1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TOÁN TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC

58 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 303,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dạy vần nào cho HS viết, đọc vần đó, cho HS thi tìm tiếng mới cóchứa vần vừa học để củng cố khắc sâu cho HS Lưu ý quy trình 4 việc của 2 tiết trong một bài không thay đổi, việc tách các

Trang 1

MỘT SỐ CÂU ĐỐ THÔNG DỤNG KHI DẠY TIẾNG VIỆT

Câu đố dùng trong môn tiếng việt chủ yếu dành cho các tiết dạy học vần, chính tả, luyện từ và câu, là câu đố về thanh và chữ, về vần nhằm giúp học sinh thêm ghi nhớ các thanh, các chữ, phân biệt được các âm vần dễ lẫn trong tiếng việt Đó là những câu đố đổi thanh, đổi dấu, đổi vị trí

Để nguyên tên một loài chim

Bỏ sắc thường thấy ban đêm trên trời

(sáo – sao)

Để nguyên vằng vặc trời đêm

Thêm sắc màu phấn cùng em tới trường

(trăng – trắng)

Để nguyên loại quả thơm ngon

Thêm hỏi co lại chỉ còn bé thôi

Thêm nặng mới thật lạ đời

Bỗng nhiên thành vết xoong nồi nhọ nhem

(nho – nhỏ – nhọ)

Bình thường dùng gọi chân tay

Muốn có bút vẽ thêm ngay dấu huyền

Thêm hỏi làm bạn với kim

Có dấu nặng, đúng người trên mình rồi

(chi – chì - chỉ – chị)

Sinh ra đã biết bay rồi

Bỏ đầu thì trọc, bỏ đuôi thì nghèo

Trang 2

Cắt đuôi đồng nghĩa với thừa

Cắt đầu đồng nghĩa với vừa lòng anh

Để nguyên thành quả ngọc lành

Mùa hè nóng bức chúng mình muốn ăn

(dưa)

Ngược xuôi nối lại đôi bờ

Sớm chiều trên bến người chờ đợi sang

Đội thêm chiếc mũ nhẹ nhàng

Thành thầy dạy học trong làng ngày xưa

(đồ - đò)

Những câu đố về chữ giúp học sinh suy luận, phát triển óc tưởng tượng phong phú Giáo viên cần đưa ra đúng lúc, đúng thời điểm trong tiết học.+ Đố về tên con vật chứa tiếng bắt đầu bằng (l) hay (n):

Những câu đố này thường lồng vào tiết học chính tả nhằm giúp học sinh phân biệt đúng âm tránh lẫn lộn

Mẹ thì sống ở trên bờ

Con sinh ra lại sống nhờ dưới ao

Có đuôi bơi lội lao xao

Mất đuôi tức khắc nháy nhao lên bờ

(Nòng nọc)

+ Đố về tên các con vật chứa tiếng có vần en hoặc eng:

Chim gì liệng tựa con thoi

Báo mùa xuân đến giữa trời say sưa

Câu đố về tiếng việt lý thú, hấp dẫn với học sinh tiểu học Có những câu đố

về nghĩa biểu vật của từ:

Cánh gì ngô lúa tốt tươi

Trang 3

Cánh gì trên biển người người đều nghe

Cánh gì làm việc mải mê

Cánh gì lộng gió đi về ngoài khơi

Cánh gì tâm sự cùng người

Cánh gì chao giữa ngọt lời mẹ ru

(Sưu Tầm)

CÁC BÀI VĂN VẦN, CÂU ĐỐ TRONG DẠY HỌC

1 Giúp học sinh nhớ bảng chữ cái (có bài văn vần sau)

A A ha, a ha

Ă Ăn quà trong lớp

 Ấy điều không tốt

B Bạn biết hay không ?

G Gặp cười xấu xấu

H Hiểu bài không thấu

Ơ Ới đừng hoang phí

P Phân tán thời gian

Q Quyết vượt gian nan

R Ra công khổ luyện

S Sẽ không còn chuyên

Trang 4

T Thầy mắng bạn la

U U uất mẹ cha

Ư Ức mình kém cõi

V Việc trên rành rẽ

X Xin bảo giúp trò

Y Yêu cầu nhớ cho

2 Nhớ công thức toán học

Muốn tính diện tích hình thang

Đáy lớn, đáy bé ta mang cộng vào

Rồi đem nhân với chiều cao

Chia đôi lấy nửa thế nào cũng ra

3 Câu đố về đồ chơi (Mở rộng vốn từ về đồ chơi, trò chơi, SGK Tiếng Việt

4, tuần 15)

a) Đèn gì ?

Mỗi năm đến độ thu về

Bắc - Nam xuôi ngược, chợ quê, thị thành

Hàng đoàn người ngựa diễu hành

Rước vui trẩy hội vòng quanh ngọn đèn ?

Vẻ người bầu bĩnh đáng yêu

Môi son má phấn mĩ miều tóc đen

Váy hồng, áo lụa đăng ten

Biết thức, biết ngủ, dạ quen đói lòng ?

Nguồn: Duy Nghĩa (Sưu tầm)

Thiết kế bài dạy Âm nh từ thực tiễn dạy học CÔNG NGHỆ GD 1

T bước vào lớp, tất cả H đứng dậy chào

Trang 5

T cho H khởi động: Lớp trưởng lên tổ chức trò chơi “Thổi bóng”

Việc 0:

T dung lệnh (chỉ vào ký hiệu ở bảng), cho H lấy bảng con

T: Vẽ mô hình tách tiếng thành 2 phần (H thực hiện)

T: Đưa tiếng nga vào mô hình

H thực hiện, T quan sát

T dùng lệnh (mở bung 2 tay), H đồng thanh : nga-ngờ-a-nga Phần đầu ng, phần vần a (H kết hợp chỉ mô hình)

T: Cô có tiếng nghe, cả lớp phân tích tiếng nghe

H: nghe-ngờ-e-nghe (kết hợp với tay)

T: Đưa tiếng nghe vào mô hình (H thực hiện, T quan sát giúp đỡ H)

T: Nghe-ngờ-e-nghe

T đưa bảng của 1 H cho cả lớp quan sát (bảng của H viết đẹp)

Hỏi: Tại sao chữ nghe ta lại đưa chữ ngờ kép?

(3 H trả lời: Vì có luật chính tả ghi âm ng)

T dùng lệnh, H đồng thanh : Vì có luật chính tả ghi âm ngờ, âm ngờ đứng trước e,ê,i thì viết bằng chữ ngờ kép

H đồng thanh: nghe-ngờ-e-nghe, phần đầu ngờ, phần vần e

H đồng thanh, tổ, nhóm đôi: nha

T: Phần đầu là âm gì? (H: âm nh)

T phát âm: nhờ (thật chuẩn, chú ý phát ra tắt ngay)

Cho 1 số H phát âm lại và nêu cách phát âm

T lưu ý H cách phát âm: đè lưỡi, bật hơi

Trang 6

Cho cả lớp phát âm lại nhiều lần.

Hỏi: nh là nguyên âm hay phụ âm?

