Hướng dẫn ôn thi THPT Quốc gia, môn Ngữ văn, năm 2019. Tài liệu bao gồm hai phần: Phần 1: Cấu trúc đoạn văn nghị luận xã hội 200 chữ. Phần 2: Phân tích các tác phẩm Ngữ văn lớp 12. Phân tích kĩ, bám sát văn bản SGK, có nhiều liên hệ hay.
Trang 1Phần hai:
CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NLXH
200 CHỮ
I YÊU CẦU CHUNG
Khi viết đoạn văn NLXH bàn bạc về một vấn đề nằm trong phần Đọc hiểu, HS cần chú
ý một số yêu cầu sau:
− Tránh kể lể, nhắc lại những chi tiết trong ngữ liệu đọc hiểu hoặc chép lại phần đọc hiểu
“lắp ghép” vụng về vào đoạn nghị luận xã hội
− Với dung lượng khoảng 200 chữ, quỹ điểm là 2 và vấn đề nghị luận đã được khai thácsâu kỹ ở phần đọc hiểu, đoạn viết nghị luận xã hội nên dành thời gian nhiều nhất là 20-
25 phút, tránh lan man dài dòng ở câu hỏi này, làm ảnh hưởng tới quỹ thời gian cho câunghị luận văn học có quỹ điểm nhiều nhất trong đề
− Khi viết đoạn văn 200 chữ, cần chú ý trình bày đúng quy tắc một đoạn văn là khôngngắt xuống dòng
− Dung lượng an toàn của một đoạn là 2/3 tờ giấy thi, tương đương khoảng 20 dòng viết tay
− Nên linh hoạt lựa chọn hình thức đoạn văn phù hợp, có thể là diễn giải, quy nạp, tổngphân hợp… Tuy nhiên, nên ưu tiên sự lựa chọn hình thức tổng phân hợp để tạo ấntượng về một văn bản hoàn chỉnh, độc lập, đầy đặn
− Cần lưu ý nguyên tắc viết đoạn, tránh kể lể bàn luận lan man trùng lặp Phần mở đoạn
và kết đoạn chỉ nên viết trong một câu ngắn gọn Trong đó mở đoạn giới thiệu vấn đềnghị luận, thân đoạn triển khai nội dung nghị luận, kết đoạn viết về bài học cho bảnthân…
− Trong phạm vi một đoạn văn ngắn, chỉ nên chọn một dẫn chứng mang tính tiêu biểu,điển hình và phù hợp làm nổi bật vấn đề nghị luận Tuyệt đối tránh kể chuyện lan mandông dài
II CÁCH VIẾT ĐOẠN VĂN NLXH
1 Đoạn văn nghị luận về một tư tưởng đạo lí và Đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống tích cực
Ví dụ: Viết đoạn văn 200 chữ bàn về lòng hiếu thảo
- Rút ra bài học hành động cụ thể cho bản thân (Khoảng 2 – 3 dòng)
Giải thích ngắn gọn nội dung tư tưởng, cách hiểu đối với hiện tượng đưa ra trong đề bài (Khoảng 2 – 3 dòng)
- Nêu biểu hiện cụ thể của tư tưởng hoặc hiện tượng (có thể nêu dẫn chứng có liên quan nhưng
ko phân tích, bình luận dẫn chứng)
- Phân tích ý nghĩa, tác dụng của tư tưởng, hiện tượng (để làm gì? vì sao?)
- Bình luận, mở rộng: Lật ngược vấn đề, bác bỏ những biểu hiện trái ngược,…
(Khoảng 13 – 15 dòng)
MỞ
ĐOẠN
MỞ
ĐOẠN Nêu tư tưởng, hiện tượng trong đề bài
Nêu tư tưởng, hiện tượng trong đề bài
Giới thiệu thẳng vấn đề mà đề bài yêu cầu (Khoảng 1 – 2 dòng)
Trang 2Lòng hiếu thảo là truyền thống quý báu từ ngàn đời nay của dân tộc ta Lòng hiếuthảo với cha mẹ không chỉ thể hiện ở lời nói: lễ phép, kính cẩn mà còn phải được thể hiện
ở những hành động cụ thể: lắng nghe lời dạy bảo, chăm sóc, phụng dưỡng,… Ai cũng phảihiếu thảo vì cha mẹ là người sinh thành, nuôi dưỡng ta và hi sinh tất cả để dành cho tanhững điều tốt đẹp nhất Hiếu thảo cũng là chuẩn mực cao nhất để đánh giá nhân cách củamột con người Một người không đối tốt được với bậc sinh thành, dưỡng dục mình thì kẻ
đó không thể đối tốt được với bất cứ ai trên đời Một sự thật đáng buồn là ngày nay lònghiếu thảo đang bị nhiều người xem nhẹ Nhiều bạn trẻ được cha mẹ cho ăn học nhưngkhông chú tâm vào việc học mà chỉ lo ăn chơi, đua đòi với bè bạn, nhiều người được cha
mẹ lam lũ nuôi dạy đến khi thành công, có vị trí cao trong xã hội thì quay ra rẻ rúng, coithường cha mẹ; thậm tệ hơn, còn có những kẻ bất hiếu, bất lương hành hạ, ngược đãi cha
mẹ già Đó là những hành động không thể chấp nhận được Qua đây có thể thấy hiếu thảo
là phẩm chất không thể thiếu của mỗi người “Tội lỗi lớn nhất của con người là sự bấthiếu”
2 Đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống tiêu cực
Ví dụ: Viết đoạn văn 200 chữ trình bày suy nghĩ về hiện tượng người Việt Nam ít đọc sách.
Sách là kho tri thức của nhân loại Đọc sách là một trong những cách tốt nhất đểchúng ta tự học Thế nhưng có một sự thật là người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ hiệnnay rất lười đọc sách Theo số liệu khảo sát năm 2013, trung bình một năm mỗi người Việtchỉ đọc 4 cuốn sách, trong đó có tới 2,8 cuốn là sách giáo khoa Ở Việt Nam, các thư viện
và nhà sách đều có chung một số phận đó là rất “ế” khách Vì không đọc gì ngoài sáchgiáo khoa nên các bạn trẻ cũng chẳng biết gì ngoài những điều mà sách giáo khoa đã viết.Nguyên nhân cơ bản nhất của hiện tượng trên là do tâm lí thực dụng, cần cái gì thì mới đitìm đọc cái đó của người Việt Thêm vào đó, với sự phát triển của công nghệ số, hiện naycác bạn trẻ có quá nhiều các hình thức giải trí để lựa chọn Thay vì đọc sách, họ chọn
Giải thích hiện tượng
- Chỉ ra nguyên nhân
- Chỉ ra tác hại (Khoảng 10 - 12 dòng)
Nêu hiện tượng đời sống đặt ra trong đề bài
Giới thiệu thẳng vấn đề mà đề bài yêu cầu (Khoảng 1 – 2 dòng)
Trang 3những hình thức giải trí nhẹ nhàng hơn như nghe nhạc, xem phim, chơi game,… Để đọcsách trở thành văn hoá, thành thói quen trong đời sống của người Việt thì các trường học,các địa phương cần có những biện pháp để đưa sách đến gần hơn với người đọc Bản thânmỗi người cũng cần nhận thức rõ vai trò của việc đọc sách Như nhà văn M.Gorki đã nói :Mỗi cuốn sách là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên nó, ta tách khỏi con thú để tới gầnvới con người hơn.
Phần ba:
KIẾN THỨC CƠ BẢN TÁC PHẨM NGỮ VĂN 12
BÀI 1: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP Phần 1: Tác giả Hồ Chí Minh
1 Quan điểm sáng tác văn học:
− HCM coi văn học là một vũ khí chiến đấu lợi hại, phụng sự cho sự nghiệp cách mạng.Người quan niệm: nhà văn là chiến sĩ - văn hoá văn nghệ là một mặt trận
− Người đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức và tiếp nhận văn chương Trước khi
sáng tác, Người luôn đặt ra những câu hỏi: “viết cho ai?” (đối tượng), “viết để làm gì?” (mục đích), sau đó mới quyết định “viết cái gì?” (nội dung) và “viết như thế nào?” (hình thức) Như vậy, đối tượng và mục đích quy định nội dung và hình thức
của tác phẩm
− Người quan niệm tác phẩm văn chương phải mang tính chân thật Người uốn nắn mộthướng đi "chất mơ mộng nhiều quá mà cái chất thật của sự sinh hoạt rất ít" Người yêucầu văn nghệ sĩ phải "miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn" Tính chân thậtvốn là cái gốc của văn chương xưa và nay
− Nhà văn phải quan tâm đến hình thức sáng tác, tránh lối viết cầu kì xa lạ nặng nề Hìnhthức của tác phẩm phải trong sáng, hấp dẫn, ngôn từ phải chọn lọc, đảm bảo sự trongsáng của tiếng Việt Tác phẩm phải thể hiện được tinh thần của dân tộc, của nhân dân
và được nhân dân ưa thích
2 Sự nghiệp văn học:
− Văn chính luận: nhằm mục đích đấu tranh chính trị Đó là những áng văn chính luậnmẫu mực, lí lẽ chặt chẽ đanh thép đầy tính chiến đấu (Tuyên ngôn độc lập, Lời kêugọi toàn quốc kháng chiến, Bản án chế độ td Pháp)
− Truyện và kí: chủ yếu viết bằng tiếng Pháp rất đặc sắc, sáng tạo và hiện đại (Lời thanvãn của bà Trưng Trắc, Vi hành )
− Thơ ca: Là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương HCM, phản ánh kháphong phú tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ CM trong nhiều hoàncảnh khác nhau Gồm 2 mảng thơ chính: thơ ca trữ tình (Nhật kí trong tù, Nguyên tiêu,Cảnh khuya,…) và thơ ca tuyên truyền cách mạng (Bài ca sợi chỉ, Ca dân cày, Con cáovới tổ ong,…)
3 Phong cách nghệ thuật:
Phong cách nghệ thuật của Hồ Chí Minh rất độc đáo, đa dạng và rất thống nhất
− Văn chính luận của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lý lẽ đanhthép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, giàu tính chiến đấu, đa dạng về bút pháp Vănchính luận mà không khô khan, trái lại thấm đượm tình cảm, giàu hình ảnh sinh động.Giọng văn luôn luôn biến đổi theo cảm xúc, theo đối tượng, khi thì ôn tồn, tha thiếtthấu lý đạt tình, khi đanh thép, mạnh mẽ, hùng hồn
Trang 4− Truyện kí: được viết theo bút pháp trí tuệ, hiện đại, sáng tạo Đặc biệt có giọng cườitrào phúng nhẹ nhàng, hóm hỉnh nhưng thâm thuý, sâu cay
− Ngày 19/08/1945, chính quyền Hà Nội về tay nhân dân
− Ngày 26/08/1945, Hồ Chí Minh từ chiến khu cách mạng Việt Bắc về tới Hà Nội và tạicăn nhà số 48 phố Hàng Ngang, Người đã soạn “Tuyên ngôn Độc lập”
− Ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Người đã đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
− “Tuyên ngôn Độc lập” ra đời trong một tình thế vô cùng cấp bách :
Nền độc lập vừa mời giành được bị đe dọa bởi các thế lực phản động, bọn đế quốcthực dân đang chuẩn bị chiếm lại nước ta: tiến vào từ phía Bắc là quân đội Quốcdân đảng Trung Quốc, đằng sau là đế quốc Mĩ; tiến vào từ phía Nam là quân độiAnh, đằng sau là lính viễn chinh Pháp
Lúc này thực dân Pháp tuyên bố Đông Dương là đất “bảo hộ” của người Pháp bịnhật xâm chiếm, nay Nhật đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên phải trở lại vớingười Pháp
2 Đối tượng và mục đích
− Nhân dân Việt Nam
− Nhân dân thế giới
− Các lực lượng thù địch, đặc biệt là thực
dân Pháp
− Tuyên bố về nền độc lập của dân tộcViệt Nam
− Kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân thế giới
− Ngăn chặn âm mưu xâm lược Việt Namcủa bọn đế quốc, thực dân
3 Giá trị của bản “Tuyên ngôn độc lập”
− Giá trị lịch sử: Là văn kiện có ý nghĩa to lớn, mở ra kỉ nguyên mới cho lịch sử dân tộc:
kỉ nguyên độc lập, tự do
− Giá trị văn học:
Giá trị tư tưởng: Là áng văn yêu nước lớn
Giá trị nghệ thuật: Là áng văn chính luận mẫu mực với lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanhthép, những bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
1 Những lý lẽ có tính chất nguyên lý
− Trước hết, để khẳng định quyền độc lập, tự do của dân tộc ta là đúng nguyên lý, phù
hợp với công pháp quốc tế, Bác đã trích hai câu nói nổi tiếng trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ 1776 và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp 1791: “ Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và mưu cầu hạnh phúc…” ; “Người ta sinh ra tự do, bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn tự do và bình đẳng về quyền lợi”
− Điểm giống nhau trong hai lời trích dẫn trên là đều khẳng định quyền bình đẳng của
Trang 5mỗi con người Song, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam lúc này chưa phải là đòiquyền cho mỗi con người, mà trước hết phải đòi được độc lập, tự do cho dân tộc Dântộc có được độc lập thì nhân dân mới có thể có được cuộc sống tự do, hạnh phúc Bởivậy, Hồ Chí Minh đã từ quyền bình đẳng của mỗi con người được nói đến trong hai
bản tuyên ngôn trên, suy rộng ra thành quyền của mỗi dân tộc: “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
− Ý kiến suy rộng ra ấy là một đóng góp vô cùng quan trọng của Hồ Chí Minh đối vớiphong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Một nhà văn hóa nổi tiếng của thế giới đã
viết: “Cống hiến nổi tiếng của Cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền của con người thành quyền lợi của dân tộc Như vậy là tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết lấy vận mệnh của mình” Ý kiến suy rộng ra của Bác có thể được xem
là tiếng chuông khởi đầu cho thời kỳ bão táp cách mạng ở các nước thuộc địa sẽ làmsụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào những năm 60-70 của thế kỷ 20
− Bác đã dùng những lý lẽ của chính tổ tiên người Mỹ, người Pháp đã ghi trong nhữngbản tuyên ngôn được cả thế giới công nhận và từng làm vẻ vang cho truyền thống, tưtưởng văn hóa của những dân tộc đó Cách viết như thế là vừa khéo léo, vừa kiên quyết:
Khéo léo vì tỏ ra rất trân trọng những tư tưởng nhân văn, tiến bộ dù đó là tư tưởngcủa bất cứ ai, kể cả kẻ thù
Kiên quyết vì như ngầm cảnh cáo: Nếu thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tiến quân xâm lược Việt Nam, thì chính họ đã phản bội lại tổ tiên mình, làm vấy bẩn lên lá
cờ nhân đạo và chính nghĩa mà tổ tiên họ đã từng giương cao và được cả thế giới ngưỡng vọng.
− Ở đây Bác đã vận dụng thủ pháp dùng “gậy ông để đập lưng ông” Nhà thơ Chế Lan Viên cho rằng: “Những câu tuyên ngôn trích trên kia vừa là quả táo với chúng ta, vừa
là quả lựu đạn đối với kẻ thù: khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào”.
− Vả lại cách viết như vậy, phải chăng Bác đã đặt ba bản tuyên ngôn ngang nhau, đặt ba cuộccách mạng ngang nhau ? Qua đó, thể hiện được niềm tự hào, tự tôn dân tộc của Người
2 Những lý lẽ nhằm bác bỏ luận điệu xảo trá của kẻ thù
Tiếp đó, Bác đã nêu lên những lý lẽ và bằng chứng hết sức thuyết phục nhằm bác bỏ luận điệu của bọn đế quốc thực dân
− Để vạch trần luận điệu về công lao khai hóa của Pháp đối với Đông Dương, Bác đã
nêu rõ “những hành động trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa” của chúng trong 80
năm thống trị nước ta về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá
Về chính trị, chúng không cho dân ta một chút tự do dân chủ nào; chúng mở ranhà tù nhiều hơn trường học; chúng chia đất nước ta thành ba kì Bắc - Trung -Nam để dễ bề cai trị; chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thươngnòi và tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu;…
Về kinh tế, chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí; bóc lột nhân dân ta đến tậnxương tuỷ; chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ của ta; chúng giữ độc quyềnnhững ngành trọng yếu và không cho các nhà tư bản của ta ngóc đầu lên,…
Về văn hoá, chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân, đầu độc nhândân ta bằng rượu cồn, thuốc phiện khiến cho nòi giống ta suy kiệt,…
Những việc làm trên của chúng đã khiến cho nước ta xơ xác, dân ta tiêu điều, cuối cùng gây ra nạn đói khủng khiếp khiến cho từ Quảng Trị đến Bắc Kỳ hơn hai triệu đồng bào ta chết đói Như vây, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, thực dân Pháp chẳng có công khai hoá gì hết, chúng đến Việt Nam thực chất là để xâm lược, để vơ vét mà thôi
− Để phơi bày luận điệu xảo trá về “công lao bảo hộ Đông Dương” của Pháp, bản tuyên
Trang 6ngôn đã chỉ rõ đó không phải là công mà là tội Vì chúng chẳng những không bảo hộ
mà trong năm năm chúng đã bán đứng nước ta hai lần cho Nhật
− Và cuối cùng bác bỏ lời luận điệu của Pháp: Đông Dương vốn là thuộc địa của Pháp,
đã bị phát xít Nhật chiếm Nay, Nhật đã đầu hàng Đồng minh, mà Pháp lại thuộc pheĐồng minh nên Pháp hoàn toàn có quyền quay trở lại Việt Nam Bản Tuyên ngôn đãchỉ rõ: với hai lần bán nước ta cho Nhật, Pháp đã phản bội Đồng minh Và sự thật là từmùa thu năm 1940, nước ta đã trở thành thuộc địa của Nhật chứ không còn là của
Pháp nữa Trên cơ sở đó, bản Hồ Chí Minh tuyên bố: “ Bởi thế, cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam”.
