1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

252 413 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 252
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tiến sĩ luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự viêt nam, là luận án được đầu tư bài bản và khoa học được các giáo sư,tiến sĩ nghiên cứu giúp đỡ để luận án được hoàn thành đúng tiến độ.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ LAN HƯƠNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VŨ THỊ LAN HƯƠNG

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH

Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án không trùng lặp và chưa từng được người khác công bố trong các công trình nghiên cứu trước đó

Tác giả luận án

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Người hướng dẫn, cùng các thầy giáo, cô giáo đã chỉ bảo tận tình; xin cảm ơn các anh, chị, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành bản Luận án này

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLDS 1995 : Bộ luật dân sự năm 1995

BLDS 2005 : Bộ luật dân sự năm 2005

BLDS 2015 : Bộ luật dân sự năm 2015

NQ 03 : Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng

thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BTTH : Bồi thường thiệt hại

CTXD : Công trình xây dựng

TAND : Tòa án nhân dân

TNBT : Trách nhiệm bồi thường

TNBTTH : Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8

PHẦN A TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 8

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 8

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 8

1.2 Đánh giá thành quả nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án 10

2 Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của đề tài 12

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 12

2.2 Lý thuyết nghiên cứu 13

2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 13

2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu 14

PHẦN B 15

NỘI DUNG LUẬN ÁN 15

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 15

1.1 Các học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 15

1.1.1 Học thuyết về sự cẩu thả (negligence) 16

1.1.2 Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability) 16

1.1.3 Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability) 18

1.1.4 Sự kết hợp giữa học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt 19

1.1.5 Học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam 20

1.2 Khái niệm, đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác 23

1.2.1 Khái niệm “nhà cửa, công trình xây dựng khác” 23

1.2.2 Đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác 32

1.3 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 35

1.4 Bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 41

Trang 7

1.5 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây

dựng khác gây ra 46

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 51

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 52

2.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 52

2.1.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác 53

2.1.2 Điều kiện phát sinh trách nhiệm liên đới của người thi công với chủ sở hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác 65

2.2 Xác định thiệt hại 70

2.2.1 Xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 70

2.2.2 Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm 74

2.2.3 Xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 79

2.3 Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 82

2.3.1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác 82

2.3.2 Trách nhiệm bồi thường liên đới bồi thường thiệt hại của người thi công 92

2.4 Chủ thể được bồi thường thiệt hại 95

2.4.1 Chủ thể được bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm 96

2.4.2 Chủ thể được bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm 97

2.4.3 Chủ thể được bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm 99

2.5 Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 101

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 106

CHƯƠNG 3 : THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 107

3.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 107

3.1.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 107

3.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 110

Trang 8

3.1.3 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định chủ thể chịu trách nhiệm

bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 121

3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 132

3.2.1 Kiến nghị bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói chung 132

3.2.2 Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra 133

3.2.3 Kiến nghị xây dựng Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán TANDTC 139

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 149

KẾT LUẬN CHUNG 150

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 151

CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 151

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

PHỤ LỤC 1 166

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 166

PHỤ LỤC 2 194

MỘT SỐ QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA 194

PHỤ LỤC 3 234

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA TRONG PHÁP LUẬT CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI 234

Trang 9

1

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày 24 tháng 5 năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết Trung ương

số 48 - NQ/TW Về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 Một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà

Nghị quyết đưa ra là “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế” Thực hiện

Nghị quyết số 48 - NQ/TW của Bộ Chính trị, trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng

và hoàn thiện các quy định pháp luật dân sự nói chung, pháp luật về TNBTTH ngoài hợp đồng nói riêng, trong đó có TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, đang là một nhiệm vụ quan trọng cần thực hiện

Trong những năm qua, dưới sự tác động mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, hàng loạt các công trình đã được xây dựng để giải quyết nhu cầu về chỗ ở, học tập, vui chơi giải trí… cho người dân Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng trong khi những yếu tố về chất lượng không được bảo đảm là một trong những nguyên nhân dẫn đến số lượng các vụ tai nạn do nhà cửa, các công trình xây dựng khác gây ra không ngừng gia tăng, gây thiệt hại lớn về người và tài sản

Nếu như trong những năm trước đây, các vụ tai nạn xảy ra với số lượng ít thì trong những năm gần đây, số lượng các vụ tai nạn với mật độ dày đặc hơn Các vụ tai nạn xảy ra không chỉ do sự tác động của các công trình dân dụng, mà nguy hiểm hơn, còn do sự tác động của các công trình công nghiệp và công trình giao thông, gây ra những thiệt hại to lớn về người và tài sản Điển hình có thể kể đến vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26/9/2007 khiến hơn 50 người chết, hơn 100 người khác bị thương; Sập nhịp cầu tuyến cao tốc TPHCM - Trung Lương ngày 10/03/2009 khiến 2 công nhân

bị thương nặng; Sập một phần công trình cao ốc văn phòng và thương mại CR4-1 (Quận 7, TP.HCM) ngày 30/12/2008 khiến 2 người chết và hơn 10 người bị thương; Sập lan can của trường tiểu học Văn Môn (Bắc Ninh) sáng 12/12/ 2017 khiến 13 em học sinh bị thương…

Thiệt hại gây ra không chỉ bởi những công trình đã được hoàn thiện (xây dựng

từ lâu, đã xuống cấp) mà còn đối với cả những công trình đang trong giai đoạn thi công (VD: sập nhà thờ đang thi công ở Thái Nguyên ngày 17/1/2013, khiến 3 người chết, 40 người bị thương…); cá biệt có những công trình vừa được cắt băng khánh

Trang 11

2

thành xong đã sập (VD: công viên Hoàng Quốc Việt (Bắc Ninh) cắt băng khánh thành sáng 28/5/2005 thì buổi chiều một bờ kè dài hơn 40m đã bị sập…)

Số lượng các vụ tai nạn không ngừng gia tăng nhưng điều đáng lo ngại hơn cả

là nhận thức về trách nhiệm của các bên trong việc giải quyết hậu quả Trong rất nhiều

vụ tai nạn, khi thiệt hại xảy ra, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường lại có thái độ thờ

ơ, thậm chí chối bỏ trách nhiệm của mình Điển hình như trong vụ sập cổng trường Trường Tiểu học Tam Quan 1, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, ngày 12/10/2017 khiến một học sinh lớp 1 bị gãy xương quai xanh Mặc dù học sinh bị thương trong trường, thương tích là do cánh cổng trường đổ sập gây ra nhưng nhà trường hoàn toàn không có động thái thăm hỏi động viên [195] Thực trạng đó đặt ra nhu cầu bức thiết cần phải nghiên cứu TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra một cách đầy đủ và toàn diện nhằm nâng cao nhận thức của các bên

Nghiên cứu quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật dân sự hiện hành, NCS nhận thấy, mặc dù so với BLDS 1995 và 2005, quy định trong BLDS 2015 đã có nhiều sự sửa đổi bổ sung theo hướng tích cực, tuy nhiên, quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra vẫn còn tồn tại nhiều điểm bất cập,

cụ thể: (1) quy định về điều kiện làm phát sinh trách nhiệm chưa thực sự rõ ràng; (2)

so với BLDS 2005, BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi chủ thể chịu TNBTTH từ ba chủ thể (CSH, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác ) lên năm chủ thể (CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác và người thi công) nhưng BLDS 2015 không quy định thứ tự chịu TNBTTH của các chủ thể này; (3) các quy định về xác định thiệt hại được bồi thường trong nhiều trường hợp chưa thực sự đầy đủ, minh bạch; (4) quy định về các trường hợp loại trừ thiệt hại còn nhiều bất cập…Đây là những nguyên nhân làm giảm hiệu quả của việc áp dụng quy định này trên thực tế

Điều này càng thể hiện rõ qua việc nghiên cứu một số bản án, quyết định của Toà án giải quyết TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trong nhiều trường hợp,

có những vụ việc có tính chất tương tự như nhau nhưng ở những Toà án khác nhau lại giải quyết khác nhau, thậm chí cùng một Toà án nhưng trong các giai đoạn khác nhau lại đưa ra cách giải quyết khác nhau về cùng một vụ việc Điều này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên

Trang 12

3

Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài nội dung của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra mà chưa đi nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các quy định của pháp luật liên quan đến trách nhiệm này Khi nghiên cứu về trách nhiệm này các tác giả cũng còn nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng gây thiệt hại; đặc điểm của trách nhiệm; chủ thể chịu trách nhiệm … Các công trình nghiên cứu cũng chưa đưa ra được các học thuyết xác định trách nhiệm

Thực trạng đó đặt ra nhu cầu cần nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện để hoàn thiện TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Xuất phát từ những lý do trên,

NCS chọn đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây

dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề

tài luận án tiến sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài: Xem Phần A luận án và Phụ lục 1

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, luận án đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện các mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ cụ thể như sau:

Thứ nhất, phân tích các học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác

gây ra; xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác; làm rõ bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, xây dựng khái niệm và chỉ ra được những đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Thứ hai, phân tích, đánh giá nhằm tìm ra điểm hợp lý và điểm chưa hợp lý

trong quy định pháp luật dân sự hiện hành về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây

ra trên các phương diện cơ bản như: các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, xác định thiệt hại được bồi thường, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường; chủ thể được bồi thường, các trường hợp không chịu TNBTTH Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu quy