(nh là phụ âm vì khi phát âm không kéo dài được)

T cho cả lớp nhắc lại: phụ âm nh

T mô tả: chữ nh in thường gồm 2 nét, 1 nét giống n, một nét giống h

H: Chữ nh in thường (cá nhân, đồng thanh)

T gắn chữ nh viết thường lên bảng

T: Đây là chữ nh viết thường cỡ vừa

T: các em theo dõi thầy viết (T viết mẫu lên bảng lớn)

T nhắc lại 1 lần quy trình viết

HS viết 1 chữ nh viết thường vào bảng con (mặt sau), GV quan sát và giúp

đỡ HS

GV đem 2 bảng để khen và cho cả lớp nhìn

T: Viết tiếp 1 chữ nh (H đồng thanh: nhờ rồi viết)

T chỉ vào ký hiệu xóa bảng con (H xóa hết)

T: Đưa tiếng nha vào mô hình (H viết thêm chữ nh)

Trang 7

Sau khi tất cả H viết xong, T lệnh đọc:

Nha-nhờ-a-nha, phần đầu nhờ, phần vần a (đồng thanh, nhóm)

GV đưa nh vào mô hình trên bảng lớn

Cho H phân tích tiếng nha (cá nhân nối tiếp, kết hợp chỉ mô hình)

T: Thay phần vần để được tiếng mới

H thực hiện Lớp trưởng tổ chức chơi trò chơi “Chèo thuyền”

Trang : nhê (Mình có tiếng nhê, mời các bạn phân tích), cả lớp phân tích.Mai : nhe (Mình có tiếng nhe, mời các bạn phân tích), cả lớp phân tích.Ngọc : nha (Mình có tiếng nha, mời các bạn phân tích), cả lớp phân tích.Toàn : nhi (Mình có tiếng nhi, mời các bạn phân tích), cả lớp phân tích.Đạt : nhe (Mình có tiếng nhe, mời các bạn phân tích), cả lớp phân tích

………

T: Thay âm chính a bằng âm chính i

H thay vào mô hình, T ghi bảng: nhi

H đồng thanh phân tích : nhi-nhờ-i-nhi, phần đầu nh, phần vần i

T viết bảng (dưới mô hình việc 1): nha nhe nhê nhi

T: Thêm thanh vào tiếng nhi để dược tiếng mới

H1: nhì (cả lớp phân tích nhì-nhi-huyền-nhì), T ghi bảng: nhì

H1: nhỉ (cả lớp phân tích nhì-nhi-hỏi-nhỉ), T ghi bảng: nhỉ

H1: nhị (cả lớp phân tích nhị-nhi-nặng-nhị), T ghi bảng: nhị

H1: nhí (cả lớp phân tích nhí-nhi-sắc-nhí), T ghi bảng: nhí

H1: nhĩ (cả lớp phân tích nhĩ-nhi-ngã-nhĩ), T ghi bảng: nhĩ

T cho H xung phong đọc lại (nhiều em đọc)

H đồng thanh (theo T chỉ, không chỉ theo thứ tự viết sẵn)

T hướng dẫn H viết tiếng nhà (viết ở việc 2)

H viết vào bảng con, T quan sát giúp đỡ

T lấy 1 số bảng để khen H trước lớp

T viết bảng nhẹ dạ (vừa viết vừa hướng dẫn)

H viết bảng con

H đọc đồng thanh: nhẹ dạ

T lệnh cho H xóa bảng, cất đồ dùng

Trang 8

T lệnh H đưa vở Em tập viết

Cho lớp trưởng lên tổ chức trò chơi thư giãn

H đồng thanh “Tư thế ngồi viết”

Lệnh H tô 1 dòng chữ nh viết thường, cỡ vừa (T quan sát, sửa tư thế ngồi cho H và giúp đỡ H viết chưa tốt)

Lệnh H tiếp tô 1 dòng chữ nh viết thường, cỡ vừa

Lệnh H viết 1 dòng chữ nh viết thường, cỡ vừa

Lệnh H viết 1 dòng chữ ghi tiếng nhà

Lệnh H viết 1 dòng chữ ghi từ nhẹ dạ

Lệnh H viết tiếp 1 dòng chữ ghi từ nhẹ dạ

(T quan sát, kiểm sót quá trình viết của H)

Lớp trưởng tổ chức trò chơi “Tập thể dục”

Hết việc 2

Tác giả: Phan Song Thoa

Nguồn:http://gdthhatinh.violet.vn/

Đôi điều chia sẻ về dạy TV1 CGD!

* Việc 2a :Giới thiệu chữ in thường Sau khi đưa chữ in thường giới thiệu,

mô phỏng nét cho H, T chỉ vào chữ in thường cho H đọc để các em nhận và nhớ rõ mặt chữ (đọc cá nhân, nhóm, tổ, lớp) Bước này trong thiết kế không

có Nếu phần giới thiệu chữ in thường T làm theo thiết kế (chỉ giới thiệu thôi) thì ở việc 3, H rất khó khăn khi đọc ở SGK

Ví dụ: Việc 2a khi dạy âm /h/

T đưa chữ h in thường ra gắn lên bảng và nói: Đây là chữ h in thường Gồm một nét thẳng đứng và một nét móc xuôi T chỉ vào chữ h, H đọc (cá nhân, nhóm, tổ, lớp, )

* Khi đi dự giờ tư vấn về cách dạy TV1 CGD, tôi thấy một cô giáo có cách sáng tạo rất hay, xin chia sẻ các Thầy Cô Phía trên bức tường ngay cạnh bảng lớp, cô giáo có gắn một tấm bìa lớn Khi dạy âm, xong phần giới thiệu chữ in thường cô dùng chữ in thường đó gắn ngay vào tấm bìa đó Mỗi ngày,trên tấm bìa được gắn thêm một chữ ghi âm mới Hôm vào dự giờ cô giáo dạy âm /i/, trên tấm bìa ở bức tường đã có các chữ: a, b, c, ch, d, đ, e, ê, g, h,

và giới thiệu xong âm /i/ cô gắn thêm i lên tấm bìa đó Cách sáng tạo đó giúphọc sinh nhớ mặt chữ để đọc tốt hơn

Trang 9

* Ở việc 2c: Mẫu Âm, bài nào cũng vậy đều có bước tìm tiếng mới (thay âm

và thêm thanh để tìm tiếng mới) Mục đích của bước tìm tiếng mới là HS có thêm vốn tiếng có chứa âm vừa học Qua đó giúp HS đọc tốt hơn ở việc 3.Vậy khi nào thì thay âm đầu, khi nào thay âm chính?

- Đối với bài dạy là phụ âm, bước tìm tiếng mới là thay âm chính bằng các nguyên âm đã học để có tiếng mới Đối với bài dạy là nguyên âm, bước tìm tiếng mới là thay âm đầu bằng các phụ âm đã học để có tiếng mới

Ví dụ: Dạy âm /o/:

- Khi HS đưa được tiếng /nho/ vào mô hình T yêu cầu H chỉ vào mô hình đọc

- H chỉ tay vào mô hình và đọc: /nho/- /nhờ/ - /o/ - /nho/, phần đầu /nhờ/, phần vần /o/

Cách đọc như thế giúp H khắc sâu âm vừa học, vị trí mỗi âm trong mô hình tiếng tách thành hai phần

T lệnh: “Thay âm chính o bằng các nguyên âm đã học để có tiếng mới.”

H nối tiếp đọc các tiếng các em thay, T viết lên bảng ở V1 (bo, co, cho, do, đo,…) T chỉ cho H đọc các tiếng T vừa ghi lên bảng (cá nhân, nhóm, lớp)

- Trước khi thêm thanh để có tiếng mới, trên bảng con H có các tiếng không giống nhau Em thì tiếng /bo/, em thì /co/, em thì /do/,…Mục đích của T muốn H cùng đưa chung một tiếng thanh ngang, T phải thêm lệnh: “Đưa trở lại tiếng /nho/ vào mô hình” (hoặc tiếng thanh ngang nào T chọn: /bo/ hay /co/ chẳng hạn)

T lệnh tiếp: “Thêm thanh để có tiếng mới”

H đọc nối tiếp tiếng các em có, T viết lên bảng ở V1 ( nho, nhò, nhó, nhỏ, nhõ, nhọ) T chỉ vào các tiếng vừa viết cho H đọc (cá nhân, nhóm, lớp)

- Khi chỉ vào các tiếng mới cho H đọc, tuyệt đối T không đọc mẫu Những tiếng nào H không đọc được, T che dấu thanh để H đọc tiếng thanh ngang Nếu tiếng thanh ngang đó H không đọc được, T giúp H nhận ra âm đầu, vần của tiếng đó để đọc được tiếng có thanh ngang rồi sau đó đọc tiếng có thanh.khác

Nguồn: Thái Thị Hương ( PHT-Trường Tiểu học Thị Trấn Thạch Hà)

Sử dụng kỹ thuật dạy học và trò chơi học tập vào dạy Tiếng Việt 1 CGD

I VÍ DỤ VỀ ÁP DỤNG KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC

1 Dạy học theo nhóm

Bài e:

Trang 10

+ Ở việc 1 khi HS phân tích tiếng be và tìm ra âm mới là âm e GV có thể cho HS phát âm âm e theo nhóm đôi để phát hiện e là nguyên âm hay phụ

âm và vì sao?

