, Luật về người lao động Việt
Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng…
Trang 5Các văn bản nêu trên đề cập tới các phương diện khác nhau, như kinh doanh, đầu tư, quan hệ lao động, các lĩnh vực kinh doanh chuyên biệt… Điều này thể hiện
sự điều chỉnh bao quát của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh, từ quan hệ bên trong doanh nghiệp như: Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp Nhà nước, đến quan hệ bên ngoài doanh nghiệp như: Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu tư Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần được làm rõ đối với môi trường pháp lý về kinh doanh ở Việt Nam Trong số đó có thể kể đến những bất cập về điều kiện và ngành, nghề kinh doanh; tổ chức, hoạt động, giải thể và phá sản tổ chức kinh doanh; hệ thống chế tài trong kinh doanh…
Pháp luật về nghĩa vụ, giao dịch và hợp đồng
Văn bản quan trọng nhất về nghĩa vụ, giao dịch và hợp đồng là Bộ luật Dân sự Ngoài ra, còn có những văn bản như: Luật Thương mại, Bộ luật Hàng hải, Bộ luật Lao động, Luật Kinh doanh… Về nguyên tắc áp dụng pháp luật, Bộ luật Dân sự là luật gốc, quy định các vấn đề chung về nghĩa vụ, giao dịch và hợp đồng, là nền tảng cho những quy định pháp luật về hợp đồng và áp dụng chung cho tất cả các loại hợp đồng Từ đó, tùy theo tính chất của các mối quan hệ hoặc các giao dịch, các luật chuyên ngành có thể có những quy định riêng điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực đó
Pháp luật về lĩnh vực này được xem là khá tiến bộ, điều chỉnh nhiều vấn đề cơ bản của pháp luật kinh doanh hiện đại, như thuê mua tài chính, nhượng quyền, giaodịch tư lợi, giao dịch nội gián, rửa tiền, Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề
về giao dịch và hợp đồng, như sự trùng lặp, thiếu nhất quán và không đồng bộ, thiếu tính liên thông về dân sự và thương mại, nhiều quy định chưa tương thích vớipháp luật quốc tế…
Pháp luật về pháp nhân, doanh nghiệp
Hệ thống văn bản pháp luật này trực tiếp điều chỉnh pháp nhân và doanh nghiệpnhư Luật Chứng khoán quy định về công ty đại chúng… Nhóm liên quan trực tiếpgồm có Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Luật sư, Luật Chứng khoán, Luật Hợptác xã
Nhóm liên quan gián tiếp có Luật Thương mại, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động,Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Cạnh tranh, Hệ thống văn bản liênquan tới pháp nhân và doanh nghiệp như Bộ luật Lao động, quy định về quyềntuyển dụng lao động của người sử dụng lao động…
Trang 6Pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay nhìn chung phù hợp vớichuẩn mực và thông lệ quốc tế, đề cập tới nhiều vấn đề về quản trị doanh nghiệphiện đại, như trách nhiệm tiền công ty, bảo vệ cổ đông thiểu số, doanh nghiệp xãhội Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra như các điều kiện của pháp nhân,phân loại pháp nhân, chế độ đại diện…
Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định 4 điều kiện để một tổ chức có thể có tư cáchpháp nhân Tuy nhiên, Bộ luật này không quy định trực tiếp về điều kiện bảo đảmtính hợp pháp của một tổ chức Còn nhiều điểm khó giải thích như thế nào là có cơcấu tổ chức chặt chẽ, thế nào là có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác… Việcphân chia pháp nhân dường như không theo một tiêu chí rõ rệt nào Trong khi đó,luật pháp của nhiều nước quy định rõ về các loại pháp nhân Bộ luật Dân sự của HàLan và Liên bang Nga đều có quy định về pháp nhân công và pháp nhân tư; phápnhân tìm kiếm lợi nhuận và pháp nhân phi lợi nhuận
Đối với quy định về đại diện, việc đại diện cho từ hai pháp nhân trở lên chưa được quy định rõ ràng Bộ luật Dân sự cũng chưa làm rõ vấn đề một tổ chức có thểlàm đại diện được không Trong khi đó, Bộ luật Dân sự của An-ba-ni và Lít-va chophép pháp nhân có thể làm đại diện
Pháp luật về tài sản, đất đai và sở hữu