3 Những lý lẽ nhằm khẳng định dân tộc ta có đủ tư cách để hưởng độc lập
Còn dân tộc ta thì sao? Dân tộc ta có xứng đáng được hưởng độc lập tự do hay không? Có
đủ tư cách làm chủ đất nước mình hay không? Bản tuyên ngôn cũng đưa ra những lý lẽ đầy tính chất khẳng định
− Nếu thực dân Pháp có tội phản bội Đồng minh - dâng Đông Dương cho Nhật thì nhândân ta đã anh dũng chống Nhật với tư cách là thành viên của Đồng minh
− Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất hèn nhát phản động phi nhân đạo ở hành độngthẳng tay khủng bố Việt Minh Thậm chí đến khi thua chạy còn nhẫn tâm giết nốt sốđông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng thì nhân dân ta vẫn giữ một thái độ khoan
hồng và nhân đạo với kẻ thù khi chúng đã thất thế “Sau cuộc biến động 9 - 3 Việt Minh đã giúp cho người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi trại giam Nhật và bảo vệ tính mạng, tài sản của họ”
Một dân tộc đã chịu bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, đã anh dũng chiến đấu cho độc lập, tự do; đã đứng hẳn về phe đồng minh chống phát xít; đã nêu cao tinh thần nhân
đạo bác ái, như thế “ Dân tộc đó phải được tự do Dân tộc đó phải được độc lập”
4 Lời tuyên bố
Đến đây, Hồ Chí Minh đã có đầy đủ cơ sở (cả về pháp lí lẫn sự thật lịch sử) để khẳng địnhquyền độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam Người trinh trọng tuyên bố với thế giới: “NướcViệt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải đểgiữ vững quyền tự do, độc lập ấy” Lời tuyên bố ngắn gọn, đanh thép và hùng hồn, thể hiệnsâu sắc tinh thần và ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của toàn dân tộc
5 Đặc sắc nghệ thuật
− Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục
− Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm
− Giọng văn linh hoạt
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ CƠ BẢN
Đề 1 : Nêu và phân tích ngắn gọn quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc – HCM.
Đề 2: Trình bày tóm tắt phong cách nghệ thuật Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.
Đề 3: Phân tích ý nghĩa cách mở đầu của Tuyên ngôn độc lập.
Đề 4: Phân tích cơ sở thực tế của Tuyên ngôn độc lập.
Đề 5: Phân tích Tuyên ngôn độc lập để làm rõ hệ thống lập luận chặt chẽ của tác phẩm.
Đề 6: Phân tích phong cách nghệ thuật văn chính luận HCM qua Tuyên ngôn độc lập.
BÀI 2: TÂY TI N Ế (Quang Dũng)
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả
Trang 7− Tên thật là Bùi Đình Diệm (1921 - 1988)
− Quê quán: Đan Phượng, Hà Tây
− Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc Bởi vậy, dấu ấn hộihọa và âm nhạc in đậm trong các thi phẩm của Quang Dũng
− Phong cách thơ Quang Dũng là phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, hào hoa
2 Tác phẩm
a) Về đoàn quân Tây Tiến và hoàn cảnh sáng tác
− Đoàn quân Tây Tiến:
Thời gian thành lập: đầu năm 1947
Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu haolực lượng quân Pháp ở Thượng Lào và biên giới Tây Bắc Việt Nam
Địa bàn: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa (Việt Nam), Sầm Nưa(Lào) địa bàn rộng lớn, hoang vu, hiểm trở, rừng thiêng nước độc
Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinhviên, điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt rét hoành hành
dữ dội Tuy vậy họ vẫn sống rất lạc quan, vẫn giữ cốt cách hào hoa, lãng mạn
Sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52
− Hoàn cảnh sáng tác: Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác Tại PhùLưu Chanh, tác giả viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, về sau, tác giả đổi thành “Tây Tiến”
− Đoạn 3 (tiếp – Sông Mã gầm lên khúc độc hành): Chân dung người lính Tây Tiến
− Đoạn 4 (còn lại): Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và mảnh đất miền Tây
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
1 Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ gắn với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội và thơ mộng, trữ tình.
− Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ mênh mang, da diết, bật lên thành tiếng gọi:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Đối tượng của nỗi nhớ là con Sông Mã, con sông gắn liền với chặng đường hànhquân của người lính Đối tượng nhớ thứ hai là nhớ Tây Tiến, nhớ đồng đội, nhớbao gương mặt một thời chinh chiến Đối tượng thứ ba của nỗi nhớ đó là “nhớ vềrừng núi” Rừng núi là địa bàn hoạt động của Tây Tiến với bao gian nguy, vất vảnhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn
Điệp từ nhớ được nhắc lại hai lần như khắc sâu thêm nỗi lòng của nhà thơ
Đặc biệt tình cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “nhớ chơi vơi” “Chơivơi” là từ láy diễn tả trạng thái lửng lơ, trơ trọi giữa khoảng không gian rộng “Nhớchơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn,không đầu, không cuối, không thứ tự thời gian, không gian Đó là nỗi nhớ khiếncho tâm hồn con người ta cứ chênh chao giữa hai bờ hiện tại và quá khứ, hiện thực
Trang 8gian và thời gian:
* Hoang sơ, hiểm trở, hùng vĩ
− Tác giả đã liệt kê một loạt những địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, MườngHịch,… Những địa danh này xa lạ với hầu hết độc giả, bởi vậy nó gợi cho người tahình dung về những miền đất xa xôi, hoang vu, heo hút
− Ấn tượng đầu tiên hiện ra trong nỗi nhớ của người lính Tây Tiến về mảnh đất miền Tây
là sương núi mịt mù: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” Trên đỉnh Sài Khao, sươngdày đến độ vùi lấp cả đường đi, vùi lấp cả đoàn quân trong mờ mịt Đoàn quân hànhquân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi rãrời Con người trở nên hết sức bé nhỏ giữa biển sương dày đặc mênh mông ấy…
− Ấn tượng tiếp theo được tác giả tập trung bút lực để khắc họa là núi cao vực sâu, làđèo dốc điệp trùng:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
Con đường hành quân mở ra với biết bao nhiêu khó khăn gian khổ Đường đi toàndốc cao, vực thẳm được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình: “khúc khuỷu” (quanh cokhó đi), “thăm thẳm” (diễn tả độ cao, độ sâu), “heo hút” (xa cách cuộc sống conngười)
Thêm vào đó là một loạt thanh trắc đi liền nhau “dốc lên khúc khuỷu dốc thămthẳm” (bảy chữ mà đã có tới năm chữ là thanh trắc) khiến khi đọc lên ta có cảm giáctrúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy
Cùng với đó, cách ngắt nhịp ở giữa câu thơ (Dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm thẳm;Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống) cũng tạo nên ấn tượng về sự gấp khúc Cóthể hình dung người lính Tây Tiến vừa leo lên được đỉnh dốc cao dựng đứng lại phải
đổ xuống một con dốc khác sâu thăm thẳm và cứ thế cuộc hành quân kéo dài với đèodốc chập chùng
− Miền Tây hoang vu, dữ dội không chỉ được thể hiện theo chiều không gian mà cònđược khám phá theo chiều dài của thời gian:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
"chiều chiều" , "đêm đêm" là hai từ láy chỉ thời gian lặp lại mang tính liên tục Chiều nào cũng thế, đêm nào cũng vậy, khắp núi rừng miền Tây bị bao bọc bởi những âm thanh ghê rợn: “thác gầm thét”, “cọp trêu người” Tất cả đều gợi lên cái uy lực ghê gớm, đầy rẫy những nguy hiểm rình rập của thiên nhiên
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
Và ở nơi đây, người lính Tây Tiến còn được chứng kiến những cảnh tượng mà hiếmnơi nào khác có được Đó là cảnh tượng mưa rừng:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Dừng chân giữa đèo cao dốc đứng, những người lính phóng tầm mắt ra xa, nhữngđường rừng nét núi đã bị xóa nhòa đi tất cả chỉ còn lại một màn mưa bay màu trắngbạc Giữa thung lũng màu mưa ấy thấp thoáng ẩn hiện những ngôi nhà của đồng bàonhư những con thuyền đang bồng bềnh trôi Cảnh tượng vừa thơ mộng vừa gợi lêncảm giác ấm áp, yên bình làm trào dâng nỗi nhớ nhung, xao xuyến trong lòng người
Trang 9xa quê.
Để thể hiện vẻ thơ mộng của núi rừng miền Tây, Quang Dũng sử dụng liên tiếp cácthanh bằng trong một câu thơ gợi cảm giác nhẹ nhàng, bâng khuâng, xao xuyến củalòng người
Bằng sự kết hợp đan xen giữa bút pháp tả thực và lãng mạn, nhà thơ Quang Dũng đã làmsống dậy bức tranh về những chặng đường hành quân của đoàn binh Tây Tiến Trong bứctranh ấy, chủ đạo là những nét vẽ gân guốc, bạo khoẻ của dốc cao, vực thẳm, của sươngrừng, mưa núi song cũng không thiếu những nét vẽ mềm mại, uyển chuyển đầy thơ mộng
b)Hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân:
− Trên nền khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, thơ mộng, Quang Dũng đã pháchoạ những hình ảnh đầu tiên về đoàn quân Tây Tiến Họ hiện lên với vẻ đẹp hồn nhiên,tinh nghịch qua cách nói hóm hỉnh “súng ngửi trời” Nếu viết “súng chạm trời”, nhàthơ sẽ chỉ tả được độ cao của đỉnh dốc mà khi đứng trên đó, mũi súng của người línhTây Tiến như chạm cả vào nền trời Còn “súng ngửi trời” thì lại đem đến cảm nhận làmũi súng như đang ngửi để thăm dò, nhận biết, thưởng thức cái hương vị của mây trời.Nhờ đó mà thiên nhiên trở nên gần gũi với con người và người lính được nâng lên một
tư thế rất đỗi tự hào Đó là tư thế chiến thắng của những người lính trẻ lạc quan yêuđời, vượt lên trên mọi khó khăn của hoàn cảnh
− Ngay cả khi đối mặt với những vất vả, mất mát, hi sinh, phong thái của họ vẫn ngangtàng, kiêu hãnh:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Có thể hiểu đây là hình ảnh người lính phong trần buông mình vào giấc ngủ hiếmhoi trong phút dừng chân sau chặng đường hành quân dài “dãi dầu” nắng mưa,sương gió với núi cao, vực sâu, thác ghềnh dữ dội Một giấc ngủ mệt nhọc nhưng
vô tư, trẻ trung như quên hết thảy sự đời, quên hết cả chiến tranh khốc liệt
Nhưng cũng có thể hiểu đây là câu thơ miêu tả một thực tế đau xót trên chiếntrường khi người lính kiệt sức, gục ngã không thể bước tiếp cùng đồng đội QuangDũng không né tránh hiện thực đau thương ấy, ông viết về cái chết của đồng độinhư một sự xả thân cho lí tưởng Người lính Tây Tiến chết mà “súng mũ” vẫn bênmình, chết trong tư thế lên đường, tư thế hành quân Đây là hình ảnh vừa bi vừahùng làm tỏa sáng vẻ đẹp lí tưởng của người lính
− Trên con đường hành quân nhiều gian khổ, hi sinh, người lính Tây Tiến vẫn luôn tìmthấy niềm vui, niềm hạnh phúc trong tình quân dân ấm áp:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
Mở đầu bằng cụm từ cảm thán “Nhớ ôi…”, câu thơ bộc lộ cảm xúc nhớ nhung dângtrào mãnh liệt Nhớ về Tây Tiến, người lính không thể quên tình cảm quân dân trongnhững tháng ngày hành quân dãi dầu gian khổ Trên con đường gian lao, một hômnào đó người lính đã dừng chân ở một bản làng giữa rừng sâu Nơi đây, các anh đãđược đồng bào, đặc biệt là các cô sơn nữ xinh đẹp như những bông hoa rừng đóntiếp niềm nở bằng những bữa cơm nếp xôi mà khói hương từ đấy cứ thơm ngát mỗibước quân hành
Ở đây, Quang Dũng cũng đã sáng tạo được một kết hợp từ độc đáo: “mùa em”.Người ta thường nói “mùa hoa”, “mùa quả”… để chỉ thời điểm căng tràn, đầy ắp sắchương, vị ngọt của hoa trái Cách nói “Mai Châu mùa em thơm nếp xôi” khiến choMai Châu không chỉ là một địa danh gắn với kỉ niệm thơm thảo của xôi nếp đầumùa, của tình quân dân thắm thiết mà còn là quê hương của những cô gái miền Tây
Trang 10duyên dáng, căng tràn sức trẻ, nồng nàn hương sắc Những thanh bằng trong câu thơ
đã gợi tả tinh tế cảm giác bồng bềnh, xao xuyến tới ngây ngất, đê mê trong tâm hồnnhững chàng trai Hà thành hào hoa, lãng mạn
Kết luận: Với sự kết hợp uyển chuyển giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, giữa
chất hoạ và chất nhạc, 14 câu thơ đầu trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng đã tái hiệnsinh động và gợi cảm về mảnh đất miền Tây hiểm trở, khắc nghiệt mà thơ mộng, kì thúgắn liền với chặng đường hành quân của trung đoàn Tây Tiến Đồng thời, phác hoạ đượcnhững nét đầu tiên bức chân dung người lính Tây Tiến Có thể nói, ngay từ những nétphác hoạ ban đầu này, Quang Dũng đã thể hiện được vẻ đẹp hào hùng và hào hoa củađoàn quân Tây Tiến
2 Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm lửa trại và cảnh sông nước miền Tây một chiều sương giăng hư ảo.
