1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TUYỆT ĐỐI LUẬN

111 1,2K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyệt Đối Luận
Tác giả Thiền Sư Thích Quang Tông, Cư Sĩ Chánh Nguyên
Trường học Trường Đại Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 1996
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 768,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TƯƠNG ĐỐI LUẬN (Relatively theory) của Albert Einstein đã khai thông và làm sáng tỏ phần nào sự áo bí của muôn vật trong vũ trụ cảm giác.Những linh cảm đột xuất trong đầu óc của vị bác học thiên tài nầy, đã bồi bổ cho trí tuệ loài người thêm sâu rộng, sáng suốt, biết được nhiều điều mới mẻ chưa từng có trước nay, về tất cả mọi sự vật từ vĩ mô đến vi mô, từ trên trái đất đến vũ trụ không gian bao la không ngằn mé. Những cống hiến quí báu của Tương Đối Luận (Lý thuyết về sự tương đối) của ông, đến nay vẫn còn giữ vững vị trí trụ cột của giới khoa học.Tuy vậy, thuộc tính tương đối vẫn áp dụng cho chính cái “Lý thuyết tương đối” nầy. Vì thực tế, chúng ta chỉ có thể vận dụng được một số tư liệu hay, đúng trong đó, mang lại kết quả thực sự. Bên cạnh vẫn có những lý thuyết tuy hay ho, nhưng không thể thực hành được (vì lý do vẫn còn thiếu sót) . Do đó, Tương Đối Luận vẫn còn có mặt chưa hoàn chỉnh trong việc đóng góp cho tiến bộ trí tuệ của loài người. Tại sao như thế ? Suy cho cùng, đó cũng chỉ là sản phẩm của “TRÍ PHÂN BIỆT” (còn sanh diệt) của con người mà thôi ! Muốn thật sự hoàn hảo, chúng ta phải nhờ vào sự hướng dẫn của ánh sáng rực rỡ mà Đức NHƯ LAI đã chỉ ban, để làm thành “TUYỆT ĐỐI LUẬN”, mới có thể thoát ra khỏi sự trói buộc trong vũ trụ cảm giác, đạt được cái “TRÍ KHÔNG PHÂN BIỆT” (không còn sanh diệt, tức thường hằng) của vũ trụ tri giác tức vũ trụ tuyệt đối.

Trang 1

Tác giả:- Thiền sư THÍCH QUANG TÔNG Dịch giả :- Cư sĩ CHÁNH NGUYÊN

釋光宗禪師 著 正源居士 越譯

Trang 2

MỤC LỤCTUYỆT ĐỐI LUẬN -OOO - (số của trang ghi theo bản gốc) Trang

*ĐỐI THOẠI GIỮA HAI NHÂN VẬT: LONG PHI VÀ PHỤNG VŨ 161

*GAN LỚN ĐƯA RA NHỮNG GIẢ THIẾT,

Trang 3

***

TƯƠNG ĐỐI LUẬN (Relatively theory) của Albert Einstein đã khai thông và làm sáng

tỏ phần nào sự áo bí của muôn vật trong vũ trụ cảm giác

Những linh cảm đột xuất trong đầu óc của vị bác học thiên tài nầy, đã bồi bổ cho trí tuệ loài người thêm sâu rộng, sáng suốt, biết được nhiều điều mới mẻ chưa từng có trước nay,

về tất cả mọi sự vật từ vĩ mô đến vi mô, từ trên trái đất đến vũ trụ không gian bao la khôngngằn mé Những cống hiến quí báu của Tương Đối Luận (Lý thuyết về sự tương đối) của ông, đến nay vẫn còn giữ vững vị trí trụ cột của giới khoa học

Tuy vậy, thuộc tính tương đối vẫn áp dụng cho chính cái “Lý thuyết tương đối” nầy Vì thực tế, chúng ta chỉ có thể vận dụng được một số tư liệu hay, đúng trong đó, mang lại kết quả thực sự Bên cạnh vẫn có những lý thuyết tuy hay ho, nhưng không thể thực hành được (vì lý do vẫn còn thiếu sót) Do đó, Tương Đối Luận vẫn còn có mặt chưa hoàn chỉnh trong việc đóng góp cho tiến bộ trí tuệ của loài người Tại sao như thế ? Suy cho cùng, đó cũng chỉ là sản phẩm của “TRÍ PHÂN BIỆT” (còn sanh diệt) của con người mà thôi !

Muốn thật sự hoàn hảo, chúng ta phải nhờ vào sự hướng dẫn của ánh sáng rực rỡ mà Đức NHƯ LAI đã chỉ ban, để làm thành “TUYỆT ĐỐI LUẬN”, mới có thể thoát ra khỏi sự trói buộc trong vũ trụ cảm giác, đạt được cái “TRÍ KHÔNG PHÂN BIỆT” (không còn sanh diệt, tức thường hằng) của vũ trụ tri giác tức vũ trụ tuyệt đối

VŨ TRỤ TRI GIÁC hay tuyệt đối nầy, Phật học gọi là CHÂN NHƯ (thực tướng), khoa học gọi là “Tổng cơ quan ái bí của vũ trụ” Ai có thể chứng nhập vào cảnh giới nầy, liền

có thể chi phối, biến cải và sáng tạo muôn vật

Gần đây, giới khoa học đã phát hiện ra được loại “Năng lực phóng xạ vũ trụ” (cosmic radiation) Thứ năng lực nầy có khả năng vô cùng to lớn, kỳ diệu có thể biến cải muôn vật, chuyển hóa những thứ mục nát thành ra vật thần kỳ Nhưng, tuy là biết có nó, vẫn chưa thể nào thấy, nắm bắt được những thứ năng lực vô hình như u linh nầy, kể cả những máy móc, dụng cụ hiện đại nhất của khoa học hiện nay

Thực ra, Phật học đã đề cập đến năng lực phóng xạ vũ trụ nầy từ lâu, dưới tên gọi CHÂN QUANG hay TUYỆT ĐỐI QUANG , là sản phẩm của cảnh giới Chân Như tuyệt đối

Do đó giới khoa học chỉ dùng sức trí tuệ tương đối mà mong tìm thấy được nó, khác nào việc “leo cây bắt cá” (duyên mộc cầu ngư)

Ngoài ra, Phật học cũng đã từ lâu, nêu lên những từ như : pháp thân, thực tướng, chân như… Đó chính là vũ trụ tri giác hay tuyệt đối mà giới khoa học hiện nay đang ra sức tìm tòi, vì biết đó là nguồn gốc của muôn vật Phật hoc cũng đã nêu lên những lý luân,

phương pháp để giúp chúng ta tiến vào đươc cảnh giới mong mỏi tôt cùng nầy Chỉ cần, chúng ta biết tuân thủ áp dụng đúng đắn, khéo léo, bền bĩ những lời dạy bảo của NHƯ LAI chắc chắn chúng ta sẽ tiến vào được CHÂN NHƯ , đạt vật báu vô cùng hiếm có

Trang 4

Đến đây, chẳng còn gì để không nói thẳng ra, cái vũ trụ ti giác hay tuyệt đối nầy, chẳng phải ở đâu trên trời xanh mây trắng hay chân trời góc biển diệu vợi mù xa, mà ở ngay chính quí vị đấy thôi !

Nếu quí vị có cách nào đó, tiêu diệt sạch hết những thứ vọng động, cuồng loạn trong tâm, chẳng còn những thứ “tự ngôn tự ngữ” lăng xăng lộn xộn, khiến cho tâm linh của quí vị trở lại CHÍNH THƯỜNG thì chắc chắn quí vị sẽ được năng lực diệu kỳ không giới hạn,

đủ sức tạo nên lợi ích to lớn cho tất cả chúng sinh

SYDNEY, ngày 01 tháng 07 năm 1990

THIỀN SƯ THÍCH QUANG TÔNG

釋光宗禪師 著

Trang 5

SẮC THÁI DIỄN BIẾN

củaTƯƠNG ĐỐI LUẬN

cả đều bị “thuyết tương đối nghĩa hẹp” phủ định hết thảy Theo nhận thức và quan điểm của EINSTEIN , muôn vật trong vũ trụ đều là tương đối, thời gian tức là không gian Ông cũng lập thành trường phái khoa học mới dựa trên bốn nguyên lý cơ bản:- đường thẳng, mặt phẳng, thể khối và thời gian Đồng thời, theo ông thì không thể tách riêng vật thể và lực, vì nó quan hệ mật thiết với nhau theo công thức :-

E = mC2

(Lực bằng tích của trọng khối với bình phương vận tốc)

Đóng góp hết sức mới mẻ quí báu nầy, được kính cẩn khắc trên ngôi mộ của ông

EINSTEIN lúc ông qua đời Ngoài ra, ông cũng chế tạo thành công dụng cụ gọi là “ Máy tính chuyển động BROWN của phân tử” để làm thí nghiệm quan sát phấn của hoa

chuyển động trên mặt nước, từ đó tính ra chính xác số lượng phân tử của nước, mà trước đây chỉ được tính toán gián tiếp mà thôi

Trước EISTEIN, quan điểm về bản chất của ánh sáng cũng gây nhiều tranh cãi trong giớikhoa học, mỗi người bảo thủ ý kiến riêng của mình, chưa ngã ngũ ra sao

Người thì cho ánh sáng là làn sóng, kẻ lại bảo ánh sáng là tổ hợp của các hạt PHOTON Riêng EISTEIN thì không chấp nhận hai quan điểm trên, mà chứng minh được “ánh sáng

là những hạt Photon chuyển động theo làn sóng” Từ lý thuyết cơ bản nầy, giới khoa học

đã đem áp dụng vào kỹ nghệ phim ảnh và truyền hình sau nầy rất là tiến bộ, cống hiến những phương tiện giải trí, thông tin rất lớn lao cho loài người từ đầu thế kỷ 20 đến nay.Đến năm 1915, EINSTEIN lại hoàn chỉnh nhận thức của ông bằng “thuyết tương đối nghĩa rộng”, triệt bỏ các hàng rào giới hạn “Lấy hai thế giới có tốc độ bằng và tương tác nhau làm điều kiện” mà nêu lên hằng số gia tốc của trọng lực trái đất Hơn thế, ông còn vận dụng lãnh vực trí tuệ vào môi trường không gian vũ trụ, tính ra mức độ khúc xạ ánh sáng là 1,7 giây giữa mặt trời và các hành tinh Phải đợi đến ngày 27/3/1919, ở nước BRAZIL, bị nhật thực toàn phần, các nhà khoa học đã chụp được 16 tấm ảnh ghi lại diễn tiến nhật thực, mới chứng minh được sự tính toán hết sức chính xác của thuyết tương đối nầy

Trang 6

Sau đó, thuyết tương đối đã ngự trị trên vòm trời khoa học thế giới, cơn gió lốc TƯƠNG ĐỐI LUẬN” đã thổi rung thế giới khoa học năm châu Địa vị của nó đã thành “khuôn vàng thước ngọc” của mọi người khi ứng dụng vào việc khám phá bí mật của vũ trụ.

Nhưng, lại một lần nữa, ba nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa là LÝ CHÍNH ĐẠO,

DƯƠNG CHẤN NINH và NGÔ KIỆN HÙNG đã phát hiện ra những chỗ thiếu sót và sailệch của bộ bí kíp quí hiếm “TƯƠNG ĐỐI LUẬN” nầy, khi họ đem ra thực nghiệm kiểm chứng Giới khoa học toàn cầu lại bị chấn động lần nữa và đã phải trao phần thưởng quí giá trên thế giới là “giải NOBEL về Vật lý” cho hai họ LÝ và họ DƯƠNG nói trên

Như vậy, chúng ta có thể kết luận : “Khoa học là cái chưa rồi”, vì cứ liên tiếp, phát minh sau lật đổ phát minh trước, phủ định giá trị quyền uy của từng bước phát minh Các nhà khoa học vẫn còn luôn mò mẫm dò tìm trong biển cả mông mênh không bờ bến của vũ trụ Chúng ta không phủ định giá trị đóng góp từng bước nhất định của khoa học, nhưng phải thành thật và thẳng thắn nói rằng, còn quá nhei62u sự áo bí cơ bản của vũ trụ mà giớikhoa học vẫn còn chưa biết được !

Tiến sĩ LÝ CHÍNH ĐẠO đã tuyên bố trong dịp lãnh giải thưởng NOBEL Vật lý ở Viện Khoa học hoàng gia THỤY ĐIỂN như sau : (ghi đại ý) “Dưới con mắt của người thế gian, thì các nhà khoa học hiện nay đã có được thứ thần thông quảng đại giống như TÔN NGỘ KHÔNG , có khả năng thăng thiên độn thổ vậy Nhưng nếu lấy đức Phật THÍCH

CA làm tiêu biểu cho CHÂN LÝ CỨU CÁNH, thì cho dù Tôn Ngộ Không có giỏi tài

“cân đẩu vân” đến đâu đi nữa, cũng vẫn không thể nào nhảy ra khỏi bàn tay của ‘THÍCH

CA PHẬT TỔ” được !

Các nhà khoa học ưu tú dự lễ phát thưởng nầy đã mĩm cười gật đầu, công nhận sự so sánh

ví von của ông Lý thật vô cùng chính xác Tất cả cũng đồng ý rằng, những nhà khoa học chỉ giống như đám trẻ con đang lượm lặt những vỏ sò hến ở bãi biển, ngẩng mặt nhìn lên

ra xa, chân lý cứu cánh vẫn còn ở đâu bên kia biển cả mênh mông, bờ bến không sao nhìn thấy được

Tâm huyết trọn đời của Newton với ba định luật cơ bản, tồn tại sáng chói trên bầu trời khoa học được 200 năm, rồi bị Tương đối luận của Einstein lật đổ Thuyết nầy lại tồn tại rực rỡ chưa quá 100 năm, cũng bị các ông Lý, Dương lật đổ

Than ôi ! Cái mà trước đây cho là vật báu sáng chói, qua sự khảo nghiệm sàng sãy của thời gian và thực tế, từ rực rỡ đã thành nhạt nhòa, bình thường

Tại sao lại cứ liên tiếp xãy ra tình trạng như thế, chúng ta hãy cùng nhau đi tìm nguyên nhân sâu xa nhất của nó ?

Trang 7

SẢN PHẨM CỦA VŨ TRỤ CẢM GIÁC

Đáp án chính xác nhất cho câu hỏi , tại sao hai ông Newton và Einstein , cũng như những nhân tài kiệt xuất trong giới kho học trước nay, cứ lần lượt bị lật đổ, là bởi ví tất cả sự cố gắng tối đa của họ chưa thể vượt qua giới hạn của “vũ trụ cảm giác” để vào được chân lý cứu cánh “bàn tay của NHƯ LAI PHẬT TỔ” mà Tiến sĩ Lý đã minh họa trên Những vị

“Tôn Ngộ Không” nầy dù hết sức cố gắng nhìn thật xa, tầm nhìn vẫn bị năm ngón tay che khuất, không thể nào thấy được trọn vẹn sắc hoàng kim của Diêm-Phù-Đàn của cả bàn tayNHƯ LAI

Do đó, cho dù có muôn triệu Tôn Ngộ Không đem hết sức mình ra tìm tòi nghiên cứu, nhưng chỉ loay hoay trong phạm vi lòng bàn tay, thì phát hiện ấy cũng vô cùng hạn hẹp,

có những ngăn cách che khuất nhất định của nó Họ tương tự những người mù rờ voi, chỗ nhận biết chỉ là từng bộ phận của voi : ngà, tai, bụng, chân, đuôi …Cho dù có liên kết khéo léo, đầy đủ các bộ phận trên lại, cũng chỉ thành hình được một dáng dấp to lớn bên ngoài của con voi có vẻ lớn lao Thực tế cho thấy, thế giới chân lý vẫn còn sự hiện diện của biết bao thứ kgac1 như : sư tử, cọp, beo …Những chàng mù nầy phải sờ đến bao giờ mới hết ? Chỉ có người mắt sáng, thoáng nhìn là biết tất cả !

