1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi THPT QG môn ngữ văn tại trường THPT thạch thành 3–chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội

56 307 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 484 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.4 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài Sử dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi THPT QG môn Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3– chuyên đề viết đoạn văn nghị luận

Trang 1

PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài

Tổ chức UNESCO từng đề xướng ý tưởng: “học để biết, học để làm, học

để chung sống, học để khẳng định mình” Cho nên mọi hoạt động giáo dục đềuhướng đến một mục đích lớn là đào tạo con người thành công dân ưu tú trong

xã hội - khi mà người học thật sự nhập Sự thành công của sự nghiệp giáo dục,

vì vậy, phần nào phụ thuộc vào tính tương thích của mô hình giáo dục trongnhà trường và hiện thực cuộc sống vĩ đại nguyên khối mà giáo dục hướng đến.Nếu giáo dục là để hình thành nên con người xã hội thì nghị luận xã hội trongnhà trường là chuẩn bị nền tảng để con người trong tương lai người học trởnên sắc sảo và cá tính, hiệu quả và hữu ích một cách tối đa nhất Nhưng việcdạy ôn thi THPT QG chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội hiện nay ởTHPT còn nhiều hạn chế Thứ nhất số tiết làm văn trong chương trình quá ít,thứ hai về phương pháp dạy học rất nhiều GV chưa phân biệt được phươngpháp dạy nghị luận văn học với phương pháp dạy nghị luận xã hội Sở dĩ cónhững hiện tượng trên một phần là do hiện nay việc nghiên cứu về phươngpháp dạy học chuyên đề nghị luận xã hội cho HS chưa được chú trọng, vì thếdạy chuyên đề nghị luận xã hội trở thành mảnh đất quen mà lạ đối với GV và

HS Sáng kiến của chúng tôi ra đời nhằm góp một phần nhỏ vào việc tháo gỡ sự

bế tắc đó của việc nghiên cứu giải pháp dạy chuyên đề nghị luận xã hội cho HSlớp 12 ôn thi THPT QG trong nhà trường THPT hiện nay

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Tìm hiểu về thực trạng ôn thi THPT QG phần làm văn nghị luận xã hộitrong nhà trường từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ônthi THPT QG tại trường THPT Thạch Thành 3 Mục đích thúc đẩy phong tràodạy và học trong nhà trường Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng tới áp dụngmột số giải pháp dạy bồi dưỡng chuyên đề nghị luận xã hội cho HS lớp 12trường THPT Thạch Thành 3 một cách hiệu quả Chúng tôi đã khảo sát, đánhgiá tính khoa học của tri thức “nghị luận xã hội” trong SGK Ngữ văn hiệnhành Thông qua đưa ra cách nhìn toàn diện về phương pháp dạy phần nghịluận xã hội, nhận diện đúng khó khăn và thuận lợi của việc dạy phần nghị luận

xã hội cho học sinh Khẳng định tầm quan trọng của phần nghị luận xã hộitrong môn Ngữ văn nhà trường THPT Mục đích lớn nhất của đề tài chúng tôi

là áp dụng được giải pháp Qua đó giúp cho giáo viên và HS THPT hiểu rõ hơn

về nội dung của chuyên đề nghị luận xã hội trong công tác ôn thi THPT QG

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi tiến hành tìm hiểu về phương pháp tiếp cận và dạy

ôn thi THPT QG phần làm văn ở trường THPT Cụ thể là chuyên đề viết đoạnvăn nghị luận xã hội trong chương trình THPT thông qua phương thức Sử

dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi THPT QG môn Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3–chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội Sau đó xây dựng một giáo án thực nghiệm.

Trang 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài Sử dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu

quả ôn thi THPT QG môn Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3– chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội.” Chúng tôi đã tìm hiểu nhiều

công trình nghiên cứu về phương pháp dạy học và dạy học phần làm văn nghịluận xã hội từ trước đến nay Cụ thể chúng tôi chủ yếu sử dụng các phươngpháp nghiên cứu sau đây

- Phương pháp thống kê- Phương pháp tổng hợp- phân tích

- Phương pháp so sánh- đối chiếu- Phương pháp liên ngành

1.5 Những điểm mới của sáng kiến

Nghị luận xã hội là câu chiếm tỉ lệ 2/10 điểm trong kì thi THPT QG Qua

tình hình thực tiễn, dạng câu hỏi này đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như

Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hóa lựa chọn đưa vào đề thi THPT QG.Câu viết đoạn văn nghị luận xã hội cũng xuất hiện trong kì thi HSG vàOlympic truyền thống 30/4 tổ chức tại các trường THPT hay kì thi chọn họcsinh giỏi khu vực Duyên hải Bắc Bộ

- Trên thực tế, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 9 - lớp 12 chỉ cung cấp kiến thức

cơ bản về hai kiểu dạng: nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lí và nghị luận

xã hội về một hiện tượng đời sống, trong khi đề thi THPT QG lại rất phong phú

về kiểu dạng HS đang viết một bài văn nghị luận xã hội nay chuyển sang viếtmột đoạn văn khoảng 200 chữ Chính vì thế, sáng kiến sẽ cung cấp các kiểudạng nghị luận xã hội mới cũng như cách nhận diện và triển khai từng đoạnvăn Qua đó giúp giáo viên và học sinh có thêm nguồn tài liệu tham khảo, ứngdụng vào quá trình ôn luyện để đạt kết quả cao hơn

- Sáng kiến định hướng người dạy có thể đánh thức đam mê, khơi dậy tiềmnăng ở học sinh Đồng thời định hướng cho các em thói quen tích lũy kiến thức

và vốn sống, tăng cường sự trải nghiệm, rèn luyện khả năng lập luận, phản biện

để tìm ra chân lí, sống tốt hơn

- Sáng kiến đưa ra những giải pháp thiết thực, giúp giáo viên không bị lúngtúng khi dạy chuyên đề viết ĐV nghị luận xã hội Sáng kiến là chìa khóa địnhhướng cho giáo viên cần chuẩn bị những gì? làm như thế nào? Góp phần hìnhthành kiến thức, rèn luyện kĩ năng, giúp học sinh lớp 12 ôn thi THPT QG nóiriêng học sinh THPT nói chung học tốt hơn chuyên đề này