+ Ở việc 3: Đọc: Sau khi từng cá nhân HS đọc thầm bài đọc GV có thể cho

HS đọc bài trong nhóm cho nhau nghe (có thể là nhóm 2 cũng có thể là nhóm 4) trước khi đọc bài trước lớp

* Lưu ý: Có thể sử dụng dạy học theo nhóm ở các thao tác nêu trên trong 2 kiểu bài âm và vần

2 Dạy học theo kỹ thuật khăn phủ bàn

Bài o:

Ở việc 2 sau khi HS biết viết chữ o và đưa chữ o vào mô hình tiếng GV có thể sử dụng kĩ thuật khăn phủ bàn để HS có thể tạo ra nhiều tiếng có âm o vừa học

+ Cách tiến hành như sau:

- Chia HS thành các nhóm và phát cho mỗi nhóm một chiếc bảng nhóm hoặcmột tờ giấy A2

- Trên bảng nhóm chia thành các phần, gồm phần chính giữa và các phần xung quanh Phần xung quanh được chia theo số thành viên của nhóm Mỗi

HS ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh

- Mỗi cá nhân làm việc độc lập tìm các tiếng chứa âm o vừa học và ghi vào phần của mình

Các thành viên trong nhóm đọc (phân tích) cho nhau nghe tiếng mà mình đã tìm được Cả nhóm thống nhất và ghi các tiếng vào phần chung của cả nhóm

Lưu ý: GV cũng có thể phát cho HS những tờ giấy A4 màu có kẻ dòng và dán băng keo 2 mặt, yêu cầu mỗi HS viết các tiếng chứa âm vần vừa học Sau đó đính vào phần chung của nhóm Những tiếng trùng nhau có thể đính chồng lên nhau

II VÍ DỤ VỀ VIỆC SỬ DỤNG TRÒ CHƠI HỌC TẬP

Ví dụ 1:

GV có thể cho HS cả lớp tham gia chơi khi học hết các tiết học

Khi học đến bài âm o GV có thể yêu cầu HS thi tìm âm o vừa học có trong một câu hoặc một đoạn văn mà GV có thể chuẩn bị ra bảng nhóm trước Yêucầu HS gạch chân những âm o tìm được

Ví dụ 2 :

Trang 11

GV cho HS thi viết các tiếng chứa âm vần vừa học.

Khi dạy bài chữ i: HS có thể tìm và ghi lại các tiếng như: bi, ki, chi, di, đi,

Ví dụ 3: Cá mẹ tìm cá con

GV phát cho HS một hình con cá (được vẽ trên giấy bìa màu và ép Platic)

GV viết các phụ âm hoặc các nguyên âm Trên hình cá mẹ là các phụ âm Trên hình cá con là các nguyên âm Cá mẹ phải tìm cá con của mình sao chođúng chính tả

Ví dụ 4 : dạy bài Luật chính tả

Cá mẹ gồm các phụ âm: c, m, k, ng, g, ngh, gh, d

Cá con gồm các nguyên âm: o, ô i, e ê, a

Khi cá mẹ c tìm thấy cá con o 2 HS đứng gần nhau và đọc to: co Khi cá mẹngh tìm thấy cá con i thì cá mẹ và cá con đứng cạnh nhau và đọc: nghi (có thể nêu luật chính tả)

Những cá mẹ nào tìm thấy cá con đúng luật sẽ thắng cuộc

III NHỮNG BÀI CÓ THỂ DẠY TĂNG THỜI LƯỢNG

* Tuỳ vào số vần trong từng bài, GV có thể điều chỉnh giãn thời lượng của một bài dạy ra làm 2 hoặc 3 bài

Ví dụ: Bài: on, ot; ôn, ôt; ơn, ơt ; Bài: un, ut; ưn, ưt; em, ep; êm, êp; im, ip;

om, op; ôm, ôp; ơm, ơp; iêm, iêp; ươm, ươp; hoặc Bài: eng, ec; ong, oc; ông,ôc; ung, uc; ưng, ưc; uông, uôc: uơng, ươc; en, et; in, it

Hoặc khi dạy các bài làm tròn môi như: ăng -> oăng; ăc -> oăc; âng -> uâng;

âc -> uâc hoặc bài: ênh -> uênh; êch -> uêch; inh-> uynh; ich-> uych

Lưu ý : Khi GV dạy dạng bài có 6 vần, cần tách thành bài có 2 vần và thực hiện 4 việc như quy trình bình thường (VD: tách on, ot thành 1 bài; ôn, ôt thành 1 bài; ơn, ơt thành 1 bài) Tuy nhiên, phần đọc bài tổng hợp ở trang lẻ (VD: Bài Chùa một cột - trang 99) gồm các tiếng của 6 vần thì nên thực hiệncho HS đọc SGK khi đã dạy đủ cả 6 vần (tức là đọc ở bài 3 khi dạy xong vần

ơn, ơt) Trong quá trình dạy, GV cần linh hoạt phụ thuộc vào đối tượng HS trong lớp Dạy vần nào cho HS viết, đọc vần đó, cho HS thi tìm tiếng mới cóchứa vần vừa học để củng cố khắc sâu cho HS (Lưu ý quy trình 4 việc của 2 tiết trong một bài không thay đổi, việc tách các vần ra thành từng bài nhỏ để tạo thuận lợi cho GV và HS trên lớp GV có thể cho HS luyện viết, luyện đọc nhiều hơn để HS nắm chắc kiến thức)

* Dạy tăng buổi hay dạy buổi chiều đối với các lớp học 2 buổi/ngày, GV có thể ôn luyện cho HS hoặc có thể dạy các bài mà GV đã thực hiện giãn

chương trình để đảm bảo HS học đến đâu chắc đến đấy

Trang 12

* Việc sử dụng đồ dùng dạy học có thể áp dụng được khi GV giúp HS hình thành vần mới, hoặc tìm tiếng mới và giải nghĩa từ cho HS.

Ví dụ: Yêu cầu HS tìm từ hoặc tiếng chứa vần mới bằng cách HS tự ghép thẻchữ hoặc cho HS tìm từ hoặc tiếng chứa vần mới trong các thẻ con vật, thẻ chữ mà GV đưa ra…

* Việc giải nghĩa từ cần tránh sa đà vào giảng giải nhiều

IV MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý

1 Về kĩ thuật dạy học

- Cần hướng dẫn hs vẽ mô hình theo đúng quy trình (Cả GV và HS phải vẽ bằng tay, không dùng thước để kẻ.) Cho học sinh vẽ mô hình hết chiều rộng của bảng con

- Dạy đến đâu chắc đến đó

- Khi dạy: giao nhiệm vụ 1 lần Nên dùng ký hiệu hoặc lệnh rõ ràng, dứt khoát, tránh nói nhiều (Không dùng vừa lệnh, vừa ký hiệu) Kỹ năng đặt câu hỏi và yêu cầu cần ngắn, gọn, dễ hiểu

- Tăng cường việc đọc đồng thanh, đánh vần, đọc cá nhân đối với những lớp,học sinh còn khó khăn về đọc

- Tăng cường việc rèn nề nếp lớp học như: thực hiện theo các các ký hiệu, lệnh của giáo viên; cách xóa bảng con; cách cầm bút viết; cầm sách đọc; cất các đồ dùng; trình bày vở viết; hướng học sinh tự học, hoạt động theo nhóm,tổ

2 Đối với giáo viên:

- Mỗi giáo viên đứng lớp phải nắm chắc kiến thức ngữ âm, luật chính tả

- Trong quá trình dạy phải bám sát thiết kế, nghiên cứu và thuộc Thiết kế, không sáng tạo gì hết cứ theo thiết kế mà làm Trước khi dạy một bài học nào cũng phải trả lời được 3 câu hỏi:

+ Mục đích của tiết học này là gì ?(học cái gì?)

+ Quy trình của tiết học? (cách làm, phương pháp)

+ Sản phẩm cuối cùng học sinh sẽ được gì trong tiết học? (kiến thức, kĩ năng)

- Kiểm soát được học sinh trong từng khâu của tiết dạy./

Nguồn: http://gdthhatinh.violet.vn/

MỘT SỐ DẠNG TOÁN TÍNH NHANH Ở TIỂU HỌC

NHÓM 1: Với dạng bài có số hạng liền sau hơn hoặc kém số hạng liền trước

n lần ta có cách giải chung là: ta nhân cả biểu thức đó cho n rồi lấy kết quả

Trang 13

biểu thức sau khi nhân trừ cho biểu thức lúc đầu ta sẽ tính được kết quả của bài toán.

