1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập lớn ngôn ngữ truyền thông

20 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 61,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ngôn ngữ truyền thông học viện báo chí và tuyên truyền thực trạng sử dụng tiếng nước ngoài trong tiếng việt so sánh các loại ngôn ngữ truyền thông ngôn ngữ truyền thông học viện báo chí và tuyên truyền thực trạng sử dụng tiếng nước ngoài trong tiếng việt so sánh các loại ngôn ngữ truyền thông

Trang 1

Câu hỏi 1: Thực trạng sử dụng tên riêng nước ngoài và từ viết tắt nước ngoài trên các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam hiện nay?

Những kiến nghị?

I Đặt vấn đề:

Lâu nay chúng ta vẫn thường tự hào vì vốn tiếng Việt giàu và đẹp Cùng với sự phát triển của đời sống văn hóa - xã hội và các lĩnh vực khác, tiếng Việt ngày càng khẳng định giá trị, bản sắc, tinh hoa và khả năng phát triển ngày càng phong phú của

nó Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, ngay cả khi dân tộc đứng trước giai đoạn cam go liên quan tới vận mệnh dân tộc nhưng chưa khi nào trách nhiệm "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt" bị lơ là

Lĩnh vực thông tin đại chúng là một lĩnh vực mà tiếng Việt được sử dụng với nhiều dung lượng, mức độ cũng như sắc thái khác nhau Và điều quan trọng hơn, nó tác động mạnh mẽ, liên tục, sâu sắc tới đông đảo công chúng Nói ngôn ngữ báo chí, truyền thông là nói tới những sản phẩm ngôn ngữ được thể hiện qua các kênh như báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử

Bên cạnh những yêu cầu chung thì ngôn ngữ truyền thông cũng chứa đựng trong

đó những đặc trưng riêng như chính xác, nhanh nhạy và hấp dẫn Ngôn ngữ báo chí

vì vậy luôn vận động, phát triển sinh động, tươi mới nhưng không xa lạ với con người Thậm chí nếu không muốn nói, vì sự ảnh hưởng sâu rộng của nó, một yêu cầu đặt ra với ngôn ngữ truyền thông đại chúng phải thông dụng, chuẩn mực và mang tính văn hóa

Sự phát triển của đời sống, công nghệ thông tin đã kéo theo sự phát triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông đại chúng Có thể thấy mặt trận truyền thông ngày càng đa dạng về chủng loại: báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử, trang thông tin điện tử

Thông tin vì thế cũng đến với người đọc, người nghe và người xem nhanh hơn,

đa chiều và sâu hơn Qua báo chí và qua sự phát triển của các loại hình, các cơ quan

Trang 2

báo chí thì chúng ta có thể thấy sự thay đổi, mạnh mẽ, sinh động của ngôn ngữ tiếng Việt

Các cơ quan báo chí luôn chú ý đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin, đặt tiêu đề độc đáo, sử dụng ngôn ngữ ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu Tuy nhiên, cùng với sự phát triển như vũ bão của các phương tiện truyền thông ấy cũng đặt ra một yêu cầu cấp bách về việc sử dụng ngôn ngữ của những nhà báo

Thời gian gần đây, có khá nhiều vấn đề nổi cộm liên quan đến ngôn ngữ báo chí đang được dư luận quan tâm, lo lắng Có thể tóm lược ở những vấn đề như việc dùng từ, câu văn tùy tiện, cẩu thả, cách đặt tiêu đề, rút tít vì ham "hấp dẫn" mà thiếu cân nhắc, sai thực tế, thậm chí sa vào tình trạng giật gân câu khách Một số bài viết của phóng viên trẻ sử dụng tiếng nước ngoài vô tội vạ, thiếu nhất quán (khi nào thì dịch nghĩa, phiên âm hay để nguyên dạng)