Trong đoạn thơ thứ hai, Quang Dũng đã tái hiện những ấn tượng sâu sắc về một đêm lửa trại và sau đó là nỗi nhớ của nhà thơ về cảnh và người miền Tây trong một buổi chiều sương giăng hư ảo Thông qua những kỉ niệm và nỗi nhớ ấy, Quang Dũng đã khắc hoạ sinh động vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa của chiến sĩ Tây Tiến
a) Bốn câu đầu miêu tả những ấn tượng sâu sắc, những cảm nhận tinh tế về một đêm lửa trại nơi trú quân giữa một bản làng nào đó ở miền Tây
− Trong hoàn cảnh chiến tranh, giữa nơi rừng sâu núi xa, chắc chắn đêm lửa trại của bộđội Tây Tiến với đồng bào địa phương cũng chỉ được tổ chức sơ sài Nhưng qua ngòibút lãng mạn, hào hoa của Quang Dũng, nó biến thành một dạ tiệc tưng bừng như tronghuyền thoại, cổ tích
− Câu thơ đầu tiên tựa như một tiếng reo vui:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Qua cái nhìn lãng mạn của người lính Tây Tiến, nơi trú quân tạm thời thành “doanhtrại” uy nghi, sang trọng; ánh lửa bập bùng trở thành “đuốc hoa” của phòng cướiđêm tân hôn
Nhà đại văn hào nước Pháp – Huygo có nói: “Chữ nào đặt đúng chỗ là chữ đó haynhất” Với câu thơ đầu tiên của đoạn 2 này thì “bừng” là từ hay nhất Nó là một nốtnhấn tươi sáng cho cả câu thơ Nó không chỉ đem đến ấn tượng về ánh sáng – thứánh sáng chói loà, đột ngột của lửa, của đuốc, xua đi cái tối tăm, lạnh lẽo của núirừng mà còn thể hiện được không khí tưng bừng của đêm hội và niềm vui sướng rạorực làm bừng sáng mỗi gương mặt của các chiến sĩ
− Trên nền khung cảnh lung linh, tưng bừng của đêm “hội đuốc hoa” nổi bật lên hình ảnhngười thiếu nữ miền sơn cước:
Kìa em xiêm áo tự bao giờ Khèn lên man điệu nàng e ấp
Từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” bộc lộ cảm giác vừa ngỡ ngàng thú vị, vừangưỡng mộ trìu mến của các chiến sĩ trước sự xuất hiện của các cô gái miền Tây
Dưới con mắt của những chàng lính trẻ, các cô gái hiện lên với hai ấn tượng đẹp đẽ:lộng lẫy trong xiêm áo và e ấp, đầy nữ tính trong những điệu múa phương xa
Đằng sau câu thơ, ta như thấy cả những nụ cười, những ánh nhìn tinh nghịch củanhững chàng lính trẻ hồn nhiên, yêu đời
− Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng, thú vị trước vẻ đẹp của người thiếu nữ miềnTây e ấp và duyên dáng mà còn mơ màng trong “man điệu” núi rừng và đắm say trongtiếng khèn, tiếng nhạc Ánh sáng rực rỡ của lửa trại; dáng vẻ lộng lẫy, những điệu múauyển chuyển, duyên dáng của những người sơn nữ; âm thanh ngọt ngào, réo rắt của vũhội, tất cả đều như mê hoặc lòng người, đưa tâm hồn người phiêu diêu bay bổng trongthế giới mộng mơ để “xây hồn thơ”:
Trang 11Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Như vậy, chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ lên trước mắt người đọc một bứctranh lễ hội tưng bừng, rực rỡ màu sắc, náo nức âm thanh và chan chứa tình người Trongphút chốc, hiện thực gian khổ, tàn khốc của chiến tranh đã bị đẩy lùi Đoạn thơ không chỉcho ta thấy được vẻ đẹp đầy bản sắc văn hóa của đồng bào miền biên cương phía Tây của
Tổ quốc, mà còn cho ta thấy được tình quân dân đằm thắm keo sơn và tâm hồn lạc quanyêu đời, yêu cuộc sống kháng chiến gian khổ mà vui tươi của người lính Tấy Tiến
b) Tới đoạn sau, nhà thơ lại đem tới cho người đọc những cảm xúc bâng khuâng, xa vắng trong nỗi nhớ về một buổi chia tay trên nền sông nước mênh mang, hoang vắng, huyền ảo và chứa chan thi vị
- Câu thơ mở đầu gợi lên cảm giác bồng bềnh, như hư như thực:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Buổi chia tay diễn ra nơi Châu Mộc vào một chiều sương giăng hư ảo Thiên nhiênbuổi chiều vốn đã mờ ảo lại càng mờ ảo hơn khi được phủ lên bởi lớp sương mù bảnglảng Người đi trong chiều mà cũng là đi trong sương
- Sau câu thơ mở đầu gợi cảm giác nhớ nhung, bồng bềnh, hư ảo, nhà thơ đã dùng bútpháp chấm phá để vẽ lên một bức tranh lụa mượt mà Đầu tiên là nét gợi về nhữnghàng lau trắng bên bờ sông hoang dại:
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Phép nhân hoá “hồn lau” kết hợp với cụm từ “nẻo bến bờ” gợi lên một không gianhoang vu, lặng tờ, hiu quạnh và khiến cho cảnh vật như cũng có linh hồn, những bônglau trắng như cũng mang nỗi buồn vắng, mênh mang
- Nổi bật trên dòng sông như nỗi niềm cổ tích ấy là hình ảnh dáng người trên chiếcthuyền độc mộc và bông hoa trôi theo dòng nước lũ:
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
Phép điệp cấu trúc cú pháp “Có thấy…”, “Có nhớ” như lời tự vấn trở đi trở lại đầytrăn trở, chạm khắc vào lòng người nỗi nhớ nhung da diết, khôn nguôi
Trong màn sương mờ nhoà của chiều sương Châu Mộc và của dòng hoài niệm, conngười miền Tây chỉ hiện lên như một bóng dáng mờ xa, huyền ảo Dáng người ấyvừa cứng cỏi, kiên cường trên con thuyền độc mộc băng băng lướt trên thác lũ, vừamềm mại, duyên dáng trong hình ảnh ẩn dụ “hoa đong đưa”
Quang Dũng đã rất tinh tế khi dùng từ “đong đưa” thay vì “đung đưa” Bởi “đungđưa” chỉ thuần túy tả chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật lý, còn “đongđưa” vừa tả chuyển động vừa giàu ý nghĩa biểu cảm, làm cho bông hoa trở thànhmột sinh thể duyên dáng và rất đa tình Hoa cũng như người dường như đang soimình, đang làm duyên với dòng nước lũ
Kết luận:
- Đoạn thơ thể hiện tài năng của Quang Dũng trong việc sử dụng từ ngữ khi nhà thơ sửdụng đắc địa những từ đặc biệt có giá trị biểu hiện và biểu cảm như: bừng, kìa, hồn lau,đong đưa,… Đồng thời, tài năng âm nhạc và hội hoạ của Quang Dũng cũng đã đem đếnchất nhạc, chất hoạ cho đoạn thơ Chỉ bằng 8 câu thơ, Quang Dũng đã đưa người đọcđến với khung cảnh rực rỡ, lung linh, tưng bừng, náo nức của đêm lửa trại và một bứctranh mờ ảo, tĩnh lặng như thực như hư với vài nét chấm phá của buổi chiều miền ChâuMộc
- Đoạn thơ cũng cho ta thấy được tấm lòng của Quang Dũng dành cho con người và cảnhvật miền Tây Tổ quốc và tâm hồn lạc quan, lãng mạn tài hoa của tác giả nói riêng, củangười lính Tây Tiến nói chung
Trang 123 Đoạn 3: Bức tượng đài bi tráng về đoàn quân Tây Tiến:
Nhà nghiên cứu văn học Phong Lan đã gọi bài thơ Tây Tiến là “bức tượng đài bất tử về người lính vô danh” Từ đầu bài thơ dòng nào cũng lấp lánh sáng lên vẻ đẹp của người
chiến binh, nhưng chỉ đến khổ thứ ba này, bức tượng đài về người lính Tây Tiến mới thực
sự được hoàn tất
a) Ngoại hình phi thường, khác lạ
Nhớ về những người đồng đội trong đơn vị cũ, Quang Dũng không khắc hoạ mộtnhân vật cụ thể nào mà tập trung xây dựng một bức tượng đài tập thể của cả một “đoànbinh” Bản thân từ Hán Việt “đoàn binh” đã gợi lên hình ảnh của những con người theonghiệp “binh đao” – những con người mang vẻ ngoài dữ dội, mạnh mẽ Và quả thực theodòng hoài niệm của Quang Dũng, người chiến sĩ Tây Tiến hiện lên với ngoại hình phithường, đặc biệt:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Trên con đường chiến chinh gian khổ, chiến sĩ Tây Tiến không chỉ phải vượt quadốc cao vực sâu hay bom đạn của kẻ thù mà còn phải đối mặt với đói rét và bệnh tật.Quang Dũng đã không né tránh hiện thực khốc liệt ấy của chiến tranh Cái đầu “khôngmọc tóc” và nước da “xanh màu lá” của các anh chính là dấu tích của những khó khănthiếu thốn về vật chất và sự hành hạ của căn bệnh sốt rét rừng
Cách nói “Đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” đã đưa những người línhTây Tiến từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, cứ như là các anh không cần mọc tóc và
cố tình để màu da của mình hoà lẫn với màu xanh của lá nguỵ trang, của rừng xanh bạt ngàn
để tiện cho việc chiến đấu vậy Người lính Tây Tiến vì thế hiện lên không tiều tuỵ, ốm yếu
mà kiêu dũng, ngang tàng
Nét kiêu dũng, ngang tàng đó được thể hiện sắc nét, ấn tượng hơn ở sự tương phảngiữa ngoại hình và khí chất (“xanh màu lá” – “dữ oai hùm”): trên những khuôn mặt xanhxao gày ốm vẫn toát lên nét dữ dội, uy nghiêm như những vị chúa tể rừng xanh
Như vậy, có thể thấy chỉ bằng hai hình ảnh thơ, Quang Dũng đã không chỉ nóiđược đầy đủ, sâu sắc cuộc sống chiến đấu gian khổ của người lính Tây Tiến mà còn khắchọa được vẻ đẹp hào hùng, khí phách mạnh mẽ của họ
b) Lí tưởng cao đẹp và tâm hồn lãng mạn, hào hoa
Trong dòng hồi tưởng của Quang Dũng, đằng sau ngoại hình dữ dội, oai phong củangười lính Tây Tiến không phải là một tâm hồn khô khan, thô ráp mà là một tâm hồn lắmmộng mơ:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Vũ Quần Phương đã từng nhận xét: “hai câu thơ như chứa đựng cả hai thế giới” –
thế giới của biên cương và thế giới của Hà Nội Biên cương là chiến trường lửa đạn, HàNội là quê hương ngàn năm văn hiến Người lính Tây Tiến dõi về nơi biên giới bằng đôi
“mắt trừng” Đó là ánh mở to, cương nghị, quyết đoán, dữ dội Ánh mắt ấy thể hiện giấcmộng chiến công, mộng truy kích quân thù để bảo vệ non sông Còn hướng về Hà Nội,giấc mơ của các anh lại chập chờn những “dáng kiều thơm” Đó là bóng dáng của nhữngthiếu nữ Hà thành kiều diễm, thanh lịch Câu thơ gợi nghĩ đến nỗi nhớ của anh bộ độitrong thơ Nguyễn Đình Thi:
Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Chính những “bóng kiều thơm”, những ánh “mắt người yêu” như thế đã trở thành đôicánh nâng đỡ tinh thần người lính, giúp các anh vượt qua được mọi khó khăn gian khổ nơichiến trường ác liệt
Như vậy, giấc mộng cho thấy lí tưởng cao đẹp, ý chí chiến đấu mạnh mẽ còn giấc
Trang 13mơ cho thấy tâm hồn trẻ trung, chan chứa yêu thương của người lính Tây Tiến Ở các anh
có sự thống nhất hài hoà giữa cái chung và cái riêng, giữa lí tưởng và tình cảm Chính tìnhyêu thương là động cơ đẹp đẽ để các anh lên đường chiến đấu, còn lí tưởng cách mạng lạikhiến tình yêu thêm cao cả, lớn lao
c) Sự hi sinh đầy bi tráng
− Người xưa từng nói:
“Xưa nay những chốn chiến binh Hỏi ai đem được thân mình về chưa?
Thế nhưng trong thơ ca cách mạng, các nhà thơ lại thường né tránh nhắc đến cáichết Quang Dũng không thế Ông viết lại theo đúng những gì ông đã trải nghiệm Cuộcsống chiến đấu của người lính Tây Tiến có vô vàn khó khăn gian khổ, cũng có nhiềunhững phút giây thơ mộng; có lí tưởng cao đẹp, cũng có tình cảm riêng tư thầm kín Và…
có cả cái chết, không phải một cái chết mà rất nhiều cái chết:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ.
Người lính Tây Tiến ngã xuống dọc đường hành quân, đồng đội xót lòng để các anh lạitrong những nấm đất hoang lạnh nơi rừng sâu Rải rác khắp miền biên giới của Tổ quốc
là biết bao nhiêu nấm mồ như vậy
Có một điều đặc biệt là trong câu thơ này, cả 4 từ đều gợi lên sự xa cách: “rải rác” gợi
ra khoảng cách của những nấm mồ nằm xa nhau, “biên cương” là nơi xa nhất của Tổquốc, “viễn xứ” là xứ xa, mồ là hình ảnh của cái chết – gợi sự xa cách sinh – tử, cõi âm– cõi dương,… Phép điệp nghĩa tinh tế này đã đem đến cảm giác ảm đạm, buồn bã cho
cả câu thơ
− Trần Lê Văn đã từng nhận xét: “Tây Tiến phảng phất nét buồn đau, nhưng buồn đau
mà không hề bi luỵ” Quả đúng như vậy, cảm xúc bi thương ở câu trên đã được nâng
lên thành bi tráng ở câu sau:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
“Chiến trường” là nơi bom đạn khốc liệt, là cái chết cận kề, là dữ dội nguy nan
“Đời xanh” là ẩn dụ chỉ tuổi trẻ, quãng thời gian tươi đẹp và quý giá nhất đối với mỗingười Đó cũng là quãng đời mà bao nhiêu tương lai, hạnh phúc, bao hoa trái ngọt ngàocòn ở cả phía trước
Quãng đời tươi đẹp, quý giá và thiêng liêng như thế mà những người lính Tây Tiến vẫnsẵn sàng dâng hiến cho Tổ quốc chẳng hề nuối tiếc, đắn đo Cách nói “chẳng tiếc đờixanh” đã làm nổi bật tinh thần sẵn sàng hi sinh và hoàn toàn tự nguyện của nhữngngười lính trẻ Tây Tiến
Đó là khí phách của những con người dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng gạt tình riêng vìnghĩa lớn Bởi vậy, họ đón nhận cái chết bằng một thái độ rất nhẹ nhàng:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Quang Dũng đã từng tâm sự: “Khi sĩ từ nằm xuống không có đủ manh chiếu để liệm,nói áo bao thay chiếu là mượn cách nói của thơ trước đây để an ủi những người đồngchí vừa ngã xuống”
Như vậy, hiện thực là tàn khốc: người lính Tây Tiến hi sinh, không có đủ chiếu đểkhâm liệm, các anh được khâm liệm trong chính tấm áo của mình Thế nhưng bằng bútpháp mĩ lệ hoá của cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã biến tấm áo quân phục sờnrách của người lính thành tấm áo bào đẹp đẽ, sang trọng, thiêng liêng
Hình ảnh “áo bào” và việc sử dụng nhiều từ Hán Việt trong đoạn thơ không chỉ mangđến không khí trang trọng, làm dịu vợi nỗi đau trước hiện thực tàn khốc của chiến tranh
mà còn hàm chứa niềm biết ơn và cảm phục sâu sắc với sự hi sinh của những chiến sĩanh hùng
Nỗi đau đớn còn được xoa dịu bởi cách nói giảm, nói tránh “anh về đất” Chết không
Trang 14phải là ra đi mãi mãi mà chết là “về” với đất, để được đất mẹ bao la vĩnh hằng ôm ấpchở che, để được thanh thản nghỉ ngơi trong thế giới của “những người chưa bao giờkhuất – Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất – Những buổi ngày xưa vọng nói về” (NguyễnĐình Thi)
− Đoạn thơ kết lại bằng một câu thơ đầy bi tráng:
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Sông Mã đã xuất hiện trong tiếng gọi tha thiết ở đầu bài thơ “Sông Mã xa rồi TâyTiến ơi!” như một biểu tượng của mảnh đất miền Tây của Tổ quốc thân yêu, đến đây sông
Mã lại trở lại với âm thanh hào hùng dữ dội trong cảnh tiễn đưa tử sĩ Sông Mã thay lời cho
cả thiên nhiên, trời đất, núi sông “gầm lên” khúc tráng ca tiễn đưa những người con thânyêu trong chuyến đi “độc hành” về với đất của họ Ý thơ hào hùng nhưng cũng phảng phất
âm hưởng cô đơn, ngậm ngùi Cảm xúc ấy là không tránh khỏi khi đứng trước cái chết, khiphải tiễn đưa những người thân yêu trong chuyến đi cuối cùng luôn luôn là cô độc
Kết luận: Đoạn thơ đã thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ
thuật của Quang Dũng Đó là bút pháp tương phản đầy ấn tượng của cảm hứng lãng mạn,
là chất hoạ và chất nhạc đậm nét với giá trị biểu cảm mạnh mẽ, là chất bi tráng đưa đếnnhững xúc cảm mạnh mẽ trong lòng người đọc Qua đó, Quang Dũng đã khắc hoạ sâuđậm hình ảnh người chiến binh Tây Tiến trong cả cuộc sống chiến đấu gian khổ và sự hisinh anh dũng, làm hiện lên vẻ đẹp toàn vẹn trong tâm hồn các anh – những người línhkiêu dũng, ngang tàng và lãng mạn, hào hoa Có thể nói, với bài thơ Tây Tiến, đặc biệt làvới đoạn thơ thứ ba này, Quang Dũng đã khắc tạc được bức tượng đài bất tử về anh bộ đội
cụ Hồ trong những năm kháng chiến chống Pháp:
“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và con người ấy, bài thơ ấy Vẫn sống muôn đời cùng núi sông.”
(Giang Nam)
4 Đoạn 4: Khúc vĩ thanh nhớ nhung về miền Tây và Tây Tiến
− Trở về với hiện tại, miền Tây và Tây Tiến đã lùi xa trong kí ức, trong nỗi nhớ nhung:
Tây Tiến người đi không hẹn ước Đường lên thăm thẳm một chia phôi
“Người đi” mang ý nghĩa mơ hồ:
Có thể hiểu đó là những chàng trai Hà Nội năm xưa gác bút nghiên, từ biệt quê hương,
ra nhập đoàn quân Tây Tiến và không hẹn ngày trở về Khoảng cách giữa quê hương vàTây Tiến là con đường thăm thẳm, vô định – nghĩa là các anh xác định sẽ chia phôi mãimãi với quê nhà Ý thơ nhấn lại lí tưởng “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của ngườilính Tây Tiến Nhưng giọng thơ rõ ràng có chút gì đó bùi ngùi, lưu luyến Người línhTây Tiến như phải rằn lòng, kìm nén tình riêng với quê hương vì nghĩa lớn Cách hiểunày gợi niềm thương mến, cảm phục và xót xa cho những “người chiến sĩ, mùa xuân
ấy, ra đi từ đó không về”…
Cũng có thể hiểu “người đi” chính là nhà thơ Mùa đông năm 1948, tại làng Phù LưuChanh, Quang Dũng bâng khuâng nhớ lại việc mình đã chia xa trung đoàn Tây Tiến, đã
từ biệt miền Tây mà “không hẹn ước” ngày trở lại, bởi “Đường xa thăm thẳm” Cáchhiểu thể hiện nỗi nhớ nhung tha thiết của nhà thơ với đồng đội và mảnh đất miền Tây
− Bài thơ kết lại bằng một lời khái quát:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
“Ai” cũng lại là một đại từ phiếm chỉ, chỉ tất cả những chàng thanh niên trẻ đã ra nhậpđoàn quân Tây Tiến vào “mùa xuân ấy” “Mùa xuân ấy” là mùa xuân năm 1947 – thờiđiểm thành lập trung đoàn Tây Tiến, hay là “mùa xuân” – tuổi trẻ cuộc đời những
Trang 15người lính? Với tất cả những người lính đã từng chiến đấu trong binh đoàn Tây Tiến,những tháng ngày gắn bó với trung đoàn, với miền Tây sẽ là khoảng thời gian khôngbao giờ quên được, bởi họ đã để lại một phần cuộc đời, một phần linh hồn của mình ởmảnh đất này Quả đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn.
III TỔNG KẾT
Bài thơ Tây Tiến kết tinh những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ thuật củaQuang Dũng Đó là bút pháp tương phản đầy ấn tượng của cảm hứng lãng mạn, là chấthoạ và chất nhạc đậm nét với giá trị biểu cảm mạnh mẽ, là chất bi tráng đưa đến nhữngxúc động sâu sắc trong lòng người đọc Qua đó, nhà thơ đã dựng lên bức tượng đài bất tử
về người lính Tây Tiến một thời với vẻ đẹp kiêu dũng, ngang tàng và lãng mạn, hào hoa.Đồng thời, vẽ lên bức tranh sống động về mảnh đất biên cương miền Tây của Tổ quốc với
vẻ đẹp hoang sơ, bí ẩn nhưng cũng rất đỗi thơ mộng, trữ tình
Đề 4: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến.
Đề 5: Vẻ đẹp của thiên nhiên miền tây Tổ quốc được thể hiện trong bài thơ “Tây Tiến”
Đề 6: “Xét về phương diện nghệ thuật, cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi tráng là hai
nét đặc sắc cơ bản bao trùm bài thơ” Anh/ chị hãy phân tích bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng để làm sáng tỏ nhận định trên
BÀI 3: VI T B C Ệ Ắ
Ph n 1: Tác gi T H u ầ ả ố ữ
1 Giới thiệu chung
Nhà thơ Tố Hữu được đánh giá là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, được ngợi
ca là “con chim sơn ca” của cách mạng
2 Vài nét về tiểu sử
Tên khai sinh: Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002)
Quê quán: làng Phù Lai, nay thuộc xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế
Xuất thân: gia đình nhà nho nghèo
Thời thơ ấu, sinh ra và lớn lên ở Huế
Thời thanh niên, sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động
Sau đó, ông lần lượt đảm nhiệm những nhiệm vụ trọng yếu trên mặt trận văn hoá vănnghệ, trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
3 Đường cách mạng, đường thơ
Tố Hữu đến với thơ ca và cách mạng cùng một lúc Các chặng đường thơ của Tố Hữu luôn song hành, gắn bó và phản ánh chân thực những chặng đường đấu tranh cách mạng gian khổ, vinh quang của dân tộc, đồng thời thể hiện sự vận động trong tư tưởng và nghệ thuật của chính nhà thơ.