- Sáng kiến đề xuất những giải pháp mới để nâng cao hiệu quả trong việckiểm tra, đánh giá, đặc biệt là phối hợp với những thầy cô hiện đang giảng dạy

kĩ năng viết ĐV Từ đó, học sinh tự tin hơn khi tham gia kì thi THPT QG

PHẦN II: NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI

Trang 3

2.1 Cơ sở lí luận của đề tài

Bàn về chuyện dạy học văn trong nhà trường THPT hiện nay đã khó nói đếnchuyện ôn thi THPT QG môn văn lại càng khó hơn.Với tôi người thầy pháthiện và bồi dưỡng HS cũng như người trồng hoa Bông hoa đẹp bởi bàn tayngười chăm bón nâng niu Đâu phải khi nào hoa cũng khoe sắc rực rỡ Chỉ cầnmột cơn trở gió, sự thay đổi tiết trời, sự lãng quên bất cẩn của người là hoa kémsắc cây không trổ bông

Đồng nghiệp nói với tôi rằng giỏi văn chỉ là "thiên bẩm" Là người trực tiếpgiảng dạy môn văn đã nhiều năm ở PT tôi không nghĩ như vậy Với tôi ngườithầy dạy văn trong trường học không phải là chất xúc tác trong quá trình biếnđổi chất Năng khiếu và tri thức văn chương nói riêng tri thức văn hoá nói chungđược bồi đắp theo năm tháng gắn liền với sự nhạy bén của tố chất cá nhân đãlàm nên hồn văn ở HS Thiết nghĩ việc ôn thi THPT QG nếu được đầu tư mộtcách thích đáng và tiến hành bài bản kết quả sẽ khả quan hơn Kéo theo đó làhứng thú học văn sẽ phần nào được cải thiện

2.2Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng đề tài

2.2.1 Thực trạng

Như chúng ta đã biết trường THPT Thạch Thành III là một trongtổng số 105 trường THPT trong tỉnh Thanh Hóa, huyện Thạch Thành mộttrong 23 huyện Miền núi nằm ở phía Tây của tỉnh Thanh Hóa Đời sốngkinh tế còn gặp nhiều khó khăn, dân trí còn thấp nên việc giáo dục còngặp nhiều khó khăn Vấn đề vận động học sinh đi học đã khó, khó hơn làlàm sao cho học sinh say mê học, đặc biệt là học môn văn Trường THPTThạch Thành III là trường mới, đối tượng học sinh chủ yếu ở xã vùng

135 trong đó có 3 xã Thành Tân, Thành Công, Thành Minh thuộc diệnđặc biệt khó khăn Đội ngũ giáo viên mới ra trường tuổi đời còn non trẻ,kinh nghiệm giảng dạy chưa có nên vấn đề dạy và học là một vấn đề cònnan giải, đặc biệt là dạy ôn thi THPT QG phần nghị luận xã hội là điều rấtkhó đối với giáo viên dạy văn vì lâu nay trong tiềm thức của các em xemphần nghị luận xã hội là khó Cho nên đã dẫn đến trong những năm gầnđây số học sinh yêu thích môn văn không nhiều, đa số các em ngại họcvăn, thờ ơ với môn Ngữ văn cho nên dẫn đến học sinh thi môn ngữ vănchưa đạt kết quả cao đặc biệt là phần nghị luận xã hội

Xuất phát từ tình hình khó khăn nói trên tôi đã mạnh dạn áp dụngphương pháp dạy học văn của tác giả Phan Trọng Luận [4] Trong cuốn

sách này tác giả đã tập trung vào nghiên cứu về mặt lý thuyết khá hệthống tuy nhiên tác giả mới giải quyết vấn đề ở góc độ vĩ mô chung chotất cả các cấp học Bởi vậy tôi đã chọn đề tài “Sử dụng một số giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi THPT QG môn Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3–chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội ” để

nghiên cứu và cũng là góp thêm một tiếng nói tâm huyết vào hoạt động

Trang 4

ôn thi THPT QG môn Ngữ văn chuyên đề viết ĐV nghị luận xã hội theotinh thần đổi mới phương pháp dạy học.

2.2.2 Kết quả và hiệu quả của thực trạng trên

Khi xây dựng đề tài này trên những định hướng chung về mặt phươngpháp của các tác giả, bản thân tôi mạnh dạn vận dụng kế thừa những kết quả đãđạt được của họ để đi sâu vào tìm hiểu, nghiên cứu những giải pháp về bồidưỡng học sinh giỏi chuyên đề nghị luận xã hội Trong đề tài này phạm vinghiên cứu của tôi giới hạn ở việc: Chỉ áp dụng những giải pháp nâng cao hiệuquả ôn thi THPT QG môn Ngữ văn chuyên đề nghị luận xã hội Trong đó xâydựng hệ thống các dạng đề dựa trên những phương pháp dạy phần làm văn nghịluận xã hội nhằm giúp học sinh làm văn có hiệu quả Sau đó tiến hành dạy thử

để đánh giá được hiệu quả khi sử dụng những giải pháp này.(Bảng kết quả đặtcùng với bảng kết quả thực nghiệm)

2.3 Các giải pháp sử dụng để giải quyết đề tài

2.3.1 Một số cơ sở lí thuyết và thực tiễn khí Sử dụng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi THPT QG môn Ngữ văn tại trường THPT Thạch Thành 3–chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã hội

2.3.1.1 Giúp học sinh nắm chắc cấu trúc đề thi THPT QG

Qua việc khảo sát, phân tích đề thi THPT QG môn Ngữ văn trong khoảng

10 năm gần đây, giáo viên cần giúp học sinh nhận thức rõ các vấn đề cơ bảnsau:

* Về cấu trúc

Đề thi THPT QG môn Ngữ văn gồm 02 phần: phần 1 Đọc hiểu gồm 4 câuhỏi: phần 2 Làm văn gồm 2 câu, 01 câu nghị luận xã hội và 02 câu nghị luậnvăn học Trong đó, câu nghị luận xã hội chiếm số điểm là 2/10 điểm và câunghị luận văn học chiếm số điểm là 5/10 điểm

Về cấu trúc đề thi không thay đổi nhưng mức độ đề thì tùy thuộc quy môcủa từng kì thi để có yêu cầu phù hợp Qua cấu trúc đề thi này, giáo viên cầnphân tích kĩ để các em định hình rõ ràng trong quá trình ôn luyện

* Về kiến thức, kĩ năng

- Kiến thức xã hội là kiến thức tổng hợp, liên môn Nó bao gồm các kiếnthức về xã hội, thuộc mọi lĩnh vực, đặc biệt là những vấn đề mới, đang được xãhội quan tâm Hoặc cũng có thể là những vấn đề quen thuộc nhưng vẫn cònnhiều giá trị trong cuộc sống hôm nay

- Rèn kĩ năng viết bài văn nghị luận xã hội với bố cục ba phần, kết hợp cácthao tác, các kiểu đoạn văn, sử dụng dẫn chứng hợp lí

* Về thời lượng làm bài

- Nhìn chung, học sinh làm bài thi môn Ngữ văn trong thời gian 120 phút.Đây là điểm giáo viên cần phân tích rõ để định hướng ôn luyện cho HS mộtcách khoa học và hiệu quả Giáo viên rèn cho HS cách làm câu viết ĐV nghịluận xã hội trong thời gian phù hợp, tránh việc tốn quá nhiều thời gian cho câu

Trang 5

này mà làm hời hợt câu nghị luận văn học (5,0 điểm) Chúng tôi thường rèncho HS viết câu nghị luận xã hội trong khoảng 30 - 45 phút/120 phút.