Những định luật cơ bản của Newton và thuyết tương đối của Einstein … đều là “sản phẩmcủa vũ trụ cảm giác” Nói khác đi, đó là kết quả quan sát và nhận thức rất nhiều sự vật trong vũ trụ

Nhưng chúng ta đều biết, sự vật muôn vàn trên thế gian nầy, đâu phải cố định và bất biến Chúng đã chịu biết bao sự tác động chi phối, biến cải to lớn của không gian và thời gian

Vả lại, thêm vào mức độ tính chủ, khách quan của từng người quan sát, kết quả nhận thức nhất định phải là khác nhau thôi ! Do đó, cùng một sự vật, cùng thời gian và địa điểm, nhưng nhận thức, tư tưởng của hai người đứng kế bên nhau chắc gì đã hoàn toàn giống nhau, dù giả sử là không có sự tác động của bốn chung quanh (môi trường số không tuyệt đối ) đi nữa ! Thế nên, thưc tế dẫn đến:-

“Đồng thị nhất ban song tiền nguyệt,

Nhất hữu mai hoa cánh bất đồng”

(cùng là vầng trăng trước cửa sổ, một cửa sổ có hoa mai, vầng trăng liền không giống ở cửa sổ bên kia)

Vũ trụ cảm giác dù cho tiến xa hết mức, nhưng chỉ dùng phương tiện bản thân làm giới hạn để giải thích, chia thành hai tầng thứ : vũ trụ trong tâm (thân) và vũ trụ ngoài tâm (thân) Vũ trụ ngoài tâm bao gồm mặt trời, mặt trăng, các tinh cầu và muôn vật trên trái đất, nghĩa là những vật thể dùng tay để chỉ ra, dùng mắt để nhìn thấy được …toàn là những thứ chịu tác động của sanh diệt từng khoảnh khắc thời gian Còn vũ trụ trong tâm lànhững ý niệm, tư tưởng trong tấm thân bảy thước nầy Đó là những tự ngôn tự ngữ không ngừng biến chuyển nên phát tác ra những hình bóng tương tự sum la vạn tượng bên ngoài,

Trang 8

vì vậy ó nghiễm nhiên trở thành một thế giới khác Cả hai vũ trụ trong và ngoài tâm nầy, đều thay đổi biến chuyển không ngừng Thế mà các nhà khoa học đặt mình vào điều kiện môi trường toàn động để quan sát, có khác nào cảnh một người đang loa6u tính toán, ngồi trên một toa xe lửa đang chạy vùn vụt để quan sát cảnh vật bên ngoài chăng ? Như thế, lỗi lầm cơ bản nhất là cảm giác nhận thức không đúng thực tế : cái đứng yên (cảnh vật) thấy

là chuyển động, vật chuyển động (xe lửa) thấy là đứng yên, vì cùng tốc độ và phương hướng với người ngồi trên xe Từ đó, cho dù những báo cáo kết quả quan sát của vị nầy hết sức thành thật và khách quan đến đâu, dùng đủ mọi công thức, phương pháp để chứng minh ngàn lần như một, vẫn không thể nào giống hệt được những nhà quan sát khác, ngồi trên toa xe lửa có tốc độ khác, phương chuyển động khác… nêu lên kết quả cảnh vật

họ thấy qua cửa sổ

Dĩ nhiên, cách nói trên không đến nỗi bị các người quá thật thà cãi lại: “nhưng các nhà khoa học có ngồi trên xe lửa để làm việc bao giờ đâu, họ ở trong các phòng thí nghiệm yên tĩnh kia mà !” Đúng là yên tĩnh, nhưng đó chỉ là “yên tĩnh biểu kiến” cả người lẫn vật Nhìn sâu vào bản thể cả hai, đều không ngớt chịu sự nhiễu loạn, khốn đốn của “ý niệm mang tính xe lửa” nầy tạo ra, làm cho, dưới cái nhìn hết sức sáng suốt của đức Phật,

đã phải than “chúng sinh điên đảo !” là vậy Đó là nguyên nhân chủ yếu khiến cho

Einstein lật đổ Newton, ba vị Tiến sĩ Lý, Dương, Ngô lật đổ Einstein và còn nữa …Ta có thể khẳng định thật chắc chắn là, dù cho các vị nầy có vắt hết nước óc ra để suy tư, cũng không thể nào tránh khỏi cảnh bị lật đổ trong tương lai !

Thật đúng với kinh nghiệm về chân lý của người xưa

:-“Hoành khán thành lĩnh, trắc thành phong,

Viễn cận, cao đê, các bất đồng

Bất thức Lư sơn chân diện mục,

Chỉ duyên thân tại thử sơn trung”

DỊCH:-Nhìn ngang thành dãy núi dài,

Nhìn nghiêng thành ngọn núi, kỳ lạ thay !

Núi Lư, mặt thật ai hay

Đứng hoài chân núi, nào ngày tỉnh ra ?”

Cái cảnh những nhà khoa học trên thế giới cứ mãi giam thân trong chân núi vũ trụ cảm giác, nếu không tìm ra phương pháp nào để vượt thoát những “ý niệm mang tính xe lửa” thì vẫn tái diễn cảnh “bổn cũ soạn lại”, Nghĩa là, dù lại có những phát minh đầy uy quyền đến mấy ở thời điểm nhất định đó, cũng khó mà giữ được không bị làn sóng sau lật đổ làn sóng trước

Chẳng nói chi xa xôi, lý luận về TRƯỜNG QUY PHẠM (quanta du champ) gần đây, đủ chứng minh điều tôi vừa nêu là hết sức thực tế

Hiện nay, những nhà khoa học xung kích trên thế giới, để xác định rõ về trường quy

phạm, trong lĩnh vực nghiên cứu về cấu tạo vật chất, đã chú ý vào hoạt động của những

“hạt cơ bản” của vật chất để nắm qui luật hình thành và liên kết của chúng, tạo thành nhân, thành nguyên tử, phân tử ra sao ? Từ đó, tạo thành vật chất khác nhau thiên hình vạntrạng như hiện nay Trường quy phạm chia thành hai nhóm nghiên cứu; một để tìm xem

“hạt tối cơ bản” là gì, hai là để tìm xem sự kết hợp của chúng do những lực cơ bản gì ?

Trang 9

Nhóm thứ nhất chỉ mới tạm đến hóa thành là “hạt QUARK” nhóm thứ hai cũng mới tạm

sơ kết thành quả bước đầu về các lực cơ bản cho sự liên kết là : lực hấp dẫn, lực điện từ, lực tương tác mạnh và lực tương tác yếu, tất cả gồm bốn thứ

Trong khi mọi người chưa dám kết luận, thì một lực thứ năm lại xuất hiện, một nhà Vật lý học kiêm Thiên văn học ở trường đại học Washington là BỐ-NI-ĐỐN (tên phiên âm) và các đồng sự đã dùng những chiếc vòng bằng kim loại để thí nghiệm, chứng minh rằng có một lực thứ năm, vượt cao hơn 4 lực kia mà hiện hữu

Cuối năm ngoái, nhà Vật lý học địa cầu của không quân Mỹ , ông AI-KHẮC-CÁP-ĐẶC (tên phiên âm) đã tuyên bố trong một hội nghị khoa học “có khả năng xuất hiện ra một lựcthứ sáu nữa, lực nầy có thể tạo gia tốc cho cường độ hấp dẫn”

Thế đó, nhờ dựa vào công cụ của loài người ngày càng phát triển nâng cao, nên biết đâu,qua 100 năm nữa, sẽ có thêm rất nhiều loại lực khác ra đời, do sự phát hiện thêm của những nhà khoa học sau nầy

Tóm lại, những kết luận còn trong vũ trụ tương đối ( VT cảm giác) sẽ còn thay đổi dài dài,

vì vật chất liên tục thay đổi biến hóa tùy theo thời gian và không gian mỗi lúc một khác

Trang 10

Ý NIỆM MANG TÍNH XE LỬA

*****

Con người có thể có đủ sức tính toán, đo lường, suy tư, phân tích, ghi nhớ… để tạo thành những ý niệm mang “tính xe lửa” của vũ trụ trong tâm, cho đó là tác dụng phản xạ của lànsóng điện bộ não Loài người chấp nhận lối giải thích nầy suốt 200 năm, cho đó là chân lý.Riêng người cầm bút nầy không dám biểu đồng tình một cách gượng ép Vì nếu đúng theolối giải thích trên, làn sóng điện bộ não con người cũng giống như tấm kính soi mặt, ông

A đến thì hiện bóng ông A, chị B tới thì hiện bóng chị B, hoàn toàn thụ động máy móc Thực tế, nếu chịu khó lưu ý một chút , sẽ thấy không hẳn như vậy Trong sinh hoạt hàng ngày, những ý niệm trong tâm có lúc khác với sự vật thực bên ngoài Chẳng hạn, nhìn ông

A mà tưởng là ông C,nhìn chị B mà thấy giống bà D chẳng hạn Thậm chí, có những khi nhìn mà không thấy, lắng mà không nghe, ăn mà chẳng biết mùi vị… Hàng loạt sự thật đãphủ định mạnh mẽ quan điểm “phản xạ làn sóng điện bộ não” nầy

Chúng tôi đã làm một số thí nghiệm, nhiều lần tập hợp vài mươi người ngồi trong thiền đường để thực nghiệm về “phản xạ làn sóng điện bộ não” có giống nhau không Họ nhắm mắt ngồi yên, kế dùng tâm nhãn (con mắt tâm) xoay rọi vào vũ trụ trong tâm, quan sát trong khoảng thời gian là năm phút, đoạn bảo họ thành thật ghi lại tất cả những gì họ

“thấy” được trong đó Kết quả của những lần thí nghiệm đều khác nhau, chẳng những khác biệt giữa người nầy người kia, mà còn khác biệt giữa một người ở lần trước lần sau v.v… Làn sóng điện bộ não là vật chất, mang tính máy móc khách quan, trong cùng điều kiện về hoàn cảnh, môi trường, thời gian … nhất định kết quả phải hoàn toàn giống nhau chứ ? Thực tế lại khác hẳn, đó là tại sao ?

Chúng tôi cũng xin đưa ra một sự thực, góp phần làm sáng tỏ tính chân lý của quan điểm

“làn sóng điện của bộ não” nầy :

“TINH ĐẢO NHẬT BÁO (Australia) ngày 02/10/1986 có

đăng:-Tại một ngôi làng hẻo lánh ở Châu Phi, phát sinh ra một chuyện vô cùng kỳ lạ

Một đoàn chuyên gia được cử đến điều tra cũng chưa kết luận được Có một cô gái 16 tuổitrong bộ lạc ở đây, bị hôn mê 7 giờ sau mới tỉnh dậy Thật lạ lùng, tự nhiên cô nói được tiếng Anh rất lưu loát; đồng thời, tiếng bản ngữ bộ lạc cô hoàn toàn không biết chút nào !Trước khi bị hôn mê Cô MONOKA ALEX chỉ biết một vài câu tiếng Anh bồi, không đúng ngữ pháp Nhưng hiện tại, cô nói thứ tiếng Anh có phong cách thượng lưu hết sức trôi chảy Thêm nữa, cá tính cô hoàn toàn thay đổi, hiện cô giống như một thiếu nữ người Anh được nuôi dạy tốt từ bé lớn lên trong một môi trường khác vậy

Bà GRAND, giảng viên năm thứ nhất của Trường Đại Học tâm lý Nam Phi, nói :-“Đây

là chuyện có thật hết sức lạ lùng “ , bà nầy đang tìm mọi cách nghiên cứu phân tích trườnghợp hi hữu của cô MONOCA nầy, hy vọng tìm ra một vài điểm sáng tỏ

Bà GRAND nói :-“Thật không chút nghi ngờ gì chuyện có thật nầy, cô MONOCA nhất định không thể học tiếng Anh từ bạn bè, vì tất cả bạn cô đều không ai biết tiếng Anh cả !”

Trang 11

Vậy mà, tại sao chỉ qua một đêm, cô lại biến cải toàn bột từ hành vi đến ngôn ngữ, phong cách, hoàn toàn giống như một thiếu nữ người Anh, lại quên tất cả đặc điểm của người bản xứ.

Bà GRAND cho biết, bà cùng vài người chuyên môn khác đến tận làng của MONOCA ở, điều tra sự thật việc nầy Họ nhận xét : Cô MONOCA và gia đình sống trong một ngôi nhànhỏ, nếu nói rằng cô đã bí mật đi học tiếng Anh mà trong nhà không hay biết, thì quả không thể có chuyện đó Cũng không thể có chuyện cô MONOCA học tiếng Anh trong trường bởi vì ở đây chỉ dạy thổ ngữ địa phương, tuy cũng có một vài giáo viên biết chút ít tiếng Anh Ngoài ra cô MONOCA cũng chưa biết sử dụng điện thoại hay xem truyền hìnhlần nào cả, vì trong căn nhà cô ở, hoàn toàn không có điện, nước máy gì cả

Điều khiến mọi người khó hiểu hơn hết là, tại sao đột nhiên cô MONOCA lại hoàn toàn quên sạch tiếng mẹ đẻ, thứ tiếng mà cô đã nói từ lúc bập bẹ đến nay ? Các nhà chuyên môn đã làm một số trắc nghiệm bằng cách cho người bất thần la to bằng tiếng bản xứ

“rắn ! rắn !” đó chính là thứ mà cô vẫn rất sợ xưa nay, thế mà cô MONOCA nầy chỉ ngơ ngác không hiểu và cũng không có phản ứng gì ! Bà GRAND bảo : “Đây chắc chắn khôngthể là điều đóng kịch để gạt gẫm ai được, bởi vì trải qua cơn hôn mê trở lại vào ngày 6 / 6; lúc tỉnh lại cô vẫn không biết được thổ ngữ, cá tính của cô vẫn không thể khôi phục lạinhư trước được”

Còn cô ALEX thì nói “tôi nhớ là tôi bị hôn mê, lúc tỉnh dậy thì thấy có nhiều người vây quanh tôi, toàn là những gương mặt mà tôi chưa hề biết lần nào, và tôi cũng không thể nào hiểu họ nói cái gì !”

Bà nữ hiệu trưởng trường cô đang học, xác minh : “Trước đây, MONOCA và bạn bè hoàn toàn như nhau Nhưng hiện nay cá tính của nó hoàn toàn khác biệt, đến độ không còn hiểu một tiếng nào của bạn bè nói ra cả Quả là điều không thể tưởng tượng nổi !”

Cô MONOCA cho biết cảm tưởng là hoàn toàn cách biệt với những người xung quanh

“Tôi sợ hãi tất cả những gì xảy ra quanh tôi”

Đến đây chúng ta có thể đi đến kết luận chắc chắn là, những cá tính mới lạ nầy, là cá tính của một thiếu nữ người Anh nào đó vừa mới chết, đã nhập vào thân xác của cô MONOCAnầy

Qua sự kện trên, chúng ta thấy rõ cô gái Châu Phi nầy chưa từng học qua tiếng Anh bậc cao, nhưng tại sao lúc tỉnh dậy sau cơn hôn mê, lại có thể nói tiếng Anh một cách lưu loát Thêm vào đó, điều khiến không ai giải thích được là cô quên sạch tiếng mẹ đẻ đã dùng suốt 16 năm ? Sự kiện thần bí nầy chắc chắn giới y học phải đành bó tay, không thể

có một đáp án hợp lý nào được

Từ những sự kiện trên, ta rút ra được kết luận là , quan điểm tư tưởng con người do tác dụng “phản xạ của làn sóng điện bộ não” hoặc do “các tế bào não cọ xát sinh ra” không còn có chỗ đứng trong nhận thức của loài người hiện nay nữa !

Nếu quí vị vẫn còn hoài nghi, xin vui lòng đọc tiếp bản tin sau đây

:-(Bản tin ngày 28/7/1989 của nhật báo WASHINGTON POST)

“Bà mẹ nuôi của một bé trai 5 tuổi cho biết các bác sĩ đã xác định cậu nầy không có bộ não, vì vậy không thể biết gì cả, thậm chí không biết cười, không biết khóc là khác !”-Các bác sĩ cũng khẳng định, nó may mắn lắm là sống được không quá một tháng”

Thế mà, hiện nay cậu bé đã được 5 tuổi, lúc xem các tiết mục hài trên TV lại có thể cười

Bà KHỞI-PHẠM-ĐẠT NHĨ (tên phiên âm) nói :-“Thằng bé AN-ĐỨC-LỖ (tên phiên âm)(trong hình in ở trang 20) phát triển một cách bình thường, nó có thể cười đủ cách : cười

Trang 12

lớn, cười ha hả, cười mĩm …Tư chất của nó rất thông minh, vui vẻ rất lôi cuốn mọi người

“ Bà cho biết thêm “Các bác sĩ khẳng định, nó vĩnh viễn không biết cười, vĩnh viễn không

có động tác phản ứng gì, vĩnh viễn không thể phát triển thành người lớn…Thực tế hiện nay đã hoàn toàn phủ định tất cả những suy đoán của bác sĩ”

Bà nữ điều dưỡng PHAM-ĐẠT-NHĨ (tên phiên âm) nầy , làm việc ở khoa não bệnh viện THIÊM-LINH-PHÚC-ĐỨC (tên phiên âm) ở tiểu bang KENTUCKY cho biết “Thứ tư vừa qua là ngày lễ Sinh nhật mừng cháu AN-ĐỨC-LỖ tròn 5 tuổi Hiện nay, sức khỏe của cháu rất tốt” Bà lại trả lời tiếp trên điện thoại của người nào đó, hỏi thăm về tình trạng sức khỏe của cậu bé, rằng : “Trước nay, cháu rất khỏe mạnh Chỉ có một lần, trong dịch cảm cúm toàn khu vực cháu cũng bị cảm nhẹ, ít hôm thì khỏi Sau đó, cháu lại về vườn trẻ sinh hoạt bình thường”

Cậu bé AN-ĐỨC-LỖ (tên phiên âm) nầy, sinh ra ở AN-LẠC-KHẮC (tên phiên âm) Lúc khám sức khỏe khi vừa sinh ra, các bác sĩ phát hiện có vài điểm lạ ở đầu cháu bé, đưa sangchụp X-quang họ vô cùng ngạc nhiên là nó không có bộ não ! Vị trí chỗ đó thay vào là khối u như một cái túi sưng thủng, chứa đầy chất dung dịch nhầy, khiến cho các tế bào não không thể hình thành bộ não bình thường như mọi người được

Tin đặc biệt nầy cũng đủ khiến cho những người theo quan điểm “phản xạ làn sóng điện

bộ não” phải lâm vào cảnh “té bể mắt kính” (trật phá nhãn kính) rồi !