Tâm lý sính chữ, chuộng ngoại vẫn còn khá phổ biến, ngôn ngữ và cách trình bày của không ít phát thanh viên trên Đài phát thanh, truyền hình chưa có sự trau dồi, chưa hướng tới sự chuẩn mực cần thiết Điều đáng lo ngại là những sai sót, lệch chuẩn về ngôn ngữ, về sử dụng tiếng Việt trên báo chí, truyền thông sẽ tác động tiêu cực, nhanh chóng và rộng khắp đến đông đảo giới trẻ, trở thành những hiệu ứng lan truyền

Từ nhiều năm nay, nhất là từ khi có công cuộc Đổi mới mà một nội dung quan trọng là hội nhập quốc tế thì vấn đề tiếp xúc ngôn ngữ cũng trở nên tất yếu và có tính thời sự, liên quan đến đời sống giao tiếp hàng ngày của chúng ta Gần tám trăm

tờ báo, hàng chục kênh truyền hình và phát thanh liên tục đưa các loại hình thông tin đến khán giả và bạn đọc Trong tình huống ấy, một khi nước ta chưa có luật ngôn ngữ, thì mỗi chủ thể truyền thông đều tự tung, tự tác theo ý chí riêng của mình, không có sự can thiệp nào Diện mạo tên riêng nước ngoài và từ viết tắt nước ngoài trong truyền thông tiếng Việt hiện nay cũng theo đó mà tha hồ tự phát

Như bất kỳ sự vật, hiện tượng nào, tiếng Việt đổi mới, phát triển là tất yếu nhưng làm sao đảm bảo sự phát triển này diễn ra một cách vững chắc trên cơ sở vốn cũ,

Trang 3

làm cho tiếng Việt ngày càng giàu có nhưng vẫn giữ được phong cách, tinh hoa và bản sắc của nó là điều cần thiết

II- Các thuật ngữ chuyên ngành:

 Truyền thông đại chúng là cách thức truyền đạt thông tin thông qua các phương tiện kĩ thuật (như đài phát thanh, truyền hình, các ấn phẩm, phim ảnh, băng đĩa, mạng Internet) đến đám đông công chúng phân tán nhằm mục đích củng cố hoặc thay đổi nhận thức, quan điểm, hành vi của họ đối với các vấn đề khác nhau trong đời sống xã hội

 Các phương tiện truyền thông đại chúng hay các phương tiện thông tin đại chúng là các phương tiện được sử dụng để truyền đạt thông tin một cách đại chúng, rộng rãi, tức là có khả năng đưa thông tin tới đối tượng đại chúng mục tiêu

Ví dụ: báo in, tạp chí, phát thanh, truyền hình, sách, internet

Cần phân biệt giữa nội dung truyền thông và phương tiện truyền thông Theo đó phương tiện truyền thông đại chúng là một yếu tố trung gian có khả năng chứa đựng nội dung truyền thông đại chúng, chúng khác biệt với bản thân nội dung truyền thông đại chúng

III- Việc sử dụng tên riêng nước ngoài trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam hiện nay.

1 Thực trạng:

Một tên riêng nước ngoài cũng đã có mấy cách đọc, cách viết Mươi năm gần đây nổi lên khuynh hướng cứ để nguyên dạng tên riêng nước ngoài trong tiếng Việt ( được hiểu là không phiên âm, cũng không chuyển tự) mà hướng này lại có mặt trên nhiều tờ báo có đông bạn đọc Tự nhiên xu hướng này dần lấn át và cứ như