Trang 13

4

định pháp luật của một số nước trên thế giới, luận án sẽ so sánh, đối chiếu với các quy định pháp luật của Việt Nam, nhằm hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm này

Thứ ba, Phân tích những điểm tích cực, hạn chế khi áp dụng các quy định pháp luật

vào giải quyết các vụ việc về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trên thực tế

Thứ tư, Đề xuất kiến nghị cụ thể để hoàn thiện các quy định pháp luật về

TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận án nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, bao gồm: khái niệm, đặc điểm nhà cửa, CTXD khác; khái niệm, đặc điểm, bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; các học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra…

- Luận án nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

- Luận án nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý

luận về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; phân tích thực trạng quy định của BLDS 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan (Luật Nhà ở, Luật Xây dựng ) về trách nhiệm này Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định, luận

án cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, luận án đưa ra những ý kiến đánh giá và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm này

- Về mặt thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu TNBTTH do nhà cửa, CTXD

khác gây ra trong quy định pháp luật dân sự hiện hành Do đó, trọng tâm của luận án là phân tích các quy định trong BLDS 2015 về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Để làm rõ những điểm mới của BLDS 2015, luận án có phân tích các quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong BLDS 2005 và 1995 nhằm so sánh,

Trang 14

5

đối chiếu làm nổi bật những điểm mới của BLDS 2015 Bên cạnh đó, do BLDS 2015 mới có hiệu lực từ 01/01/2017 nên các số liệu về thực tiễn áp dụng pháp luật còn hạn chế; hơn nữa, một số quy định trong BLDS 2015 là sự kế thừa các quy định trong BLDS 2005, vì vậy, khi phân tích thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH

do nhà cửa, CTXD khác gây ra, luận án có sử dụng một số bản án, quyết định trong giai đoạn BLDS 2005 có hiệu lực

- Về mặt không gian: Nhiệm vụ của luận án nghiên cứu các quy định pháp luật

hiện hành của Việt Nam về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, do đó, trọng tâm của luận án là phân tích các quy định pháp luật Việt Nam, các bản án, quyết định của Toà án có thẩm quyền trên lãnh thổ Việt Nam về trách nhiệm này Tuy nhiên, để luận giải sự tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới, luận án có nghiên cứu các quy định pháp luật, các quyết định, bản án về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới nhằm làm nổi bật thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành về trách nhiệm này

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận án sẽ dưa trên cơ sở phương pháp

luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đây được coi

là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của tác giả trong quá trình thực hiện luận án Phương pháp này được NCS sử dụng để nghiên cứu các vấn đề lý luận trong luận án

* Phương pháp nghiên cứu cụ thể: trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác - Lênin, trong quá trình nghiên cứu luận án, NCS sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích và bình luận: để làm rõ những vấn đề lý luận và quy định pháp luật hiện hành về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra;

- Phương pháp tổng hợp: để khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trên cơ sở đó, luận án đưa

ra những kiến nghị phù hợp;

Trang 15

6

- Phương pháp so sánh: để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về TNBTTH

do nhà cửa, CTXD khác gây ra

- Phương pháp lịch sử: để nghiên cứu một cách xuyên suốt, liên tục quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra qua từng giai đoạn lịch sử Áp dụng phương pháp này giúp cho luận án đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật có tính kế thừa các quy định pháp luật hiện hành và bổ sung các quy định mới phù hợp với xu thế phát triển, vận động của nền kinh tế

- Phương pháp hệ thống hoá: để trình bày các vấn đề, các nội dung theo một trình

tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dụng để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận án

- Phương pháp phân tích tình huống: để phân tích các tình huống, bản án trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra nhằm làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm này

6 Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài

Kết quả nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa,

công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” mang lại những điểm mới sau:

Thứ nhất, luận án đã xác định và phân tích các học thuyết xác định trách nhiệm

bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra Đây là điểm mới có

giá trị lý luận và thực tiễn cao

Thứ hai, luận án phân tích bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do

nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Thứ ba, luận án đã xây dựng khái niệm nhà cửa, công trình xây dựng khác;

khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây

ra

Thứ tư, luận án đã phân tích các đặc điểm và các điều kiện phát sinh trách

nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Thứ năm, luận án đã tổng hợp, phân tích quy định pháp luật dân sự mà nền tảng

là Bộ luật dân sự hiện hành vể trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra để làm rõ thực trạng pháp luật về trách nhiệm này Từ đó, luận

án đánh giá những kết quả đạt được, những han chế đối với quy định pháp luật hiện hành và bước đầu đặt ra vấn đề yêu cầu hoàn thiện pháp luật

Trang 16

7

Thứ sáu, luận án đã phân tích các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới; trên cơ sở đó, so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới về trách nhiệm này

Thứ bảy, thông qua phân tích các bản án có hiệu lực trong giải quyết tranh chấp

về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra, luận

án đã làm sáng tỏ những tranh chấp điển hình; từ đó luận án đã đánh giá những kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong việc áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp

về trách nhiệm này

Thứ tám, luận án đã đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói chung

7 Kết cấu của luận án

Ngoài Danh mục từ viết tắt, Mục lục, Lời mở đầu, Phần A về Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, các Phụ lục, Phần B Nội dung luận án chia thành 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình

xây dựng khác gây ra

Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà

cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

Trang 17

8

PHẦN A TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

Trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học ở những mức độ khác nghiên cứu về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Nội dung chi tiết của từng công trình được trình bày tại Phụ lục 1 Một cách khái quát có thể chia các công trình khoa học liên quan đến đề tài thành hai loại: công trình khoa học trong nước và công

trình khoa học nước ngoài

1.1.1 Một số công trình khoa học trong nước

1.1.1.1 Luận án, luận văn

- Luận án tiến sỹ của tác giả Phạm Kim Anh (2007), Trách nhiệm liên đới bồi

thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội

- Luận án tiến sỹ của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2017), TNBTTH do tài sản gây

ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Giang Văn Thịnh (2013), TNBTTH do

nhà cửa, CTXD khác gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Khoa Luật, Đại học

Quốc gia Hà Nội

1.1.1.2 Ðề tài khoa học

Đề tài khoa học cấp trường (2009), Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại

– Vấn đề lý luận và thực tiễn của Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội do Tiến sỹ

Trần Thị Huệ làm chủ nhiệm đề tài

1.1.1.3 Bài đăng tạp chí

- Bài viết của tác giả Trần Ngọc Dương (2009), “Trách nhiệm bồi thường thiệt

hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp”,Tạp chí Luật học,

(số 1)

Trang 18

9

- Bài viết của tác giả Phạm Kim Anh (2009), “Trách nhiệm dân sự và chế định

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (số 6)

- Bài viết của tác giả Ðỗ Văn Ðại và Lê Hà Huy Phát (2012) ,“BTTH do nhà

cửa, CTXD khác gây ra”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (số 05)

- Bài viết của tác giả Vũ Thị Hồng Yến (2012),“Bàn về trách nhiệm bồi thường

trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 11)

- Bài viết của tác giả Bùi Thị Thanh Hằng- Đỗ Giang Nam (2013), “Trách

nhiệm bồi thường thiệt hại do tác động của tài sản gây ra dưới góc nhìn so sánh”,

Tạp chí Luật học, số 03 năm 2013

- Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Minh Phượng (2013),“Bàn về TNBTTH do

nhà cửa, CTXD khác gây ra theo Ðiều 627 BLDS 2005”, Tạp chí Toà án nhân dân, số

15, tháng 8/2013

- Bài viết của GS.TS Michael Jaensch (2012), “Luật bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng của Đức so sánh với quan điểm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Pháp”, tài liệu Hội thảo quốc tế “Ngày pháp luật”, Hà Nội

- Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2015), “Điều kiện phát sinh TNBTTH

do tài sản gây ra trong Bộ luật dân sự”, Tạp chí Luật học, số 12

1.1.1.4 Sách chuyên khảo

- Sách của tác giả Nguyễn Mạnh Bách (1998), Nghĩa vụ dân sự trong Luật dân

sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Sách của tập thể tác giả Tiến sỹ Trần Thị Huệ, Tiến sỹ Vũ Thị Hải Yến, Thạc

sỹ Vũ Thị Hồng Yến (2008), TNBTTH ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến

thực tiễn, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội

- Sách chuyên khảo của Tiến sỹ Phùng Trung Tập (2009), BTTH ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng, Nxb Hà Nội, Hà Nội

- Sách chuyên khảo của Tiến sỹ Đỗ Văn Đại (2010), Luật BTTH ngoài hợp

đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb Đại học Quốc gia

- Sách chuyên khảo “TNBTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt

Nam”, TS Trần Thị Huệ (chủ biên), (2013), Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội

Trang 19

10

1.1.2 Một số công trình khoa học nuớc ngoài

- Bài viết “Liability for Harm Caused by Things” của tác giả Franz Werro, (2010), (Nguồn: https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=1639357);

- Luận văn “La responsabilité civile délictuelle du fait des immeubles” của tác

giả Olivia Depetris

(Nguồn:http://magat.francois.free.fr/La%20responsabilit%E9%20civile%20d%E9lictuelle%20du%20fait%20des%20immeubles.html)

- Cuốn sách “The Law of Torts”, của tác giả John G Fleming (1987), 7th

Edition, Nxb The Law Book Company limited, Australia

- Cuốn sách “Essential Cases on Damage” của các tác giả Benedict

Winiger , Helmut Koziol , Bernhard A Koch , Reinhard Zimmermann (2012), Nxb Walter de Gruyter