Nhân tiện, chúng tôi cũng xin nhắc lại một tư liệu lịch sử góp phần xóa bỏ mạnh mẽ quan điểm “phản xạ làn sóng điện bộ não” :-

-Đêm 01/04/1856, ông ABRAHAM LINCOLN là vị tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ, đã nằm mơ thấy một giấc mộng hết sức quái lạ

-Ông thấy một mình đi qua lại trong WHITE HOUSE (Tòa Bạch Ốc) trong lúc đêm khuya vắng vẻ, không một bóng người Bổng ông nghe nhiều tiếng khóc than rên rĩ vang lên Theo hướng tiếng khóc, ông lần đến căn phòng phía đông, thấy trong đó có một chiếc quan tài, xung quanh rất nhiều người đeo tang đang than khóc Lấy làm lạ, ông hỏi :-“Ai chết vậy, mà sao đem quan tài đặt ở đây ?” Người lính phòng vệ đứng gần đáp : “Tổng thống chứ còn ai , Ngài mới vừa bị kẻ sát nhân đâm chết”

Ngay đó, ông chợt giật mình tỉnh giấc Sáng hôm sau, ông đã kể lại cho người thư ký riêng tên LAMON nghe về giấc mơ nầy Vị thư ký hôm đó về nhà có kể lại cho gia đình

và một số bạn bè nghe

Chỉ mấy hôm sau đó, quả nhiên ông LINCOLN đã bị tên hung thủ tên BOOTH đâm chết trong khi đang xem kịch ở nhà hát lớn PHÚC-ĐẶC (tên phiên âm) Cuối cùng, chẳng may cho TT Lincoln , giấc mộng trên của ông đã thành sự thực

Qua tư liệu nầy, việc thấy trước cái chết của tổng thống Lincoln chỉ có thể giải thích đó là

“giác quan thứ sáu”, và hẳn nhiên, HOÀN TOÀN KHÔNG LIÊN QUAN GÌ đến “phản

xạ làn sóng điện bộ não” của ai cả!

Về lĩnh vực nghiên cứu bộ não con người, 400 năm trước công nguyên, đã có nhà đại triết học kiêm đại y học là HIPOCRATE phát biểu : “Con người nhờ có bộ não mới có thể suy nghĩ, khảo sát; mới có thể thấy nghe, phân biệt được cái đẹp, xấu; phán đoán được cái thiện, ác; cảm nhận được điều sung sướng hay khổ sở Nhưng , bộ não chỉ là “CÔNG CỤ” phát tác ra nhận thức, còn điều động nó là một thể siêu hình”

Như vậy, ông thừa nhận có Tâm Linh chỉ huy công cụ bộ não Trái lại, những bác sĩ

chuyên khoa não về sau nầy, lầm lẫn cho “ bộ não là TÂM LINH Nhờ tác động cọ xát vận động của các tế bào não mà có thể suy nghĩ, ghi nhớ, hành động và cảm giác”, phủ định hoàn toàn vai trò của Tâm Linh

Trang 13

Hiện nay quan điểm “phản xạ làn sóng điện bộ não” chỉ mới lung lay chứ chưa sụp đổ hẳn, dù rất nhiều người công nhận quan điểm nầy có rất nhiều sai sót, nhưng vì chưa tìm được câu trả lời hòan chỉnh, nên vẫn tạm thời duy trì nó một thời gian xem sao.

Tuy nhiên, đã là người có lý trí sáng suốt, chắc chắn không thể nào bám chặt và mù quángtin theo quan điểm “phản xạ làn sóng điện bộ não” nầy một cách triệt để nữa !!!

MUÔN PHÁP DUY TÂM

*****

Trường phái duy lý cho rằng: “vũ trụ ngoài tâm” quan trọng hơn “vũ trụ trong tâm” vì cái thứ hai nầy chỉ là bóng dáng của sự vật bên ngoài soi rọi vào nên hư huyễn không thật

Sự suy luận như trên cần phải được đính chính ngay !

Hằng ngày, con người khi thấy được hình dạng, màu sắc; nghe được âm thanh… đều tưởng rằng họ đã THẤY hoặc NGHE một cách TRỰC TIẾP (directly) những hình ảnh,

âm thanh của thế giới bên ngoài Quả thật, đây là một lầm lẫn vô cùng to lớn !

Trước hết, chúng ta hãy tìm hiểu phân tích bộ phận chính của mắt là NHÃN CẦU Mọi người thường cho rằng hình dạng, màu sắc thấy được bên ngoài là hình hay màu “trực tiếp” thực sự của vật Thực ra, cái mà chúng ta thấy được ấy, chỉ là “bóng dáng” chứ chẳng phải là “bản thể” của sự vật Quí vị còn nghi ngờ, xin đọc kỹ tư liệu sau:-

“Gần đây nhất, các nhà y học chuyên khoa mắt đã phát minh ra biện pháp khôi phục lại thịgiác cho những người mù bẩm sinh hoặc do tai nạn gây ra Chúng ta đều biết, trong nhãn cầu có một thấu kính dẹp nhỏ nằm trong lớp thủy tinh thể trong suốt Hình ảnh, màu sắc của vật thu qua thấu kính nầy, hội tụ vào một điểm sau võng mạc Nếu thấu kính nầy bị che lấp bởi một màng đục bẩm sinh hoặc tai nạn gây ra, hình ảnh vật không qua thấu kính được, nên không thể thấy chúng”

Do đó, muốn khôi phục thị giác người mù, phải làm cách nào để thay thế vào đó một thấukính còn tốt Phương pháp trước đây là thay ghép thấu kính thật lấy từ mắt người khác (do

họ tình nguyện tặng theo di chúc) lắp vào nhãn cầu Cách thức nầy vừa không bảo đảm dễ lây nhiễm bệnh (nếu lấy tròng mắt người vừa chết), vừa hiếm có cơ hội… mà cứu cánh vẫn có tính “dã man” trong đó Để khắc phục các nhược điểm nầy, chuyên gia người Anh

đã chế tạo ra một loại thấu kính nhân tạo bằng nhựa tổng hợp,trong suốt có chiết xuất giống hệt thấu kính thật

Động tác thay lắp thấu kính tuy phải hết sức khéo léo và nhanh nhẹn, nhưng cũng không đến nổi phức tạp, rắc rối gì Trước hết, bác sĩ nhãn khoa dùng một loại dao mỗ nhỏ sắc bén, cắt rọc tầng ngoài của nhãn cầu, nhẹ nhàng bứng tách thấu kính bị hư hỏng ra, rồi lắp thay thấu kính nhân tạo vào là xong Mọi động tác nầy phải làm qua màn hình phóng đại

vì kích thước của thấu kính chỉ độ 0,9 mm thôi Chỉ một tuần sau là mắt lành, người mù cóthể thấy lại được ánh sáng, hình ảnh bình thường

Phương pháp giải phẫu thay đổi thấu kính nầy đã từ nước Anh truyền sang nước Mỹ Bện viện mắt PHẾ-THÀNH-VI-NHĨ-TƯ (tên phiên âm) là nơi đi đầu trong khoa phẫu thuật nầy Theo phát biểu của bệnh viện trên, kết quả tốt khôi phục thị giác cho 65 / 67 người bị

dị tật bẩm sinh ở thấu kính nên mù, nhờ vào phương pháp trên đã nhìn thấy được

Qua tư liệu trên, chúng ta đã xác định là “chỉ thấy được bóng dáng hình ảnh sự vật hiện lên ở võng mạc khi chúng xuyên qua được thấu kính mà thôi” Như vậy, rõ ràng đó là

“ảnh của vật” chứ có phải “vật thật” đâu ? Giả sử quí vị có muốn “thấy” trực tiếp vật,

Trang 14

cũng không thể được, vì đã bị “tấm phim” ở võng mạc che khuất mắt rồi Đến đây, lại phát sinh thêm một nghi vấn khác Vì là một thấu kính phân kỳ, nên ảnh của vật hiện lên ởvõng mạc phải lộn ngược đầu, vậy nếu ta thấy vật bằng ảnh ở đó, thì cũng phải thấy chúnglộn ngược chứ, sao thực tế lại thấy đứng xuôi bình thường ?

Một lần nữa, các chuyên gia về mắt và quang học đã hợp tác làm cuộc thí nghiệm “rất tức cười” để tìm cho ra câu trả lời chính xác nhất Họ chế tạo ra một loại kính hết sức đặc biệt,gọi là ‘MẮT KÍNH LỘN NGƯỢC” cho những người tham dự cuộc thí nghiệm mang vào.Lúc đầu, những thí nghiệm viên nầy gần như phát điên lên, vì nhìn cái gì cũng thấy lộn ngược lại hết, vị trí trên, dưới, trái, phải … của vật và cảnh đều hoàn toàn đổi ngược với

sự quen thuộc trước đây Do đó, họ không dám bước đi, cũng không dám nắm bắt, sử dụng một công cụ nào cả Nhưng chỉ sau mấy hôm (tùy theo người, tối đa không quá một tuần), tất cả đều nhìn thấy vật, cảnh đứng xuôi bình thường như trước lúc mang kính nầy

Để họ quen với trạng thái trên trong vòng một tuần lễ, lại tháo bỏ mắt kính nầy ra Tất cả lại lâm vào trạng thái đảo ngược như lúc mới vừa đeo kính Cũng hết sức khốn khổ, đầu

óc quay cuồng vì cái gì cũng thấy lộn ngược hết Nhưng cũng chỉ tuần sau là họ tái thích ứng, bình thường hóa trở lại, không có gì khác biệt !

Như thế rõ ràng là từ khi chúng ta chào đời, đại tự nhiên đã bắt chúng ta mang cặp kính lộn ngược, đến nay chúng ta đã thích ứng được rồi Nếu như nhà khoa học nào đó, cắc cớ đem sửa lại ảnh của vật hiện lên trên võng mạc của chúng ta thành ra xuôi, tôi nghĩ chắc làtrong vòng 24 giờ đồng hồ, chính phủ của quốc gia “VÔ PHƯỚC” đó phải tuyên bố giải tán, nghỉ làm việc cho nhân dân cả nước thôi !

Qua đoạn tư liệu trên, chúng ta có thể rút ra được kết luận quí giá nào chăng ?

Chỗ đáng lưu ý là, những ảnh của vật tha hồ lộn xuôi lộn ngược hiện lên ở võng mạc, nhưng AI ngồi ở đàng sau nhãn cầu để quan sát cảnh thuận của sự vật nầy ? Chẳng lẽ thấukính hay võng mạc, hay những sợi thần kinh mắt… chúng chỉ toàn là Vật Chất vì là máu thịt làm thành, không thể có năng lực ‘TỰ QUAN SÁT” được Do đó, dù muốn dù không,chúng ta cũng phải chấp nhận sự thực là, có một “CON MẮT THẬT” quan sát và phân biệt những hình ảnh hiện lên trong võng mạc Đặc điểm quái lạ của ‘CON MẮT THẬT” (chân nhãn) nầy là, nó chỉ có thể “THẤY” được hình ảnh sự vật hiện ra ở đó, chứ không

có năng lực “thấy trực tiếp” sự vật bên ngoài, giống như chúng ta nhìn ảnh sự vật trong miếng gương phía dưới của loại kính tiềm vọng vậy !

Lý luận tương tự đối với lỗ tai, những âm thanh mà “TAI THẬT” có thể nghe được, đều

do sự rung động của màng nhĩ truyền ra phía sau Nó (tai thật) cũng không có khả năng nghe trực tiếp âm thanh bên ngoài, vì những thứ tiếng đã bị màng nhĩ ngăn lại không truyền vào được

Tình trạng thân và tâm đã bị “nhị nguyên hóa” (biến thành hai thứ) đó, cũng ảnh hưởng đến mũi, lưỡi và thân của con người “Mũi thật” chỉ ngữi được “ảnh của mùi” do những sợi dây thần kinh khứu giác truyền vào, “lưỡi thật” nếm được các vị đắng, cay, chua … cũng chỉ là nếm “ảnh của những vị” do các gai thần kinh vị giác chuyển đến; “thân thật” cảm nhận được nóng, lạnh, trơn, nhám … cũng qua ảnh truyền của thần kinh xúc giác bố trí đều khắp châu thân nhận đưa Tất cả , đều là “ẢNH” của sự vật, chứ nào có phải

“THỰC LÀ VẬT” đâu !!!

Mắt thật, tai thật, mũi thật, lưỡi thật, thân thật, những danh từ nầy quá mới mẻ, lạ lùng

Có người nghe đến như những lời quái đản, nhận thức mờ mịt như ở trong đám sương mù dày đặc vào mùa Đông ở thành phố LONDON (nước Anh) Làm sao để nhận ra chúng đây ?

Trang 15

Trong kinh THỦ LĂNG NGHIÊM có một câu, đủ sức giúp quí vị mở toang chiếc hộp đen

là phải có TÂM LINH , mới có thể điều khiển sử dụng những công cụ ấy để mang lại sự nhận thức hiểu biết nếu như không có TÂM LINH , thì tại sao một người vừa tắt hơi, những công cụ cơ quan của thân vẫn còn nguyên vẹn sử dụng được, mà lại không thể tiếpxúc hiểu biết gì cả ?

Do đó, Phật học khẳng định “Muôn pháp duy tâm” là một chân lý không thể chối cãi Những thác giác của người xưa về trời tròn, đất vuông, mặt trời di quanh trái đất …đã được các nhà khoa học cải chính như hiện nay, để từ cơ sở ấy, bắt cầu qua lĩnh vực chế tạophi thuyền, tên lửa … chinh phục không gian, vũ trụ

Phật học cũng đã nêu lên cơ sở chân lý “Muôn pháp duy tâm”, để giúp chúng ta bắt được nhịp cầu nối liền với Vũ Trụ Tuyệt Đối (vũ trụ phi vật chất) chinh phục vật báu CHÂN NHƯ

Xin mời quí vị mạnh dạn “bước qua cầu” !

Trang 16

HẠNG TRANG MÚA KIẾM, CHÍ Ở BÁI CÔNG

*****

Sở dĩ chúng ta bàn bạc nhiều về "vũ trụ cảm giác" (vũ trụ tương đối) , không phải là dừng lại ở đó để khai triển và phát huy nó, mà chúng ta dùng nó làm chiếc cầu nối để đi từtương đối vào tuyệt đối, mới có thể được “trí tuệ lớn, năng lực lớn của CHÂN NHƯ”, chi phối muôn vật và xoay chuyển cả càn khôn

Muôn vật trong vũ trụ tuy có vô số, nhưng khái quát hóa chỉ có 3 thứ:- THÂN, TÂM, VẬT Chúng vận động theo qui luật là:-

1.-THÂN:- thì có Sanh, Già, Bệnh, Chết

2.-TÂM:- thì có Sanh, Trụ, Dị, Diệt

Bây giờ, phải dựa vào một trong ba thứ tương đối trên, để làm CHIẾC CẦU (phương tiện) đi vào Tuyệt Đối

Muốn vậy, chúng ta phải dùng biện pháp:- KHỐNG CHẾ, CHI PHỐI và ĐIỀU

KHIỂN Lâu nay các nhà khoa học đã, chưa đến nổi thất bại hẳn, nhưng còn quá lâu, có thể là đến VÔ HẠN , mới khống chế, chi phối và điều khiển được Thân và Vật Vậy chỉcòn lại món thứ ba là TÂM, nó là thứ tương đối đơn giản để khống chế, dễ điều khiển hơn.Quả thật, đây mới là “THEN CHỐT của chuyển động bên ngoài Tâm giống như một bánh

xe răng cưa nhỏ nằm trong bộ máy, nhờ các thanh truyền động làm quay hai bánh xe răng cưa lớn là Thân và Vật bên ngoài Cho nên, muốn bánh xe bên ngoài ngừng, phải làm sao cho bánh xe bên trong dừng trước mới được”

Nhưng quí vị sẽ bảo là, “nhưng bánh xe tâm bên trong vẫn chuyển động vì chỉ trong nháy mắt là có muôn ngàn biến đổi, trong đó có trời xanh mây trắng, nước biếc non xanh… , cảnh vật của tương đối không thể nào đếm xuể, thay đổi liền liền, có liên quan gì đến Tuyệt Đối đâu ?