Các tập thơ Hoàn cảnh st Đặc điểm tiêu biểu
Trang 161) Từ ấy
(1937 1946) Phong trào Mặttrận dân chủ và
cuộc vận động tiếntới CMT8 năm1945
Đánh dấu bước trưởng thành của người thanhniên quyết tâm đi theo Đảng:
Chia sẻ, cảm thông với cuộc đời cơ cực củanhững người nghèo khổ trong XH
Khao khát tự do, quyết tâm chiến đấu trongchốn lao tù
Nồng nhiệt ngợi ca thắng lợi của CMT8
2) Việt Bắc
(1946 1954) Cuộc kháng chiếnchống Pháp gian
khổ, anh dũng củadân tộc
Tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc khángchiến chống Pháp và con người kháng chiến
Thể hiện những tình cảm lớn
3) Gió lộng
(1955 1961) Miền Bắc đi lên xâydựng CNXH và đấu
tranh thống nhất đấtnước
Hướng về quá khứ để ghi sâu ân tình cách mạng
Ngợi ca cuộc sống mới trên miền Bắc
Tình cảm thiết tha, sâu đậm với miền Nam ruộtthịt
và toànthắng
Bản hùng ca về miền Nam trong lửa đạn sángngời
Ghi lại chặng đường CM đầy gian khổ, hi sinh,khẳng định niềm tin, niềm tự hào phơi phới khitoàn thắng về ta
Những suy tư, chiêm nghiệm mang tính phổquát về con người, cuộc đời
Niềm tin vào lí tưởng và con đường cách mạng,tin vào chữ nhân luôn toả sáng trong mỗi tâm hồncon người
III PHONG CÁCH THƠ TỐ HỮU
* Khái niệm phong cách:
Nói đến phong cách nghệ thuật của một tác giả là nói đến một sự bền vững, xuyên suốt,lặp đi lặp lại nhiều lần trong sáng tác trên các phương diện nội dung, hình thức thể hiện,nghệ thuật Nói cách khác, đó là sự thể hiện tài nghệ của người nghệ sĩ trong việc đưa đếncho độc giả một cái nhìn mới mẻ về cuộc đời thông qua những phương thức, phương tiệnnghệ thuật mang đậm dấu ấn cá nhân của người sáng tạo
* Phong cách thơ Tố Hữu:
1 Về nội dung: mang tính chất trữ tình chính trị
Trong việc biểu hiện tâm hồn, thơ TH luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tìnhcảm lớn, niềm vui lớn của con người CM, của cả dân tộc (VD: những tình cảm lớn như:
tình yêu lí tưởng (Từ ấy), tình cảm kính yêu lãnh tụ (Sáng tháng Năm), tình đồng bào, đồng chí, tình quân dân (Cá nước), tình cảm quốc tế vô sản (Em bé Triều Tiên)…; niềm vui lớn (niềm vui chiến thắng trong Huế tháng Tám, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, Toàn thắng về ta).
Trong việc miêu tả đời sống, thơ TH mang đậm tính sử thi:
+ Đối tượng hướng đến của cảm xúc: các sự kiện chính trị lớn lao, những vấn đề có tínhchất lịch sử và ý nghĩa toàn dân, những biến cố rộng lớn liên quan đến vận mệnh dân tộc
Trang 17+ Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng lịch sử dân tộc chứ không phải cảm hứng thế sự đời tư.+ Con người hiện diện trong thơ: tiêu biểu cho phẩm chất dân tộc, mang tầm vóc lịch sửthời đại (anh vệ quốc quân, anh giải phóng quân, anh Nguyễn Văn Trỗi, chị Trần Thị Lý…).+ Giọng điệu thơ: Thơ THữu có giọng điệu riêng rất dễ nhận ra, đó là giọng tâm tình,ngọt ngào, tha thiết, giọng của tình thương mến (Điều này thể hiện rõ từ những cách xưng
hô với đối tượng trò chuyện, tâm sự (Bạn đường ơi!; Hỡi người bạn; Anh vệ quốc quân ơi ) cho đến cả thnhiên đất nước (Xuân ơi xuân; Hương Giang ơi; Đất nước ta ơi ).
+ Thường sử dụng những ngôn từ giản dị, những thi liệu truyền thống (Ai về mua vạiHương Canh – Ai lên mình gửi cho anh với nàng)
+ Tố Hữu có biệt tài trong việc sử dụng từ láy, phối hợp thanh, vần, phát huy cao độ tínhnhạc phong phú của tiếng Việt (Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan – Đường Bạch Dương sươngtrắng nắng tràn/ Gió lộng xôn xao, gió biển đu đưa – Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát)
Phần 2: Đoạn trích “Việt Bắc”
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Về bài thơ “Việt Bắc”
a) Xuất xứ, vị trí
Là bài thơ tiêu biểu, được coi là linh hồn của tập thơ “Việt Bắc” (1946 – 1954)
“Việt Bắc” không chỉ là đỉnh cao của thơ Tố Hữu mà còn là một trong những thànhcông xuất sắc của thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp “Việt Bắc” được coi là khúchùng ca và bản tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến
b) Hoàn cảnh sáng tác
Việt Bắc là khu căn cứ của cách mạng Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp
Tháng 5/ 1954, chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi Tháng 7/ 1954 , hiệp địnhGiơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết Hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng và đilên xây dựng CNXH, một trang sử mới của đất nước mở ra
Tháng 10/ 1954 , TW Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Thủ đô Hà Nội
Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố Hữu sáng tác bài thơ “Việt Bắc”
Hoàn cảnh sáng tác: cho thấy rõ hơn cảm hứng chủ đạo của bài thơ Đó là nỗi nhớ thươnglưu luyến trong giờ phút chia tay, là nghĩa tình thắm thiết với Việt Bắc, quê hương cách mạng,với đất nước và nhân dân, với cuộc kháng chiến nay đã trở thành kỉ niệm
c) Kết cấu, bố cục
Kết cấu: Bài thơ được kết cấu theo hình thức đối đáp giữa mình và ta, giữa người đi và
kẻ ở tựa những câu hát giao duyên trong ca dao xưa Nhưng thực ra, bên trong lớp đốithoại của kết cấu là lời độc thoại của tâm trạng: kẻ ở người đi, câu hỏi lời đáp cũng chỉ
là sự phân thân của chủ thể trữ tình, là thủ pháp để nhà thơ bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng, tạo
ra sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân
Bố cục: Bài thơ “Việt Bắc” gồm 2 phần:
+ Phần 1: Thông qua diễn tả tâm trạng nhớ nhung giữa người về xuôi với Việt Bắc vàViệt Bắc với người về xuôi, nhà thơ đã tái hiện một giai đoạn kháng chiến gian khổ hàohùng của dân tộc, nay đã thành kỷ niệm sâu lắng trong lòng mỗi người
Trang 18+ Phần 2: Nhà thơ vẽ lên viễn cảnh tương lai tươi sáng của đất nước và ca ngợi cônglao của Đảng, của lãnh tụ Hồ Chí Minh với dân tộc.
2 Về đoạn trích “Việt Bắc” trong SGK
a) Vị trí: Văn bản trong SGK là thuộc phần 1 của bài thơ “Việt Bắc”
Phần in nghiêng: là lời người ở lại – đồng bào Việt Bắc
Phần in đứng: là lời người ra đi – cán bộ kháng chiến
II TÌM HIỀU VĂN BẢN
1 Lượt lời thứ nhất của người ở lại (4 câu đầu): Lời trăn trở, nhớ thương của người
ở lại với người ra đi.
− Mở đầu bài thơ là 2 câu hỏi tu từ mang âm hưởng ca dao của người Việt Bắc dành chongười ra đi Hỏi không phải để mong nhận được câu trả lời mà là để gợi nhắc những kỉniệm và thể hiện tâm trạng lưu luyến của người tiễn đưa
− Câu hỏi thứ nhất gợi nhắc những kỉ niệm về thời gian : “Mình về mình có nhớ ta /Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
Trong câu hỏi này, “mình” chỉ người ra đi, “ta” chỉ người ở lại Cách xưng hô gợinghĩ đến những câu ca dao tiễn bạn đầy bịn rịn : “Mình về ta chẳng cho về / Tanắm vạt áo, ta đề câu thơ”
Trong câu thơ của Tố Hữu, “mình” ở đầu câu thơ, “ta” ở cuối câu thơ, tưởng như
xa cách nhưng lại hoá ra gần gũi bởi được kết dính với nhau bằng nỗi nhớ Nỗi nhớđược xây dựng trên cơ sở của “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
“Mười lăm năm” là chi tiết tả thực, tính từ sau khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 chođến tháng 10 năm 1954 Đó là khoảng thời gian lịch sử trọng đại của cách mạng,của dân tộc Trong khoảng thời gian đó, nhân dân Việt Bắc đã đồng cam cộng khổ,chung sức chung lòng với cách mạng làm nên những thắng lợi vĩ đại, giành lại độclập, tự do cho dân tộc
Cũng trong khoảng thời gian này, nghĩa tình cách mạng giữa đồng bào Việt Bắc vàcán bộ kháng chiến ngày càng keo sơn, thắm thiết Bốn chữ “thiết tha mặn nồng”chất chứa biết bao tình cảm sâu đậm
− Câu hỏi thứ hai gợi nhắc những kỉ niệm về không gian : “Mình về mình có nhớ không /Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn ?”
“cây - núi”, “sông - nguồn” trước hết là những hình ảnh tả thực của thiên nhiên.Người ở lại nhắn nhủ người về xuôi: về Hà Nội rồi, nhìn cây thì hãy nhớ đến núirừng chiến khu, nhìn sông thì hãy nhớ đến suối nguồn Việt Bắc
Hơn nữa, hình ảnh “núi” và “nguồn” còn gợi mở những miền không gian linhthiêng, trừu tượng Đó là miền không gian của sự khởi thuỷ, của sự lớn lao không gì
đo đếm được như trong ca dao : “Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nướctrong nguồn chảy ra” Bởi vậy, câu hỏi thứ hai này còn là lời dặn dò kín đáo củangười ở lại đối với người về xuôi : đừng quên Việt Bắc đã từng là cội nguồn cáchmạng Đây chính là đạo lí “Uống nước nhớ nguồn” từ ngàn đời của ông cha ta
Trang 19 Bốn câu thơ tạo thành hai cặp câu bắt đầu với điệp ngữ “mình về mình có nhớ”, cùngvới các điệp từ “nhớ”, “nhìn” vang lên như một nỗi niềm lưu luyến khôn nguôi của người
ở lại Sự tài tình của nhà thơ được thể hiện ở chỗ chỉ với hai câu hỏi tu từ, một câu gợinhớ thời gian, một câu gợi nhớ không gian, nhà thơ đã bao quát được cả một thời cáchmạng, một trời cách mạng với biết bao nhiêu ân tình
2 Lượt lời thứ nhất của người ra đi (từ câu 5 đến câu 8): Tâm trạng của người ra đi trong giờ phút phân li
− Lời của trái tim sẽ chạm đến với trái tim và ngân rung thành những lời tâm tình thathiết Vì vậy nếu bốn câu thơ đầu là nỗi lòng của người ở lại thì bốn câu sau là tiếnglòng đồng vọng của người ra đi :
“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”
“Ai” là đại từ phiếm chỉ Ở đây, nó chỉ người ở lại nhưng không rõ là người nào.Dường như người ra đi đang đắm chìm trong dòng hoài niệm về “mười lăm năm”
đã qua ở mảnh đất này, và bây giờ mới giật mình trở lại với hiện tại
Hiểu được nỗi lòng “tha thiết” của người ở lại nên người ra đi cũng bày tỏ tâmtrạng của mình lúc chia xa : “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi” Câu thơđược ngắt nhịp 4/4 với hai vế tiểu đối đã thể hiện được sự thống nhất giữa tâmtrạng bên trong và hành động bên ngoài của người ra đi Vì trong lòng “bângkhuâng” − luyến tiếc, nhớ thương xen lẫn nên bước chân cũng như mang đầy tâmtrạng “bồi hồi bước đi” Đó bước chân dùng dằng, bịn rịn, nửa như muốn bước đi,nửa như muốn quay lại, nửa không muốn xa, nửa vẫn đành phải xa
− Vào giờ phút chia li ấy, điều đọng lại sâu đậm trong tâm trí người ra đi là hình ảnh “áochàm” : “Áo chàm đưa buổi phân li” Đây là hình ảnh hoán dụ chỉ người dân Việt Bắc,đồng thời cũng gợi nhiều suy nghĩ, liên tưởng Màu chàm trầm ấm gợi nghĩ đến nhữngtấm lòng hồn hậu, chất phác và ấm áp nghĩa tình của con người Việt Bắc − nhữngngười đã đồng cam cộng khổ, chia ngọt sẻ bùi với người ra đi trong suốt mười lăm nămqua Màu áo ấy, điệu hồn ấy sẽ còn in mãi trong tâm trí người ra đi
− Nỗi xúc động trào dâng, khiến người ra đi như nghẹn lời, mọi cảm xúc dồn nén trongcái cầm tay lưu luyến : “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Bao lưu luyến vấn vương, bao yêu thương nồng đượm gửi gắm trong cái cầm tay ấy
Nhịp trong thơ lục bát thường đều đặn và ngắt nhịp chẵn nhưng câu thơ này, Tố Hữulại có cách ngắt nhịp độc đáo 3/3/2 (Cầm tay nhau / biết nói gì / hôm nay) Nhịp thơnày đã tạo ra được khoảng lặng đong đầy cảm xúc biệt li bịn rịn, dùng dằng, lưuluyến trong lòng người ra đi
Đoạn thơ đã thể hiện một cách tinh tế và đầy cảm động tâm trạng của người ra đi, từ nỗibâng khuâng trong lòng, sự ngập ngừng mỗi bước chân đi, cử chỉ “cầm tay nhau” thânthương, trìu mến cho đến cả sự im lặng không lời đầy xúc động Bốn câu thơ ngắn gọnvừa là sự đồng vọng, nhớ nhung của người về xuôi với người ở lại, vừa tái hiện cảnh tiễnđưa bịn rịn, lưu luyến, sâu nặng nghĩa tình
3 Lượt lời thứ 2 của người ở lại (câu 9 20): Lời nhắc nhớ những kỉ niệm cụ thể và bộc bạch nỗi nhớ thương
− Đoạn thơ gồm 12 dòng thơ, tạo thành 6 câu hỏi của người ở lại với người ra đi,những câu hỏi dồn dập, gấp gáp bởi dường như giờ phút chia tay càng đến gần thì những
kỉ niệm lại ùa về mãnh liệt hơn, khiến lòng người day dứt, thương nhớ khôn nguôi
* Nhắc nhớ những kỉ niệm
− Trước hết, là kỉ niệm về thời tiết khắc nghiệt, đặc trưng của núi rừng Việt Bắc:
Mình đi có nhớ những ngày Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù
Trang 20Phép liệt kê, cùng phép điệp từ chỉ số nhiều “những” đã nhắc nhớ trong lòng người cán bộkháng chiến về những chuỗi ngày phải đối mặt với hàng loạt thử thách khắc nghiệt củathiên nhiên : Đó là ”mưa” – thứ “mưa rừng chớp bể” dữ dội mà chỉ trong chốc lát có thểtạo nên những cơn “lũ” lớn cuốn phăng cả một ngôi làng, đó còn là sương, là mây mù –
thứ sương dày đặc phủ lấp cả đoàn quân (Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi – Quang Dũng) và tạo nên cái “rét thấu xương” (Ngày lại ngày qua, rét thấu xương – Tố Hữu), “rét
xé thịt da” (Đói rét bao lần xé thịt da – Thôi Hữu).