Ví dụ: Tính nhanh

A = 1 + 2 + 4 + 8 + + 4096 + 8192

Phân tích: Bài này ta thấy số hạng liền sau gấp 2 lần số hạng liền trước Ta

có thể giải bài toán trên theo các cách sau:

NHÓM 2: Với bài có dạng n/a xb + n/b xc (với khoảng cách giữa a và b; b

và c là n đơn vị) ta phân tích như sau:

Trang 14

- Số hạng thứ hai nhân với (n + 1) – 1

Chẳng hạn: 1 x 2 + 2 x 3 + 3 x 4 ta làm như sau:

= 201 x 202x 203 = 8242206

Vậy M = 8242206 : 3 = 2747402

NHÓM 4:Với các bài, ta thấy giữa TS và MS luôn có mối quan hệ với nhau

và ta tìm cách đưa TS hoặc MS về một thừa số giống nhau để giúp ta rút gọn

và tính được giá trị của biểu thức

18 tháng 06 năm 2016, các bình luận sau thời điểm này sẽ không được tính!

I Nội dung câu chuyện:

Chuyện kể rằng: Ngày xưa ở một nước nọ, có một nàng công chúa xinh đẹp,nết na, thùy mị Một hôm, nàng xin phép vua cha ra ngoài cung cấm dạo chơi Thật bất ngờ, nàng bị một con đại bàng lớn sà xuống cắp bay lên trời

Trang 15

cao Thương con, nhà vua cáo thị toàn thiên hạ, sẽ gả công chúa cho chàng trai nào cứu được nàng.

Khi đại bàng bay qua biển, một chàng thợ săn giương cung bắn một mũi tên gãy cánh đại bàng Công chúa rơi xuống biển Anh chàng làm nghề đánh cá thấy vậy liền nhảy xuống ôm được nàng bơi vào bờ Anh chàng làm nghề muối kiên nhẫn hàng giờ thổi ngạt, hô hấp nhân tạo cho công chúa và nàng

đã bừng tỉnh

Giữ lời hứa, nhà vua phải gả công chúa cho chàng trai cứu được nàng

Nhưng thật khó, cả ba chàng đều có công ngang nhau Nhà vua và quần thần

vô cùng lúng túng, chưa biết nên ứng xử thế nào thì công chúa mỉm cười, ghé sát vào tai vua cha tâu trình hai điều và quyết định chọn một trong ba chàng Nhà vua hết sức hài lòng Thế là, buổi hôn lễ linh đình được mở ra

II Câu hỏi:

1) Công chúa đã chọn chàng nào? (thợ săn, chàng đánh cá, chàng làm nghề muối)

2) Bạn thử đoán xem công chúa thưa trình với vua cha hai lý do gì khiến vuacha gật đầu bằng lòng?

QUY TRÌNH DẠY MÔN TẬP ĐỌC (Tham khảo)

1 Kiểm tra bài cũ

- Giáo viên chia lớp thành 3-4 nhóm, yêu cầu nhóm trưởng kiểm tra 2, 3 học sinh đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng đoạn – bài của bài tập đọc trước

đó Nhóm trưởng đặt câu hỏi theo sách giáo khoa ứng với nội dung đoạn cácbạn đọc

- Nhóm nhận xét

- Các nhóm trưởng báo cáo kết quả hoạt động bài cũ cho giáo viên

- Giáo viên nhận xét chung

2 Bài mới:

- Giáo viên giới thiệu bài Giáo viên ghi tựa

- Học sinh ghi tựa bài

- Giáo viên đưa ra yêu cầu cần đạt của bài học, học sinh đọc

a Hoạt động 1: Luyện đọc đúng

+ Học sinh khá, giỏi đọc toàn bài

- Lớp đọc thầm và chia đoạn (nếu nội dung bài có phân đoạn rành mạch) đốivới lơp 4, 5

+ Học sinh tự chia đoạn, giáo viên nhận xét

* Đọc vòng 1: Luyện phát âm đúng (Lớp 2, 3 đọc câu, lớp 4, 5 đọc đoạn.)

- Từng nhóm học sinh đọc nối tiếp từng đoạn của bài dưới sự điều hành của nhóm trưởng

Trang 16

- Học sinh phát hiện từ khó đọc trong bài và giúp đỡ bạn đọc cho đúng.

- Học sinh báo cáo cho giáo viên những từ khó đọc mà các em chưa đọc đúng

- Qua báo cáo của các em giáo viên ghi lại những từ học sinh phát âm sai phổ biến lên bảng ở phần luyện đọc đúng, gạch dưới điểm sai trong các từ ngữ đó và hướng dẫn cho lớp cách đọc

*Đọc vòng 2 : Luyện ngắt nghỉ đúng câu dài kết hợp giải nghĩa từ (Lớp 2, 3 đọc câu, lớp 4, 5 đọc đoạn.)

- Luyện ngắt nghỉ đúng:

+Từng nhóm học sinh đọc nối tiếp lần 2 từng đoạn của bài dưới sự điều hành của nhóm trưởng (Lưu ý những bạn lần 01 chưa đọc).Trong khi đọc, nhóm cần phát hiện những câu dài khó đọc Báo cáo cho giáo viên những câu dài không có dấu câu khó ngắt nghỉ mà các em phát hiện

-Giáo viên đưa câu dài (đặc biệt ở những câu mà việc ngắt nghỉ không dựa vào dấu câu mà ngắt theo cụm từ rõ nghĩa), đọc mẫu, học sinh nghe giáo viên đọc phát hiện ra chỗ cần ngắt nghỉ

-Hướng dẫn giải nghĩa từ bao gồm từ ngữ trong phần chú giải, các từ khó hiểu, từ trọng tâm, từ chủ đề,…(Một số từ ngữ cần phải gắn với ngữ cảnh mới giải nghĩa được thì có thể đem xuống phần tìm hiểu bài để giải nghĩa)

* Đọc vòng 3: Đối với lớp 2, 3 học sinh chia đoạn Học sinh đọc nối tiếp đoạn

- Học sinh đọc theo nhóm đôi sau đó có thể gọi 1-2 nhóm đọc với mục đích kiểm tra kết quả đọc nhóm Yêu cầu học sinh nhận xét bài đọc của bạn

b Hoạt động 2 : Tìm hiểu bài

- Học sinh thảo luận nhóm tìm hiểu nội dung bài học thông qua câu hỏi giáo viên đưa ra.Học sinh đọc thầm, đọc lướt để trả lời câu hỏi mà giáo viên đưa ra

- Các nhóm báo cáo kết quả

- Giáo viên sơ kết ngắn gọn, nhấn mạnh ý chính và có thể ghi bảng những từngữ hình ảnh chi tiết nổi bật cẩn nhớ của đọan văn, của khổ thơ

- Học sinh nêu nội dung chính của bài– giáo viên kết luận ghi bảng, 1; 2 học sinh nhắc lại

c Hoạt động 3: Luyện đọc diễn cảm(đối với văn bản nghệ thuật), hoặc luyệnđọc lại (đối với văn bản phi nghệ thuật)

*Thông qua tìm hiểu nội dung học sinh tìm ra giọng đọc chung toàn bài (Hào hứng, sôi nỗi, nhẹ nhàng… Những từ ngữ cần nhấn giọng (cao độ, trường độ )

* Luyện đọc diễn cảm đoạn : Lớp 2, 3 luyện đọc đúng Lớp 4, 5 luyện đọc diễn cảm

+ Giáo viên giới thiệu đoạn cần luyện đọc, đưa lên bảng

Trang 17

+ Giáo viên đọc mẫu, học sinh lắng nghe và nêu giọng đọc của đoạn, những

từ cần nhấn giọng, giáo viên gạch chân từ trên bảng

3.Củng cố dặn dò

- Giáo viên đặt câu hỏi về nội dung bài tập đọc học sinh trả lời (1,2 câu)