đã giành được lẽ phải trong hướng dẫn xã hội: Không cần phiên chuyển sang tiếng

Trang 4

Việt, phiên chuyển là vô ích, vô bổ, vô duyên Lý do chính thường được dẫn ra biện minh cho việc để nguyên dạng các tên riêng ( mà chủ yếu là tiếng Anh ) đại loại là:

a Tiếng Anh nay là ngoại ngữ phổ dụng quốc tế, nước ta nay có nhiều người biết tiếng Anh rồi, và sẽ còn nhiều người biết nữa Để nguyên dạng tên riêng thì đọc mới gần với nguyên ngữ, mới dễ hiểu nhau, mới thuận lợi cho hội nhập quốc tế được Vả lại, đọc theo nguyên ngữ ( nhờ để nguyên dạng) nay cũng đã hình thành thói quen xã hội

b Phiên chuyển (đọc, viết tên riêng nước ngoài theo lối ta) vừa xa lạ, vừa quê mùa vừa cổ hủ, không thể quay lại thời đã qua trong quá khứ Việc một số tờ báo chính thống nay vẫn kiên trì theo đuổi lối phiên chuyển là đại diện cho tư duy bảo thủ và lạc hậu (!)

c Để nguyên dạng còn tiết kiệm cho xử lý kỹ thuật, đỡ tốn thì giờ, tiền bạc, giấy bút,…

Còn có thể kể ra những lối biện luận khác nữa cho việc để nguyên dạng, không phiên chuyển sang tiếng Việt

2 Đánh giá:

Ai cũng biết ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của người ta Ngôn ngữ là công cụ, chưa bao giờ là mục đích Ngôn ngữ ra đời theo nhu cầu của xã hội,

nó phụng sự các lợi ích xã hội, cũng là đông lực phát triển xã hội và của chính bản thân nó Đã là công cụ thì phải sắc bén, tiện dụng và khéo léo Xã hội đối với ngôn ngữ là ai? Là những cộng đồng cụ thể sử dụng nó theo những lợi ích cũng rất cụ thể Một dân tộc, một bộ tộc, một lĩnh vực, một địa hạt,… theo tính chất cộng đồng Nền tảng của nó là văn hóa

Đã từ lâu, những người nghiên cứu ngôn ngữ nhận thấy độ bền vững to lớn của văn hóa và độ kết dính chặt chẽ của nó trong cộng đồng bản ngữ Văn hóa bản địa

và bản ngữ có quan hệ chặt tới mức cái này là tiền đề của cái kia Humboldt, Sapir, Saussure đã nói ra những chân lý trong vấn đề này

Trang 5

Với ngôn ngữ, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến quan niệm của F De Saussure

về cương vị của bản ngữ và người bản ngữ như là cái gì đó tuyệt đối trong các tương tác xã hội Ông nói: “ Ngôn ngữ học đồng đại chỉ chấp nhận một quan điểm duy nhất: Quan điểm của người bản ngữ*” Người bản ngữ, như ta biết, sở hữu văn hóa bản địa và cả cái thực tế xã hội của họ, biết cách tư duy và diễn đạt tư duy ấy bằng ngôn ngữ của họ Vậy thì, trong khi làm chủ bản thân (chủ thể) họ sẵn sang tiếp thụ

và tìm cách “ nội địa hóa” những gì từ bên ngoài mà họ có được qua các tiếp xúc Dân gian ta có câu:” Nhập gia tùy tục”, ngôn ngữ cũng đúng như vậy Tất cả những

gì từ ngoại ngữ đến đều được chọn lọc,”xay giã”, làm mới cho phù hợp với lợi ích của người bản ngữ “ Người bản ngữ luôn luôn đúng”,” Người bản ngữ luôn hành động theo lợi ích của mình”, “ Trong tiếp xúc ngôn ngữ, người bản ngữ không bài ngoại, không bắt chước mà luôn tận dụng cơ hội cho mình”

Thực tế ngôn ngữ cho thấy những nhận xét trên đây là có cơ sở Người bản ngữ Việt đã sớm hình thành cách đọc Hán Việt Âm Hán Việt là sản phẩm lịch sử của quá trình “nội địa hóa” cách đọc bắt đầu từ Đường âm ( và trước đó là cổ Hán Việt)

Từ khi có tiếp xúc với các ngôn ngữ châu Âu, người Việt luôn tìm cách đọc thuận lợi nhất cho mình trong các tiếp nhận Vốn từ gốc Âu là kết quả của lối phát âm Âu-Việt, trong đó các âm vị, âm tố châu Âu lần lượt được điều tiết theo hệ ngữ âm Việt ( Việt hóa trong cách đọc)