Pháp luật thuộc nhóm này gồm các văn bản như, Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai,Luật Nhà ở… Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề cần được nhìn nhận và quy định phùhợp với tình hình chung
Quy định về tài sản và sở hữu được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Quy định về tài sản nhà nước được quy định trong Bộ luật Dân sự, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Đất đai…
Pháp luật về xác lập và thực hiện các thủ tục trong lĩnh vực kinh tế
Trong nhóm này có thể kể đến: Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân
sự, Luật Tố tụng hành chính… Các văn bản này tạo lập những cơ sở pháp lý cho việc xác lập và thực hiện các thủ tục về kinh tế Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề chưa hoàn toàn phù hợp với pháp luật về thủ tục ở Việt Nam, Bộ luật Tố tụng dân sự là một ví dụ Thực tiễn giải quyết các tranh chấp tại toà án cho thấy một số quy định được xây dựng theo mô hình của nước ngoài nên không phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Việt Nam, như quy định về nghĩa vụ chứng minh, thủ tục cung cấp, thu thập chứng cứ…
Trang 7Pháp luật về quan hệ quốc tế
Để đáp ứng yêu cầu hợp tác và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng,mạnh mẽ, Việt Nam xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật như Luật Kýkết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; Luật Quốc tịch… Những văn bản này
đã thể hiện sự thay đổi trong pháp luật Việt Nam thể hiện ở hiệu lực pháp lý củavăn bản và nhiều văn bản từ pháp lệnh được nâng lên thành luật
Những hạn chế của hệ thống pháp luật về kinh tế hiện nay
Trong ba thập niên vừa qua Nhà nước đã nỗ lực, tích cực, khẩn trương xâydựng, sửa đổi, ban hành phát luật phục vụ cho hoạt động kinh tế; cải cách thể chếnhằm thúc đẩy kinh tế phát triển; xóa bỏ những quy định hạn chế cạnh tranh, phânbiệt đối xử; hoàn thiện các thủ tục hành chính về doanh nghiệp theo hướng tậptrung, đơn giản hóa, thực hiện chế độ công khai, minh bạch; Những cải cách đó
đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Trong thời gian tới, mục tiêu phát triểnkinh tế được Đảng ta xác định: “Xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhậpquốc tế, có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, vận hành đầy đủ,đồng bộ hiệu quả theo quy luật kinh tế thị trường ”(2) Vì vậy, cần đánh giá kháchquan những hạn chế cơ bản của pháp luật về kinh tế nhằm khắc phục những bấtcập, xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp yêu cầu phát triển kinh tế và hộinhập quốc tế
Xây dựng hệ thống pháp luật về kinh tế đáp ứng yêu cầu đổi mới cần tuân thủnhững nguyên tắc về xây dựng, ban hành pháp luật, vì lý do sau: “Khi pháp luậtphản ảnh không đúng, pháp luật được xây dựng không phù hợp với các điều kiện,yêu cầu của nền kinh tế, những quy định pháp luật quá cao hoặc quá thấp so với sựphát triển của nền kinh tế, chúng sẽ kìm hãm sự phát triển của kinh tế, thậm chícòn có thể mang lại những tác hại nhất định cho nền kinh tế”(3) Những yêu cầu cơbản trong quá trình xây dựng hệ thống văn bản pháp luật kinh tế là những nguyêntắc cần được các cơ quan chức năng tuân thủ và áp dụng “Tuy nhiên, nhìn chung
hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đồng bộ, thiếu thống nhất, tính khả thi thấp,chậm đi vào cuộc sống…”(4) Đánh giá về pháp luật kinh tế trong ba thập niên vừaqua, hiện có nhiều vấn đề cần được xem xét trong việc xây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật kinh tế:
Thứ nhất, tính cụ thể, minh bạch, tính thống nhất của hệ thống pháp luật về kinh
tế ở Việt Nam chưa cao Môi trường pháp luật kinh tế ở Việt Nam hiện vẫn còn là một hệ thống chồng chéo, thiếu đồng bộ của nhiều văn bản quy phạm pháp luật Từ
đó dẫn tới sự thiếu minh bạch trong hệ thống văn bản pháp luật Những thay đổi
Trang 8khó dự đoán trước của hệ thống pháp luật cũng là một vấn đề có tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh ở Việt Nam