* Về đáp án và biểu điểm

Trong những năm gần đây, đề thi THPT QG đều hướng đến dạng đề mở nênđáp án cũng được xây dựng theo hướng mở, HS có thể bày tỏ những kiến giảiriêng nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục, không lệch lạc tư tưởng HS có thểchia sẻ kiến thức từ trải nghiệm của bản thân nhưng phải được vận dụng mộtcách tự nhiên, chân thành Những điều này sẽ là cơ sở để người chấm phân hóamức độ của học HS

Như vậy, giáo viên giúp HS nắm chắc cấu trúc đề thi THPT QG môn Ngữvăn để tránh tâm lý hoang mang, lo sợ và chủ động, tích cực, tự tin hơn trongquá trình ôn luyện, tạo tâm thế vững vàng cho các em bước vào kì thi Yếu tốnày có ý nghĩa hết sức quan trọng, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả

ôn luyện

2.3.1.2 Khơi dậy hứng thú ở người học

- Theo các chuyên gia giáo dục, một trong những mục tiêu quan trọng củađổi mới phương pháp dạy học là biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáodục Để làm được điều này, trước hết người dạy phải biết khơi dậy, nhóm lênhứng thú ở người học Đặc biệt, với HS học môn Ngữ văn, việc khơi dậy hứngthú ở người học lại càng có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng,hiệu quả ôn tập

- Hàng ngày, có nhiều vấn đề xã hội nảy sinh, đòi hỏi giáo viên phải biếtquan sát, lắng nghe, tổng hợp Vì vậy, người dạy phải truyền cho HS niềm say

mê, hứng thú, tự tìm tòi, quan sát, trải nghiệm cuộc sống Khi đó, HS sẽ khôngthấy bị ép buộc, học tập mà là quá trình rèn luyện để trưởng thành trong cáchnghĩ, cách sống Để đạt kết quả cao trong kì thi THPT QG

- Đặc biệt, trong quá trình hướng dẫn học sinh ôn luyện, người dạy phải chú

ý những điểm mạnh của học sinh để khuyến khích các em phát huy Học sinhnào có bài viết tốt, sáng tạo, đứng ở nhóm đầu sẽ được thưởng một món quà,thông thường là những cuốn sách về “Hạt giống tâm hồn” [3] hoặc những tácphẩm hay, đang được bạn đọc quan tâm Có như vậy, các em mới hăng say,hứng thú trong quá trình ôn luyện và làm bài kiểm tra đạt chất lượng tốt hơn

2.3.1.3 Hướng dẫn học sinh tích lũy và huy động kiến thức để làm tốt bài văn nghị luận xã hội

* Hướng dẫn học sinh tích lũy kiến thức và vốn sống

Yêu cầu HS tích lũy kiến thức và vốn sống không phải là hoạt động dạy họcmới của giáo viên Việc tích lũy kiến thức và vốn sống sẽ rất hữu ích cho các

em trong việc xây dựng các luận điểm, bao gồm lí lẽ và dẫn chứng Vì vậy,trong các năm trực tiếp ôn luyện đội tuyển, chúng tôi định hướng cho các emtích lũy kiến thức và vốn sống từ các nguồn:

- Từ sách vở: chủ yếu từ báo chí, các loại sách tham khảo về các lĩnh vực

của cuộc sống như: văn học, lịch sử, khoa học, tôn giáo, sách về gương người

Trang 6

tốt, việc tốt Đó có thể là “Hạt giống tâm hồn”, “Hạt giống hạnh phúc”, “Suy nghĩ của những người trẻ” Đó cũng có thể là những cuốn sách mới nhất được

dư luận quan tâm như: “Tuổi trẻ đáng giá bao nhiêu?” của Rosie Nguyễn,

“Nếu biết trăm năm là hữu hạn” của Phạm Lữ Ân, “Nhà giả kim” của Paulo Coelho, hay “Chuyện nhà Dr Thanh” của Trần Uyên Phương – cuốn tự truyện

gây “sốt” trong làng xuất bản năm 2017…điều quan trọng là chúng tôi cùngcác em tìm và lựa chọn sách cần thiết để đọc, biết cách đọc, biết hệ thống hóanhững kiến thức sách vở thành kiến thức của bản thân

- Từ internet, phương tiện truyền thông: Hiện nay, các trang mạng xã hội

như Facebook, Zalo, Youtube… đang là món ăn tinh thần của tất cả mọi người,nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên Các em giành phần lớn thời gian cho hoạtđộng truy cập các trang mạng quen thuộc này và xem đây là một hoạt độngkhông thể thiếu mỗi ngày Hiểu được tâm lí này, giáo viên nên định hướng họcsinh tận dụng mạng xã hội để cập nhật những thông tin thời sự Khuyến khíchhọc sinh thường xuyên nghe các bài nói chuyện của những nhân vật có tầm ảnhhưởng lớn như: Jack Ma, Bill Gates, Nick Vujicic, Lê Thẩm Dương, Giản TưTrung…

- Từ đời sống: để bài viết ĐV nghị luận xã hội có tính chân thực và thuyết

phục, các em phải hình thành thói quen quan sát cuộc sống, những vấn đề,những hoạt động, sự việc xảy ra hàng ngày, học cách nhìn, cách nghĩ, cách cảmcuộc sống Trên cơ sở đó, học sinh biết lựa chọn, nắm bắt lấy bản chất vấn đề

- Từ trải nghiệm của bản thân: đây là ví dụ minh họa sống đúng, có sức

thuyết phục nếu nó được vận dụng vào bài văn một cách tự nhiên, chân thành

Có thể nói, nếu giáo viên định hướng tốt cho học sinh thường xuyên thựchiện hoạt động tích lũy kiến thức và vốn sống thì học sinh có ý thức tự giác sưutầm tư liệu, biết chọn tư liệu hay và bổ ích