Việc để nguyên dạng thức văn tự tên riêng (chủ yếu là các nhân danh, địa danh tiếng châu Âu viết theo chữ Roman, đặc biệt là tiếng Anh hiện nay) chính là ngược lại xu hướng đó, là trái với nguyên lý: Bản ngữ trên hết và trước hết

Lập luận Tiếng Anh nay là ngoại ngữ phổ dụng quốc tế, để nguyên dạng tên riêng thì mới gần với cách đọc nguyên ngữ, mới dễ hiểu nhau, mới thuận lợi cho tiếp xúc quốc tế Đây là sự nhầm lẫn đáng tiếc về hội nhập Để hội nhập thì cần tăng cường ngoại ngữ, khi dùng ngoại ngữ thì phải cố gắng tối đa phát âm theo bản ngữ của người ta Còn khi ta nói tiếng Việt, đọc tiếng Việt mà lại ưu tiên cho việc nhất nhất phải giống người ta là hy sinh tiếng mẹ đẻ và lợi ích của người bản ngữ Người bản ngữ không bao giờ hy sinh lợi ích này Tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng

Trang 6

Tây ban nha đều có chung tự mấu Roman (Latin), nhưng không có ngôn ngữ nào để nguyên dạng tên riêng của tiếng khác ( Hãy so sánh California và Californie, Genève và Geneva,…) Trường hợp Canada là một ví dụ sinh động khác: Cộng đồng tiếng Pháp và cộng đồng tiếng Anh ở nước này bảo lưu không nhân nhượng nhau bất cứ phát âm và ghi chép tên riêng nào tuy trong cùng một quốc gia, một lãnh thổ)

Lập luận để nguyên dạng tên riêng nước ngoài vì nay nó đã thành thói quen xã hội trong văn hoá đọc cũng không có cơ sở Thói quen xã hội của ngôn ngữ phải được hiểu là thói quen của toàn thể cộng đồng trong dụng ngôn Cộng đồng Việt ngữ nay có gần chín chục triệu người Số người biết ngoại ngữ tuy đã có tăng lên nhưng so với toàn dân thì vẫn còn rất hạn chế, mới chỉ giới hạn trong một bộ phận giới lao động trí óc, thanh thiếu niên và cư dân đô thị ( cả thảy hơn 20% dân số),… ngay cả những người biết chút ít ngoại ngữ thì việc để nguyên dạng cũng mới chỉ giúp người ta nhận dạng bằng mắt cứ chưa hẳn phát âm đúng được

Những báo nào để nguyên dạng tên riêng nước ngoài trong những bài viết thực

ra người ta mới chỉ quan tâm đến lợi ích cục bộ của bộ phận tối thiểu đã quên đi lợi ích tối đa Bà con cô bác của chúng ta ( 75 % dân số là ít nhất) rất khó khăn khi đọc những tờ báo để nguyên dạng, nhất là những tờ báo cực đoan: Để nguyên dạng tên các cuốn phim, tên bài hát, tên các sự kiện văn hóa thể thao, âm nhạc không thèm dịch ra tiếng Việt

Lập luận của những người chê bai chủ trương phiên chuyển cho rằng đó là làm như vậy ( phiên âm) là đọc theo lối ta vừa xa lạ, vừa méo mó, vừa quê mùa, vừa cổ

hủ, đó chỉ là chuyện trong quá khứ Theo đó, lập luận cũng cho rằng một số tờ báo chính thống ở ta nay vẫn theo đuổi lối phiên chuyển là đại diện cho tư duy bảo thủ này Cách hiểu này vừa không có cơ sở khoa học, vừa lệch chuẩn văn hóa Ngôn ngữ là những thói quen được xã hội cố định hóa thành thiết chế theo nguyên tắc