Chúng ta lại phải tiếp tục nghiên cứu thêm

Trong Kinh KIM CANG có nói :-“Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến NHƯ LAI” (Tất cả cái có tướng đều không thật, nếu thấy đượccái không phải tướng của các tướng, tức thấy được NHƯ LAI) Vậy việc đầu tiên để xácđịnh “vũ trụ tuyệt đối”, phải tìm nó ở chỗ KHÔNG PHẢI TƯỚNG của các tướng nầy Hay nói khác đi, nó “ phải là BẢN THỂ của các tướng”, các tướng phải nương theo nó

để biến chuyển Phật học gọi đó là vật báu CHÂN NHƯ Mà Chân Như thì có hai thuộc tính quan trọng:-

Trang 17

1.- Làm chỗ gá nương (tùy duyên) cho muôn vật mà chẳng biến đổi (bất biến)

2.-Tuy nó chẳng biến đổi (bất biến) nhưng muôn vật nương tựa vào nó lại có thể biến đổi cho phù hợp với yêu cầu (tùy duyên)

Vũ Trụ Tuyệt Đối (= vũ trụ tri giác) cũng bắt buộc có hai thuộc tính là :- thường hằng không biến đổi (Chân) và có khả năng ở yên một chỗ mà sanh muôn vật (Như) Như vậy

nó không thể nào thuộc Vũ Trụ Vật Chất (= vũ trụ cảm giác ) nầy được, mà phải là Vũ Trụ Phi Vật Chất ("vũ trụ tri giác") mới có thể thỏa mãn hai tính chất nói trên

Quả thật, "vũ trụ tri giác" nầy là cảnh giới tuyệt đối, nó là nguồn gốc của vũ trụ vật chất hay tương đối hoặc cảm giác Ví dụ như cái trước là NƯỚC , cái sau là SÓNG vậy.Giới khoa học cũng từng bước đi vào lĩnh vực nầy Năm 1967, nhà khoa học lớn nước Nga, ông ANDREY DMITRIYEVICH SKAROV, cha đẻ của bom khinh khí, đã tuyên bố:-

“Ngoài vũ trụ vật chất, còn có vũ trụ phi vật chất Vũ trụ vật chất do vũ trụ phi vật chất sinh ra Vũ Trụ Phi Vật Chất là cái có trước, Vũ Trụ Vật Chất là cái có sau”

Ngày 20/3/1983, Tiến sĩ LÝ CHÍNH ĐẠO (Nobel vật lý) tuyên bố tại phi trường

NARITA (Nhật) :- “Mục tiêu của chúng ta hiện nay là đi tìm cho ra Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ (= vũ trụ tuyệt đối) Nếu phát hiện được nó là có thể giải thích được rất nhiều hiện tượng bí ẩn , lạ lùng…Giống như muốn trị được nạn lụt Hoàng Hà hay Trường Giang, không thể giải quyết ngay tại khu vực bị lụt, mà phải nương theo con sông, phăng tìm đến tận nơi phát nguyên là THANH HẢI , mới có thể xử lý vấn đề một cách trọn vẹn được”

Qua đó, chúng ta thấy chỗ hướng đến của khoa học có phần đồng qui với Phật học Tổng

Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ dĩ nhiên không phải là vật chất, nên mới thuộc về vũ trụ tuyệt đối được

Cảnh giới vô hạn thần diệu nầy, được các nhà khoa học mũi nhọn hiện đại xung kích nhất

đã khẳng định và nhất trí với Phật học.Song rất tiếc là họ chỉ mới hướng chứ chưa tới Baonhiêu nhà khoa học đã dùng mọi cách giải đáp, mong mỏi tiến vào, nhưng không có cách nào dãy dụa thoát ra khỏi ma lực của vũ trụ tương đối ( "vũ trụ cảm giác") Bởi lẽ, quí vị

ấy thăm dò, đo lường vũ trụ tuyệt đối bằng những phương tiện quan sát, thí nghiệm, tóm kết và suy diễn v.v… một loạt Pháp bảo của TRÍ PHÂN BIỆT nói trên Một khi có khởi tâm động niệm, vô hình trung đã rơi vào phạm vi giới hạn của "vũ trụ cảm giác" hay tương đối rồi.Chính vì thế, muốn có được một pháp “LÊN THÊM BƯỚC NỮA”mà còn ở trong cảnh giới tương đối nầy, thì quả là đành chịu bó tay !

Trở lại vấn đề, để đào sâu suy nghĩ thêm, nhà Phật gọi Vũ Trụ Tuyệt Đối là CHÂN NHƯ , mà CHÂN là vĩnh hằng (còn hoài) và không giả tạo,NHƯ là chẳng biến đổi khác, không có tướng sai biệt

Phật học cũng còn gọi vũ trụ tuyệt đối là THỰC TƯỚNG, hàm nghĩa là “TƯỚNG

THẬT SỰ” Nó có ba tính chất đặc

biệt:-1/-Thực tướng phải là Không Có Tướng (vô tướng) , nghĩa là không thuộc về dài, ngắn, vuông, tròn, xanh, vàng, đỏ, trắngv.v… Vì đã có tướng thì là Không Thực rồi (hư vọng), ngay thời gian mà biến đổi khác, rồi tiêu diệt mất

2/-VĨNH HẰNG, vì nó không tướng nên thường còn mãi mãi

3/-KHÔNG CÁI NÀO LÀ CHẲNG PHẢI TƯỚNG (vô bất tướng) :- muôn tượng sum la đều từ nó sinh ra

Trang 18

Nó đã không có tướng mà lại có thể sinh ra muôn vật, có thể sinh ra muôn vật mà lại không có tướng, nên gọi là “VÔ TƯỚNG, VÔ BẤT TƯỚNG”, cùng với gốc rễ tổng quát của vạn vật không mưu mà lại hợp.

Thêm nữa, vũ trụ tuyệt đối còn gọi là PHÁP THÂN, có nghĩa là bản thể của muôn pháp Tất cả các pháp (sự sự vật vật) trong vũ trụ đều do Pháp Thân nầy sinh ra Nói cách khác,

vũ trụ tuyệt đối là “MẸ” của vũ trụ tương đối hay "vũ trụ cảm giác" hoặc Vũ Trụ Vật Chất

Tương Đối Luận hướng ra muôn vật trong vũ trụ, còn Tuyệt Đối Luận hướng thẳng vào Tâm Linh

Quan điểm khoa học xưa cho rằng :“Vũ trụ vạn vật như một bộ máy lớn, có tác dụng quan

hệ với nhau , phối hợp mà hoạt động” Từ khi Lượng Tử Học (ngành nghiên cứu về các hạt) ra đời, đã cải chính quan điểm nầy, phủ định tự thể của vũ trụ vạn vật, họ cho rằng :-

“Không gian trong, không gian ngoài, bao gồm trái đất, vạn hữu đều do tác dụng vận động(tác động) của năng lực Muôn vật đều không có thực thể tồn tại, chỉ do năng lực liên kết hay phân rã chúng mà thôi” Ở đây, chúng ta phải hiểu NĂNG LỰC và TRÍ LỰC là hai thành phần biểu hiện sức tác dụng của Tâm Linh Nói như trên có nghĩa cho rằng “Vũ Trụ

Trang 19

SỰ THẦN BÍ ẢO DIỆUCỦA VŨ TRỤ TUYỆT ĐỐI

*****

Vấn đề sau cùng cần đả thông là, việc chúng ta có cần chứng vào Vũ Trụ Tuyệt Đối ("vũ trụ tri giác") hay dừng lại trong Vũ Trụ Tương Đối ("vũ trụ cảm giác" ) mà tung hoành bay nhảy ; để xem coi sự lợi ích giữa hai bên khác nhau ra sao ?

Nếu chứng vào Vũ Trụ Tuyệt Đối, tức là khi chúng ta có cách nào đó, dãy dụa thoát khỏi

sự trói buộc quấy nhiễu của những VỌNG TƯỞNG TẠP NIỆM trong Tâm Linh của mình Lúc bấy giờ, chẳng những chúng ta có thể thực hiện tốt đẹp tất cả những giả thiết thần kỳ của vũ trụ tương đối , lại còn có thể hoàn thành mỹ mãn những mục tiêu công tác hết sức lớn lao mà sự tưởng tượng hiện nay của loài người cũng chưa đạt tới Đó là :-1/-Sống lâu chẳng già, chuyển già thành trẻ, mạnh khỏe thân tâm, biến xấu thành đẹp v.v…

2/-Chuyển chế rác rến, gạch ngói bể , nước thải … thành ra món ăn ngon miệng hay nước uống được …

3/-Chuyển chế sõi đá, nước thải công nghiệp …thành ra sắt, gang, thép, vàng, bạc, nguồn năng lượng cho máy móc …

4/-Biến cát vàng ở các Sa-Mạc hoặc nước biển …thành ra suối nước ngọt, món ăn ngon

và tơ lụa, vải vóc … (Xem Thần Kỳ Học của cùng tác giả)

Sở dĩ các nhà khoa học hiện đại dám đề ra những giả thiết thuộc loại thần thoại siêu cấp từtrước đến nay nầy là vì họ dựa trên một cơ sở lý luận có tính khả thi Đó là sự phát hiện

ra các HẠT CƠ BẢN cấu tạo thành nhân các nguyên tử vật chất, lại chỉ là MỘT THỨ, chỉ khác nhau ở số lượng và sự liên kết mà thôi Tuy thông qua về mặt lý luận, nhưng vấn

đề kỹ thuật mới là then chốt, còn phải chờ đợi những phát minh đột biến của cá nhà khoa học Mới đây, đài truyền hình thành phố Sydney đã phát trên kênh 7 một tiết mục “KHOAHỌC CỦA TƯƠNG LAI” , cũng có chiếu một số đề tài nêu trên Theo dự kiến, giữa hoặc cuối thế kỷ 21 là có thể trở thành hiện thực Các nhà khoa học, muôn muôn ngàn ngàn người hiện nay đang đem hết tinh thần, sức lực ra suy nghĩ, tính toán, đều rất hy vọng vào điều “CÁI KHÓ LÓ CÁI KHÔN” và cũng chỉ dừng lại ở sự mong mỏi mà thôi

Nếu quí vị hay ai đó chứng vào vũ trụ tuyệt đối được, tất yếu quí vị có đủ khả năng to lớn, mạnh mẽ để hoàn thành những công tác thần thoại nói trên Điều nầy, không phải chỉ

là phỏng đoán, mà dựa trên cơ sở khoa học cụ thể Sau X-QUANG , nhà khoa học lại pháthiện trong vũ trụ có một thứ quang năng tên là “TIA PHÓNG XẠ VŨ TRỤ” (Cosmic Radiation) Nó có năng lực thần kỳ, vô cùng to lớn và mạnh mẽ đến độ có thể biến đổi được tính chất và khối lượng của muôn vật Nghĩa là có thể biến vật A thành vật B, vật B thành vật C v.v…Nhưng nó vô hình như u linh, những dụng cụ tinh xảo nhất hiện nay cũng không thể nào nắm bắt được nó Quang năng nầy còn có tên khác là “CHÂN

Trang 20

QUANG” hay “TUYỆT ĐỐI QUANG” , hay nói khác đi, là ánh sáng của Chân Như ( chân như quang) Cho nên, nếu bất cứ ai có thể chứng được chân như , thì chẳng cần thiết đến dụng cụ hiện đại nào của khoa học, cũng đều tự do sử dụng nó tùy theo ý

muốn.Việc thực hiện những việc thần thoại kể trên thật vô cùng nhẹ nhàng và đơn giản.Nếu Tâm Linh chúng ta chỉ dừng lại mãi ở cảnh giới tương đối, ta không thể nào thoát ra được những “ Ý NIỆM MANG TÍNH XE LỬA” đã nói ở phần trước, do đó việc mưu cầuđược PHÓNG XẠ VŨ TRỤ , chẳng khác gì “leo cây bắt cá” (duyên mộc cầu ngư)

Chân Như, tức là chân lý đã hiện ra trong tâm và mắt của Tiến sĩ Lý Chính Đạo Nó cũng chính là Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ , chẳng phải ở trên nóc nhà của Ngọc Hoàng Thượng Đế hay ở dưới cung điện thâm sâu của Long Vương

Muốn chứng vào Chân Như, theo chỗ chúng tôi biết, hiện nay giới khoa học còn chưa có năng lực đạt đến, chỉ có Đức Thích Ca Như Lai mới có phương pháp kỳ diệu nầy

Dựa theo lý mà nói, bốn chúng Phật tử khi đã thấm nhuần giáo lý của Phật dạy, thì ai nấy cũng đã là bậc siêu nhân rồi Tuy nhiên, chỗ khuyết điểm đáng buồn là do vì giáo pháp của Ngài, truyền dạy quá lâu đời thành thử mất đi cái chân chính, lại bị những giáo lý kémcỏi của ngoại đạo xen vào một cách hỗn thành, lai tạp, biến đổi CHÁNH PHÁP PHẬT GIÁO rất nhiều Những thứ ấy ngập tràn trong nhà Phật, tương tự cảnh giấy bạc giả ngăn che giấy bạc thật, rừng cỏ dại lấn che mất cây lúa vàng vậy Chính vì thế, muôn muôn ngàn ngàn Phật tử tu hành tu hành thời nay hết sức vất vả, cực khổ mà rốt cuộc rồi cũng chẳng được gì !!!

Điểm hết sức giống nhau giữa việc đệ tử Phật muốn chứng vào Chân Như và các nhà khoahọc muốn mở tung “Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ ” là, cả hai đều cảm thấy bàng hoàng ngơ ngẩn Bởi vì, dù có nhảy nhót khắp nơi, bay bổng khắp chốn, mà kết quả vẫn không thể nào vượt ra khỏi 5 ngón tay : “SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC” (ngũ ấm

= ngũ uẩn) Họ cũng tương tự cảnh “muốn giũ áo cho sạch bụi mà lại đứng giũ ở trong đám bụi mù”, làm sao cho sạch được ? Vì tất cả chẳng biết đối phó với những thứ vọng tưởng tạp niệm, tự ngôn tự ngữ mà “CẮT CHẲNG ĐỨT, GỠ CÀNG THÊM RỐI” nầy bằng cách nào, để tiêu trừ chúng cho được ???

Trang 21

DIỆU PHÁP GIẢI THOÁTTIẾN VÀO VŨ TRỤ TUYỆT ĐỐI

*****

Đến đây, chúng tôi xin được phép giới thiệu một diệu pháp đặc biệt , để giúp quí vị thoát

ra khỏi vũ trụ tương đối (“vũ trụ cảm giác” ), hầu chứng vào vũ trụ tuyệt đối , giải trừ tất

cả khốn khổ và tai nạn cho chúng sanh

Diệu Pháp đó như thế nào, mà có thể giúp chúng ta có được Trí năng và Lực năng một cách không gì sánh kịp, mà tùy ý mình muốn vận dụng lúc nào cũng được ?

Vũ Trụ Tuyệt Đối (vũ trụ tri giác) vốn sẵn có trong Tâm Linh, nhưng do vì vọng tưởng tạp niệm ngăn bít, che lấp đi Phương pháp duy nhất là phải tiêu diệt sạch sẻ những vọng tưởng tạp niệm (tự ngôn tự ngữ) trong Tâm Linh, khiến cho cái tâm điên đảo (cuồng tâm)phải dừng bặt Dĩ nhiên, phương pháp hay nhất là :-“thu hút trọn vẹn tất cả những vọng tưởng tạp niệm trong Tâm Linh , sau đó, từng bước tiêu diệt nó.” Những pháp trước đây, chỉ dùng cách quét trừ tạp niệm (tự ngôn tự ngữ) , phạm vào sai lầm về kỹ thuật nên

không có kết quả Quí vị có lẽ sẽ tự hỏi, pháp gì lạ quá, vọng tưởng tạp niệm đã không hình tướng , lại không biết vị trí chính xác, làm thế nào để thu hút chúng ?

Quả đúng thế ! Xưa nay, những vị hạ thủ công phu để tiêu diệt vọng tưởng tạp niệm đã không chịu đi sâu vào trong tâm, chỉ “TU TÂM Ở NGOÀI TÂM” , nên tu mấy mươi năm

mà chẳng được gì là phải rồi !

Bây giờ, chúng tôi giới thiệu phương pháp chính xác như

sauDiệu Pháp GIẢI THOÁT gồm có 2 bước

I.- BƯỚC MỘT :-Pháp NHIẾP NIỆM hay Pháp RỬA TÂM hoặc Pháp TIÊU NGHIỆP.II.- BƯỚC HAI :-Pháp HÓA NIỆM

BƯỚC IPHÁP NHIẾP NIỆM

Pháp NHIẾP NIỆM : “Nhiếp muôn niệm qui về một niệm”, tức là hấp thu hết tất cả nhữngVọng tưởng Tạp niệm trong Tâm làm thành một Niệm Nói cách khác, dùng một Niệm (câu A DI ĐÀ PHẬT), để nhiếp muôn niệm lại một chỗ (=làm thành Một Niệm)

CÁCH THỨC DỤNG CÔNG1.-Ngồi xếp bằng theo lối kiết già, bán già hoặc thường cũng được Người lớn tuổi

có thể ngồi trên ghế, hai chân buông thẳng cũng không trở ngại cho việc dụng công

Trang 22

2.-Đầu phải ngay, vai phải thẳng (thăng bằng), lưng phải thẳng đứng như tấm vách tường (không được khom hoặc ễnh) Lưng quần phải rộng rải Nếu có đồng hồ hay mắt kiếng, nên cởi cất đi để khỏi gây trở ngại cho thân tâm.