* Hướng dẫn học sinh cách khắc sâu kiến thức

Ghi chép

Giáo viên nên hướng dẫn HS xây dựng cuốn sổ tay dành riêng cho chuyên

đề nghị luận xã hội Các em ghi chép lại những dẫn chứng thu thập được,những câu nói bổ ích, những cách viết ấn tượng, hoặc ghi lại những vấn đề xãhội mà các em quan tâm, những vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của nhiềungười… Thói quen ghi chép vừa giúp các em khắc sâu kiến thức, vừa lưu giữlại những dẫn chứng cần thiết để có thể sử dụng khi cần Khi ghi chép, học sinhnên phân loại theo mảng, theo chủ đề Mỗi một chủ đề, giáo viên cho học sinhtích lũy theo nhiều mức độ, tránh áp lực để HS phải nhớ nhiều Đối với hiệntượng đời sống, giáo viên nên hướng dẫn HS tìm số liệu làm nguồn minh chứngxác thực, để khi cần vận dụng sẽ huy động kiến thức nhanh hơn

Hình thành sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy còn gọi là bản đồ tư duy hay lược đồ tư duy hình thức ghi chépnhằm đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung,

hệ thống hóa chủ đề bằng cách kết hợp sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc,

Trang 7

chữ viết Chúng tôi sử dụng linh hoạt phương pháp này trong nhiều trường hợp,chẳng hạn:

- HS tóm tắt nội dung chính của một bài nói chuyện, trao đổi trên mạng xãhội Tóm tắt những ý chính khi các em đọc một ĐV hay, hoặc một tài liệu dài.Tóm tắt dàn ý của một đề văn trong quá trình ôn luyện Đặc biệt, sau mỗi đềvăn đã lập dàn ý chi tiết, giáo viên sửa chữa, học sinh đều phải lập sơ đồ tư duy

để khắc sâu kiến thức

* Hướng dẫn học sinh cách tư duy

Qua trao đổi với đồng nghiệp ở các trường lân cận, chúng tôi nhận thấy đaphần học sinh chưa viết văn bằng chính suy nghĩ của mình Lối nói theo, viếttheo, rập khuôn đang là hiện tượng phổ biến trong các bài văn Một số em cósuy nghĩ riêng thì lại non nớt, hời hợt, thậm chí sai lệch Do đó, giáo viên cần

có các hoạt động dạy học giúp các em có thói quen suy nghĩ, bàn bạc về nhữngvấn đề tư tưởng, đạo lí, hay các sự việc, hiện tượng của đời sống; có ý tưởngđúng đắn, phong phú, đồng thời biết thể hiện chính kiến của mình trước vấn đề,hay sự việc, hiện tượng đó

Trước khi hướng dẫn học sinh ôn luyện chuyên đề viết ĐV nghị luận xã hội,giáo viên nên hướng dẫn học sinh có thói quen suy nghĩ về những vấn đề tưtưởng, đạo lý và đời sống Giáo viên có thể tiến hành như sau:

- Giáo viên cho một câu hỏi Nội dung câu hỏi nên là những vấn đề gần gũi,quen thuộc và thú vị đối với HS

- Giáo viên yêu cầu suy nghĩ nhanh và viết ngắn gọn ra giấy ý kiến củamình

- Sau đó mời từng HS trình bày suy nghĩ của bản thân

- Cuối cùng, giáo viên chia sẻ suy nghĩ với HS

Hoạt động dạy học trên rèn luyện cho HS năng lực tư duy, phản xạ nhạybén khi đứng trước một tình huống buộc phải bày tỏ quan điểm cá nhân

Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh lập dàn ý đề văn về sự thay đổi giáo viên đặt

câu hỏi: Em có suy nghĩ như thế nào về việc PGS.TS Bùi Hiền đề xuất cải

cách bảng chữ cái tiếng Việt?

Em Lê Hoàng Hiếu trình bày: trước vấn đề PGS.TS Bùi Hiền đề xuất cải cách bảng chữ cái đang gây xôn xao dư luận, nhiều cá nhân cho rằng

xã hội cần thay đổi, không nên giữ mãi điều đã cũ Riêng tôi không nghĩ như vậy Bởi thay đổi ấy trên thực tế, mang lại lợi ích không nhiều mà việc đổi ngôn ngữ dẫn đến nhiều hệ lụy, từ giáo dục, kinh tế đến việc làm mất

đi sự trong sáng của tiếng Việt Cổ hủ quá là không nên nhưng thay đổi quá nhanh, đột ngột cũng là không thể.

Em Trương Thị Huyền lại chia sẻ: thay đổi là một yêu cầu trong tiến trình phát triển của xã hội Bởi vậy, ý kiến của PGS.TS Bùi Hiền cũng xuất phát từ quy luật chung đó Mọi sự thay đổi đều cần thời gian để kiểm chứng, để đánh giá xem ý kiến đưa ra có thiết thực hay không? Không nên dùng những lời lẽ, thái độ chỉ trích quá nặng nề, xúc phạm đến danh dự,

Trang 8

nhân phẩm của người tạo ra công trình nghiên cứu nhiều năm và mất nhiều chất xám.

Như vậy, việc đưa ra những câu hỏi có vấn đề và thường xuyên tiến hànhbài tập ngắn như trên, chắc chắn học sinh sẽ trưởng thành trong suy nghĩ, chínchắn trong hành động Mặt khác ý tưởng của người dạy sẽ gợi lên trong các embao điều mới mẻ và thú vị

2.3.1.4 Giúp học sinh nhận diện ra các kiểu dạng nghị luận xã hội

Qua tìm hiểu, khảo sát các đề thi THPT QG những năm gần đây, chúng tôithấy có các kiểu dạng nghị luận xã hội cơ bản sau:

* Nghị luận về một tư tưởng đạo lý

Ví dụ: ĐỀ LUYỆN THI QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN NĂM 2018

Phần I Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

(1)Những ngày gần đây dư luận xã hội vô cùng phẫn nộ trước sự việc một phụ huynh học sinh của Trường Tiểu học Bình Chánh (Bến Lức, Long An)

đã có những lời lẽ, hành động nhằm ép buộc một giáo viên của con mình phải quỳ gối xin lỗi Lý do bởi cô giáo đã bắt một số học sinh, trong đó con của vị phụ huynh này phải quỳ trước lớp vì vi phạm kỷ luật Sự việc này là hệ quả của hai hành động ứng xử thiếu chuẩn mực trong vô vàn những hành động lệch chuẩn diễn ra hằng ngày, hằng giờ trong xã hội ta hiện nay.