“ người ta đi mãi thì thành đường thôi” ( Lỗ Tấn), con đường dụng ngôn là do cộng đồng ( đa số) tạo ra theo nhu cầu và cách thức của người bản ngữ ( trước lạ, sau quen) Một thời, các tên riêng ở ta được phiên âm qua Hán Việt, sau đó là phiên âm

Trang 7

theo tiếng Pháp, rồi nay thì phiên âm ưu tiên theo nguyên ngữ ( nguyên gốc) Lúc đầu chưa quen, khí xa lạ, dần rồi thấy ổn ( Si li/ Chi lê, Brê din/ Bra xin, Ác giăng tin/ Ác hen ti na,…) Việc cho rằng để nguyên dạng là sang trọng, hiện đại,… là biểu hiện tâm lý thiếu tự tin, sùng ngoại, thích thể hiện chính là một biểu hiện của lệch chuẩn văn hóa

Chủ trương để nguyên dạng tên riêng nước ngoài trong lối ghi chép ngôn ngữ

mẹ đẻ ( bản ngữ) dường như nay chỉ thấy ở nước ta chứ chưa thấy có ở tiếng nào khác ( ngay cả các nước dùng chữ Roman) Tiếng ta không thể là một ngoại lệ khi hội nhập với thế giới

3 Kiến nghị giải pháp:

 Ban hành luật quy định rõ cách phiên âm tên riêng nước ngoài đảm bảo sự trong sang của tiếng Việt và đảm bảo phù hợp với mọi đối tượng đại chúng

IV- Việc sử dụng từ viết tắt nước ngoài trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở Việt Nam hiện nay.

1 Thực trạng:

- Trước hết phải kể đến lĩnh vực phát thanh, truyền hình Những người dẫn chương trình mà ngày nay quen gọi là "em-xi" (MC viết tắt của master of ceremonies) thường có những từ (ngữ) cửa miệng như: "ghêm- xâu" (game show: trò chơi truyền hình), "phan" (fan: người hâm mộ), "cờ-líp" (clip: đoạn phim), "hót" (hot: nóng bỏng, đắt khách), "pi-gi" (PG viết tắt của promotion girl: cô gái quảng cáo bán hàng), "tin" hoặc "tuổi tin" (teen/ teen age: thanh thiếu niên), "tốp" (top: đứng đầu), xốp-ping (shopping: mua sắm), v.v Báo chí, nhất là truyền hình và quảng cáo trên truyền hình có sức lan tỏa nhanh và mạnh trong xã hội Theo đó, các lĩnh vực chủ chốt của đời sống xã hội phần nhiều được "trang sức" bằng tiếng Anh

- Trong các chương trình âm nhạc, người dẫn chương trình và các ca sĩ, nhạc sĩ thường có những từ cửa miệng như: nhạc cờ-lát-xích (classic: cổ điển), căn-truy (country: đồng quê), đan-xơ (dance: nhảy), xinh-gờ (singer: ca sĩ), "lai-xâu" (live

Trang 8

show: biểu diễn trực tiếp), ai-đồ (idol: thần tượng), hát pờ-lây-bách (playback: phát lại nhạc thu sẵn), v.v

- Lĩnh vực thể thao thì người ta nói "xì-pót" (sport) "Gôn" (goal: ghi bàn), "pê-nan-ti" (penalty: phạt đền) là những từ của bóng đá; "nốc-ao" (knock down) của môn

"bốc-xing" (boxing: đấm bốc); "bờ-ríc-poi" (break point: lợi thế về điểm) là của môn

"ten-nít": (tennis: quần vợt), v.v Giải bóng đá lớn nhất quốc gia được người ta đặt cho một cái tên ngoại hoàn toàn: "V-league" cho giống với "champion league" của châu Âu Gọi là "V-league" mới thể hiện tính chất "nhà nghề", "chuyên nghiệp" của giải đấu hay sao?