Thứ hai, năng lực xây dựng pháp luật của các cơ quan chức năng chưa hoàn
toàn đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đời sống xã hội; nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật ngày càng cao của xã hội; nhu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường và hộinhập quốc tế
Thứ ba, tính khả thi và hiệu quả của pháp luật còn thấp Các văn bản quy phạm
pháp luật được ban hành ngày càng nhiều hơn nhưng thường xuyên bị thay đổi, gây tốn kém kinh phí, nguồn lực cho việc sửa đổi, bổ sung Hiện nay, các đạo luật,
bộ luật có nhiều vướng mắc là: Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Bộ luật Dân sự Những bất cập đó có thể kể đến là: vấn đề về tiếp cận đất đai; tiếp cận vốn; tiếp cận thị trường; thủ tục, điều kiện kinh doanh; quản trị tài chính doanh nghiệp
Thứ tư, vẫn còn tồn tại sự chưa tương thích giữa việc ban hành luật với thời
gian soạn thảo luật Nhu cầu ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật; áp lực từ chương trình lập pháp; yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội; yêu cầu của hội nhập quốc tế… ngày càng cao, do đó, dẫn đến tình trạng thiếu thời gian, vội vàng, thiếu kỹ lưỡng trong việc thảo luận và giải quyết thấu đáo những vấn đề
có liên quan trong quá trình soạn thảo nhiều dự án luật
Thứ năm, thiếu quy trình lập pháp khoa học, hợp lý Đối với một quy trình xây
dựng pháp luật khoa học thì “ban soạn thảo” và “tổ biên tập” là những chủ thể có trách nhiệm trực tiếp, trong đó “ban soạn thảo” chịu trách nhiệm chính Về tổ biên tập, đó là tập hợp của các chuyên gia về luật pháp và các chuyên gia liên ngành Tuy nhiên, hiện nay, cách thức lựa chọn những thành viên này, sự phối kết hợp giữa họ trong xây dựng pháp luật là một vấn đề pháp lý chưa được phân định rõ ràng
Thứ sáu, hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra áp lực đối với việc thay đổi hệ thống
pháp luật trong nước Áp lực này thể hiện qua những cam kết quốc tế của Việt Nam về doanh nghiệp, đầu tư, hải quan… Bên cạnh đó còn là những áp lực từ sự gia nhập của Việt Nam vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC), cũng như các khối thương mại khu vực; các hiệp định thương mại song phương; các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
III NỘI DUNG NGÀNH LUẬT KINH TẾ VIỆT NAM
1.Những vấn đề cơ bản của ngành luật kinh tế Việt Nam
Đối tượng điều chỉnh:
Trang 9Các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế với các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế XHCN với nhau
=> Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế vừa mang yếu tố tài sản vừa mang yếu tố tổ chức kế hoạch
Những yếu tố này thể hiện trong các nhóm quan hệ ở mức độ khác nhau
Cụ thể:
Trong nhóm quan hệ quản lý kinh tế:
Yếu tố tổ chức kế hoạch là tính trội còn yếu tố tài sản không đậm nét vì trong quan hệ lãnh đạo yếu tố tài sản chỉ thể hiện ở những chỉ tiêu pháp lệnh mà nhà nước cân đối vật tư tiền vốn cho các tổ chức kinh tế XHCN để các tổ chức kinh tế này thựchiện nhiệm vụ kế hoạch của nhà nước giao
Trong nhóm quan hệ ngang:
Yếu tố tài sản lại thể hiện rõ nét còn yếu tố tổ chức kế hoạch mờ nhạt hơn
Yếu tố tổ chức kế hoạch trong quan hệ ngang chỉ thể hiện ở chỗ:
Nhà nước bắt buộc các đơn vị kinh tế có liên quan phải ký kết hợp đồng kinh tế
Khi ký kết hợp đồng kinh tế phải dựa vào chỉ tiêu pháp lệnh Trường hợp kế hoạch nhà nước thay đổi hoặc huỷ bỏ thì hợp đồng đã ký cũng phải thay đổi hoặc sửa đổi theo (như vậy quan hệ hợp đồng theo cơ chế cũ không được hiểu theo đúng nghĩa truyền thống: Tự do khế ước, tự do ý chí)
=> phương pháp điều chỉnh
Để phù hợp với đặc điểm của đối tượng điều chỉnh, luật kinh tế áp dụng
phương pháp điều chỉnh riêng Theo quan niệm truyền thống phương pháp điều chỉnh của luật kinh tế là phương pháp kết hợp hài hoà giữa phương pháp thoả
thuận bình đẳng với phương pháp mệnh lệnh hành chính Nghĩa là khi điều chỉnh
1 quan hệ kinh tế cụ thể, luật kinh tế phải sử dụng đồng thời cả 2 phương pháp thoảthuận và mệnh lệnh