(2)Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta vẫn thường xuyên chứng kiến, đọc được ở đâu đó những hành động quỳ gối như hình ảnh người mẹ quỳ gối đưa võng, đưa nôi nâng niu giấc ngủ con thơ; những người lính quỳ gối nâng

đỡ đồng đội khi bị thương; những nhà vô địch quỳ gối rưng rưng nước mắt hạnh phúc trước lá cờ Tổ quốc… Vậy quỳ đâu phải là việc đau lòng hay nhục nhã, mà quỳ gối là sự thể hiện tấm lòng nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của người quân

tử Còn trong trường hợp này, cô giáo đã đánh mất lòng tự trọng, danh dự của người giáo viên khi quỳ gối trước sự uy hiếp của kẻ khác.

(3)Việc phụ huynh học sinh bắt cô giáo phải quỳ giống như khi cô giáo bắt học sinh quỳ là một hành động sai trái, không thể lấy cái sai này để sửa chữa cho cái sai khác Khi cô giáo vứt bỏ đi lòng tự trọng của bản thân, phải quỳ gối xin lỗi thì các phụ huynh mong chờ gì khi gửi gắm con mình trong ngôi trường với những người thầy như vậy?

(Trích Đằng sau câu chuyện "quỳ gối",GIAI THANH,

www.nhandan.com.vn, ngày 13.3.2018)

Câu 1 Xác định phong cách ngôn ngữ văn bản

Câu 2 Chỉ ra và nêu tác dụng biện pháp nghệ thuật trong đoạn văn (2).Câu 3 Tại sao người viết khẳng định: không thể lấy cái sai này để sửa chữa

cho cái sai khác thể hiện trong đoạn văn (3)?

Câu 4 Thông điệp mà anh/chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu rõ lí dochọn thông điệp đó

Phần II Làm văn (7,0 điểm)

Trang 9

Câu 1 (2,0 điểm)

Hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị

về ý nghĩa đạo lí “tôn sư trọng đạo” trong cuộc sống được gợi ở phần Đọc hiểu

* Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Ví dụ: LUYỆN THI QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN NĂM 2018

I Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:

(1)Bằng những trải nghiệm của bản thân, càng ngày tôi càng nhận rõ ra một chân lý là bất cứ một điều gì vừa phải bao giờ cũng tốt hơn thừa mứa Nói cách khác, chúng ta nên đón lấy cuộc sống ngay khi nó đến, đừng đợi chờ một điều gì đó thật đủ đầy rồi mới chịu đón nhận Hãy sống một cuộc đời chừng mực, đừng đợi chờ hay mong muốn hưởng thụ những điều xa xỉ, vì sẽ không có giới hạn nào kiểm soát việc đó.

(2) Điều đó tương tự như khi chúng ta làm công việc chăm sóc và tỉa cành cho cây Khi cắt đi những nhánh dư thừa, cây sẽ tập trung nhựa sống của nó

để tạo ra hoa thơm quả ngọt Cuộc sống của chúng ta cũng thế Khi biết loại

bỏ những điều không cần thiết, chúng ta có thể tập trung sức lực của mình cho những điều giá trị hơn.

(3)Mỗi người quan niệm lợi ích của việc đơn giản hóa cuộc sống theo một cách khác nhau Đó có thể tạo ra nhiều thời gian rảnh rỗi hơn, cuộc sống ít căng thẳng hơn, ít huyên náo hơn, ít nợ nần hơn Cuộc hành trình này tuy có cùng một đích đến nhưng lại có rất nhiều con đường khác nhau để tiến tới mục đích đó.

(Trích Điều kì diệu của thái độ sống, Tác giả: Mac Anderson, Dịch giả:

Hiếu Dân, Thế Lâm, Văn Khanh, NXB Tổng hợp TPHCM, 2016, tr 24)

Câu 1 Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?(0.5đ)

Câu 2 Chỉ ra và nêu tác dụng thao tác lập luận chính trong đoạn văn (2)

(0.75đ)

Câu 3 Anh/ chị hiểu như thế nào về chân lí mà tác giả đã rút ra :bất cứ

một điều gì vừa phải bao giờ cũng tốt hơn thừa mứa? (0.75đ)

Câu 4 Thông điệp mà anh/ chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu lí do

vì sao chọn thông điệp đó (1.0đ)

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ thông điệp của đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn

văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về lợi ích của việc đơn giản hóa cuộc sống

* Dạng đề cho tài liệu (Câu chuyện, bài báo, bài thơ, đoạn thơ, bức tranh, ảnh)

Đề thi môn Ngữ văn kỳ thi THPT quốc gia 2018

1 ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)

Trang 10

Đọc đoạn trích:

Hãy thức dậy, đất đai!

cho áo em tôi không còn vá vai

cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn

xin bắt đầu từ cơm no, áo ấm

rồi thì đi xa hơn - đẹp, và giàu, và sung sướng hơn

Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non

châu báu vô biên dưới thềm lục địa

rừng đại ngàn bạc vàng là thế

phù sa muôn đời như sữa mẹ

sông giàu đằng sông và bể giàu đằng bể

còn mặt đất hôm nay thì em nghĩ thế nào?

lòng đất rất giàu, mặt đất cứ nghèo sao?

***

Lúc này ta làm thơ cho nhau

đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt

ta ca hát quá nhiều về tiềm lực

tiềm lực còn ngủ yên

Tp Hồ Chí Minh 1980 -1982

(Trích "Đánh thức tiềm lực", Ánh trăng - Cát trắng - Mẹ và em,

Nguyễn Duy, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr 289-290)

Thực hiện các yêu cầu sau:

Câu 1: Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2: Trong đoạn trích, tác giả đã nhắc đến những yếu tố nào thuộc về tiềm

lực tự nhiên của đất nước?

Câu 3: Nêu hiệu quả của việc sử dụng câu hỏi tu từ trong đoạn trích.

Câu 4: Theo anh/chị, quan điểm của tác giả trong hai dòng thơ: “ta ca hát quá

nhiều về tiềm lực/tiềm lực còn ngủ yên có còn phù hợp với thực tiễn ngày naykhông? Vì sao?

II LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1 (2.0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sứ mệnh đánh thức tiềm lực đất nước của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện nay?

* Dạng đề cho đề tài

Ví dụ: Đề thi Olympic truyền thống 30/4 lần thứ XXIII – Năm 2017

Viết bài văn với tựa đề: Tôi và người khác

* Dạng đề mang tính chất đối thoại, bộc lộ suy nghĩ riêng về vấn đề được đặt ra

Ví dụ: Đề thi thư THPT QG trường THPT Thạch Thành 3 năm học 2016 –

2017 [2]

Trang 11

“Cái tôi và sự hiểu biết tỷ lệ nghịch với nhau Hiểu biết càng nhiều, cái tôi càng bé Hiểu biết càng ít, cái tôi càng lớn.” (Albert Einstein).