- Cuốn sách “European Tort Law” của tác giả Cees van Dam (2013), 2th

edition, Nxb OUP Oxford

- Cuốn sách “Non-contractual Liability Arising Out of Damage Caused to

Another: (PEL Liab Dam.)” của tác giả Christian von Bar (2009), Nxb Sellier

Eropean law publishers

- Cuốn sách “Concise Chinese Tort Laws” của tác giả Xiang Li, Jigang Jin

Những vấn đề đã giải quyết: mặc dù còn nhiều quan điểm trái chiều song các

công trình nói trên đã bước đầu đưa ra được một số nội dung liên quan đến: khái niệm, đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác; khái niệm, đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; chỉ ra được bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây

ra Dựa trên nền tảng lý luận khác nhau, các công trình đưa ra quan điểm khác nhau về điều kiện làm phát sinh trách nhiệm; chủ thể chịu TNBTTH Các công trình cũng đã

Trang 20

11

nêu được một số vấn đề trong thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trên cơ sở đó đã đề xuất được một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

Những nội dung chưa giải quyết: mặc dù đã giải quyết được một số nội dung

liên quan đến TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, tuy nhiên, các công trình nói trên vẫn chưa giải quyết được các vấn đề cơ bản sau:

- Các công trình trên chưa chỉ ra được học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra;

- Một số công trình khoa học xây dựng được khái niệm về “nhà cửa” và

“CTXD khác” song khái niệm này chưa thực sự đầy đủ và toàn diện

- Mặc dù đã chỉ ra được một số đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác song các công trình nói trên vẫn chưa làm nổi bật được một số đặc trưng của loại tài sản này để giúp phân biệt TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra với TNBTTH do những vật

bị ném hoặc rơi khỏi toà nhà gây ra hoặc TNBTTH do những tài sản được dùng để ở khác gây ra (VD: công ten nơ)

- Một số công trình nghiên cứu đã chỉ ra bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một dạng của TNBTTH do tài sản gây ra song vẫn chưa phân tích điều này

- Một số công trình nghiên cứu chỉ ra một vài đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa,

CTXD khác gây ra song vẫn chưa chỉ ra được đặc điểm cơ bản của trách nhiệm này

- Một số công trình đã nêu được điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà cửa,

CTXD khác gây ra nhưng chưa phân tích thấu đáo những điều kiện này; riêng đối với yếu tố lỗi, hầu hết các công trình mới khẳng định mà chưa có luận giải về lý do tại sao lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

- Hầu hết các công trình hiện nay chủ yếu phân tích thực trạng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra theo quy định tại Điều 627 BLDS 2005 mà không phải là Điều 605 BLDS 2015 Một số công trình mặc dù đã phân tích theo BLDS 2015 nhưng chưa có sự phân tích đối chiếu giữa BLDS 2015 với BLDS 1995

và 2005 để tìm ra những điểm mới, những ưu điểm và hạn chế của BLDS 2015 cũng như chưa có so sánh đối chiếu với pháp luật dân sự của một số quốc gia trong khu vực

Trang 21

12

và trên thế giới để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia khác về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

- Các công trình nói trên ở những mức độ khác nhau đã nêu thực tiễn áp dụng

pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, tuy nhiên, vẫn chưa thực sự đầy đủ và có hệ thống trên mọi phương diện

- Trong các công trình nghiên cứu kể trên, ở những mức độ khác nhau, các tác

giả cũng đã đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, những kiến nghị này đa số mới chỉ tập trung vào một vài nội dung của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra mà chưa có kiến nghị toàn diện

Từ những nội dung trên có thể khẳng định, việc NCS lựa chọn đề tài ““Trách

nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành” làm đề tài nghiên cứu luận án tiến

sỹ là không trùng lắp với những công trình đã được công bố trước đó

2 Cơ sở lý thuyết và hướng tiếp cận của đề tài

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục đích được đặt ra trong mục 3.1 của Lời nói đầu luận án, NCS đặt ra các câu hỏi làm nền tảng, định hướng cho quá trình nghiên cứu của mình Các nhóm câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

(i) Nhóm câu hỏi thứ nhất: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra được xây

dựng dựa trên những học thuyết nào? nhà cửa, CTXD khác là gì? Nhà cửa, CTXD khác có những đặc điểm nào? TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là gì? Các đặc điểm đặc trưng của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra? Bản chất của TNBTTH

do nhà cửa, CTXD khác gây ra là trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại hay

do hành vi gây thiệt hại?

(ii) Nhóm câu hỏi thứ ba: Thực trạng quy định pháp luật điều chỉnh TNBTTH do

nhà cửa, CTXD khác gây ra bao gồm các quy định nào? Ưu điểm và những hạn chế của các quy định này? Các quy định này có điểm gì tương đồng và khác biệt so với các quy định trong pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới?

(iv) Nhóm câu hỏi thứ ba: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về TNBTTH

do nhà cửa, CTXD khác gây ra có những điểm tích cực và bộc lộ các hạn chế nào? Các

Trang 22

13

hạn chế trong quy định pháp luật có cần thiết phải sửa đổi, bổ sung không và sửa đổi,

bổ sung trên cơ sở nào?

2.2 Lý thuyết nghiên cứu

Lý thuyết về TNBTTH: Các lý thuyết về sự ra đời, bản chất của trách nhiệm, các

điều kiện làm phát sinh TNBTTH, cơ sở để buộc chủ thể phải chịu TNBTTH, thiệt hại được bồi thường, chủ thể được bồi thường và các trường hợp không phải chịu TNBTTH

2.3 Các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu, các lý thuyết nghiên cứu mà tác giả đề ra, tác giả đặt ra các giả thuyết nghiên cứu cũng như kết quả nghiên cứu dự định đạt được trong luận án:

(i) Giả thuyết nghiên cứu thứ nhất: nhà cửa, CTXD khác xét về bản chất đều là

“công trình xây dựng” là sản phẩm do con người tạo ra sản gắn liền với đất

Kết quả dự định đạt được trong luận án là phân tích có hệ thống khái niệm, đặc điểm của nhà cửa, CTXD khác, trên cơ sở đó phân biệt giữa thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra với những thiệt hại do những vật bị ném hoặc rơi ra khỏi toà nhà gây ra hoặc với thiệt hại do những tài sản dùng để ở khác gây ra như công ten nơ để xác định rõ ranh giới của TNBTTH

(ii) Giả thuyết nghiên cứu thứ hai: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là

một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại Do vậy, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại nhưng đồng thời cũng có những đặc điểm riêng biệt, đặc trưng

Kết quả dự định đạt được trong luận án là tìm ra bản chất của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, phân tích các đặc điểm của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra một cách có hệ thống

(iii) Giả thiết nghiên cứu thứ ba: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là

loại trách nhiệm được quy định phổ biến trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, các quốc gia khác nhau lại có những quy định khác nhau về trách nhiệm này Vậy pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các quốc gia trong khu vực và trên thế giới dựa vào học thuyết nào để quy định về trách nhiệm này

Trang 23

14

Kết quả dự định đạt được trong luận án là tổng hợp, phân tích các học thuyết mà pháp luật các quốc gia dựa vào đó để xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; chỉ ra học thuyết mà pháp luật Việt Nam sử dụng để xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, luận án phân tích thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về trách nhiệm này, chỉ ra những điểm tích cực hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành cũng như những điểm tương đồng khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia trong khu vực và trên thế giới

(iv) Giả thiết nghiên cứu thứ tư: Quá trình áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH

do nhà cửa, CTXD khác gây ra vào trong thực tiễn sẽ bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế Do

đó, pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra cần được làm sáng tỏ các điểm bất cập, hạn chế, trên cơ sở đó có giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật

Kết quả dự định đạt được trong luận án là nêu rõ các điểm bất cập trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Luận án cũng đưa ra lý do và cơ sở để hoàn thiện các quy định pháp luật này Đồng thời, luận

án phải đưa ra các kiến nghị cụ thể hoàn thiện quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

2.4 Hướng tiếp cận nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu luận án nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu thuộc chuyên ngành luật dân sự tập trung vào TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Do đó, khi tiếp cận và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cũng như thực trạng quy định pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, NCS cần phải tiếp cận theo hướng:

Thứ nhất, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một dạng của TNBTTH

ngoài hợp đồng mà cụ thể là TNBTTH do tài sản gây ra, do đó nó sẽ mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm này cũng như có những đặc điểm riêng do đối tượng (nhà cửa, CTXD khác) gây thiệt hại chi phối

Thứ hai, quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra vừa chịu sự điều

chỉnh của BLDS đồng thời cũng chịu sự điều chỉnh của các văn bản luật chuyên ngành khác như Luật Xây dựng, Luật Nhà ở…Do đó, việc nghiên cứu TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra vừa phải dựa trên các quy định gốc trong BLDS vừa phải chú ý đến các đặc điểm riêng (về đối tượng gây thiệt hại, chủ thể chịu TNBTTH) được quy định trong pháp luật chuyên ngành