− Lời người ở lại còn gợi nhắc những ngày tháng với vô vàn thiếu thốn trong cuộckháng chiến trường chinh của dân tộc :
Mình về có nhớ chiến khu Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai
Ở đây, nghệ thuật đối đã được sử dụng để nhấn mạnh sự đối lập giữa đời sống vật chất –
miếng cơm chấm muối và gánh nặng tinh thần – mối thù nặng vai mà “ta” và “mình”
đã cùng nhau chia sẻ
− Sự gắn bó khiến họ thêm thấu hiểu, thương cảm và trân trọng nhau hơn Câu hỏi
Mình đi, có nhớ những nhà Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
gợi nhắc cho người ra đi về hình ảnh của đồng bào Việt Bắc
“Nhà” là hoán dụ chỉ con người
“Hắt hiu lau xám” vừa là hình ảnh thực gợi tả không gian hoang vắng, tiêu sơ, buồn bãcủa núi rừng, vừa mang ý nghĩa ẩn dụ cho cuộc sống nghèo khổ của người dân nơi đây
“đậm đà lòng son” là chỉ tấm lòng thuỷ chung, son sắt
Nghệ thuật đối trong câu 8 đã khắc hoạ đậm nét sự đối lập giữa cảnh sống và tấm lòngcủa người dân Việt Bắc đối với cách mạng Chính trong hoàn cảnh sống còn nhiều khókhăn, vất vả ấy, tấm lòng thuỷ chung, gắn bó với kháng chiến của đồng bào càng đángquý, đáng trân trọng hơn
− Trong hai câu hỏi cuối cùng của người ở lại, tất cả những kỉ niệm trong suốt nhữngnăm tháng ác liệt và hào hùng từ thời Mặt trận Việt Minh, thời kháng Nhật, tới 9 nămkháng chiến chống Pháp đều lần lượt sống dậy:
Mình về, còn nhớ núi non Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa
+ Hai câu hỏi nhắc nhớ những khoảng thời gian khó khăn nhất của cách mạng “khikháng Nhật”, “thuở còn Việt Minh” và những địa danh gắn vơi các sự kiện lịch sử trọng đạinhất của dân tộc và kháng chiến: đình Hồng Thái là nơi họp Quốc dân Đại hội 8/1945,thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng và phát lệnh Tổng khởi nghĩa; gốc đa Tân Trào là nơiđội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân làm lễ xuất phát chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa
+ Câu thơ “Mình đi, mình có nhớ mình” có nhiều cách hiểu căn cứ vào nét nghĩa
khác nhau của từ “mình” ở cuối câu thơ Có thể hiểu chữ “mình” ấy là người ở lại Khi ấy,câu hỏi sẽ trăn trở nỗi nhớ nhung, day dứt: mình đi, mình có còn nhớ đến ta nữa haykhông? Đây cũng là nỗi niềm da diết trong suốt cả bài thơ Cách hiểu này cho thấy sự hoàhợp, gắn kết giữa người đi – kẻ ở: tuy hai mà một, không thể tách rời Lại cũng có thểhiểu chữ “mình” ấy là người ra đi Và khi ấy, câu hỏi sẽ là một lời nhắc nhở tha thiết, sâu
xa và nghiêm nghị: mình đi, mình có nhớ và giữ được mãi là con người mình ngày xưakhông? Nỗi lo lắng ấy có căn cứ bởi nơi mà người đi sẽ về là Hà Nội phồn hoa đô hội,cuộc sống thay đổi có thể làm cho con người ta đổi khác
* Bộc bạch nỗi lòng
− Lời người ở lại không chỉ có nhắc nhớ mà còn bộc bạch nỗi lòng :
Mình về rừng núi nhớ ai
Trang 21Trám bùi để rụng, măng mai để già
“rừng núi” là hoán dụ chỉ người dân Việt Bắc,
“ai” chính là người ra đi
“Trám bùi” và “măng mai” là những sản vật quen thuộc và quý giá của núi rừng
Phép điệp cấu trúc “…để rụng”, “…để già” gợi lên hình ảnh cuộc sống như ngưng trệ,
núi rừng như hoang phế và lòng người ở lại thì hụt hẫng, trống trải sau bước chân củangười đi Dường như sau khi người cán bộ về xuôi, trám bùi trên cây không ai hái, rụngxuống đất không ai nhặt, măng mai để già hoang phí giữa rừng sâu Người ra đi đã đểlại một khoảng trống mênh mông trong lòng người Việt Bắc giữa heo hút núi rừng
− Đoạn thơ là lời của người ở lại nhưng lại có tới 7 chữ “mình” – chỉ người ra đi đượclặp lại, dường như trong giờ phút phân li này, hình ảnh của người ra đi đã chiếm trọntâm trí của người ở lại Hơn nữa, tác giả lại dùng từ “mình” kết hợp hai từ chỉ sự dichuyển “đi” – “về” khiến cho cảm giác về sự chia li càng được tô đậm thêm Việc thayđổi, luyến láy “mình đi”, “mình về” không chỉ tạo nhạc điệu tha thiết cho đoạn thơ màcòn thể hiện một ý nghĩa sâu sắc: “Mình về” là về quê hương miền xuôi, “mình đi” là
đi khỏi quê hương Việt Bắc Việt Bắc đã trở thành quê hương thứ hai thắm thiết nghĩatình của người cán bộ kháng chiến
4 Lượt lời thứ 2 của người ra đi (câu 21 90): Tình cảm thuỷ chung và nỗi nhớ nhung tha thiết của người ra đi
a) 4 câu đầu (câu 21 – 24) : Tình cảm thuỷ chung
Mở đầu lượt lời thứ hai, người ra đi đã đưa ra câu trả lời để giải toả cho nỗi băn khoăn,
trăn trở của người ở lại về việc “mình về mình có nhớ ta”:
Ta với mình, mình với ta Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh + Câu thơ “Ta với mình, mình với ta” ngắt nhịp 3/3 tạo thành 2 vế cân xứng Nhịp
ngắt này kết hợp phép điệp đan xen cặp đại từ “mình – ta” cùng từ “với” đã gợi tả sự quấnquýt, gắn bó không thể chia cắt giữa kẻ đi – người ở
+ Câu thơ tiếp theo với nhịp ngắt 2/2/2/2 chắc khoẻ là một lời khẳng đinh chắc chắn:
“Lòng ta/ sau trước/ mặn mà/ đinh ninh” – dù là trước đây hay sau này thì tấm lòng của
“ta” dành cho “mình” vẫn mặn mà, bền chặt, không thay đổi hay nhạt nhoà
Hai câu kế tiếp như một lời thề chung thuỷ:
Mình đi, mình lại nhớ mình Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu + Nếu ở phía trên, người ở lại băn khoăn, trăn trở trong câu hỏi: “Mình đi, mình có nhớ mình” thì người đi cũng trả lời trong một sự hô ứng, đồng vọng: “Mình đi, mình lại nhớ mình” Từ “lại” diễn tả sự lặp lại Nghĩa là nỗi “nhớ mình” đã xuất hiện nhiều lần
trong tâm trí của người ra đi Từ “mình” cuối cùng trong câu thơ cũng có thể hiểu theonhiều cách Nếu nó chỉ người ở lại thì ý thơ thể hiện nỗi nhớ nhung tha thiết của nhữngcon người có sự gắn bó, hoà hợp sâu sắc; nếu nó chỉ người ra đi thì câu thơ là lời khẳngđịnh: cuộc sống phồn hoa đô hội sẽ không bao giờ khiến người trở về quên quá khứ đẹp
đẽ, nghĩa tình, càng không bao giờ đánh mất chính mình
+ Và để cụ thể hoá nỗi nhớ, người đi đã dùng cách so sánh, cách đo đếm mang đậmmàu sắc dân gian: “Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu” Nước trong nguồn là vôcùng vô tận, giống như ân tình của người cách mạng dành cho đồng bào Việt Bắc là đầy
ắp, vô hạn Hơn nữa, hình ảnh nước trong nguồn còn gợi những suy nghĩ sâu xa về nguồncội, về đạo lí thuỷ chung tình nghĩa “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Hình ảnh so
sánh này như thầm đáp lại lời dặn dò kín đáo của người Việt Bắc: “Mình về mình có nhớ không/ Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn”
b) Từ câu 25 đến câu 42: Nỗi nhớ sâu sắc của người ra đi với thiên nhiên, con người
Trang 22và cuộc sống sinh hoạt thời kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc
* Từ câu 25 đến câu 30: Nỗi nhớ sâu đậm của người ra đi với những vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Bắc
Cả 3 cặp câu lục bát đều bắt đầu bằng một chữ “Nhớ” thật tha thiết Sắc thái vàmức độ của nõi nhớ được miêu tả qua một so sánh ngọt ngào, thấm thía:
Nhớ gì như nhớ người yêu
“Nhớ người yêu” là một nỗi nhớ ám ảnh, thường trực, không thể nguôi ngoai, một nỗi nhớnhiều khi mãnh liệt đến phi lí như cảm nhận của Xuân Diệu:
Uống xong lại khát là tình Gặp rồi lại nhớ là mình với ta
Đó là nỗi nhớ từng khiến cho chính Tố Hữu ngạc nhiên:
Lạ chưa, vẫn ở bên em
Mà anh vẫn nhớ, vẫn thèm gặp em
Bằng phép so sánh nỗi nhớ dành cho đồng bào Việt Bắc với nỗi nhớ người yêu, Tố Hữu
đã bộc lộ sự gắn bó sâu nặng và nỗi nhớ thương da diết của người về xuôi với mảnh đất vàcon người Việt Bắc
Và có lẽ chính sự liên tưởng đến tình yêu đã khiến cho những hình ảnh sau đó củathiên nhiên và con người Việt Bắc hiện lên đầy gợi cảm và thi vị Từng cảnh vật của Việt Bắctrong mọi thời gian và không gian liên tiếp, dồn dập hiện lên trong nỗi nhớ của người đi:
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương Nhớ từng bản khói cùng sương Sớm hôm bếp lửa người thương đi về Nhớ từng rừng nứa bờ tre Ngòi Thia, sông đáy, suối Lê với đầy.
Việt Bắc khi thơ mộng với ánh trăng bàng bạc thấp thoáng nơi đầu núi, khi ấm áp lunglinh trong ánh nắng chiều lưng nương, lúc mơ hồ huyền ảo giữa những bản khói cùngsương, và nhất là luôn nồng đượm ân tình bởi sự quấn quýt với hình ảnh “người thương”
“sớm hôm đi về” Người Việt Bắc đã trở thành “người thương” trong lòng người về xuôi.Những cảnh vật của Việt Bắc, dù là có tên như ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê hay không cótên như rừng nứa, bờ tre,… đều in đậm trong tâm trí của người ra đi Từ “nhớ” và cụm từ
“nhớ từng” điệp lại nhiều lần trong một đoạn thơ cho thấy nỗi nhớ da diết, sâu đậm củangười đi không chỉ dành cho những cảnh vật cụ thể mà còn như bao trùm cả lên tất cảnhững gì thuộc về Việt Bắc thân thương
* Từ câu 31 đến câu 42: Nỗi nhớ dành cho con người và cuộc sống sinh hoạt thời kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc
Nếu ở đoạn thơ trên, nỗi nhớ của người ra đi chủ yếu hướng về thiên nhiên, cảnhvật, con người mới chỉ thấp thoáng ở hình ảnh “sớm hôm bếp lửa người thương đi về” thìđến đoạn thơ này, hình ảnh người Việt Bắc trực tiếp qua những hoài niệm xúc động vềcuộc sống sinh hoạt thời kháng chiến
Nhớ con người:
Trước hết là một lời khẳng đinh đầy tri ân với con người Việt Bắc:
Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi
Câu thơ được chia thành 2 vế tạo sự đăng đối, song hành: “mình đây ta đó” – “đắng cayngọt bùi” “đắng cay ngọt bùi” là ẩn dụ cho gian khổ và niềm vui 15 năm gắn bó vớimảnh đất Việt Bắc là 15 năm “ta” có “mình” cùng chia sẻ đắng cay, chung hưởng ngọtbùi Những ngày tháng đó, “ta” sẽ mãi mãi khắc cốt ghi tâm
Những ngày tháng của quá khứ hiện về trong tâm trí của người ra đi với cả giantruân và tình nghĩa:
Thương nhau chia củ sắn lùi
Trang 23Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
Trong những năm tháng kháng chiến gian khổ, người cách mạng không chỉ phải đối diệnvới kẻ thù mà còn có cả cái đói, cái rét Điều này đã được nhiều nhà thơ thể hiện trong cáctác phẩm của họ:
Cuộc đời cát bụi pha xương máu Đói rét bao lần xé thịt da
(Lên Cấm Sơn – Thôi Hữu)
Nhưng bên cạnh họ luôn có đồng bào Việt Bắc kề vai sát cánh, cùng họ vượt qua mọi khókhăn Những động từ “chia”, “sẻ nửa”, “đắp cùng” đã diễn tả đầy cảm động về tình cảmcủa đồng bào Việt Bắc và cán bộ kháng chiến Họ đã cùng nhau chia sẻ từ miếng ăn ngàyđói đến hơi ấm chăn sui giữa mùa đông buốt giá của núi rừng Cái đói, cái rét đã bị đẩylùi, chỉ còn lại sự ấm áp của tình người, để rồi tình thương ấy đã tạo nên sức mạnh khiến
họ làm “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”
Và trong số những con người ân tình ấy, hình ảnh khắc sâu nhất trong tâm khảmcủa người đi là hình ảnh người mẹ Việt Bắc:
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rấy bẻ từng bắp ngô
Câu thơ miêu tả một hình ảnh cụ thể, quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của ngườidân Việt Bắc: những người mẹ địu con cùng đi làm rẫy, làm nương Hình ảnh này, về saucũng được nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm khắc hoạ trong bài thơ “Khúc hát ru những em bélớn trên lưng mẹ”:
Mẹ đang tỉa bắp trên núi Ka-Lưi Lưng núi thì to mà lưng mẹ nhỏ
Em ngủ cho ngoan đừng làm mẹ mỏi Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi Mặt trời của mẹ, em nằm trên lưng
Cụm từ “nắng cháy lưng” gợi ra hình ảnh cả một vạt nương đầy nắng – những tia nắnggay gắt, chói chang làm cháy rát cả lưng người Giữa không gian núi rừng, trong cái thờitiết khắc nghiệt như thế, bóng dáng người mẹ trở nên nhỏ bé vô cùng Vậy mà công việccủa người mẹ ấy lại chẳng hề nhẹ nhàng Câu thơ tiếp theo liệt kê một loạt những công
việc: địu con/ lên rẫy/ bẻ từng bắp ngô Cơ cực, vất vả là vậy nhưng thành quả lao động chỉ là “từng bắp ngô” nhỏ nhoi, ít ỏi Bởi lúc này mẹ đâu phải chỉ lao động để nuôi con,
nuôi gia đình mà còn là để phục vụ kháng chiến, phục vụ cách mạng Lời thơ vừa thấmthía nỗi thương xót, lẫn sự cảm phục và tri ân của người đi đối với đồng bào Việt Bắc.Cũng như nhà thơ Chế Lan Viên đã từng viết:
Con nhớ mế lửa hồng soi tóc bạc Năm con đau mế thức một mùa dài Con với mế không phải hòn máu cắt Nhưng trọn đời con nhớ mãi ơn nuôi
Nhớ cuộc sống sinh hoạt thời kháng chiến
Trong hoài niệm của người ra đi, cuộc sống ở chiến khu trong những năm thángkháng chiến tuy gian nan, vất vả song cũng rất sôi động và đầy lạc quan:
Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan
Hình ảnh “lớp học i tờ” gợi lên những tiếng đánh vần ngọng ngịu, những nét chữ viếtvụng về, những say mê, háo hức của người dân miền núi khi được học con chữ của cáchmạng, của Bác Hồ trong những lớp học “Bình dân học vụ” do cán bộ kháng chiến giảngdạy Rồi hình ảnh “Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan” gợi lên những đêm liênhoan văn nghệ giữa đồng bào và cán bộ kháng chiến được tổ chức ngay trên cánh đồng,sau những giờ lao động và chiến đấu Ánh sáng của những ngọn đuốc hay ánh sáng của
Trang 24niềm vui tươi náo nức đã làm sáng rực cả cánh đồng khuya? Những hoạt động ấy khôngchỉ siết chặt tình quân dân mà còn giúp họ có thêm niềm vui, niềm lạc quan vào cuộc đời
và cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc:
Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo
Gian nan, thử thách không làm sờn lòng người kháng chiến Ngày ngày tiếng hát của họvẫn vang khắp núi đèo
Không chỉ có tiếng hát lạc quan của con người, núi đèo Việt Bắc còn vang vọngnhững âm thanh bình dị mà rất đỗi gợi cảm:
Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…
Đó là tiếng mõ trâu khua vang rừng chiều, tiếng chày giã gạo đều đều mỗi đêm khuya,tiếng suối thoảng xa vời vợi… Những âm thanh đó vừa gợi cảm giác êm đềm, yên ả, vừaphảng phất chút hoang vắng tiêu sơ, cho thấy tình cảm thắm thiết, nỗi nhớ thương sâuđậm, nỗi bùi ngủi xao xuyến của người ra đi với cuộc sống và con người nơi chiến khuViệt Bắc
c) Từ câu 43 – câu 52: Bức tranh tứ bình về cảnh và người Việt Bắc
* Hai câu đầu: Giới thiệu cảm xúc chung của đoạn thơ.
Mở đầu đoạn thơ là hai câu giới thiệu nội dung bao quát đoạn:
“người” để “người” mang gương mặt sắc màu của “hoa” “Người” ở bên “hoa” để cho
“hoa” mang hồn “người” “Hoa” và “người” quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hai hoà,đằm thắm để tạo nên nét riêng biệt, độc đáo của vùng đất này Chính điều ấy đã tạo nêncấu trúc đặc sắc của đoạn thơ Trong bốn cặp lục bát còn lại, câu 6 dành cho nhớ “hoa”,nhớ cảnh; câu 8 dành cho nhớ “ngừời” Cảnh và người trong mỗi câu có những sắc thái,đặc điểm riêng làm nên một bộ tranh tứ bình về bốn mùa trong năm thật hấp dẫn
* Đầu tiên là bức tranh Việt Bắc giữa mùa đông:
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”
Hai câu thơ đã mở ra một khoảng không gian khoáng đạt với chiều rộng mênhmông của rừng xanh, chiều cao ngút ngàn của đèo núi, chiều cao vời vợi của bầu trời.Trên cái nền khoáng đạt ấy, Tố Hữu đã vẽ những nét vẽ thần tình về cảnh rừng đông ViệtBắc: Đông về với màu xanh thăm thẳm, trầm mặc của rừng già đại ngàn Trên cái nềnxanh thẳm ấy nổi bật lên những bông hoa chuối đỏ tươi như những đốm lửa bập bùng Cáimàu đỏ tươi tắn của hoa chuối, cùng với màu vàng nhẹ nhàng của nắng đông, và đặc biệt
là ánh phản quang của nắng trên nước thép sáng loáng của con dao người đi rừng đã làmcho khu rừng trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống, xua đi cái hoang sơ,lạnh giá, hiu hắt vốn có của núi rừng
Trên nền thiên nhiên khoáng đạt ấy, sự xuất hiện của con người càng làm tăngthêm vẻ ấm áp, thơ mộng của mùa đông Việt Bắc Đó là con người của vùng chiến khu lênnúi phát nương làm rẫy: “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Ở đây, bút pháp chấm phácủa hội hoạ đã được vận dụng một cách tài tình Nhà thơ không miêu tả dáng người, mặtngười mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất Đó là ánh mặt trời chớp loé trên lưỡi
Trang 25dao rừng ở ngang lưng Con người như một tụ điểm của ánh sáng Con người ấy cũng đãxuất hiện ở một vị trí, tư thế đẹp nhất – nơi “đèo cao”, giữa núi và nắng, giữa trời cao bao
la với rừng xanh mênh mang Câu thơ làm ta nhớ đến hình ảnh anh bộ đội trong một bàithơ khác của Tố Hữu:
“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá nguỵ trang reo với gió đèo”
(Lên Tây Bắc)Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi của con người trước thiênnhiên đất trời rộng lớn
* Đông qua mùa xuân lại về:
Mùa xuân về mang điều tốt lành cho con người, báo hiệu những niềm vui, sứcsống âm thầm đang trỗi dậy Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân Việt Bắc là màu trắng dịudàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ:
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng”
“Trắng rừng” được viết theo lối đảo ngữ và từ “trắng” được dùng như một động từ,
nó có tác dụng nhấn mạnh vào sự vận động của màu sắc Nghĩa là bức tranh mùa xuânViệt Bắc không tĩnh lặng mà là bức tranh động Ở đó, hoa mơ đang bung nở, màu trắngcủa nó đang lan toả, đang dần dần lấn át những màu sắc khác của núi rừng Để rồi cuốicùng, cả rừng Việt Bắc sẽ chìm trong sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu mát Cái màutrắng tinh khôi ấy sẽ mãi mãi được lưu giữ trong tâm trí của người ra đi Sau này (1972),khi nhớ về mùa xuân năm 1941 – thời điểm Bác Hồ trở về nước trực tiếp lãnh đạo phongtrào cách mạng trong nước, Tố Hữu cũng đã nhớ về sắc trắng hoa mơ ấy:
“Ôi sáng xuân nay, Xuân 41 Trắng rừng biên giới nở hoa mơ Bác về Im lặng Con chim hót Thánh thót bờ lau, vui ngẩn ngơ ”
(Theo chân Bác)
Nổi bật trên nền của hoa mơ nở trắng ấy, là hình ảnh con người với công việc củamùa xuân: đan nên những chiếc nón tình nghĩa gửi tặng bộ đội, dân công:
“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”
Hai chữ “chuốt từng” vừa khắc hoạ vẻ đẹp cần mẫn, cẩn trọng, tài hoa của người ViệtBắc, lại vừa làm cho hành động “đan nón” có tinh thần chủ động chứ không vô cảm và bịđộng Dường như bao nhiêu yêu thương, bao nhiêu nỗi niềm của người Việt Bắc dành chongười kháng chiến đều được kết giữ trong từng sợi giang mà kết thành vành nón
* Mùa hè của Việt Bắc trong nỗi nhớ của người đi tràn đầy âm thanh và màu sắc:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng”
Tiếng ve là dấu hiệu của mùa hạ, hình ảnh rừng phách vàng là đặc trưng của mùa
hè Việt Bắc Trên thực tế thì đây chỉ là hai hiện tượng thiên nhiên cùng xuất hiện vào thờiđiểm mùa hè chứ hoàn toàn không có mối quan hệ gì với nhau Thế nhưng, qua cách cảmnhận và thể hiện của Tố Hữu thì giữa chúng dường như có một mối tương quan kì diệu:tưởng như sau sự giục giã của tiếng ve, có một sự náo nức kì lạ của thiên nhiên, rồi cả mộtdòng thác vàng đổ ào từ trời cao xuống rừng phách khiến khu rừng phút chốc được khoáctấm áo vàng lộng lẫy; cũng có thể hiểu chính vì sắc vàng kiêu sa, rực rỡ của rừng phách
mà bầy ve rừng không thể cầm lòng được, phải náo nức cất tiếng gọi hè về Cảnh vật thiênnhiên như có linh hồn và sự giao cảm
Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàmcần mẫn đi hái búp măng rừng, cung cấp cho bộ đội kháng chiến:
“Nhớ cô em gái hái măng một mình”
Trang 26“Cô em gái” là cách gọi thân thương, trìu mến trong quan hệ gia đình Cách gọi nàycho thấy giữa người kháng chiến và đồng bào Việt Bắc đã được gắn kết với nhau bởi tìnhcảm thiêng liêng, bền chặt như những người thân ruột thịt Động tác “hái măng một mình”gợi dáng vẻ cắm cúi, thầm lặng Thông thường thì cái dáng vẻ ấy sẽ gợi lên cảm giác côđơn, lẻ loi, hiu hắt:
“Cô hái mơ ơi! Cô gái ơi!