- Trên sàn "két-oắc" (catwalk: sàn diễn thời trang) thì người mẫu, diễn viên, nhà thiết kế phải biết nói những từ: "đì-rai" (design: thiết kế), "xai" (size: cỡ), "mếch-ắp" (make up: trang điểm), "xì-tai" (style: kiểu, mẫu), "cát xê" (tiền công diễn), "chạy sô", "sô diễn" (show: diễn), v.v thì mới thể hiện mình là người "pờ-rồ" (nói tắt của professional: chuyên nghiệp)

- Thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán thì người ta nói: đến "banh" (bank: ngân hàng) mở "ơ-cao" (account: tài khoản), xem "chát" (chart: biểu đồ),

"rinh" (range: biên độ), tìm "chen" (trend: xu hướng), "chết-đơ" (trader: nhà buôn),

cổ phiếu "bờ-lu-chíp" (bluechip), rút "cạc" (card: rút tiền từ thẻ), v.v

- Lĩnh vực điện tử, tin học, mạng in-tơ-nét (internet) là địa hạt có sự cập nhật mạnh

mẽ của từ ngữ, thuật ngữ tiếng Anh Những từ ngữ tiếng Anh như: file, game, download, chip, laptop, online, offline, chat, virut, hack, hacker (tin tặc),blog, wifi, e-mail, v.v xuất hiện ở khắp các báo chí mà hầu như không cần giải thích Tác giả bài viết đã thử làm thống kê trong một số bài báo về tin học cho thấy: thông thường

từ ngữ, thuật ngữ bằng tiếng Anh chiếm gần 4% dung lượng bài báo

Có lẽ hiếm nơi nào trên thế giới lại phổ biến quảng cáo bằng tiếng nước ngoài như Việt Nam Nước láng giềng Trung Quốc quy định quảng cáo tiếng nước ngoài bắt buộc phải phiên âm ra tiếng Hán, kể cả các thương hiệu đã rất nổi tiếng bằng tiếng Anh như: Coca cola, Walmart, v.v Còn ở ta, xuống phố là đập vào mắt

Trang 9

chúng ta là biết bao biển quảng cáo bằng tiếng Anh nguyên dạng không cần dịch: coffee, massage, salon, galery ,resort, fast food, tailor, beauty care, spa, v.v Rất nhiều từ trong số đó đã được phiên âm ra tiếng Việt và đã đi vào ngôn ngữ phổ thông nhưng không được dùng như:cà phê, mát-xa, xa-lông, ga-le-ri Số còn lại hoàn toàn có thể dịch ra tiếng Việt cho dễ hiểu: khu nghỉ dưỡng (resort), ăn nhanh (fast food), tiệm may (tailor), chăm sóc sắc đẹp (beauty care), v.v

Ngôn ngữ sử dụng trên phương tiện thông tin đại chúng phải là ngôn ngữ chuẩn mực, phổ thông, trong sáng để ai ai cũng có thể hiểu được Nhưng ở nước ta, từ báo viết đến báo nói, báo hình đang hình thành một trào lưu dùng tiếng Anh nguyên ngữ tràn lan Điều đó dẫn đến hiện tượng “có nhiều người Việt Nam bỗng nhiên trở nên

mù chữ vì không đọc được và hiểu được hết những gì người ta viết trên báo chí” Trong những trường hợp bất đắc dĩ phải dùng tiếng nước ngoài thì cũng cần phải giải thích cho rõ ràng Đằng này, báo đài nghiễm nhiên coi như khán thính giả Việt Nam đều thông thạo tiếng Anh Chẳng hạn những dòng tiêu đề kiểu này: “Mỹ Linh

sợ hát playback và minidisc”, “Nhạt liveshow, đậm phòng trà”, “Nhóm côn đồ tuổi teen tấn công trưởng công an xã”, “Scandal của superstar”, v.v (ví dụ dẫn theo) Như vậy, khác nào việc dùng tiếng lóng hay biệt ngữ trong một nhóm người Hệt như thể

có gì khuất tất cần phải che giấu Vì vậy, tâm lí chung của khán thính giả (độ tuổi trên 30) là thấy mình bị tách ra khỏi cộng đồng “tiếng lóng” đó, thậm chí còn cảm thấy bị xúc phạm “Nếu một người trẻ tuổi sử dụng một câu tiếng Việt “bồi” kiểu