Trang 24

15

PHẦN B NỘI DUNG LUẬN ÁN CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO

NHÀ CỬA, CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHÁC GÂY RA

1.1 Các học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra

TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một loại trách nhiệm có lịch sử lâu đời Trong bộ luật Hammurabi – bộ luật thành văn cổ xưa nhất của nhân loại – đã có

quy định về trách nhiệm đối với người thợ xây khi “xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ

nhà chết thì người thợ xây bị giết” (Điều 38) hoặc "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ xây cũng phải chết theo" (Điều 39) Mặc dù, xét về bản

chất thì đây là trách nhiệm hình sự, song quy định này cũng cho chúng ta thấy sự quan tâm của con người từ thời xa xưa đối với thiệt hại gây ra bởi sự sụp đổ của nhà cửa, CTXD khác

Trong Luật La mã cổ đại, các học giả La Mã cũng đề cập đến TNBTTH do nhà

cửa, CTXD khác gây ra thông qua việc quy định về tố quyền cautio damni infecti (tố

quyền để bảo vệ sự thiệt hại viễn ảnh)[69, tr.tr.469] Theo đó, trong trường hợp một tòa nhà có nguy cơ bị sụp đổ, tạo ra một mối đe dọa cho những người láng giềng thì những người này có quyền yêu cầu các Pháp quan buộc chủ sở hữu của tòa nhà phải nộp một số tài sản bảo đảm với mục đích nếu thiệt hại thực sự xảy ra thì người bị thiệt

hại sẽ luôn được bồi thường Cùng với tố quyền cautio damni infecti Luật La Mã cũng

quy định trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi các vật bị ném ra hoặc

rơi ra khỏi khỏi tòa nhà (actio effusis et dejectis)

Kế thừa quy định trong Luật La Mã cổ đại, ngày nay, pháp luật dân sự của rất nhiều các quốc gia trên thế giới đều có quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Tuy nhiên, qua nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới NCS nhận thấy, các quốc gia khác nhau lại dựa trên những học thuyết khác nhau để xây dựng quy định về trách nhiệm này Về cơ bản, pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật của các quốc gia hiện nay được xây dựng dựa trên ba học thuyết: Học thuyết về sự cẩu thả (negligence); Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability) và Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict

Trang 25

16

liability) Cá biệt, có một vài quốc gia kết hợp cả hai học thuyết (học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt và học thuyết về lỗi do suy đoán) khi xây dựng quy định về trách

nhiệm này (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan ) Cụ thể:

1.1.1 Học thuyết về sự cẩu thả (negligence)

Học thuyết này được áp dụng tại Anh - Mỹ (các nước theo truyền thống pháp luật án lệ - Common Law) và một số nước Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển ) Các quốc gia nói trên không coi TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra là một loại TNBTTH do tài sản gây ra mà coi đây là TNBTTH do hành vi của con người gây ra Do vậy, trách nhiệm này được xây dựng dựa trên yếu tố lỗi, là lỗi do cẩu thả

“Sự cẩu thả” là việc bỏ qua, không thực hiện các tiêu chuẩn chăm sóc hợp lý

mà một người bình thường (“a reasonably prudent person”) sẽ thực hiện trong những tình huống tương tự nhằm tránh cho những người mà mình có nghĩa vụ pháp lý phải quan tâm (legal duty of care) bị thiệt hại [113,tr.1133] Theo học thuyết này, TNBTTH

sẽ phát sinh khi thoả mãn 4 điều kiện: (1) Có nghĩa vụ phải quan tâm đến người bị thiệt hại (“common duty of care”) của người chiếm hữu (“occupier”) nhà cửa, CTXD khác; (2) Có sự vi phạm nghĩa vụ đó của người chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác; (3)

Có thiệt hại; (4) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi phạm nghĩa vụ với thiệt hại [123, tr.66, 67]

Để yêu cầu BTTH theo học thuyết này thì điều quan trọng đầu tiên là bên bị thiệt hại phải chứng minh được người chiếm hữu (“ocupiers”) nhà cửa, CTXD khác có một nghĩa vụ theo quy định của pháp luật là phải quan tâm bảo đảm sự an toàn về tính mạng, tài sản, sức khoẻ cho mình Tuy nhiên, mức độ “quan tâm” (care) của CSH, người chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác đối với người bị thiệt hại lại phụ thuộc vào “địa

vị pháp lý” của người bị thiệt hại là “khách mời hợp pháp” (“Lawful visitors”) hay“khách không mời”(Non lawful visitors) [117, tr.671] Nếu người bị thiệt hại là

“khách mời hợp pháp” thì mức độ quan tâm, đảm bảo an toàn của CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải cao hơn so với nếu người bị thiệt hại là “khách không mời” Điều quan trọng tiếp theo là người bị thiệt hại phải chứng minh được là CSH, người chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác đã vi phạm nghĩa vụ quan tâm đó và chính sự vi phạm này đã làm phát sinh thiệt hại (giữa sự vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với nhau)

1.1.2 Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability)

Học thuyết này được áp dụng tại một số quốc gia như: Đức (Điều 836 - 838) Hungary (Điều 5:650), Ba Lan (Điều 434)… Theo học thuyết này, TNBTTH do nhà

Trang 26

17

cửa, CTXD khác gây ra sẽ được thiết lập khi thoả mãn các điều kiện: (1) Người bị

thiệt hại chứng minh được 3 yếu tố: có thiệt hại, có sự tự thân tác động của nhà cửa,

CTXD khác và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác (thiệt hại là hậu quả của sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác); (2) CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, CTXD

khác không thể chứng minh được là mình không có lỗi trong việc để nhà cửa, CTXD khác tự gây thiệt hại Khi đó, Toà án suy đoán rằng: CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, CTXD khác đã có lỗi và buộc những người này phải

chịu TNBTTH [132, tr.30]

Theo học thuyết này, lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm

nhưng lại là căn cứ để loại trừ TNBTTH cho CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý nhà cửa, CTXD khác Chỉ cần CSH hoặc người chiếm hữu, người được

giao quản lý nhà cửa, CTXD khác chứng minh được là mình không có lỗi thì họ sẽ

không phải chịu TNBTTH

Xét về bản chất, trách nhiệm về lỗi suy đoán vẫn là trách nhiệm pháp lý dựa

trên yếu tố lỗi - tuy nhiên, lỗi ở đây là lỗi do suy đoán CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác bị suy đoán là có lỗi Để bác bỏ suy

đoán đó, đồng thời cũng là để loại trừ trách nhiệm cho mình thì CSH, người chiếm

hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác phải chứng minh được

điều ngược lại - là mình không có lỗi - mình đã thực hiện đầy đủ các biện pháp cần

thiết để ngăn ngừa thiệt hại nhưng cuối cùng thiệt hại vẫn xảy ra

Ưu điểm lớn nhất của trách nhiệm về lỗi suy đoán so với trách nhiệm dựa trên

yếu tố lỗi truyền thống đó là, trong trách nhiệm này, gánh nặng về nghĩa vụ chứng

minh lỗi đã được chuyển từ nguyên đơn sang bị đơn Trách nhiệm pháp lý được xây

dựng trên học thuyết về lỗi suy đoán đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người bị thiệt hại trong việc kiện đòi quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, điều này không

có nghĩa là học thuyết này đã áp đặt một trách nhiệm pháp lý “bất công” lên CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác Bởi lẽ, theo học thuyết này, bị đơn vẫn còn một cơ hội để “giải thoát” trách nhiệm cho mình - bằng

việc đưa ra những bằng chứng chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ các biện pháp

cần thiết để ngăn ngừa thiệt hại nhưng cuối cùng thiệt hại vẫn xảy ra (không có lỗi)

Chỉ khi nào những chủ thể này không thể đưa ra các bằng chứng chứng minh mình

không có lỗi thì khi đó họ mới bị Toà án suy đoán là có lỗi và bị buộc phải chịu trách

Trang 27

18

nhiệm Với tư cách là CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác thì những chủ thể này thường là những người có kiến thức, có sự am hiểu nhất định về nhà cửa, CTXD khác thuộc quyền sở hữu, chiểm hữu, quản lý của mình; do đó, họ cũng sẽ có những điểm thuận lợi nhất định khi đưa ra những bằng chứng chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ những biện pháp phòng ngừa, chăm sóc cần thiết nhưng nhà cửa, CTXD khác vẫn gây thiệt hại

Tóm lại, so với trách nhiệm pháp lý dựa trên yếu tố lỗi truyền thống thì trách nhiệm dựa trên lỗi suy đoán đảm bảo sự công bằng cho cả hai bên (CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác và bên bị thiệt hại) trong việc đưa ra những bằng chứng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình

1.1.3 Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability)

Học thuyết này được áp dụng tại một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Quebec ( Canada)… Theo học thuyết này, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra sẽ phát sinh khi người bị thiệt hại chứng minh được 3 yếu tố: (1) có thiệt hại; (2) có sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với sự

tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác (thiệt hại là hậu quả của sự sụp đổ của nhà cửa,

CTXD khác) Nguyên đơn không cần chứng minh yếu tố lỗi của CSH, người chiếm hữu,

người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác trong việc để nhà cửa, CTXD

khác sụp đổ, gây thiệt hại; ngược lại, bị đơn cũng không thể được miễn trách nhiệm chỉ vì chứng minh được rằng mình không có lỗi [128]