- Học sinh nhận xét tiết học, giáo viên bổ sung

- Dặn dò về yêu cầu luyện tập và chuẩn bị bài sau

(Sưu Tầm)

PHÂN LOẠI CÂU

I Các kiểu câu phân loại theo cấu tạo:

1 Câu đơn

- Câu đơn là câu do một cụm chủ - vị tạo nên

- Câu đơn có thể có nhiều chủ ngữ hoặc nhiều vị ngữ giữ chức vụ là bộ phậnsong song

Có hai cách nối các vế câu ghép:

- Nối trực tiếp bằng dấu câu: dấu phẩy, dấu chấm phẩy,…

Ví dụ: Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương

- Nối gián tiếp bằng từ ngữ có tác dụng liên kết:

* Nối bằng một quan hệ từ: và, rồi, thì, vì, do, tại, bởi, nên, nhưng,…

Ví dụ: Trời mưa nên đường rất trơn

* Nối bằng cặp quan hệ từ: nếu… thì, vì … nên, tuy … nhưng,…

Ví dụ: Nếu biển động thì thuyền trưởng không thể ra khơi được

Trang 18

* nối bằng cặp từ hô ứng: đâu … đấy, bao nhiêu … bấy nhiêu, nào … ấy, sao

… vậy, vừa … đã, vừa … vừa, càng … càng,…

Ví dụ: Gió càng to, biển càng động dữ dội

II Các kiểu câu phân loại theo mục đích nói

1 Câu trần thuật (câu kể)

- Câu trần thuật là kiểu câu dùng để miêu tả, kể hoặc nêu nhận định, đáng giá, phán đoán… về người, sự vật, sự việc, hiện tượng

Ví dụ: Ngoài kia, bầu trời trong xanh như ngọc

- Dấu hiệu: Câu trần thuật kết thúc bằng dấu chấm (.) và thường có các từ mang ý nghĩa khẳng định hoặc phủ định (có, không, chưa…)

Ví dụ: Hoài không muốn các bạn lo lắng cho sức khỏe của cô

2 Câu nghi vấn (câu hỏi)

- Câu nghi vấn là kiểu câu dùng để hỏi, tìm hiểu những thông tin chưa biết

- Dấu hiệu: Câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi (?) và có các từ để hỏi (mấy, bao nhiêu, ai, nào, đâu, sao, bao giờ, chưa, gì…)

Ví dụ: Bạn đã ăn cơm chưa?

3 Câu cầu khiến (câu khiến),

- Câu cầu khiến là kiểu câu dùng để nêu yêu cầu, đề nghị, mong muốn, mệnhlệnh, …của người nói (người viết) với người khác

- Dấu hiệu: Câu nghi cầu khiến kết thúc bằng dấu chấm than (!) hoặc dấu chấm (.) và thường có các từ ngữ thể hiện yêu cầu (hãy, đừng, chớ…)

4 Câu cảm thán (câu cảm)

- Câu cảm thán là kiểu câu dùng để bộc lộ cảm xúc, tình cảm (vui mừng, thán phục, đau xót, ngạc nhiên…) đối với người nghe hoặc sự vật, hiện tượng được nói tới trong câu

- Dấu hiệu: Câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm cảm (!) và có các

từ bộc lộ tình cảm, cảm xúc như: ôi, ối, ủa, ái chà, chao ôi,…

Ví dụ: Chao ôi! Thế là mùa xuân mong ước đã về

Chú ý: Câu phân loại theo mục đích nói còn được dùng với mục đích gián tiếp Khi đó phải căn cứ vào hòn cảnh sử dụng và mục đích của câu để xác định kiểu câu

Ví dụ: Câu hỏi dùng để chào, thể hiện cảm xúc, yêu cầu…

Chị có thể mua giúp em một quyển vở được không?

( Câu hỏi nhưng dùng để nhờ, yêu cầu người khác giúp đỡ)

Trang 19

III Một số lỗi câu

1.Câu sai cấu trúc

- Câu sai về trật tự từ và trật tự các thành phần câu:

Ví dụ: Biệt danh “hạt mít” đặt cho tôi là các bạn lớp 5

Sửa lại: Biệt danh “hạt mít” là của các bạn lớp 5 đặt cho tôi

Hoặc: Các bạn lớp 5 đặt cho tôi biệt danh là “hạt mít”

2 Câu sai lô-gic:sai quan hệ ngữ nghĩa giữa các bộ phận trong câu làm bị sailô-gic

Ví dụ: Học sinh là tôi

Sửa lại: Tôi là học sinh

3 Sử dụng sai dấu câu:

Ví dụ: Giờ tôi mới biết thế nào là nỗi khổ của một người mẹ?

Giờ tôi mới biết thế nào là nỗi khổ của một người mẹ

Nguồn: http://gdthhatinh.violet.vn/

Phân biệt 4 Mô hình trường học ở tiểu học hiện nay

Hiện nay ở Tiểu học nói riêng và Phổ thông nói chung cũng như trong dư luận xã hội có nêu ra 4 mô hình trường học cơ bản, như sau:

1-Mô hình trường học truyền thống (Hiện hành)-Gọi là M1

2- Mô hình trường học của Đề án đổi mới căn bản toàn diện (CT2018)-Gọi

là M2

Trang 20

3-Mô hình trường học mới (VNEN)-Gọi là M3

4- Mô hình trường học Quốc tế (Trường học Côlombia và Trường học tư thục có yếu tố nước ngoài có ở ViệtNam)-Gọi là M4

Để phân biệt và so sánh các mô hình trường học chúng ta cần dựa vào nội dung của 4 thành tố cơ bản trong một Chương trình giáo dục hiện đại, đó là:(i)- Mục tiêu giáo dục

(ii)- Phạm vi, mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục

(iii)- Các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục

(iv)- Đánh giá kết quả giáo dục

1-Mô hình M1

Mô hình M1 được hình thành và triển khai từ Chương trình giáo dục sau năm 2000 (CT2000), theo Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội Bản chất của CT2000 là Chương trình tiếp cận theo nội dung hay chủ đề, hay còngọi Giáo dục định hướng nội dung dạy học, định hướng đầu vào

Giáo dục định hướng đầu vào, tồn tại và phát triển trong suốt những năm dàicủa thế kỷ XIX và cho tới những năm cuối của thế kỷ XX Từ cuối thế kỷ

XX cho tới nay, vẫn còn một số nước chậm phát triển hoặc đang phát triển thiết kế Chương trình theo cách này Đặc điểm cơ bản của cách tiếp cận này

là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các lĩnh vực hoặc môn học cho học sinh, được quy định trong chương trình dạy học Nội dung học vấn trong chương trình dạy học dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng Giáo dục Việt Nam trong những năm dài vừa qua là tiếp cận Chương trình theo nội dung, điều đó dẫn đến thực trạng nền giáo dục của chúng ta nặng tính “hàn lâm, kinh viện”

Do chỉ quan tâm đầu vào là nội dung dạy học, nên Giáo dục định hướng đầu vào chưa chú trọng đầy đủ chủ thể người học cũng như khả năng ứng dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống Mục tiêu dạy học thường đưa ra chung chung, khó đo đếm để đánh giá người học, đánh giá chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi : Chúng ta muốn học sinh cần biết cái gì ?