Chẳng trả lời tôi lấy một lời
Cứ lặng mà đi rồi khuất bóng Rừng mơ hiu hắt, lá mơ rơi”
(Nguyễn Bính)Thế nhưng câu thơ của Tố Hữu lại không mang đến cảm giác như vậy Cô gái đi háimăng một mình nhưng vẫn không lẻ loi bởi cô gái ấy đang lao động giữa khúc nhạc rừngrừng rộn rã, hái măng để góp phần nuôi quân phục vụ kháng chiến Cô gái là một trong vô
số những con người lao động, cống hiến trong thầm lặng, không cần ai phải biết đến hayngợi ca mà nhà Nguyễn Khoa Điềm đã nói đến trong thơ của ông:
“Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước”
(Nguyễn Khoa Điềm)
* Hai câu cuối là hình ảnh Việt Bắc khi mùa thu tới:
Thông thường các bộ tranh tứ bình bắt đầu là bức tranh mùa xuân và kết lại bằngbức tranh mùa đông Nhưng trong bộ tranh tứ bình bằng thơ ca của mình, Tố Hữu lại mởđầu bằng cảnh mùa đông và kết lại bằng một bức họa phẩm mùa thu, bởi mùa thu là thờiđiểm kết thúc cuộc kháng chiến gian nan, oanh liệt, thời điểm của cuộc chia li giữa nhữngngười kháng chiến với Việt Bắc Đó là mùa của hoà bình:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình”
“Trăng rọi hoà bình” là ánh trăng chiếu sáng không khí thanh bình nơi chiến khu
kháng chiến Những ai đã từng trải qua những tháng ngày mưa bom bão đạn, “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt… máu trộn bùn non” thì mới hiểu hết sự xúc động của lòng
người trong những đêm trăng hoà bình đó Hình ảnh thơ gợi nghĩ đến một câu thơ của HồChí Minh cũng viết về trăng rừng Việt Bắc:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”
(Cảnh khuya)Cái hay của những câu thơ trên là ở chỗ tả ánh trăng giữa rừng già bao la mà hoàntoàn không gây cảm giác vắng lặng, lạnh lẽo, trái lại vẫn gợi lên không khí yên bình,thanh khiết
Mùa thu càng ngọt ngào hơn bởi có tiếng hát của con người:
“Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
Nếu ở những bức tranh mùa đông, mùa xuân, mùa hạ, người ra đi hướng nỗi nhớ tớinhững người lao động cụ thể: người phát nương làm rẫy, người đan nón, người háimăng… thì ở bức tranh cuối cùng của bộ tứ bình Việt Bắc, nỗi nhớ hướng tới “ai” “Ai” làmột đại từ phiếm chỉ, nó không chỉ đối tượng cụ thể nào mà là tất cả những người dânViệt Bắc nghèo khổ, trung hậu, nghĩa tình Dường như, giờ phút chia tay càng tới gần thìnỗi nhớ càng trở nên sâu đậm hơn
Miêu tả tiếng hát gợi ân tình của người ở lại, nhắc nhở sự thuỷ chung của người ra đitrên nền ánh trăng hoà bình có lẽ là dụng ý nghệ thuật sâu sắc của nhà thơ Thông qua 2câu kết đoạn tứ bình này, người đi như thầm nhắn gửi: những đổi thay trong cuộc sốnghoà bình sẽ không bao giờ có thể làm người đi thay lòng đổi dạ, người về xuôi sẽ mãi thuỷ
Trang 27chung, không bao giờ quên ân tình của người Việt Bắc.
Tóm lại, đây là một đoạn thơ vừa sâu sắc về nội dung, vừa độc đáo về nghệ thuật
Nó xứng đáng là đoạn thơ hay nhất của bài “Việt Bắc” Đoạn thơ cũng cho ta thấy rõphong cách thơ Tố Hữu: trữ tình, sâu lắng, tha thiết, ân tình mang đậm tính dân tộc.Những câu thơ lục bát đậm đà âm hưởng ca dao nhịp nhàng, uyển chuyển cứ tuôn trào vàdạt dào cảm xúc qua cách xưng hô “mình” và “ta”, một cách xưng hô truyền thống thắmthiết nghĩa tình Nhạc điệu dịu dàng, trầm bổng khiến cho cả doạn thơ mang âm hưởngbâng khuâng, êm ái như một khúc hát ru kỉ niệm Đặc biệt từ “nhớ” được láy lại nhiều lần,mỗi lần một khác và sắc độ tăng dần lên làm cụ thể hơn tấm lòng của người ra đi đối vớicảnh và người Việt Bắc
d) Từ câu 53 – câu 62: Nhớ thiên nhiên Việt Bắc đã cùng con người chiến đấu và chiến thắng kẻ thù
Đoạn thơ mở đầu bằng một câu thơ gợi lên cảnh tao loạn:
Nhớ khi giặc đến giặc lùng
“giặc đến” là thời điểm nguy kịch, “giặc lùng” sục sạo khắp nơi là tình thế nguy biến dễdẫn đến cảnh tan tác, loạn lạc:
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất tổ đàn chim dáo dác bay
(Chạy giặc – Nguyễn Đình Chiểu)Thế nhưng ở Việt Bắc, ta không thấy cảnh loạn lạc ấy bởi con người không chỉ đoànkết với nhau mà còn có sự chung sức của cả thiên nhiên núi rừng trong cuộc chiến chốngngoại xâm:
Rừng cây núi đã ta cùng đánh Tây
Ở đoạn thơ này, đại từ “ta” không mang ý nghĩa chỉ người đi hay kẻ ở như trong nhữngđoạn thơ trước nữa Nó mang ý nghĩa chỉ “chúng ta” – bao hàm cả người dân Việt Bắc và
bộ đội, cán bộ kháng chiến, thậm chí bao hàm cả “rừng cây núi đá” Núi rừng đã vào cuộcchiến đấu:
Núi giăng thành luỹ sắt dày Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù Mênh mông bốn mặt sương mù Đất trời ta cả chiến khu một lòng
Chỉ trong 5 câu thơ mà “núi” được lặp lại 2 lần, “rừng” được lặp lại 3 lần, kết hợp với cácđộng từ ‘giăng’, “vây” đã gợi lên sự trùng điệp của địa hình núi rừng Việt Bắc Tất cả lạiđược bao phủ trong “Mênh mông bốn mặt sương mù” càng đem đến cảm giác về chốnthiên la địa võng của chiến trường Việt Bắc Nghệ thuật nhân hoá khiến cho rừng cây núi
đá không còn là thứ thiên nhiên vô tri vô giác, không còn là thứ tĩnh tại bất biến ngàn đờinữa mà chúng như cũng có cảm xúc, cũng vận động chuyển mình trong cuộc chiến đấuchung: núi rừng che chở cho bộ đội và “đánh”, “giăng”, “vây” bắt quân thù “Đất trời” và
“ta” – thiên nhiên và con người cùng chung sức một lòng đánh giặc, khiên mảnh đất quêhương thành đất chết của kẻ thù như Nguyễn Đình Thi đã từng viết:
“Những làng xóm đã mọc lên luỹ thép Những cánh đồng thành bể dầu sôi Quân giặc kinh hoàng đi trên đất chết Mỗi bước đi lạnh toát mồ hôi”
Từ đó mà chúng ta có những chiến thắng đầu tiên gắn liền với các địa danh làm náo nứclòng người:
Ai về ai có nhớ không?
Ta về ta nhớ Phủ Thông, Đèo Giàng
Trang 28Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng Nhờ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà…
Sau câu hỏi gợi nhớ “Ai về ai có nhớ không?” là lời khẳng định quen thuộc: “Ta về, tanhớ…” Rồi điệp từ “nhớ” gắn liền với hàng loạt các địa danh được lặp lại liên tiếp trongnhững dòng thơ sau cho thấy nỗi nhớ đã hoà quyện với niềm phấn khích của chiến thắngđang ào ạt trào dâng trong dòng hoài niệm của người đi Mỗi địa danh nhắc nhớ một trậnđánh lớn Đã có biết bao máu đổ xương rơi, biết bao anh hùng ngã xuống mới có thể đưatên núi, tên sông, tên đèo, tên phố nơi Việt Bắc vào lịch sử Nhắc lại những địa danh,những chiến thắng ấy trong một niềm hào sảng cũng chính là biểu hiện của sự tri ân củangười ra đi đối với thiên nhiên và con người Việt Bắc đã hợp sức, giúp đỡ trong nhữngnăm tháng kháng chiến gian lao mà anh dũng không thể nào quên
e) Từ câu 63 – câu 74: Nhớ khung cảnh Việt Bắc ra trận
* Trước hết là ấn tượng chung về sức mạnh tổng hợp của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến:
Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung
“Những” – một từ chỉ số nhiều không xác định, cùng với đại từ “của ta” vang lêndõng dạc, đầy từ hào Trăm ngả đường hướng về Việt Bắc, trăm nẻo đường từ Việt Bắc tỏa
đi muôn nơi đều là “của ta” Hai tiếng “của ta” giản dị mà vô cùng thiêng liêng Chúng thểhiện rõ ý thức làm chủ đất nước cũng như niềm tự hào về sự bất khả xâm phạm của vùngcăn cứ Cảm hứng này đã nhiều lần xuất hiện trong thơ ca cách mạng, như:
Mây của ta, trời thắm của ta Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
(Ta đi tới – Tố Hữu)Hoặc câu:
Trời xanh đây là của chúng ta Núi rừng đây là của chúng ta Những cánh đồng thơm mát Những ngả đường bát ngát Những dòng sông đỏ nặng phù xa
(Đất nước – Nguyễn Đình Thi)Trong dòng hoài niệm của người ra đi, những con đường ấy đẹp vô cùng, bởi chúng
là những con đường kháng chiến:
Đêm đêm rầm rập như là đất rung
“Đêm đêm” nghĩa là đêm nối tiếp đêm, hết đêm này đến đêm khác Hồi kháng chiếnchống Pháp, máy bay giặc chủ yếu hoạt động ban ngày nên ta phải hành quân đêm Trênkhắp các nẻo đường Việt Bắc, đêm nối đêm từng đoàn quân cứ “rầm rập” tiến ra trận
“Rầm rập” là một từ láy tượng thanh rất gợi cảm Nó không chỉ diễn tả được âm thanhnhanh, mạnh, dồn dập của tiếng bước chân mà còn thể hiện được cái khí thể hăng hái vàsức mạnh áp đảo của một tập thể người đông đảo, có đội ngũ chỉnh tề Nó gợi liên tưởngđến một cuộc duyệt binh, diễu binh hoành tráng
Sự so sánh “như là đất rung” mang đậm màu sắc thần thoại Đoàn quân ta như mangsức mạnh làm rung chuyển cả đất trời Không khí ấy gợi nhớ tới hào khí Đông A ngút trờithuở nào:
Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu (Ba quân sức mạnh như hổ báo, khí thế lấn át cả sao Ngưu)
(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)
* Sức mạnh ấy được tạo nên bởi sự hợp sức của cả dân tộc Trước hết là của đoàn quân
vệ quốc:
Quân đi điệp điệp trùng trùng
Các từ láy “điệp điệp, trùng trùng” thật giàu ý nghĩa diễn tả, vừa cực tả khí thế, vừa
có giá trị gợi hình Nó gợi lên hình ảnh những đoàn quân ra trận nối dài vô tận và hùng vĩ
Trang 29như những dãy núi trùng điệp Sau này, trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Phạm TiếnDuật cũng đã miêu tả cảnh những đoàn quân ra trận bằng những hình ảnh thơ tương tự:
Từ nơi em gửi tới nơi anh Những đoàn quân trùng trùng ra trận Như tình yêu nối lời vô tận
Như vậy, một lần nữa, sức mạnh, khí thế của đoàn quân ra trận lại được nâng lênngang tầm với sức mạnh của thiên nhiên sông núi
Trong hồi ức của người đi, không chỉ lưu giữ những ấn tượng về sức mạnh hoànhtráng, đông đảo của đoàn quân ra trận mà còn lưu giữ những hình ảnh khó quên về ngườichiến sĩ đi giữa hàng quân trên những con đường Việt Bắc:
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan
Ánh sao nơi đầu súng làm bạn cùng chiếc mũ nan của người chiến sĩ Một hình ảnhlung linh được đặt cạnh một hình ảnh đơn sơ, giản dị Câu thơ vừa mang ý nghĩa tả thực,vừa mang ý nghĩa khái quát tượng trưng sâu xa Trước hết, nó diễn tả hình ảnh ngườichiến sĩ vai bồng súng hành quân trong đêm, đầu súng lấp lánh ánh sao trời Nó gợi liêntưởng đến một hình ảnh thơ rất đẹp trong thơ Chính Hữu: “Đầu súng trăng treo” (Đồngchí) Nhưng hình ảnh “ánh sao đầu súng” còn là biểu tượng cho lí tưởng chiến đấu củangười lính Các anh cầm súng, cầm vũ khí chiến đấu là theo sự soi đường chỉ lối của “ánhsao” – lí tưởng cộng sản, vì hoà bình, tự do cho dân tộc:
Anh đi bộ đội sao trên mũ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
(Núi đôi – Vũ Cao)Hình ảnh tươi sáng ấy kết hợp với hình ảnh chiếc mũ nan giản dị, trang bị còn thiếuthốn của anh bộ đội tạo cho anh một vẻ đẹp bình dị mà cao cả, bình thường mà vĩ đại
* Tiếp theo những binh đoàn bộ đội là dân công tiếp tế lương thực, đạn dược Cũng như những người chiến sĩ rầm rập lên đường, những nam nữ dân công cũng vào trận đầy khí thế và sức mạnh:
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”
Câu thơ “Dân công đỏ đuốc từng đoàn” sử dụng phép đảo ngữ Cấu trúc đảo ấy tạo
ấn tượng về sự trùng điệp của những đoàn dân công Hình ảnh phóng đại “Bước chân nátđá” vừa gợi lên được những gánh hàng nặng, vừa nói lên được bước chân đầy sức mạnhtiến công Nhớ về ngày xưa, cha ông ta đã mơ ước đến cháy bỏng:
“Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm Trông cho chân cứng đã mềm”
thì giờ đây, niềm mơ ước ấy đã trở thành hiện thực kì diệu ở chiến trường Việt Bắc Hìnhảnh thơ “đỏ đuốc từng đàn” và “muôn tàn lửa bay” là những hình ảnh rất đẹp Đoàn dâncông đi dưới ánh đuốc có “muôn tàn lửa bay” Đó là lửa của bó đuốc đang bay, hay có cảánh lửa từ trái tim của anh chị dân công hoả tuyến ? Ở hai câu thơ này, tác giả sử dụngnhiều hình ảnh giàu màu sắc tạo hình, vừa chân thực vừa bay bổng Đoàn dân công đi vàochiến dịch mà như thể đi trong hội hoa đăng Thật đẹp biết bao, mà cũng tự hào biết bao
về khí thế và niềm tin ra trận của quân dân ta
* Trong dòng thác ra trận ấy còn có những đoàn xe cơ giới :
“Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Hai câu thơ miêu tả đoàn xe chở đạn dược, vũ khí và cao xạ pháo ra chiến trường, xenối đuôi nhau, đèn pha bật sáng trưng như ánh sáng ban ngày, phá tan lớp sương dày, xua đimàn đêm tăm tối Chỉ bằng hình ảnh ấy, Tố Hữu đã diễn tả được sự trưởng thành vượt bậccủa quân đội ta Mới ngày nào ta còn phải mai phục nơi rừng núi “thăm thẳm sương dày”hàng ngàn đêm tăm tối gian khổ, vậy mà giờ đây, ta đã có cả những đoàn xe cơ giới mang
Trang 30sức mạnh quật khởi Hình ảnh “nghìn đêm thăm thẳm sương dày” còn là ẩn dụ cho đêmtrường nô lệ của dân tộc Sự tương phản giữa quá khứ “thăm thẳm sương dày” với ánh sángcủa “ngày mai lên” đã làm nổi bật giá trị của những đêm dài kháng chiến và thể hiện niềmtin tưởng mãnh liệt vào tương lai huy hoàng, sáng chói của dân tộc.