Tương tự học thuyết về lỗi do suy đoán, trong học thuyết về trách nhiệm

nghiêm ngặt, lỗi cũng không phải là điều kiện làm phát sinh TNBTTH Tuy nhiên, nếu trong trách nhiệm về lỗi do suy đoán, bị đơn sẽ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được là mình không có lỗi (“không vi phạm các quy định liên quan đến xây dựng

và bảo trì và cũng ko có hành vi sai trái trong quá trình thi công và bảo dưỡng để phòng ngừa thiệt hại”[11, Điều 6:560], “đã tuân thủ sự cẩn trọng cần thiết nhăm mục đích phòng tránh nguy cơ”[9, Điều 836].) thì trong trách nhiệm nghiêm ngặt, kể cả bị

đơn chứng minh được mình không có lỗi thì bị đơn vẫn phải chịu TNBTTH; trừ khi bị

đơn chứng minh được thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng, hoàn toàn do lỗi của nạn nhân hoặc lỗi của người thứ ba gây ra Học thuyết này đã tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho nạn nhân trong việc yêu cầu BTTH

Trang 28

trên học thuyết về sự cẩu thả, BLDS Đức dựa hoàn toàn trên học thuyết về lỗi do suy

đoán, BLDS Pháp dựa hoàn toàn trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt) thì một

số quốc gia (Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc…) lại rất sáng tạo khi kết hợp cả hai học thuyết (học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt) để xây dựng quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Cụ thể: BLDS Nhật Bản, Hàn Quốc, Bộ luật dân sự và Thương mại Thái Lan đều có chung quy định: trong trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại do khuyết tật trong xây dựng

hoặc thiếu bảo dưỡng thì người chiếm hữu nhà cửa, công trình xây dựng chịu trách

nhiệm bồi thường thiệt hại; người chiếm hữu sẽ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng

minh được là mình không có lỗi (học thuyết về lỗi do suy đoán), “đã thể hiện sự quan

tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại” (Điều 717 BLDS Nhật Bản); “đã thực hiện đầy đủ các biện pháp để ngăn chặn thiệt hại xảy ra” (Điều 758 BLDS Hàn

Quốc); “đã có sự chăm nom thích đáng để ngăn ngừa xẩy ra tổn thất” (Điều 434

BLDS và Thương mại Thái Lan); trong trường hợp này, khi người chiếm hữu đã loại

trừ được trách nhiệm cho mình bằng việc chứng minh minh không có lỗi thì CSH sẽ

chịu trách nhiệm bồi thường; CSH phải chịu TNBTTH ngay cả khi chứng minh được

là mình không có lỗi (học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt)

Việc kết hợp cả hai học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi xây dựng quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra như trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bên trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đối với chủ thể chịu TNBTTH, việc kết hợp hai học thuyết đã tạo ra một nguyên tắc rất minh bạch trong việc xác định thứ tự cũng như căn cứ buộc các chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường, đặc biệt trong trường hợp tại thời điểm gây thiệt hại, nhà cửa, CTXD khác vừa có CSH vừa có người chiếm hữu, người được giao quản lý,

sử dụng Theo sự kết hợp này, khi thiệt hại xảy ra, người đầu tiên phải chịu trách nhiệm là người đang trực tiếp chiếm hữu nhà cửa, CTXD khác; họ phải chịu

TNBTTH do bị suy đoán là có lỗi trong việc quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác

Vì lỗi là do suy đoán nên nếu họ chứng minh được là mình không có lỗi thì họ sẽ được

loại trừ trách nhiệm Trong trường hợp đó, TNBTTH sẽ chuyển sang CSH nhà cửa,

Trang 29

20

CTXD khác CSH phải chịu trách nhiệm ngay cả khi chứng minh được là mình không

có lỗi CSH chỉ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do

sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người thứ ba

Đối với chủ thể được bồi thường, việc kết hợp cả hai học thuyết cũng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho những chủ thể này bởi cả hai học thuyết đều không buộc

những chủ thể này phải chứng minh lỗi của CSH hay của người được giao quản lý, sử

dụng nhà cửa, CTXD khác Việc kết hợp linh hoạt hai học thuyết trên là một kinh nghiệm quý báu mà pháp luật dân sự Việt Nam nên học hỏi khi xây dựng quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra nói riêng, TNBTTH do tài sản gây ra nói chung (phương hướng cụ thể NCS sẽ đề cập tại mục 3.2 của Chương 3)

1.1.5 Học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam

Nghiên cứu các học thuyết xác định TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, đối chiếu với pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ, có thể thấy, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam trong những thời kỳ khác nhau được xây dựng trên những học thuyết khác nhau

Trong thời kỳ Pháp thuộc, chịu ảnh hưởng của BLDS Pháp, Bộ Dân luật Bắc

Kỳ, Bộ dân luật Trung Kỳ và Bộ luật Nam Kỳ giản yếu đều có quy định chung về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Cụ thể: Điều 716 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và

Điều 767 Bộ dân luật Trung Kỳ quy định: “Người chủ nhà mà nhà đổ nát làm thiệt hại

cho người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về

sự tổn hại đó” Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (chương thứ chín) quy định “Chủ một tòa

kiến trúc phải bị trách nhậm vì sự sụp đổ của nó khi nào sự sụp đổ ấy xảy ra bởi sự

không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” Theo các quy định trên, để

được bồi thường, người bị thiệt hại chỉ cần chứng minh, thiệt hại xảy ra là do nhà hoặc

toà kiến trúc bị sụp đổ/ đổ nát; Sự sụp đổ/ đổ nát này là do “không chịu tu bổ hay vì

làm không chắc chắn” hoặc do “không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” mà không cần chứng minh lỗi của “Người chủ nhà” hoặc “Chủ một tòa kiến

trúc” Nói cách khác, dù có lỗi hay không có lỗi thì “Chủ nhà” “chủ toà kiến trúc” vẫn

phải BTTH Có thể thấy, quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trong các

bộ luật trên được xây dựng dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt, không coi lỗi

là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm

Trang 30

21

Trong BLDS 1995 và BLDS 2005, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

dường như lại được xây dựng dựa trên học thuyết về lỗi khi Điều 631 BLDS 1995 và Điều

627 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng

nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công

trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng”

Việc sử dụng từ “nếu để” trong quy định trên dẫn đến cách hiểu: thiệt hại xảy

ra trong trường hợp này là do CSH, người được CSH giao quản lý, sử dụng nhà cửa,

CTXD khác mặc dù đã biết nhà cửa, CTXD khác có khả năng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” gây ra thiệt hại nhưng vẫn không có hành động ngăn chặn mà lại để mặc cho thiệt

hại xảy ra Nói cách khác, thiệt hại xảy ra trong trường hợp này là do hành vi trái pháp

luật, có lỗi của CSH, người được CSH giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác

Thêm vào đó, 609 Điều BLDS 1995, khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 cũng quy định căn

cứ phát sinh TNBTTH là:“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý …gây thiệt hại… thì

phải bồi thường” Kết hợp những quy định này cho phép khẳng định: theo quy định tại

BLDS 1995 và 2005, lỗi là một trong các điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà

cửa, CTXD khác gây ra Việc coi “lỗi” là một trong các điều kiện làm phát sinh TNBTTH trong trường hợp này cho thấy sự mâu thuẫn giữa tên gọi và nội dung điều luật: Tên điều luật là “TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” trong khi đó nội

dung lại quy định TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của CSH, người được

CSH giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác trong việc “để nhà cửa, công trình

xây dựng khác bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại” Đây cũng là một điểm hạn chế

của BLDS 1995 và 2005 khi quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Khắc phục những điểm hạn chế trên, BLDS 2015 đoạn 1 Điều 605 BLDS 2015

quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa,

công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác”

Việc sửa cụm từ “để nhà cửa, CTXD…… gây thiệt hại” (trong BLDS 1995 và 2005) thành “do nhà cửa, CTXD… gây thiệt hại” giúp thống nhất cách hiểu: trong mọi trường hợp chỉ cần thiệt hại là “do nhà cửa, CTXD khác gây ra” thì TNBTTH sẽ

phát sinh, bất kể CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa,

CTXD có lỗi hay không có lỗi Nói cách khác, lỗi không phải là điều kiện làm phát

Trang 31

22

sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trách nhiệm này phát sinh khi thoả mãn ba điều kiện: có thiệt hại; có có sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác; có mối quan hệ nhân quả giữa sự tự thân tác động của nhà cửa, CTXD khác với thiệt hại Điều này đồng nghĩa, CSH, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác

phải BTTH ngay cả khi chứng minh được mình không có lỗi Họ chỉ được loại trừ

TNBTTH trong hai trường hợp: thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại (khoản 2 Điều 584) Có thể thấy, Đoạn 1 Điều 605

đã dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Tuy nhiên, sang đoạn 2 Điều 605 BLDS 2015 lại quy định:

“Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”

Với quy định này, “lỗi” lại trở thành một điều kiện làm phát sinh TNBTTH

của người thi công “Người thi công” phải liên đới chịu TNBTTH nếu “có lỗi trong

việc để nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại” Như vậy, quy định về TNBTTH của

người thi công đã dựa trên học thuyết về lỗi chứ không phải học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, việc quy định TNBTTH của người thi công là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao trách nhiệm của người thi công Tuy nhiên, việc BLDS 2015 quy định TNBTTH của người thi công trong cùng Điều 605 về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra đã khiến Điều 605 gặp phải hai sự mâu

thuẫn: (1) Mâu thuẫn giữa tên gọi và nội dung điều luật (tên gọi là “TNBTTH do nhà

cửa, CTXD khác gây ra” nhưng nội dung lại điều chỉnh TNBTTH do lỗi của người thi công gây ra); (2) Mâu thuẫn trong chính nội dung của điều luật khi đoạn 1 thì quy