Trong tài liệu Hỏi-Đáp về Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (CTTT)của Bộ Giáo dục và Đào có nêu những Hạn chế, bất cập của mô hình M1:

- Liên quan tới thành tố (i) : Coi trọng truyền đạt kiến thức và nặng lý

thuyết, nặng dạy chữ, không chú trọng dạy người;

- Liên quan tới thành tố (ii) : Kiến thức hàn lâm, chưa đảm bảo tính Sư phạm, ít tích hợp và phân hóa;

Trang 21

- Liên quan tới thành tố (iii) : Tổ chức dạy học chủ yếu trên lớp, bằng cách giáo viên thuyết trình, không coi trọng hoạt động học của học sinh và hoạt động trải nghiệm sáng tạo ;

- Liên quan tới thành tố (iv) : Chú trọng đánh giá học sinh bằng điểm số, gây

áp lực cho nhà trường và xã hội ; Chương trình không liên thông, chưa phát huy vai trò tự chủ của các nhà trường

GS Sugitomo Reiji (Đại học Hiroshima) sau khi đi thăm thực tế một số trường học ở Việt Nam có nói : “Cách dạy học của Việt Nam đã lỗi thời” Lớp học chủ yếu được thiết kế theo kiểu nhiều hàng bàn ghế nối tiếp nhau, học sinh dồn mọi chú ý vào giáo viên giữ vị trí trung tâm, học sinh chủ yếu đọc-chép Hoạt động làm việc và tương tác theo nhóm còn rất hạn chế (TheoTrí thức trẻ-Giaoduc.net 16-12-2015)

Như vậy mô hình M1 đã tồn tại lâu, trên 15 năm, có đóng góp đáng kể vào

sự nghiệp giáo dục của nước nhà, tuy nhiên không phải mô hình M1 “xấu xí” hay “có vấn đề” mà chúng ta cần thay đổi Chúng ta cần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo nghị quyết NQ-29/TW để thay đổi những hạn chế và bất cậptrên vì hai nguyên nhân :

+ Mô hình M1không phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, đòi hỏi cần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, mô hình M1 chỉ phù hợp

và có tác dụng ở những năm của thế kỷ XIX, XX

+ Chúng ta phát triển đất nước, phát triển giáo dục phải phù hợp với xu thế thời đại, đó là toàn cầu hóa và hội nhập Quốc tế Khi Chương trình giáo dục mới của Việt Nam được xây dựng thì không thể đứng ngoài xu thế giáo dục của thời đại

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng : đổi mới giáo dục không thể phủ nhận, sạch trơn mà kế thừa thành tựu của mô hình truyền thống M1, như tiếp tục mục tiêu giáo dục là phát triển con người toàn diện; Phát huy những giá trị cơ bảncủa văn hóa, đạo đức, truyền thống dân tộc bốn ngàn năm; Tiếp tục đẩy mạnh phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh và các yếu tố tích cực và phù hợp khác của mô hình M1

2-Mô hình M2

Mô hình M2 (có thể có nhiều mô hình khác nhau đồng dạng với mô hình M2) được hình thành và triển khai từ Chương trình giáo dục sau năm 2018 (CT2018), theo Nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội Bản chất của CT2018 là Chương trình tiếp cận theo đầu ra, hay còn gọi Giáo dục định hướng kết quả đầu ra, định hướng đầu ra năng lực Vì thế những hạn chế và bất cập trong mô hình M1 sẽ được khắc phục trong mô hình M2

Trang 22

Chương trình mới chuyển sang cách tiếp cận năng lực, nhằm phát triển phẩmchất và năng lực người học Đó là là cách tiếp cận nêu rõ học sinh sẽ làm được gì và làm như thế nào vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường.Đặc điểm của mô hình M2 là :

- Đối với thành tố (i) : Cách tiếp cận này không những đòi hỏi học sinh nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản mà còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống; tính chất và kết quả hoạt động cũng phụ thuộc rất nhiều vào hứngthú, niềm tin, đạo đức… của người học nên Chương trình cũng rất chú trọng đến mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh; phát triển các phẩm chấtchủ yếu và các năng lực chung mà mọi học sinh đều cần có, đồng thời phát triển các phẩm chất và năng lực riêng của từng em; tập trung vào việc dạy vàhọc như thế nào? Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các thành tố trong Chương trình giáo dục hiện đại (thành tố i,ii, iii và iv);

- Đối với thành tố (ii) : Đã xác định: “Đổi mới nội dung theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và định hướng nghề nghiệp; Tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Tích hợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên” (NQ 88/2014/QH13) Chỉ lựa chọn những nội dung đưa vào nhà trường là cơ bản, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi học sinh, liên quan và có vai trò trong việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh Hình thành hệ thống các môn học bắt buộc và tự chọn ở cả hai giai đoạn giáo dục là Cơ bản và Định hướng nghề nghiệp Có một Chương trình và có nhiều bộ sách;

- Đối với thành tố (iii) : Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo định hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tập trung dạy cách học và rèn luyện năng lực tự học, tạo cơ sở để học tập suốt đời, tự cập nhật và đổi mới tri thức,kỹ năng, phát triển năng lực; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học một cách linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với mục tiêu, nội dung giáo dục, đối tượng học sinh và điều kiện cụ thể của mỗi cơ sở giáodục phổ thông Đa dạng hoá hình thức tổ chức học tập, coi trọng cả dạy học trên lớp và các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo, tập dượt nghiên cứu khoa học Phối hợp chặt chẽ giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

- Đối với thành tố (iv) : Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểmtra và đánh giá chất lượng giáo dục, bảo đảm trung thực, khách quan, góp phần hướng dẫn, điều chỉnh cách học và cách dạy Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá

Trang 23

của giáo viên với tự đánh giá của học sinh; đánh giá của nhà trường với đánhgiá của gia đình và của xã hội.

3-Mô hình M3

Mô hình M3 là sự chuyển đổi từ mô hình M1 và được xây dựng và phát triểndựa trên quan điểm giáo dục định hướng năng lực người học, trong đó coi trọng giáo dục lấy người học làm trung tâm, tức là trùng hợp quan điểm với

mô hình M2 Các đặc trưng cơ bản của mô hình M3 thể hiện đầy đủ những

xu thế của giáo dục hiện đại trên thế giới và phù hợp tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013; Nghị quyết 88/2014/QH13, ngày 28-11-2014; Quyết định 404/QĐ-CP, ngày 27-3-2015; Quyết định 2632/QĐ-BGDĐT, ngày 24-7-2015 và Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể được

Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố ngày 5-8-2015 Vì thế có thể nói, mô hình M3 thực chất như là một cách tiếp cận, một sự thể nghiệm mô hình M2 Nội dung của mô hình M3, nhất là về mặt sư phạm, dựa trên cơ sở tích hợp thànhquả thực tiễn giáo dục của Việt Nam qua nhiều năm, nhất là của 20 năm đổi mới gần đây Nhiều kết quả thí điểm của các Chương trình, Dự án như: Dự

án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC), Chương trình đảm bảo chất lượng trường học (SEQAP), Dự án phát triển giáo viên tiểu học (PTD), Dự án Giáo dục của Ofam GB, Dự án Việt Bỉ, Dự án về Quỹ

hỗ trợ của Thụy Điển, về Quỹ hỗ trợ của Úc, về Quỹ hỗ trợ của Unicef Dự

án Phát triển THCS, Dự án Phát triển THPT (I và II), Chương trình phát triển THPT đã được vận dụng một cách khoa học vào mô hình M3 Đặc biệt, mô hình M3 đã lồng ghép Phương pháp bàn tay nặn bột (Viện hàn lâm Pháp), dạy học Mỹ thuật (Đại sứ quán Đan Mạch tại Hà Nội), Tổ chức sinh hoạt chuyên môn (Tổ chức JICA của Nhật Bản) thành các nội dung hoạt động chính của mô hình

a- Do mô hình M3 là sự chuyển đổi từ mô hình M1, tức là không thiết kế và xây dựng mô hình từ đầu một cách đầy đủ và cũng không được phát triển một cách độc lập mô hình M3 theo xu thế và quan điểm của giáo dục hiện đại, vì thế vẫn tồn tại như là sự quá độ hay những giao thoa sau đây :

+ Mô hình M3, phù hợp với mô hình M2 về các thành tố (i), (iii) và (iv)+ Mô hình M3, tuy có điều chỉnh kế hoạch dạy và chuyển các môn ít tiết của

mô hình M1 thành Hoạt động giáo dục, nhưng nhìn chung vẫn coi là giữ nguyên thành tố (ii) của mô hình M1 Tức là mô hình M3 mới chuyển đổi sang mô hình M2 được số thành tố bằng ¾ tổng số thành tố trong Chương trình giáo dục Vì thế giữa mô hình M2 và M3 có quan hệ khăng khít và được ví như “anh em ruột” là như thế

Trang 24

+ Mô hình M3 sẽ trùng khít và là một trong những mô hình M2 khi thành tố (ii) được thay thế bằng nội dung Chương trình đổi mới của mô hình M2, tức

là thay bộ sách Hướng dẫn học cho học sinh hiện hành bằng bộ sách Hướng dẫn học cho học sinh với nội dung mới