Anh/chị có đồng ý với ý kiến trên không? Hãy viết đoạn văn (khoảng 200chữ) trình bày câu trả lời của anh/chị

2.3.1.5 Giúp HS nắm chắc kiến thức cơ bản và hướng triển khai các dạng đề

* Khái niệm : Nghị luận xã hội là phương pháp nghị luận lấy đề tài từ các lĩnh

vực xã hội, chính trị, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng– sai, cái tốt – xấu của vấn đề được nêu ra Từ đó đưa ra một cách hiểu thấu đáo

về vấn đề nghị luận cũng như vận dụng nó vào đời sống và bản thân Những đềtài và nội dung này thường là những vấn đề có ý nghĩa thiết thực trong cuộcsống, có tính giáo dục, có tính thời sự

*Những yêu cầu cơ bản : Đoạn văn nghị luận xã hội dù ngắn hay dài đều phải

đạt những yêu cầu sau:

- Thể hiện sự hiểu biết chính xác, tường tận về vấn đề hay hiện tượng xã hộiđược bàn bạc Người viết phải chỉ ra được thực chất cũng như xu hướng vậnđộng của vấn đề hay hiện tượng đó

- Người viết phải có chính kiến, bộc lộ công khai lập trường quan điểm, tưtưởng của mình

- ĐV nghị luận xã hội phải đòi hỏi có tính thời sự cao Nó phải hướng đếnmục đích định hướng tư tưởng và hành động cho người đọc, thuyết phục họtham gia tích cực vào việc giải quyết những vấn đề xã hội đang được đặt ra

- ĐV nghị luận xã hội có tính chất tổng hợp cao, đòi hỏi người viết phải sửdụng hầu như tất cả các thao tác nghị luận (như: giải thích, phân tích, chứngminh, bình luận, bác bỏ…)

- Học sinh phải có những hiểu biết cụ thể, trình bày rõ ràng, thuyết phục.Các em phải biết vận dụng những kiến thức trong thực tế đời sống hay trong sửsách để luận giải các vấn đề xã hội; đồng thời phải có ngôn ngữ sắc bén, chínhxác, gợi cảm, có khả năng khơi dậy được tư tưởng và tình cảm của người đọc

* Nắm vững các kĩ năng làm văn nghị luận xã hội

Tìm hiểu và phân tích đề

- Đọc kĩ đề, chú ý những từ quan trọng, những khái niệm khó, nghĩa đen,nghĩa bóng của các từ ngữ; Chia vế, ngăn đoạn, tìm hiểu mối tương quan giữacác vế: song song, chính phụ, nhân quả, tăng tiến hay đối lập…

- Khi phân tích đề phải xác định được ba yêu cầu:

+ Vấn đề nghị luận là gì? Có bao nhiêu ý cần triển khai? Mối quan hệ giữacác ý như thế nào?

+ Sử dụng thao tác lập luận nào?

+ Vùng tư liệu được sử dụng cho bài viết: thuộc lĩnh vực xã hội nào? Phạm

vi, ảnh hưởng?

Lập dàn ý - Tìm ý

+ Xác định các ý lớn

Trang 12

◦ Đề bài có nhiều ý thì ứng với mỗi ý là một luận điểm.

◦ Đề bài có một ý thì ý nhỏ hơn cụ thể của ý đó được xem là những luậnđiểm

+ Tìm luận cứ ý nhỏ: mỗi luận điểm cần được cụ thể hóa thành nhiều ý nhỏhơn gọi là luận cứ

- Sắp xếp các ý thành đoạn văn

+ Mở đoạn: giới thiệu vấn đề xã hội cần nghị luận

+ Thân đoạn: triển khai nội dung theo các ý nhỏ và ý lớn đã tìm

+ Kết đoạn: tổng kết nội dung đã trình bày, liên hệ, mở rộng, nâng cao vấnđề

* Cách làm các dạng đề thường gặp

Dạng 1: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lý

- Đây là dạng đề bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, quanđiểm nhân sinh

- Có thể khái quát một số vấn đề thường được đưa vào đề thi như: Về nhậnthức (lí tưởng, mục đích sống); Về tâm hồn, tính cách, phẩm chất (lòng nhân ái,

vị tha, độ lượng, tính trung thực, dũng cảm chăm chỉ, cần cù, …); Về quan hệgia đình, quan hệ xã hội (Tình mẫu tử, tình anh em, tình thầy trò, tình bạn, tìnhđồng bào…); Về lối sống, quan niệm sống

- Đề bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí khá đa dạng: Có thể nêu rõ yêucầu nghị luận, có thể chỉ đưa ra vấn đề nghị luận mà không đưa ra yêu cầu cụthể nào, có đề nêu trực tiếp vấn đề nghị luận, có đề gián tiếp đưa ra vấn đề nghịluận qua một câu danh ngôn, một câu ngạn ngữ, một câu chuyện…Vì vậy, họcsinh cần nắm chắc kĩ năng làm bài

Cách viết đoạn văn :

Mở đoạn: giới thiệu khái quát tư tưởng, đạo lý cần nghị luận Trích dẫn yêu

cầu đề

Thân đoạn: có nhiều luận điểm

+ Ý 1: giải thích rõ nội dung tư tưởng, đạo lý; giải thích các từ ngữ, thuật

ngữ, khái niệm, nghĩa đen, nghĩa bóng (nếu có); rút ra ý nghĩa chung của tư tưởng, đạo lý; quan điểm của tác giả qua câu nói (thường dành cho đề bài có tư

tưởng, đạo lý được thể hiện gián tiếp qua câu danh ngôn, tục ngữ, ngạn ngữ )

+ Ý 2: phân tích và chứng minh các mặt đúng của tư tưởng, đạo lý (thường

trả lời câu hỏi tại sao nói như thế? Dùng dẫn chứng cuộc sống, xã hội để chứngminh Từ đó chỉ ra tầm quan trọng, tác dụng của tư tưởng, đạo lý đối với đờisống xã hội)

+ Ý 3: bình luận mở rộng vấn đề; bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên

quan đến tư tưởng, đạo lý

+ Ý 4: bài học nhận thức và hành động

Kết đoạn: khái quát, đánh giá ý nghĩa của tư tưởng, đạo lý đã nghị luận.

Dạng 2: Nghị luận về một hiện tượng đời sống

Trang 13

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn bạc về một hiện tượng đangdiễn ra trong thực tế đời sống xã hội mang tính chất thời sự, thu hút sự quantâm của nhiều người Đó có thể là một hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặcđáng chê.