định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra còn đoạn 2 lại quy định về TNBTTH do hành vi trái pháp luật có lỗi (của người thi công) gây ra Đây cũng là

một điểm hạn chế của Điều 605 BLDS 2015 Đáng lẽ, BLDS 2015 nên tách TNBTTH của người thi công thành một điều luật riêng để đảm bảo sự minh bạch và thống nhất giữa các quy định

Tóm lại, mặc dù tên điều luật là “BTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” nhưng nội dung Điều 605 BLDS 2015 quy định về hai loại trách nhiệm: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra (đoạn 1) và TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công gây ra (đoạn 2) Theo đó, TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Trang 32

23

được xây dựng trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt; còn TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công gây ra được xây dựng dựa trên học thuyết về lỗi Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt cũng chính là học thuyết mà BLDS 2015

đã dựa vào để xây dựng quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói chung tại khoản 2 Điều 584 Chính vì vậy, trong phạm vi luận án này, NCS sẽ dựa vào học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi đi phân tích các nội dung cơ bản của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

1.2 Khái niệm, đặc điểm nhà cửa, công trình xây dựng khác

1.2.1 Khái niệm “nhà cửa, công trình xây dựng khác”

“Nhà cửa, CTXD khác” là khái niệm được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày Tuy nhiên, với tư cách là đối tượng của TNBTTH thì khái niệm này mới chính thức được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật trong những năm gần

đây Trước năm 1945, trong cả hai bộ cổ luật là Bộ Quốc triều Hình luật (Bộ luật

Hồng Đức – thời Lê) và bộ Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia Long – thời Nguyễn) đều không sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” Điều 685 Bộ luật Hồng Đức chỉ quy

định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “việc xây dựng” gây ra (“Khi có việc xây

dựng hoặc phá huỷ gì mà phòng bị không cẩn thận để đến nỗi xảy ra chết người thì bị

xử biếm một tư và chịu tiền mai táng 5 quan, còn thợ thuyền, chủ ty thì hình quan sẽ xem xét lỗi vì ai xảy ra mà định tội.”)

Tương tự, trong thời kỳ Pháp thuộc, Bộ dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật Trung kỳ

và Bộ luật Nam kỳ giản yếu cũng không sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD khác”

mà sử dụng khái niệm “nhà” và “toà kiến trúc” Điều 716 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều

767 Bộ dân luật Trung Kỳ quy định: “Người chủ nhà mà nhà đổ nát làm thiệt hại cho

người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về sự

tổn hại đó” Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (chương thứ chín) quy định “Chủ một tòa kiến

trúc phải bị trách nhậm vì sự sụp dổ của nó khi nào sự sụp đổ ấy xảy ra bởi sự không

coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng”

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khái niệm “nhà cửa” và “CTXD” chính thức được sử dụng trong một số văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, hai khái niệm này được sử dụng như hai khái niệm độc lập (“nhà cửa” và “CTXD”) chứ không phải

được sử dụng như một khái niệm chung là “nhà cửa, CTXD khác”

Khái niệm “nhà cửa” được sử dụng trong các văn bản như: Nghị định NV/NĐ ngày 18/7/1946 về trưng thu, trưng dụng nhà cửa để dùng vào việc công ích;

Trang 33

261-24

Sắc lệnh 85/SL ngày 29/2/1952 Về việc ban hành thể lệ trước bạ về các việc mua bán, cho và đổi nhà cửa, ruộng đất; Nghị định 19/CP ngày 29/6/1960 Về chính sách đối với cho thuê nhà cửa tư nhân ở các thành phố và thị xã; Thông tư 09-NV ngày 3/5/1965

Về việc việc quản lý nhà cửa ở các thành phố, thị xã trong khi sơ tán phòng không; Thông tư 20-NV ngày 18/10/1965 Về việc quản lý nhà cửa trong sơ tán phòng không

ở thành phố, thị xã; Nghị định 25-CP ngày 7/3/1967 Về việc ban hành chế độ sử dụng nhà cửa trong tình hình sơ tán phòng không; Thông tư 26-NV ngày 27/10/1967 về việc giải quyết một số vấn đề cụ thể về nhà cửa ở các thành phố, thị xã sau khi địch oanh tạc; Nghị định 02-CP ngày 4/1/1979 Ban hành điều lệ thống nhất quản lý nhà cửa ở các thành phố, thị xã, thị trấn; Chỉ thị số 15/CT ngày 23/1/1989 Giải quyết việc cư trú

và nhà cửa của người Hoa ở các tỉnh biên giới phía Bắc…

Khái niệm “CTXD” (không phải “CTXD khác”) được sử dụng trong các văn bản như: Thông tư liên tịch 01/TTLT năm 1964 của Bộ Công An- Uỷ ban kiến thiết cơ bản Nhà nước về Chế độ tạm thời thoả thuận thiết kế và thiết bị phòng cháy và chữa cháy của các CTXD ; Nghị định 242-CP năm 1971 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế các CTXD; Quyết định 170-TTg năm 1974 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ và danh mục chỉ tiêu báo cáo thống nhất thống

kê kế toán định kỳ chính thức của các xí nghiệp xây lắp nhận thầu và các ban kiến thiết CTXD cơ bản; Thông tư liên bộ 2615-TT/LB năm 1977 của Bộ xây dựng - Bộ Tài chính quy định tạm thời định mức chi phí khảo sát và thiết kế các CTXD cơ bản; Quyết định 02-CT năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành về chế độ quản lý các CTXD cơ bản trọng điểm của Nhà nước; Nghị định 237-HĐBT năm 1985 của Hội Đồng Bộ Trưởng về Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế CTXD…

Mặc dù được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản quy phạm pháp luật, song tất cả các văn bản trên đều không đưa ra định nghĩa cho hai khái niệm này Sau khi BLDS 1995 được ban hành, lần đầu tiên khái niệm chung “nhà cửa, CTXD khác” được chính thức được sử dụng tại Điều 631, sau đó là Điều 627 BLDS 2005 và Điều

605 BLDS 2015 Từ khi ra đời cho đến nay đã hơn 20 năm song trong BLDS và các văn bản pháp luật có liên quan vẫn chưa có định nghĩa cho khái niệm chung về “nhà cửa, CTXD khác”

Về khái niệm “nhà cửa”: chỉ duy nhất trong Luật Nhà ở năm 2005 và 2014 có

đưa ra định nghĩa, song đó là định nghĩa về “nhà ở” (không phải “nhà cửa”) Theo đó,

Trang 34

25

“nhà ở” là“CTXD với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia

Vậy khái niệm “nhà cửa” và “nhà ở” có phải hai khái niệm đồng nhất hay không? Theo Từ điển Tiếng Việt thì “nhà cửa” chính là “nhà ở (nói khái quát)” [105, tr.700] Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ, thì “nhà cửa” cũng chính là “nhà ở”; còn dưới góc độ pháp luật xây dựng thì “nhà ở” là một loại “CTXD” với “mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình và cá nhân” [22, Khoản 1, Điều 3]

Về khái niệm “CTXD khác”: Luật Xây dựng năm 2003 (và hiện nay là Luật Xây

dựng năm 2014) chỉ đưa ra định nghĩa về “CTXD” Theo đó, “CTXD là sản phẩm

được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế”

[21, Khoản 2, Điều 3]; [22, Khoản 10 Điều 3]

Vậy, “CTXD” có phải là “CTXD khác” không? Về vấn đề này hiện nay còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau

Theo nghĩa rộng: nếu tiếp cận dưới góc độ ngôn ngữ thì “khác” được hiểu là

“không phải là cái đã biết, đã nói đến, tuy là cùng loại” [105, tr.489] Đặt trong ngữ cảnh này, “nhà cửa” là “cái đã biết, đã nói đến” là “cùng loại” CTXD, do vậy,

“CTXD khác” phải được hiểu là tất cả những “CTXD” còn lại, ngoài “nhà cửa” Nếu lấy “nhà cửa” làm trung tâm thì tất cả các CTXD còn lại (mà không phải là “nhà cửa”) đều sẽ được coi là “CTXD khác”

Theo cách hiểu này, “CTXD khác” bao gồm: công trình dân dụng (trừ nhà cửa), công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình quốc phòng an ninh [22, Khoản 2 Điều 5]

Theo nghĩa hẹp, Luật Xây dựng 2014 quy định: “CTXD” được chia thành: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông

thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác (Khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng

2014) Nếu theo cách hiểu này, “công trình (xây dựng) khác” là khái niệm vô cùng hẹp

dùng để chỉ những CTXD còn lại, ngoài “công trình dân dụng, công trình công

nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật”

Kết hợp với khoản 2 Điều 5 Luật Xây dựng 2014 (“Loại công trình được xác định

theo công năng sử dụng gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ

Trang 35

26

thuật và công trình quốc phòng, an ninh”) có thể suy ra “CTXD khác” chính là “công

trình quốc phòng an ninh” - “là công trình được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn nhà

nước do Bộ Quốc Phòng, Bộ Công An quản lý, phục vụ quốc phòng, an ninh” (Phụ lục

I: Phân loại CTXD (Ban hành kèm theo Nghị định số 46/2015/NĐ-CP Ngày 12 tháng

05 năm 2015 của Chính phủ)