4-Mô hình M4

a- Giáo dục hiện đại ngày nay (mô hình M2, mô hình M3 và Mô hình M4)

có xu hướng vận dụng 4 sự chuyển đổi mô hình trường học mang tính chiến lược, đó là :

+ Chuyển tiếp cận giáo dục theo nội dung, đầu vào hay mục tiêu sang giáo dục tiếp cận đầu ra năng lực;

+ Chuyển mô hình dạy học sang mô hình học tập;

+ Chuyển đánh giá về học tập, đánh giá kết quả sang đánh giá vì hay trong quá trình học tập Đánh giá đi liền với quá trình tổ chức hoạt động học Đánhgiá là học tập

+ Chuyển nội dung học tập chuyên sâu, “rời rạc” sang nội dung học tập tích hợp Tăng cường tổ chức học tập tự chọn, phân hóa ở cấp học cao hơn và hoạt động trải nghiệm sáng tạo

- Mô hình trường học Côlombia dựa trên 5 nguyên tắc : (a) Lấy học sinh làmtrung tâm (Học sinh được học theo khả năng của riêng mình; tự quản; hợp tác và tự giác trong học tập); (b)Nội dung học gắn bó chặt chẽ với đời sống hằng ngày của học sinh; (c)“Xếp lớp linh hoạt”: Học sinh được lên lớp trên nếu được giáo viên đánh giá đạt được các mục tiêu giáo dục tối thiểu; (d)Phụhuynh và cộng đồng phối hợp chặt chẽ với giáo viên để giúp đỡ học sinh một cách thiết thực trong học tập; tham gia giám sát việc học tập của con emmình; (e) Góp phần hình thành nhân cách giá trị dân chủ, ý thức tập thể theo

xu hướng thời đại cho học sinh

- Như vậy mô hình M4 cũng được “sinh” ra từ Chương trình giáo dục tiếp cận đầu ra năng lực Tuy nhiên, do mô hình M4, được phát triển trước mô hình M2 và mô hình M3 khá lâu, cách xa chúng ta hàng nửa thế kỷ và có quá nhiều trải nghiệm, nên các biện pháp, các kỹ thuật để thực hiện các nội dung của thành tố trong Chương trình giáo dục của họ (từ đó đạt mục tiêu giáo dục rất cao) là rất thành công và hiệu quả, xứng đáng cho nhiều Quốc gia đáng tới tìm hiểu, học tập và làm theo

- Mô hình M3 (và sau này là mô hình M2) không thể là mô hình M4, càng không thể là sao chép từ mô hình M4 Mỗi Quốc gia khi xây dựng Chương trình Giáo dục đổi mới họ đều dựa trên cơ sở chung của xu thế giáo dục hiệnđại (thông qua 4 sự chuyển đổi mô hình nêu trên), tuy nhiên khi phân tích

Trang 25

nội dung cụ thể Chương trình Giáo dục của mỗi Quốc gia lại là rất khác nhau, bởi vì :

+ Mục tiêu (i) phụ thuộc vào yêu cầu, vào hệ giá trị về phát triển con người

và cả thể chế chính trị của từng Quốc gia;

+ Nội dung (ii) về khoa học xã hội được chi phối bởi nền văn hóa, truyền thống lịch sử, quan niệm đạo đức của mỗi đất nước;

+ Phương pháp (iii) và Đánh giá (iv) bao giờ cũng thống nhất và luôn luôn phù hợp với những định hướng của Mục tiêu và Nội dung trong Chương trình giáo dục

Nguồn: Đặng Tự Ân-CG Trưởng Dự án GPE-VNEN

Phương pháp dạy HS lớp 1 nhanh biết đọc Tiếng Việt

1 Một số vấn đề hình thành kỹ năng đọc viết cho học sinh lớp 1 theo

chương trình sách giáo khoa (SGK) Tiếng Việt lớp 1 hiện nay

Thực tế phương pháp dạy tập đọc ở nhà trường hiện nay chưa chú trọng đến cách dạy học sinh ghép âm vần theo hình thức xuôi - ngược, hầu như chỉ dạyhọc sinh cách ghép xuôi, cho nên để đọc được các vần có cấu trúc: Âm chính + âm cuối -> vần [ac, im ] theo phương pháp nhà trường thì các em phải có đủ một khoảng thời gian rất dài sau quá trình đọc và ghép xuôi thuầnthục.Cụ thể: theo chương trình dạy môn Tiếng Việt lớp 1 hiện hành trong nhà trường Tiểu học, đến bài 29 (của phần học vần SGK Tiếng Việt 1) học sinh mới được học các vần có cấu trúc [ Âm chính + âm cuối -> vần ] tức là

ở tuần thứ 7 của học kỳ I của học sinh lớp 1 mới bắt đầu học vần Như vậy, thời gian hình thành kỹ năng học vần và ghép các cấu trúc âm tiết có từ 3 âmtrở lên của học sinh lớp 1 như hiện nay chưa tạo điều kiện đủ cho học sinh

có thời gian luyện tập kỹ năng đọc, viết tiếng Việt thuần thục lên mức kỹ xảo, để học sinh có thể triển khai mức độ đọc chữ thuần thục trên tất cả ngữ

âm tiếng Việt Cho nên hiện nay ở các trường Tiểu học nông thôn, những học sinh ở các khối lớp 1, 2, 4, 5 ( đặc biệt là học sinh Khmer) vẫn chưa đọc thông viết thạo tiếng Việt, đây là thực tế rất phổ biến

Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy rằng: Những học sinh đọc được vần ngược theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì hầu như các em đọc được tất cả các âm tiết có cấu trúc Âm đầu + vần + dấu thanhtrong tiếng Việt, chỉ khác nhau là mức độ đọc thuần thục ở mỗi em Ngược lại, nếu những học sinh nào chưa hình thành được thao tác ghép âm vần theo cấu trúc Âm chính + âm cuối [ a- c -> ac] thì các em không thể đọc được các vần theo cấu trúc đó và càng không thể đọc được các chữ trong tiếng Việt có từ 3 âm trở lên theo cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh ]

Trang 26

Từ đó chúng tôi có thể kết luận, trong quá trình dạy trẻ đọc nếu trẻ chưa nắmđược phương pháp cấu trúc các âm tiết ở các dạng khái quát [Âm chính +

âm đầu-> vần]; [Âm đệm + âm chính-> vần] thì các em sẽ không thể triển khai hành động đọc trên tất các âm tiết có cấu trúc [Âm đầu + vần + dấu thanh-> âm tiết ]

Như vậy, muốn trẻ em nhanh biết đọc người dạy cần xác định đúng tầm quan trọng của giai đoạn hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết, phải tổ chức cho các em làm việc trực tiếp với con chữ thông qua các hình thức cụ thể như hình thành thao tác đọc, thao tác ghép, phải lựa chọn phương pháp tối ưu nhất để đẩy nhanh tốc độ hình thành kỹ năng đọc và ghép âm tiết cho trẻ càng sớm càng tốt, thời gian còn lại trong năm học các em sẽ đủ điều kiện củng cố, tập luyện kỹ năng đọc lên mức kỹ xảo

2 Đề xuất phương pháp dạy học sinh lớp 1 nhanh biết đọc biết viết tiếng Việt

Để dạy học sinh học cách phát âm và cách ghép âm tiết đồng thời, chúng tôi

sử dụng một bảng chữ cái tổng hợp làm phương tiện trực quan, cũng đồng thời là nội dung dạy học Bảng chữ cái tổng hợp được thiết kế theo một số nguyên tắc nhất định, và người dạy cần phải vận hành đúng tinh thần của những nguyên tắc đó Ưu điểm của cách dạy này là cùng một lúc, học sinh phát âm và ghép được rất nhiều âm tiết theo các cấu trúc khác nhau, từ dễ đến khó, hơn thế nữa, học sinh không chỉ dừng lại ở số lượng nắm được bao nhiêu âm, vần, tiếng, mà cái quan trọng là qua cách dạy theo phương pháp ngữ âm trực tiếp - tổng hợp này dựa cơ sở định hướng khái quát, học sinh sẽ nhanh chóng biết được cách phát âm, cách kết hợp các dạng khái quát theo các cấu trúc âm vần Chẳng hạn như các dạng cấu trúc đơn giản Âm chính +