Cách viết đoạn văn:

Mở đoạn: giới thiệu hiện tượng đời sống phải nghị luận.

Thân đoạn: gồm các ý

+ Ý 1: giải thích sơ lược hiện tượng đời sống; làm rõ những hình ảnh, từ

ngữ, khái niệm trong đề bài (Tuy nhiên đây không phải là thao tác bắt buộc)

+ Ý 2: nêu rõ thực trạng, các biểu hiện và ảnh hưởng của hiện tượng đời

sống (lưu ý: nêu kết quả đối với hiện tượng tốt và hậu quả đối với hiện tượngxấu)

+ Ý 3: lý giải nguyên nhân dẫn đến hiện tượng đời sống, đưa ra các nguyên

nhân nảy sinh vấn đề, các nguyên nhân từ chủ quan, khách quan, do tự nhiên,con người

+ Ý 4: đề xuất giải pháp để giải quyết hiện tượng Chú ý chỉ rõ những việc

cần làm, cách thức thực hiện, đòi hỏi sự phối hợp với những lực lượng nào(thông thường học sinh dựa vào nguyên nhân để đề xuất giải pháp)

Kết đoạn: khái quát lại vấn đề cần nghị luận, bày tỏ thái độ của bản thân về

hiện tượng đời sống đang nghị luận

Dạng 3: Dạng đề cho tài liệu

Đề cung cấp một bức tranh hoặc ảnh, hoặc một câu chuyện, một bài báo,yêu cầu học sinh tự chọn vấn đề, chủ đề để viết ĐV Đây là dạng đề thường gặptrong kỳ thi học sinh giỏi những năm gần đây Cụ thể cách làm từng dạng đềnhư sau:

Nghị luận về một vấn đề rút ra từ một câu chuyện, bài thơ (đoạn thơ) hoặc bài báo :

Mở đoạn: dẫn dắt vấn đề, giới thiệu câu chuyện, bài thơ, đoạn thơ hoặc bài báo Thân đoạn: - Phân tích, hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện, bài thơ, đoạn

thơ hoặc bài báo để rút ra ý nghĩa vấn đề

- Thực hiện các thao tác nghị luận (tùy thuộc vào vấn đề nghị luận là một tưtưởng, đạo lí hay một hiện tượng đời sống mà học sinh áp dụng phương pháplàm bài cụ thể):

+ Nếu vấn đề nghị luận là một tư tưởng, đạo lý thì thực hiện các thao tácnghị luận: Giải thích, phân tích – chứng minh, bàn bạc – mở rộng vấn đề và rút

ra bài học nhận thức và hành động

+ Nếu vấn đề nghị luận là một hiện tượng đời sống thì thực hiện các thaotác nghị luận: Nêu thực trạng (biểu hiện), chỉ ra nguyên nhân (khách quan vàchủ quan), nêu hậu quả hoặc kết quả, và đưa ra giải pháp thực hiện

Kết đoạn: đánh giá ý nghĩa của vấn đề xã hội từ câu chuyện hoặc mẩu tin Lưu ý: Với dạng đề này, giáo viên định hướng cho học sinh tóm tắt chứ không sa vào phân tích văn bản, tránh nhầm lẫn sang nghị luận văn học.

Trang 14

Nghị luận về một bức tranh hoặc ảnh : dạng đề này ít ra trong thi THPT QG

Đề bài gồm hai phần: phần chữ và phần hình Trong đó phần chữ thôngthường cung cấp yêu cầu đề Còn phần hình là phần trọng tâm, vừa cung cấpthông tin, vừa tạo sự trực quan cho người viết Đây là dạng đề cũng thường gặptrong các đề thi học sinh giỏi còn thi THPT QG ít gặp nhưng về mặt lí thuyếtlại chưa có một tài liệu nào hướng dẫn cách làm Vì vậy, chúng tôi chia sẻ kinhnghiệm cách làm bài như sau:

Phần mở đoạn làm tương tự như các dạng trên

Phần thân đoạn: gồm các ý sau:

- Ý 1: quan sát và mô tả các chi tiết tiêu biểu trong bức tranh, ảnh Sau đó

khái quát nội dung hoặc thông điệp được gợi ra từ bức tranh, ảnh vừa mô tả.Nếu đề bài cho từ hai bức tranh hoặc ảnh trở lên thì học sinh phải chỉ rõ mốiliên hệ giữa chúng

- Ý 2: giải thích các từ, cụm từ chính, các thuật ngữ (nếu cần thiết)

- Ý 3: dùng lí lẽ và dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề cần nghị luận

- Ý 4: bình luận mở rộng vấn đề; bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên

Mở đoạn: chọn cách mở bài phù hợp để giới thiệu khái quát về chủ đề

Thân đoạn: gồm nhiều luận điểm

- Ý 1: giải thích từ khóa được nêu trong đề bài (Có thể giải thích, cắt nghĩa

từ, cụm từ hoặc khái quát chủ đề nói về nội dung gì?)

- Ý 2: dùng lí lẽ và dẫn chứng để phân tích – chứng minh làm rõ chủ đề

- Ý 3: bàn bạc – mở rộng vấn đề liên quan đến chủ đề Có nhiều cách để mở

rộng vấn đề:

+ Mở rộng bằng cách giải thích, chứng minh, đào sâu vấn đề, lật ngược vấnđề

- Ý 4: nêu bài học nhận thức và hành động hoặc đề xuất các giải pháp, quan

điểm riêng của người viết liên quan đến chủ đề

Kết đoạn: khái quát lại vấn đề cần nghị luận một đến 2 câu

Dạng 5: Dạng đề mang tính chất đối thoại – bộc lộ suy nghĩ riêng về vấn đề được đặt ra

Mở đoạn, kết đoạn: làm tương tự các dạng trên

Thân đoạn: gồm nhiều ý

- Ý 1: giải thích vấn đề

- Ý 2: trao đổi, bàn luận, đối thoại (phần này thuộc vào nhận thức và sự hiểu

biết của bản thân; nhận thức đúng – sai, phải – trái)

Trang 15

- Ý 3: trình bày quan điểm sống của bản thân (giống bài học nhận thức và

hành động) Rõ ràng, mỗi kiểu dạng nghị luận xã hội có những yêu cầu riêng

Nó đòi hỏi học sinh phải vừa nhận diện đúng các dạng đề bài cụ thể, vừa biếtcách huy động kiến thức tích hợp cho phù hợp Tùy theo yêu cầu cụ thể của

từng đề thi, học sinh có thể sử dụng hệ thống câu hỏi để chủ động, sáng tạo trong việc triển khai hệ thống ý.