Theo quan điểm của NCS, khái niệm “CTXD khác” phải được hiểu theo cách hiểu thứ nhất, cụ thể là: ngoài “nhà cửa”, tất cả các công trình còn lại bao gồm: công trình dân dụng (trừ nhà cửa), công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh, đều phải được coi là “CTXD khác” Sở dĩ NCS theo quan điểm này là do:

(1) Như đã phân tích, dưới góc độ ngôn ngữ thì “khác” được hiểu là “không phải là

cái đã biết, đã nói đến, tuy là cùng loại”[105, tr.489] Đặt trong ngữ cảnh Điều 605 BLDS

2015 thì ngoài “nhà cửa” là loại công trình “đã biết”, đã nói đến” thì tất cả những công

trình còn lại đều phải được coi là “CTXD khác”; Việc đặt khái niệm “nhà cửa” lên trước khái niệm “CTXD khác” có lẽ các nhà làm luật muốn nhấn mạnh, trách nhiệm BTTH trước hết áp dụng với “nhà cửa”; ngoài ra cũng áp dụng với các “CTXD khác” Tất cả những CTXD còn lại, mà không phải “nhà cửa” đều được coi là “CTXD khác”

(2) Nếu coi “CTXD khác” chỉ là “công trình quốc phòng, an ninh” theo cách hiểu thứ hai, điều này đồng nghĩa với việc nếu các công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật gây thiệt hại thì người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường do BLDS chỉ quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do “nhà cửa, CTXD khác” gây ra, mà theo cách hiểu này thì “công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật” không phải là “nhà cửa” hay “CTXD khác” Điều này rõ ràng là không phù hợp cả về

lý luận và thực tiễn

Chính vì những lý do nói trên, “CTXD khác” phải được hiểu theo nghĩa rộng như

đã phân tích Từ những nội dung đã nêu có thể thấy, việc BLDS (1995, 2005 và 2015)

sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” để chỉ đối tượng của TNBTTH là chưa thực

Trang 36

27

Thứ hai, như đã phân tích, việc sử dụng khái niệm “công trình xây dựng khác”

đang tạo ra nhiều cách hiểu khác nhau trên thực tế

Trong khi đó, bản thân “nhà cửa” hay “CTXD khác” đều là “CTXD”, là một loại

bất động sản do con người tạo ra; việc xây dựng, khai thác, bảo quản, sử dụng “nhà cửa” hay “CTXD khác” cũng đều tiềm ẩn những rủi ro như nhau, phương thức gây thiệt hại, điều kiện làm phát sinh TNBTTH, chủ thể chịu TNBTTH của hai loại tài sản này là như nhau Do đó, việc BLDS phải sử dụng hai khái niệm để chỉ chung một đối tượng như hiện nay là không cần thiết, thiếu khoa học Trong trường hợp này, đáng lẽ BLDS chỉ cần dùng khải niệm “CTXD” là đủ

Nghiên cứu quy định pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới như Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Nhật Bản… cho thấy: cũng giống như Việt Nam, pháp luật các quốc gia nói trên mặc dù có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra song đều không đưa ra định nghĩa cho khái niệm “nhà cửa, CTXD khác” Nội hàm của khái niệm này chủ yếu được làm rõ thông qua khái niệm về “bất động sản” hoặc được giải thích trong công trình nghiên cứu của các học giả hoặc bằng bản án, quyết định của Toà án trong quá trình xét xử Ở những

quốc gia khác nhau đối tượng này được gọi bằng những khái niệm khác nhau

Tại Pháp, BLDS sử dụng khái niệm “công trình xây dựng” (bâtiment) (Điều

1386 BLDS Pháp)[178] Do không được định nghĩa trong BLDS nên khái niệm này chủ yếu được giải thích bởi Toà án Pháp trong các bản án, quyết định và thông qua quy định trong BLDS về bất động sản do mục đích sử dụng Trong những giai đoạn khác nhau, do nhiều nguyên nhân mà nội hàm của khái niệm này được Toà án giải thích khác nhau

Trong thời kỳ đầu, khi BLDS Pháp mới được ban hành, khoản 1 Điều 1384 chỉ

được coi như một điều khoản chuyển tiếp từ các quy định về TNBTTH do lỗi (Điều

1382, 1383) sang các quy định về TNBTTH không cần chứng minh yếu tố lỗi (Điều

1385, Điều 1386) mà chưa được thừa nhận như một điều khoản độc lập như hiện nay Chính vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người bị thiệt hại, tạo điều kiện để người bị thiệt hại được bồi thường mà không cần phải chứng minh yếu tố lỗi, Toà án Pháp đã giải thích khái niệm “CTXD” theo nghĩa rất rộng, thậm chí còn bị đánh giá là “quá mức lỏng lẻo”[125], hầu như mọi loại tài sản đều được Toà án quy thành “CTXD” để buộc CSH phải chịu trách nhiệm bồi thường Trong bản án ngày 20/8/1877, Tòa án đã ra phán quyết coi thiệt hại do một cái cây bị đổ gây ra cũng là thiệt hại do một “CTXD”

Trang 37

28

gây ra và buộc CSH có trách nhiệm bồi thường [125] Trong một bản án khác ngày 01/3/1904, Toà án đã coi thiệt hại do một chiếc tủ gương bị đổ khiến người làm công

bị thương cũng là thiệt hại do “CTXD” gây ra [125]

Chỉ sau phán quyết về vụ Teffaine (năm 1896) - vụ vợ của người tử nạn trong một vụ nổ nồi hơi của một chiếc tàu kéo mà nạn nhân đang làm việc trên đó khởi kiện CSH yêu cầu bồi thường - thì Toà Phá án Pháp mới chính thức vận dụng Khoản 1 Điều 1384 để buộc CSH tàu kéo phải chịu trách nhiệm bồi thường [118] Bằng phán quyết này, Toà Phá án đã công nhận giá trị độc lập cho khoản 1 Điều 1384 Khoản 1 Điều 1384 đã chính thức trở thành một nguyên tắc cơ bản cho TNBTTH do tác động của “vật” gây ra - một loại TNBTTH do tài sản gây ra, không cần chứng minh yếu tố lỗi Việc giải thích khái niệm “CTXD” theo hướng rộng rãi như trước không còn cần thiết Khái niệm “CTXD” dần được Toà án giải thích theo nghĩa chặt chẽ hơn Trong

bản án ngày 26/11/1946, Tòa phúc thẩm Paris đã giải thích “CTXD” là “cấu trúc hình

thành từ việc lắp ráp các vật liệu bởi bàn tay con người, được gắn vào trong đất hoặc các bất động sản do tính chất”[125]

Với định nghĩa này, “CTXD” được hiểu: (i) là sản phẩm do con người làm ra; (ii) được tạo thành bởi sự liên kết của những vật liệu xây dựng; (iii) có một phần gắn vào trong đất hoặc các bất động sản do tính chất khác Theo định nghĩa này thì một cái cây

sẽ không được coi là “CTXD” nữa vì cái cây không được tạo thành bởi những vật liệu xây dựng; tương tự, thiệt hại do vụ sạt lở đất hay hầm mỏ cũng không được coi là thiệt hại do “CTXD” gây ra bởi hầm mỏ hay đất không phải do con người làm ra, những đồ nội thất gia đình không được “gắn vĩnh viễn” vào toà nhà (bàn, ghế, giường, tủ ) hoặc những cấu trúc mang tính tạm thời không được cố định trên mặt đất (VD: lều, trại dựng tạm để ở trong các công trường xây dựng) [125] cũng không được coi là

“CTXD” bởi nó không có sự liên kết chặt chẽ với mặt đất…

Tại Tây Ban Nha: BLDS Tây Ban Nha sử dụng khái niệm “tòa nhà” (edificio)

(Điều 1907 BLDS Tây Ban Nha) [175] Theo Roca i Trias trong cuốn Derecho de

daños (3rd, Valencia, 2000), thì “toà nhà” được hiểu là “bất kỳ CTXD nào do con người làm ra” (“A “building” within the meaning of CC art 1907 is any kind of man-

mọi loại “CTXD”

Tại Đức: BLDS Đức dành tới 3 điều luật (Điều 836, 837, 838) để quy định về

trách nhiệm đối với những thiệt hại phát sinh do sự sụp đổ của một “toà nhà hoặc

Trang 38

29

CTXD khác gắn liền với đất”(Gebäudes oder eines anderen mit einem Grundstück verbundenen Werkes)[167] Tương tự như BLDS Việt Nam, BLDS Đức sử dụng khái

niệm “CTXD khác” Tuy nhiên, cũng giống như các BLDS đã nghiên cứu, BLDS Đức

cũng không đưa ra định nghĩa cho khái niệm này Theo Wagner trong Münchener

Kommentarzum BGB (4 Auflage 2004) thì “nhà” (Gebäude) là “một cấu trúc cố định

và khép kín được gắn chặt với đất, là nơi mà con người có thể ở trong đó”[117,

tr.667] Còn theo Hartwig Sprau trong Palandt Bürgerliches Gesetzbuch: BGB ( 66 Auflage - 2007) thì “CTXD khác gắn liền với đất”( Werkes) bao gồm, ví dụ, hàng rào,

giàn giáo, tượng đài và bia mộ”[117, tr.667] Như vậy, khác với Pháp, tại Đức - theo

quan điểm của các học giả trong các công trình nghiên cứu cũng như của Toà án trong

quá trình xét xử - thì “CTXD khác” có thể “không cần phải kết nối vĩnh viễn, chặt chẽ

với mặt đất”[115, tr.465] Một tấm ván rơi ra từ giàn giáo hoặc một vòi hoa sen bị rơi xuống từ chỗ được gắn cố định trên tường cũng có thể được coi như sự “sụp đổ” hoặc

sự “vỡ ra” của toà nhà hoặc công trình khác gắn liền với mảnh đất [115, tr.465]