Tất cả, chỉ nhẹ nhàng, tự nhiên thoải mái, lấy việc ngồi lâu làm nguyên tắc

3.-Hai mắt nhắm lại (vừa khít thôi), vì “Nhắm mắt thấy tâm, mở mắt thấy

cảnh”.Nếu như mắt không nhắm, thì làm sao chúng ta phát hiện được hết những thứ Vọng tưởng tạp niệm nó đang nói cái gì, làm sao tiêu diệt chúng !? Trong nhà Phật có lưu

truyền câu : ”Mở mắt dễ tán loạn, nhắm mắt dễ hôn trầm” Do đó, khi dụng công họ

không nhắm mắt hết mà mở 1/3 mắt, để cho mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm Đây là giáo pháp sai lầm, nếu thấy cần ai cũng có thể làm thí nghiệm, nóng lạnh sẽ tự biết

4.-Không Quán tưởng (vì rơi vào không, sanh ra huyễn giác)

5.-Không NHỚ đến Phật và Bồ Tát (vì tâm khai là trong tâm lặng hết các duyên), nếu tâm còn đầy ắp niệm NHỚ PHẬT, thì làm sao rỗng lặng, làm sao gọi là “Khai” được

6.-Không lần chuỗi (vì gãi ngứa ngoài giày= lìa tâm mà tu)

7.-Trong tâm Mặc Niệm (niệm không thành tiếng) 4 chữ A DI ĐÀ PHẬT hay 6 chữNAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT cũng được (nếu 4 chữ thì tốt hơn vì đó thuộc về kỹ thuật) không gấp không huởn, mỗi tiếng khỏang một giây đồng hồ Đây là dùng câu Phật hiệu đểthay thế cho Vọng tưởng Tạp niệm, khiến chúng không thể nào quấy rối, hầu gom muôn câu về một câu (=muôn niệm về 1 niệm)

Tại sao, mặc niệm lại cần mỗi tiếng niệm khỏang một giây ? Nếu tốc độ niệm

nhanh, sức hấp thu sẽ yếu không thể hấp thu toàn bộ những tàn tích Vọng tưởng tạp niệm (tâm ngữ) còn nằm sâu trong tâm Còn niệm chậm quá, thì Vọng tưởng Tạp niệm dễ xen vào

8.-Một mặt vừa Mặc Niệm, một mặt vừa tập trung sự Chú Ý (Kiến phần) dùng con mắt tâm (tâm nhãn) quan sát kỹ trong thân (tâm) không bao lâu (khoảng 1 hoặc 3 ngày, tùy người), hành giả sẽ phát hiện được “ĐIỂM NIỆM PHẬT” (chỗ phát ra câu

niệm=tướng phần) Lúc bấy giờ hành giả phải như mèo rình chuột, CHÚ Ý nhìn thẳng luôn luôn vào ĐIỂM NIỆM PHẬT cho thật kỹ lưỡng, không được sơ xuất, lơ là hay giánđoạn Lẽ dĩ nhiên, hành giả không được dừng câu Niệm Phật (Mặc Niệm)

Nếu như trong khi vừa Mặc Niệm vừa Chú Ý, vừa Chú Ý vừa Mặc Niệm, mà thấy

có Vọng tưởng Tạp Niệm (=suy nghĩ nầy nọ) xẹt ra xẹt vào, hành giả chỉ cần Chú Ý mạnhhơn một tí, rồi một tí nữa… cho vừa đủ kín, thì Vọng tưởng Tạp niệm sẽ không còn có kẻ

hở để xẹt ra xẹt vào nữa (Nhớ đừng chú ý mạnh quá, sau khi dụng công sẽ bị nặng đầu, cáikhéo của hành giả nằm tại chỗ nầy), thì ngang đây hành giả được cái gọi là “NHẤT TÂM BẤT LOẠN” rồi vậy./

*Trường hợp không phát hiện được “Điểm niệm Phật” là vì công phu chưa sâu, hoặc sức chú ý còn yếu Cứ tiếp tục dụng công, thời gian sau, nước tâm lóng trong sẽ nhận thấy nó.Cần chú ý, lúc mới dụng công, tạp niệm như gió dữ mưa cuồng, trong tâm dày đặc mây

mù che phủ Song qua thời gian, niệm Phật liên tục, sẽ tẩy rửa bớt dần Tạp niệm Trung bình chỉ hơn tháng sau, tạp niệm chỉ còn như làn khói nhẹ hay đám mây mỏng; hơi hiện rachút ánh sáng Khi đó tâm linh đã bắt đầu mở sáng rồi đó

* GHI CHÚ

:-*** Không thể thấy ĐIỂM NIỆM PHẬT như 1 vật có hình tướng được, mà phải thấy nó như thấy niệm Tham hay niệm Sân khởi lên vậy./

Trang 23

*Lúc đầu, thời gian dụng công một lần không quá 30 phút, tổng số thời gian dụng công một ngày không ít hơn 2 giờ đồng hồ nhưng không quá 3 giờ

PHÁP RỬA TÂM(Tẩy tâm pháp)

Như trên đã có nói, Pháp NHIẾP NIỆM cũng là Pháp RỬA TÂM (Tẩy Tâm Pháp) Đối với khoa học ngày nay, những cơ quan hay bộ phận nào trong thân thể, kể cả trái tim

và mạch máu, cũng đều có thể tẩy rữa hoặc dùng sức thuốc khai thông được hết Song, Tâm Linh bị nhiễm ô, thì chưa có dụng cụ y khoa nào có thể tẫy rửa cho sạch được Bởi

vì, nó thuộc về không gian bậc khác, nên chỉ có “TẨY TÂM PHÁP” dùng lấy câu Phật hiệu của Đức PHẬT A DI ĐÀ để tẩy rửa, thì mức độ ô nhiễm của tâm sẽ dần dần phai nhạt, do đó tâm sẽ được KHINH AN (nhẹ nhàng an ổn) được “Ý giải tâm khai” (tâm được

mở ra, ý được cởi trói)

PHÁP TIÊU NGHIỆP

Pháp NHIẾP NIỆM cũng là Pháp TIÊU NGHIỆP Nghiệp là “cái mà lớn cũng không ngoài, nhỏ cũng không trong” Nếu Nghiệp mà có hình tướng vật chất, thì một con người từ vô thỉ nhẫn nay, đã tạo tác ra Nghiệp, dầu Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới cũng không có đủ chỗ chứa ! Nghiệp chi phối chúng ta trong một đời hay nhiều đời về họa phước, thọ yễu, vinh thông, được mất v.v… Nhưng nó cũng không phải là cái không thể hiểu biết Nếu chúng ta nhắm hai mắt lại, dùng con mắt tâm (tâm nhãn) quan sát trong thân (tâm), thì sẽ thấy đủ thứ hết, như : sơn hà đại địa, mặt trời, trăng sao, đá banh, đua thuyền, có cười có khóc, có nói năng, có nghĩ nầy nghĩ nọ, thì thì thầm thầm rối rối rít rít suốt cả ngày đêm không chịu ngừng nghỉ, thì nên biết, đó chính là

HOẶC+NGHIỆP+KHỔ Tất cả cũng đều từ VỌNG TƯỞNG TẠP NIỆM chuyển hóa, tạotác ra mà thành

Hoặc+Nghiệp+Khổ tuy ba mà một, tuy một mà tạo thành ba Cho nên, muốn tiêu diệt NGHIỆP, chúng ta phải dùng Pháp NHIẾP NIỆM hay Pháp TIÊU NGHIỆP, để hạ thủ công phu, thì Nghiệp (=vọng tưởng Tạp niệm) sẽ tiêu dần cho đến lúc hết sạch./

THỜI GIAN VÀ CHỖ NƠI DỤNG CÔNG

Trị bệnh của Tâm và trị bệnh của Thân tuy có khác nhau về phương pháp, nhưng lạigiống nhau về nguyên lý :

THUỐC ĐÚNG BỆNH + DÙNG ĐỦ LƯỢNG + THỜI GIAN

Trang 24

-Tu hành là để “TRỊ TÂM BỆNH” chỉ cần có chỗ nào hơi yên là tốt, giờ nào rỗi rảnh là giờ tốt Do đó, nơi văn phòng làm việc hoặc trên xe, hay trên tàu… hành giả đều

có thể dụng công, mà chẳng cần phải lưu ý tới phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc hay giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu gì cả

-Người mới tập, mỗi lần dụng công không nên quá 30 phút Nhưng mỗi ngày đêm (24giờ) dụng công không được ít hơn 2 giờ và không được quá 3 tiếng đồng hồ Quan trọng là sự đều đặn, thường xuyên hằng ngày, đừng nên bửa có bửa không Giả sử, có hômnào kẹt quá, cũng ráng cố gắng cho được MỘT GIỜ

Ngoài ra, hành giả cũng nên lưu ý đến phản ứng của Thân và Tâm./

Lại nữa, hành giả ngồi trên bồ đoàn nghiêng qua ngã lại như lên đồng, đừng sợ hãi

gì cả Hãy cố kềm lại, nếu không kềm được, hãy để mặc nó dao động vài hôm sẽ tự động hết Đây là phản ứng của Thân, được gọi là Bản Năng Hoạt Động Người mắc bệnh nan y,nhờ Bản Năng Hoạt Động nầy mà hết bệnh, khỏi cần thuốc thang gì cả !

b)- Phản ứng của Tâm : gồm có 2 thứ : Thác giác và Huyễn giác

(Xin xem 2 bài : Thác giác và Huyễn giác đính kèm Pháp tu sẽ rõ)

2.-Sau bửa ăn một tiếng đồng hồ, hành giả mới được dụng công

*Điều quan trọng là, người dụng công phải nhớ câu

sau:-“KHÔNG GẤP, KHÔNG HƯỞN, CÓ LÀM CÓ NGHỈ, BÁM CHẶT KHÔNG BỎ DỠ”

BƯỚC IIPHÁP HÓA NIỆM

Sau khi tu tập BƯỚC 1 : PHÁP NHIẾP NIỆM thuần thục, hành giả đạt được

NHẤT TÂM BẤT LOẠN”(=Chánh Định), sẽ thấy trong tâm chỉ còn có MỘT NIỆM duy nhứt là câu A DI ĐÀ PHẬT, chớ không còn có môt niệm nào xẹt ra xẹt vô nữa Thế là, hành giả đã gom được muôn niệm làm thành MỘT NIỆM Nhưng, khi hành giả ngừng Mặc Niệm bỏ rơi chỗ níu giữ, thì muôn niệm lại tiếp tục nổi lên Do đó, Tâm Linh rơi vào

“ trạng thái giữa Muôn Niệm và Một Niệm”, giao xen lẫn nhau, khó mà tiến sang trạng thái “VÔ NIỆM” được Và đây là lý do tại sao, chúng ta cần phải dùng Pháp NHIẾP NIỆM”, để “Nhiếp muôn Niệm làm thành Một Niệm”, rồi dùng “Pháp HÓA NIỆM”, để

“hóa giải” Một Niệm (tướng nhứt niệm) để cho Tâm Linh được VÔ NIỆM (=Cảnh giới

Vô Niệm)

Tâm Linh Vô Niệm hay Cảnh giới Vô Niệm tức là Chơn Tâm, Phật Tánh, Pháp Thân, Chân Như, Pháp Giới Tánh, Vô Sư Trí, Bản Lai Diện Mục hoặc Phật Trí Kiến v.v…đã hiện bày

Có một số người hiểu lầm rằng, chỉ có thể NIẾT-BÀN sau khi chết Kẻ phàm phu tục tử (người tầm thường) khi chết, chỉ là kết thúc sinh hoạt của thân, chứ tâm linh của họ vẫn

Trang 25

còn vọng tưởng tạp niệm rối ren, không có cách nào thoát khỏi sự ràng buộc của chúng, nghĩa là chúng không thể mất theo thân được.

Tạp niệm (vọng tưởng) chính là Nghiệp Lực, là Vô Minh, là động cơ dẫ chúng ta vào vòng luân hồi, biển khổ sanh tử mênh mông Còn Nghiệp Lực là còn đi đầu thai vì mình không thể hoàn toàn làm chủ mình được, nó lôi kéo mình tiến vào tử cung của một bà mẹ mới , sau gần 10 tháng, lìa khỏi bụng mẹ để bắt đầu sinh mệnh của giai đoạn kế tiếp

Nhân đây, trước khi đi vào Pháp Hóa Niệm, chúng ta cũng cần nên mỗ xẻ thật kỹ lưỡng vấn đề tạp niệm (tức Nghiệp) cho thật sáng tỏ để quí vị không còn thắc mắc hay nghi ngờ.-Có số người đặt vấn đề :-“Những tạp niệm đã có từ lâu trong tâm linh, đâu thấy có tai hại

gì, so với những tế bào gây bệnh ung thư trong thân thể làm thân phải chết không cứu vãn được, cái nào nghiêm trọng hơn ?”

Đối với người bình thường, TÂM LINH có vọng tưởng tạp niệm quả là không đáng lưu ý,

vì nó đã có mặt từ lúc lọt lòng mẹ đến nay, chưa từng gián đoạn, vẫn chưa thấy nó gây tai họa gì Còn nếu chẳng may trong thân có những tế bào ung thư , bản thân và cả gia đình người đó đều buồn rầu, sợ hãi, than khóc Sở dĩ có cảnh đó là vì con người đã bị những

“THÁC GIÁC” (hiểu biết sai lầm) tạo nên từ khi mới sanh, không phân biệt đúng đắn cái nào thiệt, cái nào giả, nặng nhẹ lộn lạo nhau Thưc ra, cái TA chân chính là TÂM LINH

mà con mắt thịt không nhìn thấy được Còn tấm thân vật chất nầy chỉ là “CÔNG CỤ CỦATA” mà mắt thịt dễ thấy Trong thời gian khoảng 200 năm, mỗi con người có được ít nhất

là ba cái thân Dù thân to nhỏ, lớn bé như thế nào, đem so với cả dòng sinh mệnh, thì có thể nói nó chỉ là giọt nước bé tí xíu trong biển cả mênh mông, không có gì đáng kể

Ở đây, chúng ta không thể chỉ vài ba câu, mà đủ sức phá tan đám mây mê mờ nầy của loài người, vì gốc rễ thác giác nầy quá sâu dày, bám chắc Vô Minh, khó lòng tỉnh

ngộ.Nhưng trong thiên hạ, không hiếm gì những việc lạ thường, giúp cho những người chết đi sống lại, có kinh nghiệm Thân Chứng về cái chết, hiểu rõ đoạn đạo lý nầy

Nếu quí vị muốn biết rõ và kỹ hơn, xin vui lòng xem quyển “LIFE AFTER LIFE” (Đời sống sau cái chết) của DR RAYMOND AMOODY, qua sự đúc kết hết sức khách quan vàkhoa học trong quyển sách nầy, quí vị sẽ có đủ tư liệu để xác minh

Mấy hôm trước đây, có một thanh niên đầu óc tỉnh táo nói với tôi:- “Rất nhiều người hết sức mơ hồ về bản thân mình” Cùng với câu nói nầy, mấy năm trước tại Hội Phật Học Trung Hoa ở thành phố SYDNEY , tôi cũng đã có nghe một thanh niên khác bảo :- “Phật giáo nhất định có những pháp tu rất tốt, nhưng đã bị thất truyền Đâu phải cứu cánh chỉ có bằng từng nầy!!!” Đủ thấy là “hậu sinh khả úy” rồi

Đứng ở thời điểm hiện tại mà nhìn, một cái thân đang bị bệnh NAN Y thì quả là “đại bất hạnh” Nhưng nếu nhìn suốt cả dòng sinh mệnh từ vô thỉ nhẫn nay, nó chẳng có gì đáng bận tâm Hơn nữa, “CÁI QUẢ bệnh nan y của thân, cũng là do CÁI NHÂN bệnh của tâmtạo nên mới phát tác ra, đâu phải tự nhiên mà thân mắc bệnh” Nếu như TÂM LINH trong lặng (thanh tịnh) mạnh khỏe, hết sạch các thứ vọng tưởng tạp niệm quấy nhiễu, thì

dù thân có bị tác động lây nhiễm các thứ bệnh từ bên ngoài, vẫn có thể dùng thuốc chữa trịlành mạnh được, không thể gọi là NAN Y

Vọng tưởng tạp niệm là loài kiến bò trong TÂM LINH , thực sự nguy hiểm gaa61p vạn lần toàn thân bị kiến bu cắn Nhưng thử hỏi có mấy ai tỉnh ngộ được điều nầy ?

Nay muốn trừ sạch những con kiến bò trong TÂM LINH nầy, dù chỉ còn một con, chúng

ta cũng phải dùng đến Pháp Hóa Niệm để tiêu trừ cho sạch sẻ mới được

Tâm Linh hay Phật Tánh giống như tròng con mắt của chúng ta, nó không chấp nhận những gì trong đó, dù hạt cát hay mạt vàng rơi vào vẫn xốn không thể chịu được Do

Trang 26

đó, câu mặc niệm “A DI ĐÀ PHẬT” tuy là Niệm Chánh(Chánh Niệm) rất tôn quí, nhưng nếu không chịu bỏ đi, thì chúng ta không thể nào nhận ra (=thấy) hay giáp mặt với

“CHÂN NHƯ” hay “CHƠN TÂM” (Cảnh giới Vô Niệm) được

Để làm cho được cái công việc nầy, hành giả phải “ý thức” (hiểu biết) thẩm sâu hai công cụ hết sức quan trọng sau đây :

A.- Ý thức (=hiểu biết, thể hội) sâu về “KHU XÁC QUAN NIỆM” hay “QUAN NIỆM

VỀ THÂN XÁC”, (QNVTX ) mà trước đây gọi là “THÂN CHÍNH GIÁC”(Có nghĩa là thể hội hay Giác ngộ thâm sâu về cái Thân tứ đại vật chất máu mũ của chúng ta)

B.- Ý thức về vấn đề “Phát khởi KỲ TÌNH”

A.- QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC

(Khu xác quan niệm )

Ý thức về “KHU XÁC QUAN NIỆM” hoặc “QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC” là sự hiểu biết như thực về cái thân bảy thước của chúng ta : nó ròng là vật chất, do đất nước gió lửa

tổ hợp hình thành, nên bị định luật Đại Tự Nhiên chi phối mà có : Sanh, Già, Bệnh và Chết Nó là pháp sanh diệt (vô thường) và bất tịnh… Nó không phải là TA, mà tạm nói làCÁI CỦA TA, ví như cái áo, chiếc xe hoặc cái nhà để cho chúng ta xử dụng trong một thời gian nào đó mà thôi !? Quán chiếu thẫm sâu cái thân vật chất nầy, chúng ta sẽ nắm bắt được QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC gồm có 3 đặc điểm như sau :

1.- Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy không thể nào “phát khởi” ra câu “NIỆM PHẬT” (A DI ĐÀ PHẬT) được ?