“Nâu vấn đề.” (Không có vấn đề gì) trong khi nói chuyện với người hàng trên như ông bà, bố mẹ thì sẽ bị cho là vô lễ, thiếu giáo dục” Chúng tôi cho rằng, nhìn rộng

ra, đây cũng chính là một khía cạnh vi phạm các nguyên tắc về lịch sự giao tiếp trong tiếng Việt

2 Đánh giá:

Cũng như các ngôn ngữ khác, tiếng Việt của chúng ta đang chịu sự tác động mạnh mẽ của tiếng Anh từ trong cấu trúc-hệ thống đến chức năng giao tiếp Trước thực trạng này, tiếng Việt không thể chọn một giải pháp cực đoan: không thể “be bờ”, “đóng cửa” nhưng cũng không thể để cho “vỡ đê” hay “mở toang cánh cửa”

Trang 10

Hơn lúc nào hết, chúng ta lại càng thấm thía lời Bác dạy, khi ứng xử với từ ngữ nước ngoài phải chống hai khuynh hướng cực đoan hoặc “hẹp hòi” hoặc “lạm dụng” Một cách thẳng thắn mà nói rằng, truyền thông đang lạm dụng các yếu tố tiếng Anh đến mức tha hóa Thực trạng sử dụng từ viết tắt nước ngoài tại Việt Nam hiện nay diễn ra vô cùng phổ biển và có ảnh hưởng tiêu cực tới sự trong sáng của tiếng Việt Sự lệch chuẩn tiếng Việt trên truyền thông đã đến mức báo động Chúng

ta đang ở trong thời kì hội nhập nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta tiếp thu một cách không chọn lọc Không có điều gì quan trọng hơn việc giữ gìn và bảo vệ tiếng mẹ đẻ như Phạm Quỳnh đã từng nói: “ Tiếng ta còn nước ta còn” Việc hiện nay mọi người có thói quen thay thế quá nhiều từ tiếng Việt bằng các từ tiếng Anh khiến cho một bộ phận người dân không hiểu được nghĩa gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc truyền tải thông tin và một điều quan trọng hơn cả là thói quen này về lâu

về dài sẽ dẫn đến sự đánh mất hoàn toàn tiếng Việt

3 Kiến nghị giải pháp:

 Truyền thông phải định hướng về sử dụng ngôn ngữ Truyền thông có vai trò định hướng thông tin, trong đó có cả sự định hướng về sử dụng ngôn ngữ Nói cách khác, phải coi việc định hướng sử dụng ngôn ngữ là một nhiệm vụ hàng đầu của phương tiện truyền thông, vì thế, truyền thông cần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong sử dụng để lan tỏa ra toàn xã hội Và muốn chuẩn hóa tiếng Việt trên các phương tiện truyền thông thì chuẩn hóa tiếng Việt nói chung phải đi trước một bước Bởi một nội dung của tiếng Việt được chuẩn hóa sẽ được các phương tiện truyền thông tuân thủ, sử dụng thống nhất, định hướng cho toàn xã hội theo đó sử dụng Các cơ quan báo chí và các nhà báo phải coi trọng việc sử dụng tiếng Việt, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các loại hình, phương tiện truyền thông của cơ quan báo chí mình Mỗi cơ quan báo chí nên có một bộ phận thường xuyên chăm lo trau dồi ngôn ngữ, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên các ấn phẩm, chương trình, kênh sóng, trang báo của mình Tổ chức các cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi, sinh hoạt nghiệp vụ về vấn đề này

 Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trực tiếp là Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Hội Nhà báo Việt Nam,

Ngày đăng: 17/12/2018, 19:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w