Có thể nhận xét, so với Pháp, quan niệm về “toà nhà” và “CTXD khác” trong pháp luật dân sự Đức rộng rãi hơn Nó không chỉ bao gồm những cấu trúc gắn liền với

đất mà còn bao gồm cả những cấu trúc “không cần phải kết nối vĩnh viễn, chặt chẽ với

mặt đất” [115, tr.465]

Tại Italia: Tương tự BLDS Đức và Việt Nam, Điều 2053 BLDS Italia cũng quy

định trách nhiệm của CSH đối với những thiệt hại xảy ra do sự sụp đổ của “tòa nhà”

(“edificio”) hoặc “CTXD khác” (“altra costruzione”)[174] Do BLDS không đưa ra

định nghĩa chính thức cho khái niệm “toà nhà” và “CTXD khác” nên khái niệm này chỉ được làm rõ trong các công trình nghiên cứu và trong các phán quyết của Toà án

Tác giả Pier Giuseppe Monateri trong cuốn Manuale dellaresponsabilità civile định nghĩa: “Toà nhà hoặc CTXD khác là những cấu trúc do con người làm ra, gắn liền với

đất, dù chỉ là tạm thời”[117, tr.665] Đặc biệt, tác giả Mario Pogliani trong cuốn Responsabilità erisarcimento cho rằng: CTXD phải là những cấu trúc “vượt lên trên

mặt đất” (tức là không bao gồm công trình ngầm và đường) bởi vì nếu không “vượt lên trên mặt đất” thì nó “không thể bị sụp đổ” [127] Về phía Toà án, qua quá trình xét

xử, bằng những phán quyết của mình, Toà án cũng góp phần làm sáng tỏ hơn khái niệm “CTXD” Theo đó, “CTXD” bao gồm: đập chắn trên sông, cầu cho người đi bộ, tấm biển quảng cáo được gắn vào ban công, cửa sổ… [117, tr.665]

Trang 39

30

Tại Nhật Bản: BLDS của Nhật Bản sử dụng khái niệm “cấu trúc trên đất”

(structure on land)[182] khi quy định trách nhiệm của người chiếm hữu đối với thiệt

hại xảy ra cho người khác “vì nguyên nhân sai sót trong xây dựng hoăc bảo quản cấu

trúc trên đất” [13, Điều 717] Cũng giống như BLDS của một số nước khác, BLDS

Nhật Bản không có định nghĩa cho khái niệm “cấu trúc trên đất” Điều 86 BLDS Nhật Bản chỉ khẳng định “cấu trúc trên đất” là một loại bất động sản Năm 2004, Nhật Bản ban hành Luật Đăng ký bất động sản Điều 2 Luật Đăng ký bất động sản khẳng định:

“Bất động sản bao gồm: đất đai và CTXD” [192] Đặc biệt, án lệ cũng thừa nhận

“công trình kiến trúc” được coi là “công trình” khi đã kết thúc việc xây tường và lợp mái (bản án của Toà án tối cao ngày 14-4-1921)[100, tr.53]

Tại Hàn Quốc: Tương tự BLDS Nhật Bản, BLDS Hàn Quốc cũng không đưa ra

định nghĩa cho khái niệm “cấu trúc trên đất” Tuy nhiên, khoản 1 Điều 2 Luật Nhà ở

2009 (Housing Act 2009) Hàn Quốc có định nghĩa về “nhà ở” Nhà ở "có nghĩa là

toàn bộ hoặc một phần của một tòa nhà và diện tích đất gắn liền được xây dựng để cung cấp chỗ ở cho các thành viên của hộ gia đình, những người có thể sống độc lập trong một thời gian dài Nó có thể được phân loại là nhà ở riêng lẻ hoặc nhà chung cư”[180]

Tại Thái Lan: Điều 434 BLDS và Thương mại Thái Lan có quy định về TNBTTH

do một “tòa nhà” hoặc “CTXD khác” gây ra BLDS và Thương mại Thái Lan cũng không đưa ra định nghĩa về “tòa nhà” hay “CTXD khác” Thậm chí, khi quy định về bất động sản, BLDS và Thương mại Thái Lan còn không trực tiếp liệt kê nhà cửa, CTXD là một loại bất

động sản BLDS và Thương mại Thái Lan chỉ quy định:“Bất động sản là đất đai và những

vật gắn liền với đất đai hoặc hợp thành một thể thống nhất với đất đai Nó bao gồm cả những quyền gắn với việc sở hữu đất đai” (Điều 100) và “Những vật tạm thời gắn với đất đai hoặc gắn với một CTXD thì không trở thành những bộ phận cấu thành Quy định này cũng áp dụng đối với một CTXD hoặc kiến trúc khác, mà để thực thi quyền đối với mảnh đất của một người khác, đã được người có quyền đó gắn với mảnh đất đó”(Điều 109) Năm

1979, Thái Lan ban hành Luật Kiểm soát xây dựng (Building control act) Điều 4 Luật

Kiểm soát xây dựng đã đưa ra định nghĩa về “tòa nhà” (Building) theo hướng liệt kê Theo

đó, “tòa nhà” (Building) bao gồm: tòa nhà, nhà ở, nhà kho, nhà tạm, khu văn phòng và những tổ hợp công trình khác; khán đài; đập, cầu, đường hầm, cống hoặc bến tàu, cầu tàu, dầm tường, bến du thuyền; điểm đỗ xe, hoặc những thứ được xây dựng cho mục đích đó hoặc những biển báo hiệu “Tòa nhà” có thể dùng để ở hoặc những mục đích khác [182]

Có thể thấy, khái niệm “toà nhà” theo Luật này đã bao trùm lên mọi loại “CTXD”

Trang 40

31

Tại Quebec (Canada): không sử dụng khái niệm “nhà cửa, CTXD” Điều 1467

BLDS Quebec (Canada) quy định một loại trách nhiệm rất rộng: TNBTTH do bất động

sản gây ra [176] Tuy nhiên, theo Điều 900 BLDS Quebec thì “bất động sản” bao

gồm:“Đất đai, CTXD, những công trình có tính kiên cố gắn liền với đất và tất cả những

vật tạo thành phần một phần không thể thiếu của công trình đó là bất động sản Cây trồng và khoáng sản, trong trường hợp chưa bị tách rời hoặc bị tách khỏi đất cũng được coi là bất động sản” Với định nghĩa trên thì phạm vi những tài sản được coi là “bất

động sản” rất rộng nhưng đối chiếu với Điều 1467 thì chỉ những “bất động sản” nào bị

“sụp đổ” do “thiếu sửa chữa hoặc từ một khiếm khuyết của việc xây dựng” mới là đối

tượng của trách nhiệm bồi thường Do đó, những bất động sản như đất đai, cây cối hay khoáng sản không thể là đối tượng được áp dụng Điều 1467 vì chúng không phải là sản phẩm của việc “xây dựng” Vì vậy, mặc dù sử dụng khái niệm rất rộng là “bất động sản” nhưng cuối cùng, đối tượng đề cập đến trong Điều 1467 chỉ thu hẹp lại trong phạm

vi “CTXD” bao gồm cả những công trình đã hoàn thành và những công trình tuy chưa hoàn thành nhưng có tính kiên cố gắn liền với đất và tất cả những vật tạo thành phần một phần không thể thiếu của công trình Theo các nhà bình luận BLDS Quebec thì

“CTXD” bao gồm “mọi cấu trúc được tạo thành bởi bất cứ vật liệu gì, do con người

làm ra, gắn liền với đất hoặc với một bất động sản do bản chất”[131, tr.28] Quan điểm

này hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Pháp như đã phân tích ở trên

Bộ tham khảo chung về BTTH ngoài hợp đồng (DCFR)

Bộ tham khảo chung về BTTH ngoài hợp đồng (DCFR) không quy định về

TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, mà quy định “Trách nhiệm đối với thiệt hại

do tình trạng không an toàn của bất động sản gây ra” (Accountability for damage

caused by the unsafe state of an immovable) (Điều VI-3:02) Khái niệm “bất động sản”

không được định nghĩa tại Điều này mà được quy định riêng tại phần Phụ lục, theo đó,

“bất động sản” là “đất đai và bất cứ cái gì gắn liền với đất mà không thể thay đổi vị trí

bằng hành động bình thường của con người”[192] Với định nghĩa này, “bất động sản”

được hiểu là “những tòa nhà, cây cầu bền vững và cấu trúc tương tự” [117, tr.660] Như vậy, khái niệm “bất động sản” lại đã bị thu hẹp về “toà nhà” và “CTXD khác”

Từ những nội dung đã nêu trên có thể cho thấy:

(1) Mặc dù BLDS của các quốc gia khác nhau sử dụng khái niệm khác nhau: toà

nhà, CTXD, cấu trúc khác trên đất (“edificio”,“bâtiment” or building or other

Ngày đăng: 15/11/2018, 20:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w