âm cuối -> vần [ a - m -> am], Âm đệm + âm chính -> vần [ o - a ® oa] và

các âm vần khó: Âm đệm + âm chính + âm cuối -> vần Ngược lại nếu chúng ta dạy cho học sinh đọc chữ với mục đích là cung cấp từng âm vần một, để học sinh học - nhớ các âm vần đó, theo hình thức tăng dần về số lượng tích lũy được thì đó chưa phải là phương pháp tối ưu để giúp học sinh nhanh biết đọc tiếng Việt Vì trong tiếng Việt có hơn 115 âm tiết được xếp theo vần, nhưng không tính thành phần âm đệm khi sắp xếp, ví dụ vần [oa] Như vậy trong một thời gian nhất định, chúng ta không thể cung cấp để học sinh nhớ hết số lượng các âm vần đó để triển khai các thao tác cần thiết đọc chữ, quan trọng hơn là dạy học sinh nắm được phương pháp chung nhất về đọc và ghép âm tiết, sau đó biết cách cụ thể hóa vào các tình huống riêng, cũng như biết triển khai đúng các thao tác của kỹ năng đọc chữ ở tất cả các ngữ âm tiếng Việt Học sinh đạt được mức độ triển khai thuần thục như vậy thì mới cho là biết đọc chữ

Trang 27

Thứ hai: việc sử dùng nhiều tranh ảnh trong giai đoạn phát âm và ghép vần,

ở SGK Tiếng Việt 1 như hiện nay, sẽ dẫn đến hiện tượng học sinh nhìn tranh

- đọc chữ, đây là tính chất đặc trưng khi dạy trẻ mẫu giáo lớn, chính điểm này dẫn đến tình trạng học vẹt của học sinh Tiểu học ở đầu cấp Đây cũng là một trong những yếu tố dẫn đến tình trạng phổ biến ở những học sinh đã họcxong chương trình lớp một nhưng chậm biết đọc tiếng Việt

Theo GD&TĐ

Tóm tắt kiến thức Lịch sử lớp 4 - 5

1 Nội dung liên quan đến phần lịch sử lớp 4

1.1 Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng năm 700 TCN đến năm 179 TCN)

a) Sự ra đời của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc

Trên bước đường phát triển của xã hội, các cư dân nguyên thuỷ từng bước tiến xuống vùng châu thổ các con sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã Bằng sức lao động sáng tạo của mình, trên cơ sở những nền văn hoá đồ đá đã đạt được, họ khai phá đất đai, tiếp tục phát triển nghề nông trồng lúa nước cùng kĩ thuật luyện kim, xây dựng xóm làng định cư và từng

Trang 28

bước liên hệ, gắn bó với nhau đạt đến một trình độ phát triển nhất định của phân công lao động và bắt đầu có sự phân hoá giàu nghèo Một tổ chức chính trị : Nhà nước với tên gọi Văn Lang (khoảng thế kỷ VI – V TCN) đã hình thành Chẳng bao lâu sau, sự kết hợp mới giữa hai khối tộc người Lạc Việt và Tây Âu tạo nên một nhà nước mới mang tên Âu Lạc.Sự kiện lớn lao này xảy ra vào khoảng các thế kỷ IV – III TCN, đồng thời báo hiệu sự hình thành của một nền văn minh Các nhà sử học gọi nền văn minh đó là văn minh Văn Lang - Âu Lạc hay thời Hùng Vương – An Dương Vương hoặc văn minh sông Hồng

b) Nội dung của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc

+ Về đời sống kinh tế : Nghề chính là trồng lúa nước Có lẽ thời kỳ này người dân đã biết dùng sức kéo của trâu bò để cày bừa đồng ruộng Trong khi số đông tập trung vào sản xuất nông nghiệp thì một số người có khả năng về sáng tạo thủ công nghiệp đã tập trung vào nghề luyện kim đồng thau

và sáng tạo ra nghề rèn sắt Sự phát triển của nghề luyện kim đã tạo điều kiện sản xuất hàng loạt công cụ cần cho sản xuất nông nghiệp, vũ khí, đồ trang sức v.v Bên cạnh nghề nông và nghề luyện kim, các nghề khác như chế tác đá, làm gốm, nghề mộc và xây dựng, đánh cá, nuôi tằm, kéo tơ, dệt vải lụa, chăn nuôi v.v tiếp tục phát triển

+ Về tổ chức chính trị – xã hội : Thời Văn Lang - Âu Lạc nhà nước còn rất

sơ khai : có một người đứng đầu nhà nước (Vua) và vài người giúp việc (Lạchầu) Cả nước có 15 bộ, mỗi bộ có một Lạc tướng cai quản Mỗi bộ gồm nhiều công xã (làng, chạ) do Bộ chính quản lí Cư dân gọi chung là người Lạc Việt bao gồm các tộc người Việt – Mường, Tày cổ, Môn – Khơme.Các vua (Hùng Vương, An Dương Vương) các Lạc hầu, Lạc tướng hợp thành lớpngười thống trị, giàu có, giữ chức vụ theo chế độ cha truyền con nối Nhà nước chỉ trông coi việc chung Mọi công việc cụ thể trong sản xuất và sinh hoạt đều do làng, chạ giải quyết

+ Văn hoá tinh thần : Qua các di vật thời Văn Lang - Âu Lạc, đặc biệt các hoa văn trên trống đồng, chúng ta hình dung thời đó ông cha ta thờ thần Mặt Trời, ăn ở giản dị, có những hội hè như bơi trải, hội ra quân, múa hát Cuộc

Trang 29

sống tinh thần nhìn chung giản dị, thanh bình và phong tục riêng đã được định hình

1.2 Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (Từ năm 179 TCN đến năm 938)

Mỗi triều đại phong kiến Trung Quốc đô hộ nước ta có thể có những điểm riêng về chi tiết Song nhìn chung, chúng đều có những nét chung như sau :- Biến nước ta thành quận, huyện của chúng Lúc đầu chúng vẫn giữ các Lạc tướng người Việt song sau đó từ châu đến huyện đều do người Hán cai trị.-

Di cư người Hán đến ở lẫn với dân ta, bắt người Việt sửa đổi phong tục, tập quán giống như người Hán.- Chúng bóc lột dân ta chủ yếu bằng cống nạp các sản vật quý Ngoài ra chúng còn đặt ra nhiều loại tô thuế và lệ phu dịch 1.3 Buổi đầu độc lập

Trong buổi đầu độc lập, lịch sử đặt ra hai yêu cầu : một là thống nhất đất nước để làm cơ sở cho sự ổn định và phát triển ; hai là chống ngoại xâm để bảo vệ nền độc lập của quốc gia.- Công lao thống nhất đất nước thời kì này thuộc về Đinh Bộ Lĩnh Đinh Bộ Lĩnh người ở động Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình) Ông là một người cương nghị, mưu lược và có chí lớn Tại Hoa

Lư, ông đã xây dựng được một lực lượng vũ trang khá mạnh và nhân dân trong vùng đều theo phục Ông lại liên kết với sứ quân Trần Lãm ở Bố Hải Khẩu để tăng cường thêm thế lực Sau khi Trần Lãm chết, ông trở thành người cầm đầu một lực lượng vũ trang lớn mạnh Đến cuối năm 967, loạn Mười hai sứ quân bị dập tắt và đất nước trở lại thống nhất.- Trong buổi đầu độc lập, dân tộc ta đã tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tống thắng lợi, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ đất nước

1.4 Nước Đại Việt

a) Thời Đại Việt, thời kì lịch sử bắt đầu từ năm 1009 (với sự thành lập của triều đại nhà Lý) đến năm 1858 (với sự kiện thực dân Pháp tiến hành cuộc xâm lược nước ta) Đây cũng là cách gọi có tính quy ước của các nhà sử học.Chẳng hạn, thời nhà Nguyễn không lấy tên nước là Đại Việt mà là Đại

Nam.Thời Đại Việt là thời kì độc lập lâu dài của nước ta Thời kì này tồn tại dưới các triều đại phong kiến sau đây :

Ngày đăng: 16/01/2019, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w