* Khúc hùng ca Việt Bắc ra trận được khép lại bằng tiếng reo ca khi toàn thắng về ta :
Tin vui thắng trận trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
Điệp từ “vui” được lặp đi lặp lại nhiều lần cùng với nhịp thơ ngắn, nhanh, mạnh tạo
nên âm hưởng hào sảng, hùng tráng Những cụm từ : vui từ, vui về, vui lên thể hiện sự lan
toả của chiến thắng, của niềm vui đến khắp mọi miền Tổ quốc Ở đây, việc liệt kê các địadanh chiến thắng cũng chứa đựng những giá trị nghệ thuật − tư tưởng của tác giả Đó là sựsắp xếp nhằm làm thể hiện ý nghĩa: tin vui như bay đi với một tốc độ “siêu tốc” Vừa mới
là Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, ngay sau đó đã là Đồng Tháp (Nam Bộ), An Khê (TâyNguyên), rồi lại đã là Việt Bắc, đèo De, núi Hồng
Nếu ở đoạn thơ đầu nói về nỗi nhớ, tiết tấu của câu thơ dìu dặt, ngân nga nhưnhững khúc hát ru kỉ niệm thì ở đoạn này cảm hứng thơ chuyển sang mạnh mẽ, mang màusắc anh hùng ca, tác giả đã phá vỡ tính cân xứng để tạo ra nhịp thơ mạnh, dồn dập như âmhưởng của những bước hành quân vũ bão
f) Từ câu 75 – câu 90: Hoài niệm về một cuộc họp của Chính phủ trong hang núi và khẳng định vai trò của Việt Bắc
* Hoài niệm giản dị mà trang trọng về cuộc họp của Chính phủ trong hang núi:
Ai về ai có nhớ không Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang Nắng trưa rực rỡ sao vàng Trung ương Chính phủ luận bàn việc công
Không gian của cuộc họp là hang núi chật hẹp, vậy mà vẫn lồng lộng gió núi, vẫnrực rỡ cờ đỏ sao vàng, vẫn chan hoà ánh nắng… Cảnh tượng mang vẻ đẹp nghiêm trang
và phóng khoáng trong ngọn gió của thời đại mới Đó là nơi mà những quyết định vừa lớnlao, thiêng liêng, vừa cụ thể, thiết thực của cách mạng đã được đưa ra:
Điều quân chiến dịch Thu – đông Nông thôn phát động, giao thông mở đường Giữ đê, phòng hạn, thu lương
Gửi dao miền ngược, thêm trường các khu…
* Kết thúc đoạn thơ lại là hình ảnh Việt Bắc, Thủ đô kháng chiến, nơi có Đảng và Bác
Hồ, nơi quy tụ niềm tin và hi vọng của mọi người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt
là những nơi còn “u ám quân thù”.
Cũng ở đoạn thơ cuối cùng này, vị trí của Việt Bắc đã được người đi khẳng định rõ ràng.Việt Bắc là “quê hương cách mạng”
Kết thúc đoạn thơ vẫn là nỗi nhớ ngân nga trong lòng kẻ ở - người đi:
Mình về mình lại nhớ ta Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
Trang 31+ Cặp đại từ nhân xưng “mình – ta” với sự biến hoá linh hoạt và những sắc thái ngữnghĩa biểu cảm phong phú vốn có của nó được khai thác rất hiệu quả.
+ Những biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, tượng trưng… quen thuộc củaquần chúng được dùng nhuần nhuyễn
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ CƠ BẢN
Đề 1: Phân tích/ Cảm nhận về các đoạn thơ.
Đề 2: Nhận xét về trích đoạn Việt Bắc (Tố Hữu), có ý kiến cho rằng: “Đoạn trích đậm đà
tính dân tộc, không chỉ trong nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật” Anh/chị hãy làmsáng tỏ ý kiến trên
Đề 3: Tìm hiểu phong vị dân gian và màu sắc cổ điển trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu.
Đề 4: “Việt Bắc” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu Anh (chị) hãy làm sáng tỏ điều đó
BÀI 4: ĐẤT NƯỚC (Trích trường ca “Mặt đường khát vọng)
(Nguyễn Khoa Điềm)
I TÌM HIỂU CHUNG
1 Tác giả
Nguyễn Khoa điềm sinh năm 1943 tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hoà, huyện Phong Điềntỉnh Thừa Thiên Huế, quê gốc ở thành phố Huế
Ông sinh trưởng trong một gia đình trí thức có truyền thống yêu nước và cách mạng
Nguyễn Khoa Điềm học tập và trưởng thành trên miền Bắc những năm xây dựngCNXH, Sau khi tốt nghiệp khoa văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, ông trở
về quê hương hoạt động cách mạng
Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ trẻ những nămkháng chiến chống Mỹ như Phạm Tiến Duật, Lê Anh Xuân,
Phong cách: Thơ ông có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những cảm xúc nồng nàn và suy
tư sâu lắng của người trí thức về đất nước, con người Việt Nam trữ tình – chính luận
2 Tác phẩm (trường ca “Mặt đường khát vọng”)
a) Dung lượng: 9 chương
b) Hoàn cảnh sáng tác
Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị - Thiên năm
1971 (không gian và thời điểm ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước), và
in lần đầu tiên năm 1974
Bản trường ca viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ các thành thị vùng tạm chiến miền Nam
về non sông đất nước, nhận rõ bộ mặt xâm lược của đế quốc Mĩ, hướng về nhân dân, đấtnước, ý thức được sứ mệnh của thế hệ mình, đứng dậy xuống đường đấu tranh hòa nhịpvới cuộc chiến đấu của toàn dân tộc
Trang 32hợp được nhiều thể thơ, tạo nên nhiều giọng điệu trong một tác phẩm)
3 Đoạn trích “Đất Nước”
Vị trí: là phần đầu của chương V
Bố cục đoạn trích:
+ Phần 1: Từ đầu → “Làm nên Đất Nước muôn đời”: Cảm nhận về Đất Nước (Đất Nước
có từ bao giờ? Đất Nước là gì?)
+ Phần 2: Còn lại: Tư tưởng Đất nước của Nhân dân
II TÌM HIỂU VĂN BẢN
1 Cảm nhận về Đất Nước
a) Đất Nước có từ bao giờ? (9 câu đầu)
9 câu thơ đầu tiên là sự tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi “Đất Nước có từ bao giờ?”
Đất nước vốn là một danh từ chung chỉ “phần lãnh thổ trong quan hệ với dân tộclàm chủ và sống trên đó” Nhưng ở đây, Nguyễn Khoa Điềm lại viết hoa từ “Đất Nước”.Cách viết này thể sự trân trọng, kính yêu với đất nước, đồng thời cho thấy tác giả đã hìnhdung đất nước giống như một sinh thể sống có quá trình sinh ra, lớn lên và tồn tại Những
cụm từ liên tiếp được lặp lại trong đoạn thơ “Đất Nước đã có…”, “Đất Nước có trong…”, “Đất Nước bắt đầu…”, “Đất Nước lớn lên…”, “Đất Nước có từ…” đã gợi ra
chiều dài thăm thẳm của lịch sử Đất Nước trong quá trình hình thành và phát triển
* Trước tiên là lời khẳng định về thời điểm ra đời của Đất Nước:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
+ “Ta” là một khái niệm mơ hồ, không xác định, nó có thể là bất cứ người ViệtNam nào, trong bất cứ thời kì nào, là chúng ta hôm nay, là con cháu sau này, là cha ônghàng ngàn năm trước,… Cứ mỗi người Việt Nam sinh ra là ngay lập tức được bao bọc vànâng niu, được nuôi dưỡng và che chở trong chiếc nôi lớn lao, ấm áp, thân yêu – đó là ĐấtNước Đất Nước “đã có” trước mọi thế hệ, như từ thuở khai thiên lập địa để đón đợinhững con dân đất Việt
+ Thời điểm ra đời của Đất Nước lại càng được đẩy vào quá khứ xa xăm bởi cụm
từ “ngày xửa ngày xưa” Đây không phải là thời gian chính xác, cụ thể, nó là thứ thời gian
mơ hồ, ảo diệu trong trí tưởng tượng của mỗi chúng ta từ khi còn rất nhỏ
Như vậy, với 2 câu thơ mở đầu này, Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định: không biết ĐấtNước ra đời từ khi nào, nhưng chắc chắn rằng Đất Nước đã có từ trước khi có sự hiện diệncủa “ta”, từ rất lâu, rất xa xưa rồi
* Ở những câu thơ tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm tiếp tục mạch suy ngẫm về quá trình tồn tại, phát triển của Đất Nước Và nhà thơ đã nhận ra rằng, quá trình ấy gắn liền với đời sống của nhân dân:
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Quá trình tồn tại, lớn lên của Đất Nước gắn liền với sự hình thành của nhữngtru
yền thuyết, truyện cổ tích xa xưa mà mỗi chúng ta đều được nghe kể suốt một thời thơ
ấu Đó là sự tích “Trầu cau” thấm đượm tình nghĩa vợ chồng, tình nghĩa anh em sâu nặng;
là truyền thuyết “Thánh Gióng” kể về cậu bé làng Gióng vụt lớn dậy thành Phù Đổng ThiênVương, nhổ bụi tre ven đường đánh đuổi giặc Ân để bảo vệ bờ cõi Đất Nước,… Chỉ bằnghai hình ảnh “miếng trầu”, “trồng tre đánh giặc”, nhà thơ đã gợi ra những liên tưởng sâu sắc
Trang 33về cả một hành trình lịch sử đầy ân tình nhưng cũng lắm chông gai của dân tộc.
Sự tồn tại, phát triển của Đất Nước còn gắn liền với những phong tục, tập quáncủa người Việt Phong tục, tập quán là những thói quen đã có từ lâu đời, ăn sâu vào đờisống xã hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và làm làm theo Đây
là một trong những tiêu chí quan trọng tính độc lập của một quốc gia Ngay từ thế kỉ XV,Nguyễn Trãi đã nhận thức được điều này, trong đoạn mở đầu của “Đại cáo bình Ngô”(1428), tác giả khẳng định:
Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác
Trong đoạn thơ của bài “Đất Nước”, Nguyễn Khoa Điềm đã khéo léo gợi ra nhữngphong tục tập quán lâu đời của người Việt Đó là tục lệ ăn trầu, tục búi tóc sau đầu củangười phụ nữ, tập quán đặt tên con theo những vật dụng quen thuộc như “cái kèo, cái cột”,tập quán gieo trồng lúa nước,… Những phong tục tập quán này được hình thành khôngphải trong ngày một ngày hai mà là cả một quá trình dài, song hành với quá trình tồn tại
và phát triển của Đất Nước Trải qua bao thăng trầm, bao biến cố của lịch sử một nghìnnăm Bắc thuộc và hàng trăm năm Pháp thuộc – những phong tục tập quán ấy vẫn tồn tạivững bền kiên cường, bất khuất mặc nỗ lực “đồng hoá” của kẻ thù
Quá trình tồn tại và phát triển của Đất Nước cũng song hành cùng với quá trìnhhình thành những nét phẩm chất tiêu biểu trong đời sống tâm hồn của người Việt
+ Trước hết, đó là lối sống coi trọng tình nghĩa Hình ảnh “miếng trầu” không chỉgợi nhắc sự tích “Trầu cau” hay tục lệ ăn trầu của người Việt mà còn là biểu tượng cho lốisống đề cao tình nghĩa: Khi đón khách, “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, “Trầu này trầunghĩa trầu tình/ Ăn vào cho đỏ môi mình môi ta”,… Khi thờ cúng tổ tiên, miếng trầu quảcau là biểu tưởng cho lòng thành của con cháu gửi đến hồn thiêng những bậc đã khuất, lànhịp cầu giao cảm với tiền nhân
+ Đó còn là lối sống thuỷ chung son sắt: “Cha mẹ thương nhau bằng gừng caymuối mặn” Gừng càng già càng cay, muối càng để lâu càng đặm, giống như tình nghĩathuỷ chung của con người, càng gắn bó lâu dài, cùng trải qua những cay đắng, ngọt bùi thìcàng nồng đượm:
Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta nghĩa nặng tình dày
Có xa đi nữa cũng ba vạn sáu ngàn ngày mới xa
+ Đó là phẩm chất dũng hùng, kiên cường trước ngoại xâm Cả một truyền thốngđánh giặc ngoại xâm giữ nước của dân tộc đã sống dậy qua hình ảnh “dân mình biết trồngtre mà đánh giặc”: từ thuở sơ khai của Đất Nước, tre đã cùng Thánh Gióng đánh đuổi giặc
Ân Sau này, tre vẫn tiếp tục “xung phong vào xe tăng đại bác… giữ làng, giữ nước, giữmái nhà tranh, giữ cánh đồng lúa chín” (Thép Mới) cùng với con người Tre cũng nhưngười, kiên trung, bất khuất:
Nòi tre đâu chịu mọc cong Chưa lên đã thẳng như chông lạ thường
+ Đó còn là phẩm chất chịu thương chịu khó, tảo tần lam lũ của người Việt Câuthơ “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng” đã gợi lên quá trình lao độngnhọc nhằn, vất vả để làm ra hạt gạo Để có được hạt thóc là những ngày tháng bán mặtcho đất bán lưng cho trời, dầm mưa dãi nắng trên cánh đồng Rồi để biến hạt thóc thô ráp
ấy thành hạt gạo trắng trong lại phải trải qua biết bao nhiêu công đoạn: xay, giã, giần,
Trang 34sàng Mỗi hạt gạo nhỏ bé thấm biết bao mồ hôi nhọc nhằn vất vả của con người.
* Khép lại đoạn thơ lại là một lời khẳng định:
Đất Nước có từ ngày đó
“Ngày đó” là “ngày xửa ngày xưa”, ngày ta có truyền thuyết, truyện cổ tích; có phong tục,tập quán; có truyền thống, đạo lí,… Nghĩa là thời điểm ra đời của Đất Nước bắt đầu từthời điểm ra đời của nền văn hoá, quá trình phát triển của Đất Nước song hành cùng vớiquá trình phát triển của nền văn hoá dân tộc
* Giữa vô số những tác phẩm viết về đề tài đất nước, tác phẩm vẫn nổi bật, ghi được dấu
ấn sâu đậm trong lòng độc giả là bởi nhà thơ đã có những cảm nhận độc đáo, mới mẻ về
đề tài tưởng như đã là muôn thuở này.
Nếu các nhà thơ khác, khi khám phá chiều dài lịch sử của Đất Nước, thường chú
ý đến những sự kiện đặc biệt, những mốc son chói lọi của dân tộc Bởi vậy, lịch sử củaĐất Nước thường được ghi dấu bằng sự nối tiếp của các triều đại, các thể chế chính trị:
Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
(Đại cáo bình Ngô – Nguyễn Trãi)
Hay:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết câu Kiều, đất nước hoá thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo Vương diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng…
(Chế Lan Viên)Nguyễn Khoa Điềm thì khác Ông khám phá lịch sử của Đất Nước từ chiều sâuvăn hoá và văn học dân gian Nhà thơ tìm về cội nguồn của Đất Nước thông qua truyềnthuyết, truyện cổ tích, thành ngữ, ca dao,…; thông qua những thuần phong mĩ tục của dântộc Nhờ đó, nhà thơ đã khám phá được hồn cốt của Đất Nước
Đất Nước là một ý niệm thiêng liêng, trừu tượng, cho nên phần lớn các tác giảkhi tiếp cận đề tài này thường chọn cho mình một điểm nhìn từ xa, tự tạo ra một khoảngcách nhất định để chiêm nghiệm về Đất Nước, phám phá được sự hoành tráng, kì vĩ củanúi sông, sự trường tồn, hào hùng của lịch sử:
Việt Nam đất nước ta ơi Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
(Nguyễn Đình Thi, Bài thơ Hắc Hải, 1959)
Hay:
Tổ quốc tôi như một con tàu Mũi thuyền ta đó – mũi Cà Mau Những dòng sông rộng hơn ngàn thước Trùng điệp một màu xanh lá đước […]
Tổ quốc tôi như một con tàu Mũi thuyền xé sóng – mũi Cà Mau
(Xuân Diệu, Mũi Cà Mau, 1960)
Trang 35Riêng Nguyễn Khoa Điềm lại lặng lẽ quan sát Đất Nước ở muôn mặt đời thường, trongquan hệ ruột rà thân thuộc Nhắc đến Đất Nước, nhà thơ không nhắc đến các bậc vua chúahay anh hùng trong lịch sử mà nói đến “mẹ”, “bà”, “cha mẹ”; nói đến “dân mình” Vì thế,Đất Nước không hề xa xôi, trừu tượng mà là những gì bình dị, thân quen, gần gũi nhấttrong đời sống hằng ngày của mỗi người Đất Nước có trong câu chuyện mẹ thường hay
kể, có trong miếng trầu của bà, có trong búi tóc của mẹ, có trong muối mặn, gừng cay, cótrong cái cột, cái kèo ngôi nhà ta ở, có trong hạt gạo ta ăn hằng ngày,… Tất cả những thứnhỏ bé, bình dị ấy đều là một phần của Đất Nước
Chính vì cách tiếp cận Đất Nước như thế, nên trong đoạn thơ này, Nguyễn KhoaĐiềm đã chọn cho mình giọng điệu tâm tình, thủ thỉ, đoạn thơ như một lời trò chuyện thânmật, tự nhiên Các từ ngữ, hình ảnh được sử dụng cũng rất dung dị, đời thường Cả đoạnthơ 9 dòng, 85 chữ mà không có một từ nào là từ Hán Việt, hiện diện trong đoạn thơ làmiếng trầu, búi tóc, cây tre, gừng cay, muối mặn, cái kèo, cái cột, hạt gạo,… Thật gần gũi
và thân thuộc biết bao!
Thành công của đoạn thơ còn ở chỗ Nguyễn Khoa Điềm đã khai thác, sử dụngrất tài tình các chất liệu dân gian Nhà thơ đã đưa vào đoạn thơ một bầu “khí quyển” dângian đậm đặc bằng cách gợi nhắc hàng loạt các truyện cổ: tích truyện Trầu cau, truyền
thuyết Thánh Gióng; những câu ca dao yêu thương tình nghĩa (Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau; Muối ba năm muối đang còn mặn/ Gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta nghĩa nặng tình dày/ Dẫu có xa nhau đi nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa…); những câu thành ngữ quen thuộc (gừng cay muối mặn, một nắng hai sương)… Cái hay của Nguyễn Khoa Điềm là không chỉ ra một bài nào cụ thể,
cũng không trích nguyên văn một câu nào trọn vẹn mà chỉ dẫn ra, gợi ra một vài từ ngữ,hình ảnh tiêu biểu Song từng đó cũng đủ để gợi dậy trong tâm trí người đọc những nétvăn hoá, phong tục tập quán,… nghìn đời của dân tộc
Tiểu kết: Qua những cảm nhận có vẻ ngoài như là tản mạn, tuỳ hứng của cuộc tròchuyện tâm tình, qua những hình ảnh gợi nhắc tới thành ngữ, ca dao, cổ tích,… NguyễnKhoa Điềm đã đưa người đọc đến một nhận thức giản dị mà sâu sắc, thấm thía: Đất Nước
có một lịch sử lâu đời, Đất Nước không hề xa lạ hay trừu tượng, Đất Nước là tất cả những
gì gần gũi, gắn bó với cuộc sống hằng ngày của nhân dân; Đất Nước làm nên vóc dáng,hình hài, làm nên tâm hồn, cốt cách, làm nên lối sống, lối nghĩ của mỗi con dân đất Việt
b) Đất Nước là gì?