=> Chủ thể của luật kinh tế
Trang 10Đặc trưng của nền kinh tế XHCN là dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất và được quản lý bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung vì vậy hoạt động kinh tế không do từng công dân riêng lẻ thực hiện mà do tập thẻe người lao động của các
tổ chức kinh tế nhà nước và tập thể, các cơ quan kinh tế và các tổ chức xã hội khác thực hiện
Chủ thể của luật kinh tế gồm:
Pháp nhân là 1 khái niệm được sử dụng để ám chỉ 1 loại chủ thể pháp lý độc
lập để phân biệt với các chủ thể của con người (bao gồm cá nhân và tập thể) Như vậy pháp nhân là 1 thực thể trìu tượng được hư cấu, thể hiện tình trạng tách bạch
về mặt tài sản của nó với tài sản còn lại của chủ sở hữu, người đã sáng tạo ra nó Theo quan niệm truyền thống thì cá nhân không được công nhận là chủ thể của luật kinh tế bởi lẽ trong nền kinh tế XHCN không tồn tài thành phần kinh tế tư nhân
Ngày nay Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì những quy định của luật kinh
tế trước đây không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường- một nền kinh tế có những bản sắc khác hẳn với nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung
Đó là
Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hoá
Các thành phần kinh tế đều bình đẳng với nhau tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam kinh tế quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo nhằm đảm bảo sự cân đối nhất định cho toàn bộ nền kinh tế
Trong nền kinh tế thị trường hình thức tổ chức kinh doanh rất đa dạng và phongphú -> Chủ thể kinh doanh không còn bó hẹp ở các tổ chức kinh tế quốc doanh và tập thể (HTX) mà mở rộng đến các loại hình kinh doanh của tư nhân, nước
ngoài…Như vậy chủ thể của luật kinh tế sẽ đa dạng hơn nhiều so với cơ chế trước đây
Tự do kinh doanh, chủ động sáng tạo trong kinh doanh của các chủ thể kinh doanh, sự cạnh tranh và phá sản của các doanh nghiệp là những đặc tính tất yếu
Trang 11của nền kinh tế thị trường mà nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không thể có Những đặc tính này chứng tỏ:
Các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường có thể tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh, tự quyết định quá trình kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất của mình và có nghĩa vụ đóng góp với nhà nước mà không bị chi phối bởi hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh của nhà nước
Những quan hệ kinh tế được thiết lập với mục đích chủ yếu là kinh doanh kiếm lời
Tuy nhiên khác với một số nước trong nền kinh tế thị trường những đặc tính trên nằm trong 1 giới hạn nhất định có nghĩa là nền kinh tế thị trường của Việt Nam phải đảm bảo có sự quản lý của nhà nước và theo định hướng XHCN
Nhận thức được đúng đắn những đặc tính cố hữu của nền kinh tế thị trường nói chung cùng với những sắc thái riêng của nền kinh tế thị trường của Viịet Nam các nhà làm luật đã có thay đổi đáng kể trong việc xem xét các vấn đề lý luận về luật kinh tế nhằm phát huy được vai trò điều tiết các hoạt động kinh tế của luật kinh tế Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế
Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do luật kinh tế tác động vào bao gồm:
Nhóm quan hệ quản lý kinh tế
Là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giữa các cơ quan quản
lý nhà nước về kinh tế với các chủ thể kinh doanh
Đặc điểm của nhóm quan hệ này:
o Quan hệ quản lý kinh tế phát sinh và tồn tại giữa các cơ quan quản lý
và các cơ quan bị quản lý (Các chủ thể kinh doanh) khi các cơ quan quản lý thực hiện chức năng quản lý của mình
o Chủ thể tham gia quan hệ này ở vào vị trí bất đẳng (Vì quan hệ này hình thành và được thực hiện dựa trên nguyên tắc quyền uy phục tùng)
o Cơ sở pháp lý: Chủ yếu thông qua các văn bản pháp lý do các cơ quanquản lý có thẩm quyền ban hành
Quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau
Trang 12 Đây là những quan hệ kinh tế thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời
Trong hệ thống các quan hệ kinh tế thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế, nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhất
o Nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ tài sản - quan hệ hàng hoá- tiền tệ Quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một số doanh nghiệp
Là các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh giữa tổng công ty, tập đoàn kinh doanh và các đơn vị thành viên cũng như giữa các đơn
vị thành viên trong nội bộ tổng công ty hoặc tập đoàn kinh doanh đó với nhau
Cơ sỏ pháp lý : Thông qua nội quy, quy chế, điều lệ, cam kết
Phương pháp điều chỉnh
Do luật kinh tế vừa điều chỉnh quan hệ quản lý kinh tế giữa chủ thể không bìnhđẳng vừa điều chỉnh quan hệ tài sản giữa các chủ thể bình đẳng với nhau phát sinh trong quá trình kinh doanh cho nên luật kinh tế sử dụng và phối hợp nhiều phương pháp tác động khác nhau như kết hợp phương pháp mệnh lệnh với phương pháp Được sử dụng chủ yếu để điều chỉnh nhóm quan hệ quản lý kinh tế giữa các chủ thể bất bình đẳng với nhau Để phù hợp với đặc trưng của nhóm quan hệ này luật kinh tế đã tác động vào chúng bằng cách quy định cho các cơ quan quản lý nhànước về kinh tế trong phạm vi chức năng của mìnhcó quyền ra quyết định chỉ thị bắt buộc đối với các chủ thể kinh doanh (bên bị quản lý) Còn bên bị quản lý có nghĩa vụ thực hiện quyết định đó
Phương pháp thoả thuận
Được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể bình đẳng với nhau
Trang 13Bản chất của phương pháp này thể hiện ở chỗ: Luật kinh tế quy định cho các bên tham quan hệ kinh tế có quyền bình đẳng với nhau, thoả thuận những vấn đề
mà các bên quan tâm khi thiết lập hoặc chấm dứt quan hệ kinh tế mà không bị phụ thuộc vào ý chí của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào Điều này có nghĩa là pháp luật quiđịnh quan hệ kinh tế chỉ được coi là hình thành trên cơ sở sự thống nhất ý chí của các bên và không trái với các quy định của nhà nước
Chủ thể của luật kinh tế
Chủ thể của luật kinh tế bao gồm các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để tham gia vào những quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh
Điều kiện để trở thành chủ thể của luật kinh tế
phải được thành lập một cách hợp pháp
Những cơ quan, tổ chức được coi là thành lập hợp pháp khi chúng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập hoặc tuânthủ các thủ tục do luật định ra được tổ chức dưới những hình thức nhất định với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rõ ràng theo các quy định của pháp luật
Phải có tài sản riêng
Một tổ chức được coi là có tài sản riêng khi
o Tổ chức đó có một khối lượng tài sản nhất định phân biệt với tài sản của cơ quan cấp trên hoặc của các tổ chức khác
o Có khối lượng quyền năng nhất định để chi phối khối lượng tài sản đó
và phải tự chịu trách nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó
Phải có thẩm quyền kinh tế
Thẩm quyền kinh tế là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ về kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận Thẩm quyền kinh tế của một chủ thể luật kinh tế luôn phải tương ứng với chức năng nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động của nó Như vậy có thể thấy thẩm quyền kinh tế là giới hạn pháp lý mà trong đó các chủ thể luật kinh
tế được hành động hoặc phải hành động hoặc không được phép hành động Thẩm quyền kinh tế trở thành cơ sở pháp lý để các chủ thể luật kinh tế thực hiện các hành
vi pháp lý nhằm tạo ra các quyền và nghĩa vụ cụ thể cho mình
Các loại chủ thể của luật kinh tế
Nếu căn cứ vào chức năng hoạt động của chủ thể luật kinh tế gồm:
Trang 14o Cơ quan có chức năng quản lý kinh tế: Đây là những cơ quan nhà nước trực tiếp thực hiện chức năng quản lý kinh tế , gồm cơ quan quản lý có thẩm quyền chung, cơ quan quản lý có thẩm quyền riêng.