2.- Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy không thể nào “tạo”ra câu NIỆM PHẬT (A

“PHÁT KHỞI KỲ TÌNH” và cũng là một “thứ thuốc thần diệu” dùng để chữa trị bệnh

“VỌNG TƯỞNG” của tâm (=Diệt Vọng tưởng, Hiện Chân Như) không thể nghĩ bàn !!!

B.- PHÁT KHỞI KỲ TÌNH

KỲ TÌNH, trước kia trong Thiền Tông gọi là“NGHI TÌNH”, nay được minh định lại cho thích hợp và rõ nghĩa hơn Kỳ Tình là một thứ “Cảm Giác Thú Vị” được sanh ra, khi hànhgiả thấy “ĐIỂM NIỆM PHẬT” (câu A DI ĐÀ PHẬT) hoặc phát hiện những thứ Tự Ngôn

Tự Ngữ (nghĩ bậy tưởng bạ=Vọng tưởng Tạp niệm) tại sao lại có mặt được ở trong một cái thân xác ròng vật chất máu mũ như thế nầy chứ ? Bởi lẽ, cái thân vật chất máu mũ nầy:

a)-đâu có phát khởi được câu Niệm Phật (A DI ĐÀ PHẬT)?

b)-đâu có tạo ra được câu Niệm Phật (hay Tự Ngôn Tự Ngữ)?

Trang 27

c)-tuyệt đối tĩnh chỉ (im lặng 100%) như Gỗ chạm, Đất nặn thì làm sao có được câu Niệm Phật (A DI ĐÀ PHẬT) ở trong đó !!??.

Cái đáng lẽ không thể có, thế mà giờ đây lại có sờ sờ ra đó, như thế là sao ? Có lạ lùng lắm không ? Lạ lùng thật ! Có kỳ dị lắm không ? Kỳ quái thật ! Có thần bí và khó hiểu không ? ??

Thí như, một cái tủ mới mua về, cứ khoảng 10 hoặc 15 phút ở trong đó vang ra tiếng “kẹt”, tìm hiểu cũng chẳng biết lý do Thử hỏi, lúc bấy giờ, chúng ta cảm thấy thế nào ? Có phải chăng, thấy lạ lùng, kỳ bí, quái dị và không sao hiểu nổi… ???

Trong khi lâm vào trạng thái mờ mịt chẳng hiểu tại sao lại có cái việc lạ lùng và kỳ quái như thế, hành giả cố tìm hiểu xem coi “nó từ đâu đến”, và rồi “nó sẽ đi về dâu” ? Trong khi tìm hiểu và tham cứu như vậy, bỗng nhiên hành giả thấy cái thân bị lay động một tí, đồng thời “cảm thấy lạ lùng thú vị”,“thanh lương an lạc”, thì nên biết rằng :

a)- Mình đã phát khởi Kỳ Tình thành công

b)- Tướng NHỨT NIỆM (câu A DI ĐÁ PHẬT) đã bị hóa giải, dừng bặt, để hành giả được VÔ NIỆM vậy !

*GHI CHÚ : Đem những thứ “nghĩ bậy tưởng bạ” (ý niệm) lăng xăng lộn xộn chuyển ra thành những thứ “Tự Ngôn Tự Ngữ”, phá bỏ ý (niệm) đó là do ta suy nghĩ mới có./

CÁCH THỨC DỤNG CÔNG

Pháp HÓA NIỆM có hai cách thức, để hạ thủ công phu :

A.-CÁCH THỨ NHỨT : [Hóa MỘT NIỆM để được VÔ NIỆM]

Trước đây, hành giả tu tập Pháp NHIẾP NIỆM được NHẤT TÂM BÁT LOẠN, tức

là được Tướng Nhứt Niệm (MỘT NIỆM) rồi Giờ đây, hành giả tu thêm Pháp HÓA

NIỆM, để hoá(giải) MỘT NIỆM hay Tướng Nhứt Niệm, hầu được VÔ NIỆM Như vậy, hành giả phải tu Pháp NHIẾP NIỆM và Pháp HOÁ NIỆM cùng một lúc

-Pháp NHIẾP NIỆM + Pháp HOÁ NIỆM = VÔ NIỆM

MẶC NIỆM + CHÚ Ý + QNVTX + KỲ TÌNH = VÔ NIỆM

Hành giả dụng công như sau :

-Vừa Mặc Niệm vừa Chú Ý, Vừa Chú Ý vừa Mặc Niệm Khi thấy được Nhất Tâm Bất Loạn rồi, hành giả mới “liên tưởng”(nhớ) đến QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC

(QNVTX) hay KHU XÁC QUAN NIỆM gồm có 3 đặc điểm :

1.-Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy không thể nào “phát khởi” được câu NIỆM PHẬT (A DI ĐÀ PHẬT) ?

2.-Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy không thể nào “tạo ra” được câu NIỆM PHẬT (A DI ĐÀ PHẬT) ?

3.-Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy TUYỆT ĐỐI IM LẶNG (tĩnh chĩ) 100%, chẳngkhác gì Gỗ chạm, Đất nặn, thì không thể nào có được “câu Niệm Phật” ở trong đó ? Nhưng…?

Nhưng, lạ thật ! Cái không thể có được, mà có ? Như vậy, có quái dị và lạ đời không ? Lạ lùng thật ! Đáo để, nó là cái gì !??? (kéo dài chữ gì …ra một tí và nhớ khôngđược trả lời) Kỳ quái thật ! Nó (câu Mặc Niệm) từ đâu tới ? Ai mời mà tới ? Không mời sao tới ? Tới bằng cách nào ? Không đuổi sao đi ? Đi về đâu ? Cứu tận nó là cái gì !??? Kỳ

dị quá ! Rốt ráo nó là cái gì ? Lạ thật ! Kỳ bí quá! Bí mật quá ! Cứu cánh, nó là cái

gì !???

Trang 28

Dụng công như vậy, hành giả có 4 công việc phải làm : Một là Mặc Niệm Hai là Chú Ý Ba là Liên tưởng đến Khu Xác Quan Niệm hoặc Quan Niệm Về Thân Xác Bốn làđặc câu hỏi để phát khởi Kỳ Tình, nên chẳng khác gì trẻ em mới tập cưỡi xe đạp vậy Hễ

lo tay bên nây, thì quên tay bên kia Lo đạp cẳng bên nây, thì quên cẳng bên kia hoặc quên tay bên nọ… nhưng cuối cùng người tập vẫn cưỡi được xe đạp như thường !

Chính vì thế cho nên, hành giả phải kiên nhẫn hạ thủ công phu cho thật thuần thục,

để phát khởi cho được KỲ TÌNH Khi Kỳ Tình phát sinh, hành gia sẽ thấy cái thân hơi dao động (lắc nhẹ) một tí, rồi tự động ngưng Mặc Niệm, nhưng sự CHÚ Ý (Tri giác) vẫn còn đó, nên thấy thân tâm nhất như hoà đồng cùng Hư Không và “cãm thấy thú vị” khó

mà diễn tả cho được Thế là, hành giả đã phát khởi được Kỳ Tình và hóa giải được

TƯỚNG NHỨT NIỆM (câu A DI ĐÀ PHẬT), được VÔ NIỆM rồi vậy ! Bời vì, lúc bấy giờ hành giả đâu có thấy một niệm nào khởi lên nữa và rơi vào trạng thái : “TỉNH TỉNH LẶNG LẶNG, LẶNG LẶNG TỈNH TỈNH”(tức là Cảnh Giới Vô Niệm) Hành giả nên giữ vững trạng thái nầy càng lâu càng tốt, vì chỉ trong giây phút sau, Vọng tưởng Tạp Niệm lại lò mó kéo đến phủ che và vùi lấp Tâm Linh (Chơn Tâm) trở lại như cũ

Lần đầu tiên, hành giả được VÔ NIỆM dù chỉ trong giây phút thôi, nhưng có thể nói hành giả đa vượt qua được ĐẦU SÀO TRĂM TRƯỢNG hay là đã mở được CÁNH CỬA GIẢI THOÁT rồi đó Bởi vì, hành giả đã giáp mặt được “CẢNH GIỚI VÔ NIỆM” hay tiếp cận được với cái BẢN LAI DIỆN MỤC của chính mình ! Do đó, hành giả lại tiếp tục dụng công như trước, để cho Tâm Linh được VÔ NIỆM từng điểm, rồi thành tuyến, mặt phẳng và sau cùng là thành khối VÔ NIỆM Chỗ nầy, trong Kinh Pháp Hoa gọilà: “NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN” Hành giả nên thận trọng !

***************

GHI CHÚ :

1.-VÔ NIỆM : Cảnh giới Vô Niệm hay Tâm Thể Vô Niệm tức là trạng thái của tâm khi Tỉnh Tỉnh Lặng Lặng, Lặng Lặng Tỉnh Tỉnh hoặc Rỗng Rang Tịch Tỉnh Vắng Lặng và Liễu Liễu Thường Tri

2.-Khi đặt câu hỏi để phát khởi kỳ tình, hành giả nhớ không được trả lời là Tâm hay gì gì

đó, là hỏng bét về phần kỹ thuật

3.-Khi hoá giải được TƯỚNG NHỨT NIỆM đạt được Cảnh Giới Vô Niệm, thì tất cả phương pháp đều phải ngưng xử dụng, để tâm tự yên nghỉ, cho đến khi nào có tái khởi niệm mới dùng các pháp trên đối trị cho được yên ổn rồi thôi./

B.-CÁCH THỨ HAI : [Hoá Vọng-Niệm để được VÔ NIỆM]

Sau khi hoá giải TƯỚNG NHỨT NIỆM được VÔ NIỆM rồi, hành giả tiếp tục dụngcông cho thật thuần thục Đợi đến khi nào được VÔ NIỆM từ 5 phút trở lên, mới chuyển sang tu theo Cách Thứ Hai như trình bày dưới đây :

-“Hành giả ngồi lên bồ đoàn không còn Mặc Niệm Phật hiệu nữa, mà dùng tâm nhãn quan sát kỹ trong thân xem coi có những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (=vọng tưởng Tạp niệm) hoặc có nghĩ bậy tưởng bạ gì không? Nếu quả thật, thấy không có gì cả, hành giả nên giữ vững trạng thái VÔ NIỆM (Tỉnh Tỉnh Lặng Lặng, Lặng Lặng Tỉnh Tỉnh) nầy càng lâu càng tốt Còn như ngược lại, thấy có đủ thứ hết, nào là có nói có cười, nghĩ nầy nghĩ nọ… hành gia liền bám sát theo dõi và Chú Ý (nhìn) ngay chúng một cách miên mật Đồng thời LIÊN TƯỞNG đến Quan Niệm Về Thân Xác gồm có 3 đặc điểm như đưới đây

và đặt câu hỏi phát khởi Kỳ Tình :

Trang 29

1.-Thân tứ đại nầy là vật chất do tứ đại làm thành.

2.-Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy, không thể nào tạo ra được những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ như thế nầy được

3.-Thân tứ đại vật chất máu mũ nầy, tuyệt đối im lặng (tĩnh chỉ)100%, chẳng khác gì Gỗ chạm Đất nặn, không thể nào có được những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ ở trong đó

Thế mà lạ thật ! (hành giả tiếp tục dặt câu hỏi để phát khởi Kỳ Tình như đã trình bày ở trên)…Khi Kỳ Tình phát sinh hành giả sẽ hoá giải những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ hay Vọng tưởng Tạp niệm một cách dễ dàng giống như nước sôi đổ trên băng vậy !

Khi được VÔ NIỆM, hành giả nhớ giữ gìn cảnh giới hay trạng thái nầy càng lâu chừng nào càng tốt chừng nấy Nếu như được VÔ NIỆM từ 5 phút trở lên, hành giả sẽ được như thực NGỘ ĐẠO hay KIẾN TÁNH Nói cách khác là “Giác Tự Tâm Hiện

Lượng” hoặc thấy được ĐẦU đường về NIẾT BÀN !!!

“DIỆT VỌNG TƯỞNG, HIỆN CHÂN NHƯ” bằng Pháp HOÁ NIỆM ( Cách thứ hai ) quả thật hết sức đơn giản và dễ thực hành Tuy nhiên, kinh nghiệm cho biết, khi gặp nghịch cảnh hoặc bị bức xúc trong lòng, thì Vọng tưởng Tạp niệm như sóng to gió lớn, lúc bấy giờ hành giả không thể nào hoá giải hay tiêu diệt nổi chúng Nếu như gặp phải trường hợp nầy, hành giả phải dùng CÁCH THỨ NHỨT, nghĩa là dùng 2 pháp : Pháp NHIẾP NIỆM và Pháp HOÁ NIỆM (Nhiếp muôn Niệm làm thành Một Niệm, rồi Hoa Một Niệm để dược VÔ NIỆM) mới có đủ khã năng hóa giải hoặc ngừng dứt chúng, để được tiếp cận, giáp mặt với Cảnh Giới VÔ NIỆM (Tỉnh TỉnhLặng Lặng, Lặng Lặng Tỉnh Tỉnh) hay VÔ SƯ TRÍ hoặc PHẬT TRI KIẾN…./

PHÁP HỌC TÂM THUYẾT THOẠI

(Nhại nói theo tâm)

Học Tâm Thuyết Thoại có nghĩa là “nhại nói theo Tâm” hoặc “nhại nói theo Vọng tưởng Tạp niệm” Muốn hạ thủ công phu bằng pháp nầy, hành giả cũng vẫn phải được trang bị đủ hai công cụ của GIẢI THOÁT PHÁP là : QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC hay KHU XÁC QUAN NIỆM và PHÁT KHỞI KỲ TÌNH

CÁCH THỨC DỤNG CÔNG

Khi ngồi trên bồ đoàn với ý thức thường trực Quan Niệm Về Thân Xác, hành giả dùng con mắt tâm (tâm nhãn) quan sát kỹ trong thân (tâm) xem coi có Vọng tưởng Tạp niệm hay có ý niệm gì khởi lên không Nếu phát hiện thấy có Vọng tưởng Tạp niệm hay những tiếng nói thì thì thầm thầm rối rối rít rít ở trong đó, thì phải Chú Ý, theo dõi và quan sát cho thật kỹ coi nó nói cái gì…

Thí như thấy nó nói : “Xuân tươi tuyết trắng” Hành giả nhại lại câu nói đó “Xuân tươi tuyết trắng” 3, 4 hoặc 5 lần y hệt như nó đã nói, không được thêm hay bớt chữ nào

Dĩ nhiên, hành giả nhại nói trong tâm, chớ không phải nhại nói bằng miệng

Nếu, nó mắng chữi người : “Thằng đó là đồ mất dạy” Hành giả cũng nhại lại :

“Thằng đó là đồ mất dạy” 3, 4 hoặc 5 lần y hệt như nó đã mắng chữi người không sai một chữ

Hễ nó có nói những gì, hành giả cứ y theo đó nhại lại 3, 4 hoặc 5 lần, đồng thời nhớ mạnh (khắc ghi) rằng, thân thể tứ đại vật chất nầy tuyệt đối tĩnh chỉ (im lặng 100%)… ( Nếu quên, xem lại ở phần trên), thì những thứ Tự Ngôn Tự Ngữ (=Vọng tưởng Tạp

Trang 30

niệm) mất trật tự trong thân (tâm) sẽ như sương tan khói biến, để cho cái BẢN LAI DIỆN MỤC hay CHƠN TÂM của hành giả hiện bày Thế là hành giả được MINH TÂM KIẾN TÁNH, việc lớn Sanh Tử có ngày dừng, thử hỏi có gì thú vị và cao quý cho bằng !!??.

:-“BẤT CỨ PHƯƠNG PHÁP NÀO CŨNG PHẢI BỎ KHÔNG DÙNG NỮA”

để TÂM LINH ngừng nghỉ tự nhiên Lúc ấy cũng đừng khởi tâm “mong muốn Vô Niệmdài lâu hơn” Nếu công phu chưa đủ sức, chỉ ít phút sau là tạp niệm tái khởi Quí vị cứ cố gắng dụng công thêm Cũng như cày cấy nhiều thì kết quả được mùa càng lớn vậy !