Sau khi tìm được cội nguồn của Đất Nước, tiếp tục mạch trữ tình – chính luận,Nguyễn Khoa Điềm đã tự đặt ra và trả lời câu hỏi: Đất Nước là gì?
Tác giả đã dùng kiểu câu có ý nghĩa giảng giải, giải thích để làm rõ khái niệm
Đất Nước: “Đất là…”, “Nước là…”, “Đất Nước là…” Trong số 33 dòng thơ, kiểu câu
đó xuất hiện tới 11 lần Tuy nhiên, sự lặp lại ấy không hề làm cho người đọc cảm thấynhàm chán bởi mỗi lần giảng giải là một lần Đất Nước được xem xét ở một góc độ khác.Nhờ vậy, đoạn thơ thâu tóm được nhiều ý tưởng sâu sắc, mới mẻ và thú vị về Đất Nước
Khi định nghĩa về Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm cũng đã khai thác đặc điểmcấu tạo từ của tiếng Việt: “đất nước” là một từ ghép gồm 2 thành tố “đất” và “nước” Nhàthơ đã tách từ “đất nước” ra để định nghĩa từng thành tố một, sau đó lại hợp nhất 2 thành
tố lại trong một chỉnh thể thống nhất, hài hoà Cứ như thế, tách ra rồi hợp lại, hợp lại rồitách ra,… Đất Nước hiện ra vừa cụ thể, riêng tư, gần gũi vừa lớn lao, cao cả, thiêng liêng
* Đầu tiên, nhà thơ xem xét Đất Nước ở phương diện không gian địa lí:
+ Với Nguyễn Khoa Điềm, không gian của Đất Nước trước hết là những khônggian cụ thể, gần gũi, riêng tư với mỗi người:
Đất là nơi anh đến trường
Trang 36Nước là nơi em tắm Đất Nước là nơi ta hò hèn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất Nước không phải là cái gì trừu tượng, xa xôi mà chính là con đường đưa anhđến trường thuở nhỏ, là dòng sông em tắm mát mỗi chiều hè, là nơi mà ở đó ta lớn lên, lànơi chứng kiến tình yêu của chúng ta nảy nở, là người bạn chia sẻ nỗi nhớ thương thầmkín của em, Vậy đó, Đất Nước là tất cả những gì gắn bó với ta ngay từ thuở thơ ấu đếnkhi khôn lớn, Đất Nước âm thầm, lặng lẽ chứng kiến sự trưởng thành của ta, rồi cuối cùng
sẽ dang rộng vòng tay đón về với cõi vĩnh hằng
+ Đất Nước còn là núi sông, rừng bể rộng lớn, mênh mông:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc” Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Tác giả đã mượn chất liệu dân ca Bình Trị - Thiên để thể hiện sự kì vĩ, lớn lao củaĐất Nước Biên độ của Đất Nước như được nâng cao cùng tầm bay của cánh chim phượnghoàng tìm về hòn núi bạc và mở rộng về phía biển cả mênh mông – nơi con cá ngư ôngđược thoả sức vẫy vùng Hình ảnh thơ cũng thể hiện niềm tự hào, gợi nghĩ đến sự giàu có,trù phú “rừng vàng, biển bạc” của Đất Nước
+ Đất nước không chỉ là những không gian cụ thể: trường học, dòng sông, cây đabến nước – nơi hò hẹn,… mà còn là những miền không gian thiêng liêng gắn với nhữngtruyền thuyết, huyền thoại cổ xưa:
Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng
Ý thơ gắn với huyền sử về cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ Mẹ Âu Cơ vốn thuộcgiống Tiên – biểu tượng là Chim, sống ở trên cao, cha Lạc Long Quân vốn thuộc nòi Rồngsống nơi biển cả Cha Rồng, mẹ Tiên sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm con – thuỷ tổ củangười Việt Huyền sử ấy in sâu vào tâm thức mỗi người con đất Việt Bởi vậy, chúng tamới gọi nhau là “đồng bào”, mới nhắc nhở nhau:
Dù ai ăn đâu làm đâu Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ Tổ.
Như vậy, Đất Nước là chứng tích của tổ tiên cao quý, là cội nguồn ấm áp thân yêucủa tình nghĩa đồng bào
+ Đất nước còn là không gian sinh tồn của cả cộng đồng dân tộc, là ngôi nhà lớncủa đại gia đình người Việt qua bao thế hệ:
Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ Những ai đã khuất
Những ai bây giờ Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Như vậy, nhìn từ phương diện không gian, Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá ra rằng ĐấtNước là sự hợp nhất của Đất và Nước, của núi rừng và sông bể, của những không gianriêng tư với không gian cộng đồng, của những không gian cụ thể, gần gũi với những miềnkhông gian linh thiêng,…
* Đất Nước còn được nhà thơ cảm nhận trong suốt chiều dài thời gian lịch sử từ quá khứ đến hiện tại và tương lai:
Quá khứ của Đất Nước là thời gian của “Những ai đã khuất” Đó là thời gianthiêng liêng, đầy tự hào bởi nó gắn với huyền thoại cha Rồng – mẹ Tiên, gắn với côngcuộc xây dựng và bảo vệ đất nước của các vua Hùng,…
Trang 37 Hiện tại của Đất Nước là thời gian của “Những ai bây giờ”, của “anh” và “em”.Đất Nước trong hiện tại vô cùng giản dị và gần gũi:
Trong anh và em hôm nay Đều có một phần Đất Nước
Trong “anh” và “em” đều có một phần Đất Nước bởi chảy trong ta là dòng máuLạc Hồng, ta nói tiếng nói của người Việt, sống theo thuần phong mĩ tục, nghĩ theo nếpcảm nếp nghĩ của dân tộc,… Đất Nước không chỉ ở gần ta, bao bọc quanh ta mà còn ởngay trong ta Ta là cũng là một phần của Đất Nước
Tương lai của Đất Nước là của thế hệ “con ta” Tương lai ấy mang đầy triểnvọng tươi sáng:
Mai này con ta lớn lên Con sẽ mang Đất Nước đi xa Đến những tháng ngày thơ mộng
Những điều chỉ có trong thơ, trong mộng ở hiện tại sẽ trở thành hiện thực ở tươnglai của Đất Nước Đất Nước sẽ phát triển, sẽ bay cao, bay xa vào vũ đài thế giới
Như vậy, theo cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, nếu nhìn từ bình diện thời gian, có thểthấy quá trình hình thành và phát triển của Đất Nước là một cuộc chạy đua tiếp sức lớnlao, vĩ đại và vĩnh hằng của các thế hệ người Việt trong chiều dài lịch sử dựng nước và giữnước
* Sau khi ngắm nhìn Đất Nước trong “Thời gian đằng đẵng/ Không gian mênh mông”, Nguyễn Khoa Điềm đã đi đến nhận thức về trách nhiệm của mỗi đối với Đất Nước:
[…] Đất Nước là máu xương của mình Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng hình xứ sở Làm nên một Đất Nước muôn đời
+ Điệp ngữ “phải biết” vang lên như một mệnh lệnh Nhưng mệnh lệnh ấy không
hề gây cảm giác khó chịu với người đọc bởi đó là mệnh lệnh của trái tim – một trái timyêu nước nồng nàn Mệnh lệnh ấy lại được nói bằng giọng điệu thủ thỉ, tâm tình “Em ơiem…” Đó là lời của anh nói với em, của người yêu nói với người yêu nên thấm thía vàsâu sắc vô cùng
+ Trước hết, về mặt nhận thức và tình cảm, phải coi Đất Nước “là máu xương củamình” Đất Nước là một phần không thể thiếu của anh và em, quý như máu và xương cấuthành cơ thể
+ Nhưng yêu nước không phải chỉ bằng nhận thức và tình cảm mà còn phải bằngnhững hành động cụ thể, phải biết: “gắn bó” – đoàn kết, yêu thương, “san sẻ” – giúp đỡ,tương trợ lẫn nhau Và khi cần thiết, phải biết “hoá thân cho dáng hình xứ sở” “Dánghình xứ sở” là dáng hình của Đất Nước – là “Dải đất cong cong hình chữ S” (Quê hương
Trang 38tôi – Hồng Dương”1), là “Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu” (Đất nước tôi – Tạ HữuYên), là “Đất nước hình tia chớp” (Trần Mạnh Hảo),… Nhưng đế quốc Mỹ lại đang âmmưu chia cắt dáng hình của Đất Nước Đặt câu thơ trong hoàn cảnh sáng tác, có thể thấy
“hoá thân cho dáng hình xứ sở” chính là dâng hiến, là hi sinh vì sự thống nhất, vẹn toàncủa Đất Nước Tư tưởng này, chúng ta bắt gặp nhiều trong thơ ca cách mạng, đặc biệt làthơ ca thời kháng chiến chống Mỹ:
Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, dòng sông
(Chế Lan Viên)Hay:
Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình (Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc) Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?
(Thanh Thảo)
“hoá thân” không phải là mất đi, hoá thân là để vĩnh hằng cùng non sông, đất nước, để
“Làm nên Đất Nước muôn đời”
Như vậy, ở đoạn thơ này, vẫn bằng cách tiếp cận từ bề sâu văn hoá và văn học dân gian,Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt đưa người đọc khám phá Đất Nước ở các phương diệnkhông gian địa lí, thời gian lịch sử và trong mối quan hệ với chính bản thân mỗi người Từ
đó, khơi gợi niềm yêu mến, tự hào và lay tỉnh ý thức trách nhiệm của mỗi người đối với vậnmệnh của Đất Nước Với giọng thơ chân thành, tha thiết, nhẹ nhàng như một lời thủ thỉ, tâmtình, đoạn thơ đã tạo được những xúc cảm mạnh mẽ và sâu sắc trong lòng người đọc
2 Tư tưởng Đất Nước của Nhân Dân (Đất nước do ai làm ra?)
Ở đoạn thơ tiếp theo, Nguyễn Khoa Điềm đã đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Đất nước do
ai làm ra? Với Nguyễn Khoa Điềm, Nhân Dân chính là người đã làm ra Đất Nước nên
“Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân” Và để đi đến tư tưởng đó, tác giả đã lần lượtchứng minh trên các phương diện địa lí, lịch sử và văn hóa của Đất Nước
a) Phương diện không gian địa lí
* Trước hết, nhà thơ đã ngắm nhìn lại Đất Nước mình qua những địa danh trải dài từ Bắc – Trung – Nam, ở cả miền núi – đồng bằng – miền biển:
Những người vợ nhớ chống còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho Đất Nước mình núi Bút, non Nghiên Con cóc, con gà quê hương cùng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
Trong số những địa danh được tác giả liệt kê, có những địa danh rất nổi tiếng, là
di tích lịch sử hay thắng cảnh của Đất Nước (núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, đất Tổ HùngVương, vịnh Hạ Long), nhưng cũng có những địa danh rất đỗi giản dị, bình thường (trăm
ao đầm, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đe, Bà Điểm) Và nhà thơ đã phát hiện ra điểm giốngnhau giữa chúng là đều gắn với một huyền thoại, huyền sử về Nhân Dân: núi Vọng Phugắn với câu chuyện về người vợ thuỷ chung chờ chồng đến hoá đá, hòn Trống Mái là câu
1 “Dải đất trải cong cong hình chữ S/ Quê hương tôi khúc hẹp giữa hai đầu/ Lắm thiên tai nắng cháy lại mưa ngâu/ Nhiều bão lũ giãi dầu sương giá buốt”
Trang 39chuyện về tình yêu giữa nàng tiên nhà Trời với chàng trai ngư phủ, trăm ao đầm trên khắpĐất Nước là dấu tích của gót chân ngựa sắt đã cùng Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân khixưa, những đồi núi bao quanh dãy Hi Cương – nơi có đền thờ vua Hùng – là câu chuyện
về 99 con voi quây quần chầu phục đất Tổ, tên gọi Cửu Long gắn liền với huyền thoại về
9 con rồng,… Chính vì gắn với những huyền thoại về nhân dân, do nhân dân sáng tạo racho nên những địa danh này không phải chỉ là những ngọn núi, những con sông vô tri vôgiác trên bản đồ địa lí của Đất Nước mà chúng chứa đựng những câu chuyện về đời sống,
về tâm hồn, tính cách của con người Việt Nam Hay nói cách khác, Nhân Dân chính làngười đã tạo ra phần hồn cốt của những địa danh này
Đoạn thơ có một kiểu cấu trúc lạ 9 dòng thơ tuy dài ngắn khác nhau nhưng đều
có chung một mô hình câu: chia thành 2 nửa, nửa đầu chỉ Nhân dân hoặc những thứ thuộc
về Nhân dân, nửa sau là những địa danh của Đất Nước, giữa hai nửa được nối kết với
nhau bởi những động từ “góp cho”, “góp nên”, “góp mình”, “góp tên”,… Tất cả đều
nhằm khẳng định chính Nhân Dân – những con người vô danh, bình dị, qua năm tháng đã
âm thầm, lặng lẽ, bền bỉ, kiên cường tạo dựng nên Đất Nước
* Từ nhận thức trên, Nguyễn Khoa Điềm đã nâng ý thơ lên tầm khái quát:
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy Những cuộc đời đã hoá núi sông ta
Không chỉ có những địa danh được kể ở trên mà “trên khắp ruộng đồng gò bãi” –tức là mọi không gian của Đất Nước, trong suốt “bốn nghìn năm”, nơi nào cũng in lại dấu
ấn của Nhân dân Dấu ấn đó có thể là “một dáng hình”, “một ao ước” hoặc “một lối sống”của Nhân dân Cách nhìn nhận này, ta cũng gặp trong thơ của Thanh Thảo:
Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người
Là đứng theo dáng mẹ Đòn gánh tre chín rạn hai vai
Nhưng không dừng ở đó, trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, núi sông củaĐất Nước không chỉ là sự phản chiếu, hay in dấu cuộc sống của Nhân Dân mà còn chính
là do Nhân dân hoá thân mà thành: “Những cuộc đời đã hoá núi sông ta” Nghĩa là, ĐấtNước chính là một phần tâm hồn, máu thịt của Nhân dân
b) Phương diện thời gian lịch sử
Sau những cảm nhận mới mẻ và độc đáo về sự đóng góp của Nhân Dân để làmnên không gian của Đất Nước, Nguyễn Khoa Điềm lại hướng cái nhìn vào dòng chảy xaxăm, sâu thẳm của lịch sử Đất Nước để quan sát, chiêm nghiệm về công sức của Nhân Dân:
Em ơi em Hãy nhìn rất xa Vào bốn nghìn năm Đất Nước
Trong cái nhìn ấy, nhà thơ nhận ra hình ảnh Nhân dân:
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái con trai bằng tuổi chúng ta
rồi lại:
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Sự lặp lại liên tiếp của những cụm từ: người người lớp lớp…, con gái con trai,…
có biết bao người…, bốn nghìn lớp người… đã đem đến ấn tượng về sự đông đảo vô cùng
của Nhân Dân Lịch sử bốn nghìn năm của Đất Nước chính là lịch sử của bốn nghìn lớpngười Họ đã cùng nhau, đã thay nhau “gánh Đất Nước trên vai”:
Trang 40Lúc bình thường, họ cùng nhau “Cần cù làm lụng” để tạo ra của cải vật chất, xây
dựng Đất Nước Nhưng khi Đất Nước lâm nguy, họ tự nguyện phân công nhiệm vụ chonhau rất rõ ràng:
Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh
Nói về chuyện ra trận, chuyện đánh giặc mà giọng thơ không có gì là lên gân lêncốt, vẫn cứ nhẹ nhàng như thường Dường như, 4000 năm lịch sử với bao lần giặc giã trànsang đã tôi luyện cho Nhân Dân bản lĩnh vững vàng, tinh thần tự nguyện Những chàngtrai coi việc ra trận như một lẽ thường Ý thơ gợi cho ta nhớ đến hình ảnh của nhữngngười nghĩa sĩ nông dân trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu:
Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ hay thái độ ngang tàng “chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” của người chiến sĩ Tây Tiến
trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ
Những người con gái trở về với thiên chức ngàn đời của mình “nuôi cái cùng con” –
là hậu phương vững chắc Nhưng chảy trong huyết quản của họ là dòng máu anh hùng của
những Bà Trưng, Bà Triệu nên “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” Người phụ nữ Việt Nam
dịu hiền, tần tảo những cũng anh dũng biết bao!
Với những đóng góp và sự kiên cường bất khuất vô song, họ đã trở thành anh hùng:
Nhiều người đã trở thành anh hùng Nhiều anh hùng cả anh và em đều nhớ Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Ðất Nước
Chỉ có số ít trong họ được Tổ quốc ghi công, tên tuổi được vinh danh muôn thuở,trở thành những anh hùng hữu danh Còn phần lớn đều là những anh hùng vô danh Ở đây,Nguyễn Khoa Điềm không chú trọng phác họa một chân dung điển hình cụ thể nào màmuốn tôn vinh một tập thể anh hùng vô danh: sống giản dị và chết bình tâm Họ không đòihỏi ai phải “nhớ mặt đặt tên”, cứ âm thầm lặng lẽ sống, cống hiến để làm nên Đất Nướctrường tồn suốt bốn nghìn năm lịch sử
c) Phương diện văn hoá
Nhân Dân không chỉ làm nên Đất Nước ở phương diện không gian địa lí, thờigian lịch sử mà còn là người làm nên văn hoá Việt Nam Họ chính là người sáng tạo, giữgìn và lưu truyền mọi giá trị vật chất và tinh thần của dân tộc:
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái + Đại từ “họ” với tư cách là chủ thể một loạt hành động “truyền”, “chuyền”,
“gánh”, “đắp”, “be” đã khẳng định công lao to lớn của Nhân Dân đối với Đất Nước
+ Tấm lòng của Nhân Dân, sự khó nhọc của Nhân Dân được thể hiện trong câu thơ
đầy xúc động: “Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng” Đất Nước ta nằm trong cái nôi