o Các đơn vị có chức năng sản xuất kinh doanh trong đó gồm các doanhnghiệp thuộc các thành phần kinh tế và cả cá nhân được phép kinh doanh, nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp
Nếu căn cứ vào vị trí, vai trò và mức độ tham gia vào các quan hệ luật kinh
tế thì có các chủ thể sau:
o Chủ thể chủ yếu và thường xuyên của luật kinh tế Đó là các doanh nghiệp bởi vì trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chếthị trường của nước ta, các doanh nghiệp được thành lập với mục đíchchủ yếu là tiến hành các hoạt động kinh doanh Sự tồn tại của chúng gắn liền với hoạt động kinh doanh, vì thế chúng thường xuyên tham gia vào các quan hệ kinh tế Tức là sự tham gia vào các quan hệ kinh
tế của các doanh nghiệp thể hiện tính phổ biến, tính liên tục và phạm
vi rộng rãi
o Chủ thể không thường xuyên của luật kinh tế Đó là những cơ quan hành chính sự nghiệp như trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội trong quá trình hoạt động cũng ký kết hợp đồng kinh tế để phục vụ cho hoạt động chính của đơn vị Sự tham gia vào các quan hệ do luật kinh tế điều chỉnh của các tổ chức này là không thường xuyên liên tục do đó chúng không phải là chủ thể, thường xuyên chủ yếu của luật kinh tế
Chủ thể kinh doanh
Hành vi kinh doanh
Về mặt pháp lý từ trước năm 1990, Luật kinh tế nước ta chưa hề có định nghĩa
cụ thể về hành vi kinh doanh Cho đến ngày 21/12/1990 khi quốc hội thông qua luật công ty thì tại điều 3 của luật công ty hành vi kinh doanh mới được định nghĩa
về mặt pháp lý
Tuy nhiên định nghĩa pháp lý này không chỉ áp dụng riêng cho công ty mà được
áp dụng chung cho các chủ thể kinh doanh
Theo điều này của luật công ty ( mới đây là điều 3 của luật doanh nghiệp ) thì :
" Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời"
Trang 15Như vậy theo định nghĩa này thì một hành vi được coi là hành vi kinh doanh nếu đáp ứng được các dấu hiệu sau
Hành vi đó phải mang tính chất nghề nghiệp
Tính chất nghề nghiệp cần được hiểu là chủ thể của hành vi "sinh sống" bằngloại hành vi đó và nếu hiểu theo nghĩa pháp lý thì họ được pháp luật thừa nhận và bảo hộ Sự thừa nhận của pháp luật trong trường hợp này thể hiện chủ yếu trong việc đăng ký kinh doanh
Hành vi đó phải diễn ra trên thị trường
Hành vi có mục đích kiếm lời
Hành vi đó phải diễn ra thường xuyên
Chủ thể kinh doanh và phân loại doanh nghiệp
Khái niệm chủ thể kinh doanh
Mặc dù khái niệm chủ thể kinh doanh không được định nghĩa về mặt pháp lý nhưng xuất phát từ khái niệm về hành vi kinh doanh thì chủ thể của hành vi kinh doanh hiểu theo nghĩa thực tế và pháp lý là những pháp nhân hay thể nhân thực hiện trên thực tế những hành vi kinh doanh
Pháp nhân
Là thực thể pháp lý
Được thành lập hay thừa nhận một cách hợp pháp
Những cơ quan, tổ chức được coi là thành lập hợp pháp khi chúng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập hoặc tuân thủ các thủ tục do luật định ra được tổ chức dưới những hình thức nhất định với chức năng, nhiệm vụ và phạm vi hoạt động rõ ràng theo các quy định của pháp luật
Có tài sản riêng
Một tổ chức được coi là có tài sản riêng khi
o Tổ chức đó có một khối lượng tài sản nhất định phân biệt với tài sản của cơ quan cấp trên hoặc của các tổ chức khác
Trang 16o Đồng thời có khối lượng quyền năng nhất định để chi phối khối lượngtài sản đó và phải tự chịu trách nhiệm độc lập bằng chính tài sản đó
Tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình bằng số tài sản riêng đó
Là nguyên đơn hay bị đơn trước các cơ quan tài phán
Trong đó dấu hiệu thứ (2) và (3) là thuộc tính riêng của pháp nhân