Thời gian tức TRÍ NĂNG, một phần cày cấy thì thu hoạch một phần Ai cũng biết:- “Dây kéo mãi gỗ phải đứt, nước chảy luôn, đá bị xuyên” (Thằng cứ mộc đoạn, thủy trích thạch xuyên)

Để dễ nhớ, chúng tôi tóm lại bằng công thức sau:

KIẾN PHẦN + TƯỚNG PHẦN + QUAN NIỆM VỀ THÂN XÁC = KỲ TÌNH(sức chú ý tự ngôn tự ngữ tuyệt đối im lặng thú cảm-tâm nhãn) (đểm niệm Phật)

n KỲ TÌNH + n THỜI GIAN  TÂM LINH CHÍNH THƯỜNG(điểm vô niệm) (cần thiết) (mở ra Tổng Cơ Quan Áo Bí Của Vũ Trụ )

Tóm lại, muốn mở “CÁNH CỬA GIẢI THOÁT” điều kiện tất yếu là phải có chiếc chìa khóa trong tay Người có ý chí xuất trần thời nay dù có thông minh đến đâu đi nữa, nếu không có chiếc chìa khóa trong tay, mà muốn mở “Cánh Cửa Giải Thoát” ngay trong kiếp nầy, thì có thể nói chẳng khác gì muốn đóng cây đinh vào Hư Không vậy !?

a)-Chưa như thực rõ biết và tin chắc về Khu Xác Quan Niệm

b)-Chưa phối hợp đồng bộ giữa Quan Niệm Về Thân Xác và câu Mặc Niệm hay Vọng tưởng Tạp niệm, nghĩa là không có niệm khởi (tướng phần) mà phát ra Kỳ Tình, thì

đó là Kỳ Tình giả hiệu, sức yếu Do đó, hành giả phải khuếch đại đồng bộ cả hai lên

Trang 31

3.-Có nhiều huynh đệ dụng công bằng Diệu Pháp GIẢI THOÁT, nhưng không đạt được kết quả tốt, bởi 2 lý do sau đây :

a)-Không có Thiện Tri Thức hướng dẫn Đọc trong sách thấy dễ, nhưng khi thực hành, thì làm không đúng như đã hướng dẫn

b.-Có Thiện Tri Thức đưa đường chỉ lối, mà không chịu thường xuyên gần gủi để thưa hỏi xem coi mình dụng công như vậy có đúng không ?

BIỂU GHI TIẾN ĐỘ LỢI ÍCH TRONG KHI DỤNG CÔNG

*****

+ Tháng thứ nhất: được khinh an (yên ổn nhẹ nhàng)

Mỗi ngày dụng công hai giờ và không quá ba giờ (cộng 60 – 80 giờ/tháng), mỗi lần khoảng 20 -30 phút Phải làm thường xuyên không gián đoạn

+ Tháng thứ hai trở đi: thấy được điểm niệm Phật, giảm bớt tạp niệm, tăng gia an lạc.Mỗi ngày dụng công hai đến ba giờ, chia nhiều lần, mỗi lần 30 đến 40 phút

+ Sau năm tháng: được tâm mở ra, ý được cởi trói (ý giải tâm khai), được vô niệm từng lúc (gọi là ngộ pháp vô sanh) Mỗi ngày cũng dụng công hai đến ba giờ, mỗi lần 40 đến 50 phút

+ Sau sáu tháng: vào đất thanh lương, thường sanh hỷ lạc

Mỗi ngày cũng dụng công đúng ba giờ, mỗi lần 50 đến 60 phút

+ Năm năm đến bảy năm: vô niệm vĩnh viễn tức tâm linh chính thường, được giải thoát lớn, chứng nhập Vũ Trụ Tuyệt Đối

Nên từ bỏ muôn duyên đời, chọn chỗ yên tĩnh tu hành

Mỗi ngày từ 6 - 8 giờ dụng công, mỗi lần tùy chọn

THÁNH NHÂN, được muôn vị Thần đến lễ lạy, sao còn lại sợ ma cỏ quỉ quái gì ? Chỉ có

ở môi trường LOẠN thì tà ma mới có chỗ xâm nhập Tâm nay đã định, tà ma thấy được đãlập tức cuốn vó chạy dài, nói chi đến việc quấy phá

Chúng ta hãy xem đoạn cố sự trong chương TIÊU DAO DU của Trang Tử sẽ hiểu rõ và tin chắc hơn :-

Trang 32

“Có một đạo nhân tu đắc tha tâm thông, biết được tư tưởng hiện tại của người đối diện, căn cứ vào đó mà luận đoán họa phước cho họ” DƯƠNG TỬ là học trò HỒ TỬ, đến trình thầy về nhân vật nầy Hồ Tử bảo cố mời vị đó đến gặp.

Lần đầu, đạo nhân nhìn Hồ Tử một lúc, ra ngoài bảo nhỏ Dương Tử:-“Thầy ông ba ngày nữa chết !” Dương Tử sợ hãi, vào khóc lóc với thầy, Hồ Tử bảo ráng mời vị ấy ngày mai đến xem lại Lần nầy, đạo nhân bảo : “Hôm qua tôi đoán sai, thầy ông phải tháng sau mới chết” Dương Tử vẫn rất lo sợ, trình thầy Hồ Tử bảo, cố gắng mời vị ấy lần chót xem sao

Và lần nầy, khi gặp mặt, Hồ Tử đang nhập định, đạo nhân quan sát cả giờ, không nói tiếngnào, lật đật bỏ chạy Hồ Tử bảo Dương Tử : “Ra bắt thằng ăn trộm lại” Nhưng hắn đã trốn biệt

Dương Tử thắc mắc :- “Tại sao vị ấy đã đoán trúng cả ngàn người, nay xem cho thầy lại trật vuột như thế ? Vì sao hắn bỏ chạy ?”

Hồ Tử cười :- “Không phải hắn đoán sai đâu, mà chỉ vì công phu hắn chỉ có từng đó Lần thứ nhất, trong tâm ta để hiện ravùng đất sình lầy bùn đọng, nên hắn đoán 3 ngày sẽ chết Lần thứ hai, trong tâm ta để hiện cảnh bầu trời u ám, mây đen vần vũ, nên hắn đoán chỉ sống một tháng Lần cuối cùng, ta điều tâm rỗng không như bầu trời sáng rỡ, không chút hình tướng Hắn xem mãi mà chẳng biết đó là cảnh giới gì, nên phải bỏ chạy mà thôi !”

Có tư tưởng sợ tà ma xâm nhập lúc TÂM LINH VÔ NIỆM , chỉ là sự tưởng tượng của kẻ ngoài cuộc, không có thân chứng Thi hào Tô Thức (Tô Đông Pha) đã diễn tả cảnh giới

vô niệm của TÂM LINH như

sau:-“Vô nhất vật trung, vô tận tạng,

Hữu hoa, hữu nguyệt, hữu lâu đài”

Tạm

dịch:-“Trong không một vật, chứa vô tận,

Trăng sáng, hoa thơm, lầu các đầy”

Tâm linh đầy ắp tạp niệm thì Thần rắn, Quỉ trâu… lúc nhúc xổng chuồng náo loạn Khi TÂM LINH vô niệm , dòng Trí Năng vô lượng chảy tới không ngớt TÂM LINH là một

“TIỂU VŨ TRỤ”, nếu không sáng thì phải tối Cứ bớt tối một phần thì sáng thêm một phần; bóng tối diệt mất, trọn vũ trụ tỏa ánh sáng rực rỡ , soi khắp muôn phương

Lại cũng có người bảo:- “Cần gì ông cứ phải căn dặn, nhắc nhở, nói tới nói lui mãi, nghe thêm nhàm tai Hễ có được phương pháp chính xác là thuận buồm xuôi gió, trở thành bậc siêu nhân, có gì đáng lo ?”

Nói như thế là quá chủ quan, hay rơi vào “lạc quan tếu” rồi Bởi vì chúng ta trên bước đường dụng công,

Việc thực hành đều đặn, liên tục ngàn ngày cũng như một ngày, thực không đơn giản chút nào Hãy suy nghĩ đến câu dụng ngữ của Pháp “QUOTIDIEN TERRIBLE” (việc hàngngày kinh khủng) , để có thái độ chính chắn và quyết tâm hơn

*

* *Ngoài ra còn phải chú ý đến một số lực “phản tác dụng”, nhà Phật gọi là “MA

CHƯỚNG” Ma đây, không phải thứ ma quỉ như trên sân khấu hát , kịch …xuất hiện vớihình thù đầu to như cái thúng, miện đỏ tợ chậu máu …mà chính là “tác dụng mặt trái” do

ở chỗ ‘CHỈ VÌ KHÔNG BIẾT” mà ra Chẳng hạn như :-

Trang 33

1.-Thân giúp cho việc “TU TÂM” như thế nào ? Có nên khinh bạc thân như truyền thống lâu nay không ?

2.- Thế nào mới là giáo pháp chân chính của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ? Chân nghĩa ở chỗ nào ?

3.- Thế nào là sai lầm mang tính truyền thống ? Có nên mạnh dạn dứt khoát từ bỏ nó không ?

4.- Thế nào là tự tại với sống chết ?

5.- Dạy đạo : Công hay tội ? …và v.v…

Hàng loạt vấn đề sẽ được phân tích và mỗ xẻ kỹ lưỡng , để giúp cho những ai có lòng thiếttha với đạo pháp, có ý chí xuất trần, hội đủ hiểu biết cơ bản, để mà “TỤ NHIÊN AN ỔN VÀO TRƯỜNG AN” (=Ngộ nhập Tri kiến Phật hay Chứng ngộ Chân Như Phật tánh)

*

* *Trước khi đi vào phân tích, xin mời quí vị tham khảo lại một công án Thiền, để thấy rõ

“tác dụng hay” và cái “phản tác dụng tức là tác dụng dở” của

nó:-* Đời nhà Đường (713 T.L.), tu sĩ MÃ TỔ ĐẠO NHẤT cất một lều tranh bên sườn núi để

tu, thực hành tịnh khẩu, không trò chuyện với ai, dù có người đến cúng dường, Ngài cũng không nói một tiếng Người cúng dường chỉ mang phẩm vật đến trước mặt ông vái chào

để cúng rồi về Hành trạng đó tạo tiếng vang khắp vùng phụ cận, dân chúng đồn đại ngợi khen không ngớt

Thiền sư HOÀI NHƯỢNG biết MÃ TỔ dùng công phu lệch lạc, nên muốn độ ông nầy Một hôm Ngài đến trước cửa thất của MÃ TỔ ngồi mài cục gạch sột soạt MÃ TỔ nghe thấy hết, nhưng vẫn không lên tiếng Đến ngày thứ hai cũng vậy Sáng sớm ngày thứ ba, Thiền sư HOÀI NHƯỢNG lại tiếp tục động tác nầy Lúc bấy giờ, ĐẠO NHẤT chịu hết nổi, mới hỏi : “Lão Bồ Tát, Ngài mài cục gạch làm chi thế ?”

Thiền sư HOÀI NHƯỢNG đáp : “Làm gương soi”

ĐẠO NHẤT cười nói : “Gạch làm sao mài thành gương được?”

HOÀI NHƯỢNG :"Ông hằng ngày ngồi đây để làm gì ?”

ĐẠO NHẤT : “Để làm Phật”

HOÀI NHƯỢNG : “Ngồi yên có thể thành Phật được sao ?”

ĐẠO NHẤT giật mình lặng thinh không đáp Ông tu khổ hạnh đã nhiều năm rồi mà vẫn chưa thấy biết được lối vào cửa (chưa Kiến Tánh) Nay nhờ sự việc nầy quấy động, lời nóicủa HOÀI NHƯỢNG trúng vào sợi tơ trong lòng ông

Ngài HOÀI NHƯỢNG tiếp : “Xin hỏi, lúc điều khiển xe trâu, mà xe không lăn bánh, vậy nên đánh chiếc xe là phải, hay đánh trâu là phải ?

ĐẠO NHẤT : “Dĩ nhiên là phải đánh trâu”

HOÀI NHƯỢNG : “Thế sao ông lại CỨ MÃI ĐÁNH XE”

ĐẠO NHẤT biết đây là Cao Tăng, liền đảnh lễ cầu pháp

Thiền sư HOÀI NHƯỢNG bảo ông từ bỏ lều tranh, theo về với Ngài học Đạo

Ít năm sau, ĐẠO NHẤT trở thành Thiền sư MÃ TỔ, danh tiếng lừng lẩy, độ chúng vô số

ở GIANG NAM”

*Trong Phật giáo, có thể nói, ai cũng có nghe, nói đến công án nầy Mặt mạnh của nó là chỉ ra được đối tượng chính để tu hành, là “ĐÁNH TRÂU” chứ không phải “ĐÁNH XE” Nhưng mặt yếu là, “KHÔNG DẠY CÁCH ĐÁNH TRÂU CỤ THỂ” , nên gây ra hai tác dụng:-

Trang 34

-Một là, người tu sẽ đánh trâu loạn xạ.

-Hai là cường điệu vai trò của trâu mà hết sức khinh bạc chiếc xe

* Từ một vết rạn (nứt) do LƯƠNG VÕ ĐẾ (tên là Tiêu Diễn) gây ra cho người tu, nay lại bị cái “KHÔNG BIẾT” nữa, tạo thành phản tác dụng (tác dụng dở) của công án, thành sức chấn động tạo nên “VẾT NỨT CỦA PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA” !!!

Qủa vậy, đó là việc người tu theo đại thừa, đã đem chiếc xe đập cho gãy, phá hư đi, “mà không biết”

Kết quả là phải ngủ phơi mình ngoài đồng hoang nghĩa địa, do sự đập phá từ tháng nầy qua năm khác chiếc xe phương tiện của mình !

*Thật tội nghiệp thay cho những ai y giáo phụng hành theo ác pháp phản lại Phật, do BÀ-ĐẠT-ĐA khởi xướng, tự đem khối đá lớn cột chặc vào chân, tự mình chận bít đại lộ bằng phẳng đưa đến Chân Như Dẫu thế, họ cũng chẳng biết đó là tai nạn to lớn, lại còn lấy đó làm niềm tự hào, ngạo nghễ chê cười người khác không bằng họ Đáng tiếc vô cùng

Trang 35

ĐIỂM ĐEN TRONG CHIẾC VÒNG MÀU VÀNG SÁNG RỰC

Rất nhiều người nghĩ rằng, có thể tạo được ít nhiều “công đức” bằng cách ăn chay, nên thực hành triệt để đến độ tay chân rũ riệt, hơi thở mệt nhọc, đầu óc quay cuồng…Nếu để dẫn đến tình trạng nầy, thì không nên ăn chay

Thực sự, ăn chay có tạo nên “công đức” chăng ? Công đức và phước đức như ánh sáng và sức nóng, không thể chia tách ra Sau đây, chúng ta thử điểm qua một số thực tế để tìm câu trả lời đúng đắn nhất

1/-Ở AUSTRALIA (Úc) có một bà già ăn chay đã nhiều năm Đứa con dâu của bà thường hay đem những thức ăn chay của bà cất trong tủ lạnh đổ đi, vì hay có món lỏng, đổ tháo

dơ dáy.Do đó, hai mẹ con thường gây gổ nhau trong gia đình không lúc nào yên Cứ 3 ngày là có cãi vã, năm ngày là có mắng lộn, trong nhà hết sức xào xáo, có khi ấu đả hỗn loạn như trong bệnh viện tâm thần

Tôi biết chuyện, có khuyên bà ta nên khai xả giới luật nhưng bà nhất định không chịu, bảo

đã phát nguyện thì phải giữ giới ăn chay nầy cho đến chết mới thôi Thà chết chứ nhất định không phá giới để sống !

Rốt cuộc bi kịch gia đình ngày càng trầm trọng Mấy năm trước khi qua đời, bà bị chứng bán thân bất toại, nằm liệt một chỗ quanh năm mãi đến sáu năm mới chết

2/- Ở THAILAND, có một vị Pháp sư rất nổi tiếng Hôm nọ, vị nầy đến gặp tôi.Thân thể chỉ còn da bọc xương, giọng nói phều phào không rõ, tôi hết sức giật mình kinh hãi, vì saosức khỏe của ông xuống cấp nhanh đến thế ? Nói chuyện chừng năm phút, mà ông đã thở không ra hơi Tội nghiệp quá, tôi hỏi :- “Ông có đi khám bác sĩ để biết bệnh gì và uống thuốc men gì chưa ?” Vị nầy mệt mỏi trả lời :-“Khám nhiều nơi rồi, nhưng bác sĩ bảo tôi không có bệnh gì cả ”

Sau khi ông ra về, tôi bảo các tăng chúng trong chùa : “Vị pháp sư tài ba nầy chắc không còn sống bao lâu nữa !” Câu trên chẳng may lại đúng sự thật Năm sau, tôi qua Autralia, nghe tin ông đã viên tịch, hưởng thọ được 63 tuổi Vị tăng biên thư báo tin cho tôi, có đặt câu hỏi trong thư :- “Sao thầy tiên tri tài thế ?” Tôi buồn bã trả lời :- “Đây là tình hình rất

Trang 36

phổ biến trong Phật giáo đại thừa, tôi đã từng thấy ở nhiều nơi Khi đĩa dầu sắp cạn, ánh sáng lu mờ dần rồi phụt tắt trong thời gian ngắn thôi !”

3/- Mấy năm trước, đến Đài Bắc (TAIPEI) , tôi đến bái kiến vị trụ trì chùa X Tri khách cho tôi biết “Trụ trì đang bệnh” Tôi mượn cớ thăm bệnh để được gặp ông Hỏi:- “Ngài bị bệnh gì?” Ông đáp :- “Đã khám và siêu âm nhiều nơi, nhưng thầy thuốc và bác sĩ đều tìm không ra nguyên nhân Thực ra, cũng chưa phải là bệnh tình nghiêm trọng, chỉ cảm thấy trong mình yếu ớt, tay chân mõi mệt, mắt mờ, hay xây xẫm chóng mặt , không còn đủ sức cầm xách vật hơi nặng”

Tôi bàng hoàng than thầm, lại đúng là âm hồn của Đề-Bà-Đạt-Đa và Lương Võ Đế (Tiêu Diễn) bu bám theo gây họa !