Tóm lại chủ thể kinh doanh hợp pháp trên thực tế là những đơn vị kinh doanh
có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân Như vậy có hay không có
tư cách pháp nhân không phải là điều kiện tiên quyết để xác định sự tồn tại hợp pháp hay bình đẳng của các chủ thể kinh doanh Vấn đề pháp nhân hay thể nhân chỉ dẫn đến kết cục về mặt pháp lý là xem xét đến chế độ trách nhiệm hữu hạn hay
vô hạn của đơn vị kinh doanh mà thôi
Trách nhiệm vô hạn được hiểu là tính vô hạn (và thậm chí là vĩnh cửu) của
nghĩa vụ trả nợ
Trách nhiệm hữu hạn là tính có giới hạn về khả năng trả nợ của các doanh
nghiệp Theo lý thuyết chung và thông lệ quốc tế, một doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn chỉ có khả năng trả nợ đến mức giá trị vốn tài sản của nó Đó
là vốn điều lệ
Doanh nghiệp
Khái niệm doanh nghiệp
Điều 3 của luật doanh nghiệp có định nghĩa rằng: " Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh"
Theo định nghĩa pháp lý đó thì doanh nghiệp phải là những đơn vị tồn tại trước hết vì mục đích kinh doanh Những thực thể pháp lý, không lấy kinh doanh làm mục tiêu chính cho hoạt động của mình thì không được coi là doanh nghiệp
Phân loại doanh nghiệp
Trang 17 Căn cứ vào dấu hiệu sở hữu (Tính chất sở hữu của những vốn và tài sản được sử dụng để thành lập doanh nghiệp - Sở hữu vốn) người ta có thể chia doanh nghiệp thành
o Doanh nghiệp nhà nước
o Doanh nghiệp tư nhân
o Doanh nghiệp tập thể
o Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội
Căn cứ vào dấu hiệu về phương thức đầu tư vốn có thể chia doanh nghiệp thành
o Doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước
o Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ( bao gồm doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Căn cứ vào tính chất của chế độ trách nhiệm về mặt tài sản, Doanh nghiệp được chia thành
o Doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn
o Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn
2 Thực trạng về ngành pháp luật kinh tế việt nam
2.1.Thực trạng xây dựng pháp luật kinh tế ở nước ta hiện nay
2.1.1 Kết quả xây dựng pháp luật kinh tế
Qua nghiên cứu hoạt động xây dựng pháp luật của nước ta thời gian qua, có thể thấy những thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực này như sau:
Thứ nhất, đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế cơ bản đã được thể chế hóa đầy đủ trong chính sách, pháp luậtcủa Nhà nước Hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách tiếp tục được hoàn thiện[1] Thứ hai, tính tối thượng của Hiến pháp và các đạo luật, nguyên tắc nhà nước quản lý bằng pháp luật đã được quán triệt trong thực tiễn thể chế hóa đường lối,
Trang 18quan điểm, chính sách của Đảng, cũng như trong hoạt động của bộ máy nhà nước
và của công chức, viên chức nhà nước
Hiện nay, Nhà nước thực thi quyền lực của mình dựa trên nền tảng Hiến pháp
và pháp luật Pháp luật được ban hành theo thủ tục hiến định Nhà nước chịu sự kiểm soát, sự chế ngự của pháp luật trong mọi hoạt động Nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm bằng pháp luật các quyền tự do, dân chủ của nhân dân và công lý[2] Thứ ba, pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế đang được sử dụng như công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước về kinh tế
Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục chủ trương sử dụng pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế trong quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc nhấn mạnh vai trò của pháp luật, cơ chế, chính sách trước các công cụ chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các nguồn lực kinh tế cho thấy sự thay đổi trong nhận thức của Đại hội Đảng XI
Thứ tư, Nhà nước đã hình thành cơ sở pháp lý cần thiết để tổ chức, vận hành, quản lý nền kinh tế thị trường với hệ thống các quy phạm pháp luật về sở hữu, về quyền tự do kinh doanh, về cạnh tranh và chống độc quyền, về các loại thị trường,
về bình đẳng giữa các doanh nghiệp,… Hệ thống pháp luật kinh tế hiện hành đã thay thế hoàn toàn cơ sở pháp lý của nền kinh tế kế hoạch hóa quan liêu, bao cấp Ngoài các quy định do Nhà nước ban hành, một số nguyên tắc cho phép sử dụng quy tắc, chuẩn mực xã hội về/hoặc liên quan đến kinh tế, kể cả các quy tắc hay chuẩn mực phi chính thức đã được thừa nhận[3]
Đại hội Đảng lần thứ IX chính thức đưa ra khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và khái quát những nhân tố cấu thành cơ bản của nó[4] Đại hội Đảng lần thứ XI đã làm rõ thêm nội dung của kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta Theo đó, “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đây là một hình thái kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thịtrường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh
mẽ và có hiệu quả mọi nguồn lực…”[5]
Trang 19Đến Đại hội lần thứ XII, Đảng ta xác định rõ hơn yêu cầu xây dựng nền tảng pháp lý cho nền kinh tế thị trường Theo đó, đến năm 2020, nước ta phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế[6].
Thứ năm, hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế đã được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Thứ sáu, trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, hoạt động lập pháp, lập quy tập trung tạo cơ sở pháp lý cho việc cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm trật tự quản lý hành chính nhà nước, đấu tranh chống tội phạm Cùng với quá trình đổi mới chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, pháp luật hướng nhiều hơn vào việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực thương mại, dân sự, hội nhập kinh tế quốc tế và giải quyết vấn đề xã hội, phát triển bền vững Thứ bảy, phương pháp và cách thức điều chỉnh của pháp luật đã thay đổi theo hướng tạo hành lang và khung pháp lý, phục vụ vai trò định hướng, điều chỉnh, kiểm tra, kiểm soát, giám sát, điều tiết, hỗ trợ và khuyến khích phát triển kinh tế thịtrường Điều này được thấy rõ trong Điều 33 Hiến pháp hiện hành Thay cho quy định công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001), Điều 33 Hiến pháp hiện hành đã
mở rộng phạm vi và đổi mới cách thức điều chỉnh bằng cách quy định: mọi người
có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm Thứ tám, dân chủ trong lĩnh vực kinh tế đã được phản ánh và bảo đảm trong pháp luật
Tính chất dân chủ của pháp luật ở nước ta thể hiện ở sự ghi nhận trong pháp luật các lợi ích đa dạng của các nhóm xã hội, thành phần và khu vực kinh tế; giữa trung ương và địa phương; giữa các địa phương và vùng lãnh thổ… Cơ chế xây dựng pháp luật ngày càng dân chủ, công khai, tạo cơ hội và thu hút sự tham gia thảo luận, đóng góp của các tầng lớp nhân dân, doanh nghiệp Các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương ban hành đã được đăng tải thường xuyên trong Công báo của trung ương và địa phương Các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã được công bố công khai Các luật về thủ tục hành chính, thủ tục pháp lý và thủ tục tố tụng đã được ban hành và thường xuyên sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn, tạo cơ
sở cho sự phát triển của hệ thống tài phán ở nước ta