4/- Hai mươi năm trước, vị Ni sư trụ trì chùa Di Bảo, than thở với tôi là bà sợ ngồi

máybay, tàu thủy hay đi xe hơi… vì hễ lên ngồi là mặt mày xây xẫm, ói mữa liền Tôi khuyên bà nên tìm thầy uống thuốc cho sớm, được khỏe mạnh để đi đây, kia làm công tác Phật sự

Bà bảo :- “Các thầy thuốc đều cho biết, tình trạng suy dinh dưỡng của tôi đã đến độ báo động, phải bỏ ăn chay để ăn uống tự do bình thường, mới đảm bảo được sức khỏe Tôi không biết phải giải quyết sao đây?”

Tôi góp ý :- “Phật giáo từ xưa đến giờ vẫn chủ trương ăn uống tự do tùy điều kiện và hoàncảnh Đến thế kỷ thứ 6, Tiêu Diễn (Lương Võ Đế) cậy mình làm vua, bắt ép Tăng Ni trongnước phải trường trai Đó là giới luật ăn chay của ngoại đạo, bản thân Phật giáo không có

Từ đó, trong Phật giáo đại thừa liên tục xảy ra tai nạn Bốn chúng xuất gia và hàng cư sĩ trường trai, bị suy dinh dưỡng hết 90 phần trăm Thân thể èo uột, bệnh hoạn, tự tu còn chưa xong, nói gì đến độ người khác Nay thân thể bà đã ra dường ấy, được thầy thuốc chẩn đoán góp ý, nên nghe theo lời những vị ấy là tốt !”

Bà Ni nầy nghe tôi nói rất lấy làm ngạc nhiên, kinh sợ chẳng dám nghe theo Sau khi tôi lìa Di Bảo không bao lâu, bà đã lìa bỏ thế gian, tuổi đời mới khoảng 50 ngoài

5/- Ở đạo tràng Q tại SINGAPORE, khoảng 20 năm trước, tôi thấy có một đứa trẻ mặt mày cũng sáng sủa nhưng thân hình xanh xao, vàng vỏ ốm yếu Trụ trì cho biết:- “Thằng

bé nầy thông minh nhưng rất khó dạy, nó hay được mấy nhà xung quanh cho tiền, lén ra ngoài phố để ăn mặn, rầy hoài không được Những nhà quanh đây thật không tốt chút nào !”

Bà trụ trì, suốt câu chuyện cứ than thở về chuyện ấy, tôi thấy tội nghiệp, trả lời :-“Những người hàng xóm của bà không phải thật xấu xa như bà nghĩ đâu ! Đã vậy, mà cháu nầy còn bị suy dinh dưỡng đến thế, huống nữa là ăn chay trọn vẹn Thôi bà đừng rầy rà nó và cắn nhằn những người xung quanh đây làm gì, cứ giả bộ ngó lơ không biết đi, đó là bà đã tạo nên công đức rồi !”

Nghe tôi nói thế, bà và người trong đạo tràng phản đối ra mặt, bảo :-“Nó đã thọ ngũ giới cấm rồi mà ?” Tôi đáp:- “Thọ năm giới cấm đâu có bắt buộc phải ăn chay trường” Họ nghe câu chưa từng nghe, ngược với những lời khuyến khích cổ võ ăn chay lâu nay, khiến họ bất mãn, nhưng không nói ra

6/- Mười năm trước, khi tôi ở LUCKSAMKY, vui mừng được gặp lại một cô học trò cũ rất ngoan hiền, giỏi dắn, rất năng động và chịu khó học tập trước kia Lâu quá mới gặp lại,thấy cô mặt mày nhợt nhạt, gầy ốm lộ xương, dáng vẻ chậm chạp, buồn bã, mất hết sinh khí

Tôi cũng không nở hỏi thăm có bệnh gì, nhưng trong lòng than tiếc, vẫn là “DI ĐỘC” củaTiêu Diễn, khiến cô mới bị suy nhược đến nông nổi ấy ! Không biết làm sao hơn, lúc từ

Trang 37

giả, tôi chỉ biết chân thành chúc cô được :- “Cát tinh cao chiếu, hóa hiểm vi di” (sao tốt chiếu mạng, đổi dữ làm lành) ……

*Còn biết bao nhiêu thảm cảnh tương tự ! Những việc bi đát mà tôi vừa nêu ở trên chỉ là giọt nước trong biển cả đau khổ do ăn chay gây ra Quí vị chỉ cần khách quan, vô tư xem xét, sẽ thấy vô số trường hợp tương tự

Hai năm trước, có hai cô từ BÁCH TƯ (tên phiên âm) gởi thư đến hỏi ý kiến tôi, về việc

họ đã thọ năm giới, tu bát quan trai, nhưng không kham nổi việc ăn chay Tôi trả lời :-

“Nếu thấy có ảnh hưởng không tốt đến việc tu học, có thể không cần ăn chay, miễn tu cho siêng năng là được Giới luật của Phật giáo không phải là cái bẫy giương lên để sập bắt người, khiến cho họ đau khổ” Hai cô mừng như ở tù được ân xá, cảm ơn rối rít Nếu tôi bảo, phải ăn chay để khi chết được sanh lên cõi trời, chắc là họ đã bỏ Phật Rất nhiều người hiểu “giới không sát sanh” trong năm giới, gồm cả việc không ăn thịt chúng sinh,

đó là sai lầm Các tôn giáo khác như Thiên Chúa, Do Thái, Tin Lành …, trong mười điều răn đều có giới không sát sanh, nhưng họ đâu có bắt tín đồ ăn chay kiểu Phật giáo

(vegeratism) bao giờ !

Trang 38

sẽ nở ra con, năm đầu con gà nầy sẽ đẻ thành vài chục con gà khác Lấy tiền nầy để mua heo nuôi, sau đó bán heo để mua bò… Chỉ mấy năm sau là gia đình nầy khá giả, cưới vợ

gã con cho con trai gái, sinh sôi nẩy nở, trong 500 năm sẽ trở thành một đại gia tộc quí phái trưởng giả v.v… Nay anh lấy trộm quả trứng gà nầy là đã dập tắt cả một tiền đồ rực

rỡ nói trên Như thế, chẳng phải là anh đã giết hại cả muôn ngàn người của gia tộc bà sao ?

Nếu quý vị chấp nhận lập luận nầy, mới có thể chấp nhận “không ăn chay là sát sanh gián tiếp” kia !

Thực ra, khảo sát kỹ lưỡng lại lịch sử Phật Giáo, mới biết rõ, giới ăn chay do ĐỀ BÀ ĐẠT

ĐA bày đặt ra !

Ông nầy vì đối lập và muốn lật đổ để thay thế PHẬT, nên chống đối những giới luật do Phật đưa ra, cho là chưa xứng đáng để thành vĩ nhân Đại để, ông nêu lên một số giới luật gồm có :

1.- Chỉ mặc chiếc y bá nạp (100 mảnh vải kết lại)

-Ngầm ý phản đối Đức Thế Tôn nhận y phục tốt đẹp do tín chúng cúng dường, khi thực chất Đức Phật dạy bố thí và thọ thí phải không trụ tướng

2.- Chỉ ăn những đồ ăn do việc khất thực mà có

-Ý phản đối Đức Phật thọ nhận những thức ăn ngon do tứ chúng mang tới cúng dường 3.- Tuyệt đối không ăn ca, thịt, kể cả sữa và phó phẩm của sữa…

-Ý phản đối Đức Thế Tôn cho phép ăn uống tự do, tùy điều kiện và môi trường sinh hoạt

4.- Không được trú ngụ trong những nhà cửa có mái lợp, mà chỉ ngủ dưới gốc cây (hay trong nghĩa địa), chỉ được ngồi trên phiến đá chứ không được ngồi ghế

-Ý phản đối Đức Phật cho phép xây dựng các Tinh Xá như : Kỳ Hoàn, Trúc Lâm và có thời gian Ngài ở trong Hoàng Cung

Trang 39

5.- Phải ở nơi thâm sơn cùng cốc, xa cách thành thị và không được ở một trú xứ quálâu.

-Ý phản đối Đức Phật từng trụ ở các thành phố lớn, ở trong các phòng, nhà sang trọng, đẹp đẻ hay Tinh xá khang trang …

Nói chung, hễ điều gì Thế Tôn nêu ra thì ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA đều phản đối tới cùng, phải thì bảo rằng không phải, trắng thì bảo là đen v.v… Trong tâm của ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA chứa toàn hận thù, âm mưu độc ác, mất hết lý trí, chỉ biết phản đối tới cùng, không cần biết đúng sai gì cả !

TIÊU DIỄN (Lương Võ Đế) không biết nguyên ủy khúc nôi, hồ đồ mê muội, ỷ thế cậy quyền, bắt mọi người tu Phật phải mặc đồng phục bó rọ, mang đôi giày bé xíu của ĐỀ BÀ ĐẠT ĐA tạo ra Nghĩa là bắt người tu phải “tự đẽo gọt” bàn chân mình nhỏ lại, cho vừa với đôi giày kỳ dị kia Thêm vào đó, ngày càng thêm những tư tưởng ngoại đạo hỗn dung vào Phật giáo, hết sức đề cao ca tụng “giới ăn chay” nầy (chủ yếu là giới tu Tiên), lâu đời thành truyền thống, tương tự “tục bó chân” của phụ nữ Trung Quốc vậy ! Khi đã thành nếp rồi, đâu còn ai dám phân biệt chỗ đúng sai, hay dở (xem phần sau nói kỹ hơn về tập quán) nữa Từ đó, Phật giáo “Đại Thừa” đã gánh lấy biết bao tai nạn, thảm họa nặng nề nhất là “giới ăn chay” Những hằng hà sa số ác ma, ác bệnh và thần khổ ở trong đây nhe nanh múa vuốt, cắn xé và nuốt chững biết bao người tu !

Suốt mấy mươi năm qua, tôi đã từng gặp ở khắc nơi trong “vương quốc của ĐỀ BÀ ĐẠT

ĐA và TIÊU DIỄN”(chỉ người ăn chay trường), những con người lọm khọm, già trước tuổi, gầy guộc ốm yếu, sống lây lất Phần lớn, lúc tuổi cao, hay mắc bệnh của thân (là bán thân bất toại) đã đành, còn bị chứng si ngốc của tâm linh Đa số, đều phải vướng vào một trong hai thứ, có người lại còn chịu “văn võ cả hai” nữa Số nạn nhân nầy đâu phải ít !

Do vì tuyên truyền lâu năm mà thành kết quả, chúng sinh khi tu theo Phật giáo, bị thứ thácgiác buộc cứng, cho ăn chay là có công đức lớn lao Muốn tu Phật, điều kiện tiên quyết là phải ăn chay, kế đến mới là học tập lễ bái, tụng kinh, trì chú…

Thực tế trần trụi cho chúng ta thấy rõ rằng : “Nếu quả ăn chay mà có công đức đi nữa, thì cũng chỉ là hết sức nhỏ nhít Bởi nếu nó là lớn lao, là công đức sanh thiên, thì chắc trong khỏang trời xanh mây trắng kia, đã đầy nghẹt những bò, trâu, dê, ngựa… rồi” Vả lại, điềukhiến người ta thắc mắc, sợ sệt nhất là, tại sao những con vật nầy đã “ăn chay trường” suốtđời, thế mà đến lúc chết, phải có “nhát dao ân huệ” mới tắt thở, không sao tránh khỏi ?Phần đông, giới bênh vực cho việc ăn chay, dựa vào lý luận khuôn sáo “Ăn chay là để bồi dưỡng, nuôi lớn TÂM TỪ BI, tạo nên con đường bằng phẳng trải ra trước mắt, để đi đến ngôi vị Phật” Sự thật có đúng như thế không quý vị, cứ vô tư, công bằng theo dõi quan sát kỹ những người “ăn chay trường” có đầy lòng Từ Bi không, thì mới đủ tư liệu thực, để đánh giá đúng đắn lập luận trên ! Có lẽ qúy vị sẽ thấy ngược lại mà thôi, nếu họ chỉ biết ănchay mà không tu học giáo lý Phật Pháp cao sâu khác

Cũng có nhiều vị cho rằng, ăn chay để tránh việc kết oán vướng nợ chúng sanh vì không sát hại ai, nếu còn nợ nần ân óan thì dính mắc, khó ra khỏi luân hồi Có biết đâu rằng, những thứ thực vật, trong đó có những thứ thường dùng để ăn chay như cà chua, rau cải, đậu nành, khoai tây v.v…nói chung, theo sự soi sáng của khoa học, cũng có những

Trang 40

tin khổ sở đau đớn Đồng thời, họ cũng nhận thấy rằng có một số côn trùng, cũng có khả năng phát hiện và nghe được tiếng khóc than của thực vật đang bệnh nầy, tương tự khả năng phát hiện ra xác chết động vật của loài chim ưng vậy Từ đó, biết chỗ để xâm nhập tấn công”.

Gần đây phòng nghiên cứu về rừng già thuộc bộ LÂM NGHIỆP Hoa Kỳ đã công bố loại dụng cụ “Máy đo đạc sinh mạng thực vật”, dựa vào nguyên tắc cảm ứng khi cột máy vào thân cây, nghe biết được rõ ràng thông tin đau đớn, khổ sở của một cây đang khô, héo dần,phát ra

Ông HẢI KHẮC (Tên phiên âm) chuyên gia của Phòng nghiên cứu trên cho biết:

“Hầu hết cây khô héo vì không đủ nước nuôi dưỡng, phát ra những thông tin khổ sở, đau đớn có tần số từ 50 - 100 Khz (kilohertz) Tai người chỉ nghe được âm thanh có tần số không quá 20 Khz, nên không thể biết có thứ tiếng nầy Nếu dùng máy ghi âm có tần suất cao, ghi lại những âm nầy, rồi phát ra lại với tốc độ thật chậm, nghe giống như tiếng rên rĩ,khóc thút thít nho nhỏ và liên tục”

Nhà khoa học giải thích hiện tượng trên, do những ống mạch nhựa luyện vỏ cây, bị thiếu nước nên phát ra tiếng kêu nầy Đối với các loại sâu đục thân hay mọt gỗ, chúng có thể nhận được các tín hiệu phát ra từ vỏ cây, để nhân lúc cây suy yếu, thừa cơ tấn công và pháhoại cây cối

Một bộ phận khác, nghiên cứu về đặc điểm hóa học của cây cho rằng : “Tính chất hóa học của nhựa một cây thiếu nước bị biến đổi, tạo ra mùi vị khác thường, đó cũng là nguyên nhân giúp các côn trùng khác biết mà tấn công”

Ông HẢI KHẮC, hiện vẫn còn theo dõi cuộc thí nghiệm bằng cách trồng một cây thông trắng trong chậu hoa, đặt ngay trong phòng thí nghiệm của ông, để theo dỏi hai mặt, âm tần phát ra mùi vị tỏa ra của cây, khi để nó bị thiếu nước Mục đích tìm ra cái nào là động

cơ chủ yếu thông tin cho côn trùng ?

-Kế đến, ngày 13/12/1989, tờ TÂN BÁO lại đăng :

“Có một số người thích tự trồng cây cối và trò chuyện với chúng” Như thế cây cối sẽ pháttriển nhanh và tốt hơn Quan điểm các nhà khoa học cho rằng : Vấn đề không phải đơn giản như vậy, vì thực vật không thể nghe hiểu tiếng người, tuy nhiên, họ công nhận rằng

về mặt hiệu quả phát triển, âm thanh có dự phần tác động, như âm nhạc chẳng hạn hoặc tiếng hát lớn thì hiệu quả cao hơn, người ta đã áp dụng, phát nhạc cho các loại bắp (ngô)

và rau cải để kích thích chúng sinh trưởng nhanh và khỏe mạnh hơn

Bà Tiến sĩ BỐI NHI VI ÂN BA CÁCH (tên phiên âm) ở trường Đại học THÁI HUÊ (CANADA), giáo sư sinh vật học, nói :

“Âm nhạc càng lảnh lót, càng tốt, nhất là tiếng sáo có âm tần cao vút, mang lại hiệu quả nhanh hơn Tiếng nói lớn cũng có thể giúp ích cho một số loài cây Bắp và lúa mạch cộng hưởng tốt với tiếng hát lớn, giọng cất lên cao Dưa gang thì hiệu quả tốt với tiếng sáo”

Bà Tiến sĩ VI ÂN BA CÁCH rất say mê thích thú trong công tác nầy, đến độ viết báo cáo kết quả nghiên cứu vượt quá phần trăm số lượng qui định, cộng thêm cả mấy quyển sách

có liên quan đến vấn đề trên

Theo phát hiện của bà, âm tần cao có tác dụng tốt cho sinh trưởng của thực vật, nhưng phải có thời gian qui định liên tục suốt mấy tuần lễ Bà cũng đi sâu nghiên cứu cụ thể, chính xác nhất về những âm mà tai người nghe được ở giới hạn nào cùng những sóng siêu

âm tai không nghe nhưng có tác dụng đối với thực vật

Ngày đăng: 18/08/2013, 17:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w