Ví dụ 1: Giáo viên cho học sinh làm thử Đề luyện thi THPT Quốc gia năm

“Phải chăng sống là tỏa sáng”.

Đây là dạng đề mở, học sinh có thể triển khai hệ thống ý bằng cách đặt ra vàgiải quyết những câu hỏi sau:

- Sống tỏa sáng có nghĩa là gì? Con người sống có cần tỏa sáng hay không?Tỏa sáng như thế nào? Tỏa sáng rực rỡ hay tỏa sáng âm thầm, tỏa sáng bằngmọi giá?

- Chúng ta phải tỏa sáng bằng cái gì? Bằng đôi chân của mình hay đôi chân củangười khác?

- Chúng ta phải tỏa sáng vì cái gì? Vì riêng bản thân chúng ta hay cộng đồng,hay cả hai?

2.3.1.6 Tích cực hướng dẫn HS rèn luyện kĩ năng viết ĐV nghị luận xã hội

Nếu việc giúp HS nhận diện ra các kiểu dạng đề bài và nắm chắc khungdàn ý chung, cũng như yêu cầu riêng của mỗi kiểu dạng nghị luận xã hội làkhâu định hướng hết sức quan trọng thì việc rèn luyện kĩ năng viết ĐV nghịluận là khâu cuối cùng để hoàn tất sản phẩm Đây là mục đích, yêu cầu chungcủa mọi ĐV nghị luận xã hội, thể hiện rõ nhất phẩm chất, năng lực của HS, đòihỏi các em biết cách huy động kiến thức xã hội, kĩ năng cơ bản cũng như vốnsống, vốn hiểu biết của bản thân để giải quyết các vấn đề đặt ra ở đề bài Trướchết, giáo viên phải luyện cho HS lập ý một cách nhuần nhuyễn, không bị sót ý

Từ đó,mới luyện phần viết

Muốn làm được một ĐV nghị luận xã hội hay, người viết cần có kĩ năng kếthợp, đồng thời linh hoạt sử dụng nhiều phép lập luận để làm sáng tỏ vấn đề, đểtrình bày một cách thuyết phục, hấp dẫn ý kiến, nhận định của mình Lời văncủa một bài nghị luận cần chuẩn xác, trong sáng, thể hiện suy nghĩ chân thành,

tự nhiên của người viết Khi viết một ĐV nghị luận xã hội, điều quan trọngkhông chỉ ở chỗ viết cái gì mà quan trọng còn là viết như thế nào, bằng thái độ,tình cảm ra sao HS cần cân nhắc cách dùng từ, cách viết câu, viết đoạn Viết

ĐV nghị luận xã hội nếu không có kĩ năng rất dễ khô khan, nặng nề Vì vậy,

HS phải có ý thức tạo chất văn cho bài viết để việc thuyết phục trở nên hiệuquả Cụ thể là:

* Đặt ra các câu hỏi: tại sao? Vì sao? Đặt ra các câu hỏi tu từ tránh cho bài

làm khô khan

* Sử dụng các yếu tố ngôn ngữ mang tính chuyển ý: Sử dụng nhưng từ

ngữ chuyển ý mang màu sắc lập luận đồng thời giúp người chấm biết được

Trang 16

người viết đang chuyển ý: Như mặt trái của vấn đề là, mặt trái của vấn đề là,mặt khác là, tuy nhiên bên cạnh đó, thứ nhất là, thứ hai là

* Dùng từ sắc sảo giàu hình ảnh.

* Dẫn vào những câu danh ngôn châm ngôn, những câu nói hay.

* Tạo ra triết lí trong đoạn văn.

- Đối với bài viết của học sinh giỏi, không dừng lại ở những bài nghị luận

xã hội đúng mà còn phải hay, vừa có tính lập luận chặt chẽ, logic, vừa tạonhững xúc cảm đa dạng cho người đọc Chính vì vậy, muốn có một bài văn

hoàn chỉnh, mỗi phần trong đó đều phải thực hiện tốt nhiệm vụ Không thể chỉ

chú trọng phần này mà “bỏ quên” phần kia, tạo sự hụt hẫng cho người chấm

- Mở đoạn trong ĐV nghị luận vẫn được xem là “lời chào nhã nhặn” của

người viết với người đọc Bởi vậy, phần mở đoạn sao cho phải ngắn gọn chỉ 1đến hai câu nhưng tạo ấn tượng ban đầu cho người đọc

Có nhiều cách mở đoạn khác nhau, như MĐ trực tiếp, MĐ gián tiếp, MĐtheo lối tương liên, lối so sánh Tuy nhiên với đối tượng HS thi THPT QG,

GV ôn định hướng để các em viết MĐ trực tiếp

+ Yêu cầu của MĐ nên một đến hai câu trở lên, tránh trường hợp viết mộtcâu MĐ phải đảm bảo hai phần: dẫn dắt và giới thiệu vấn đề cần nghị luận.+ Để rèn cách dẫn dắt, giáo viên phải khơi gợi ý tưởng sáng tạo cho họcsinh Muốn có ý tưởng hay, HS không chỉ siêng năng đọc tài liệu mà còn phảichịu khó quan sát, lắng nghe cuộc sống, tích hợp nhiều kiến thức như văn học,

âm nhạc để viết Để rèn kĩ năng vững vàng hơn, HS nên chia theo mảng đểthực hành viết mở bài như: ý chí nghị lực, tình thương, trải nghiệm, các vấn đềliên quan đến bản thân, các hiện tượng tốt, hiện tượng xấu như vậy các em sẽhạn chế sự lo lắng, thụ động khi tham gia các kì thi Thực tế cho thấy, HS luôntốn nhiều thời gian vào phần này

Ví dụ: Khi MĐ cho để văn nói về vai trò của sự thất bại, em Trần Thị HoaNam đã viết: Sinh thời, cố nhạc sĩ Trần Lập đã từng chia sẻ “Chặng đường nào trải bước trên hoa hồng, bàn chân cũng thấm đau vì những mũi gai ” – những ca từ giản dị, mộc mạc nhưng đã trở thành lẽ sống cho biết bao người Cùng đồng điệu với thông điệp ấy

Hay với đề văn nói về vai trò của sự trải nghiệm trong cuộc sống, em HoàngThị Hiếu viết: Trong cuốn sách “Nhà giả kim”, Paulo Coelho đã kể về hành trình của cậu chăn cừu Santiago đi tìm kho báu ở một nơi xa xôi - Kim Tự

Trang 17

Tháp của Ai Cập Tác phẩm không chỉ mang đến thông điệp hãy nuôi dưỡng ước mơ mà còn đề cao sự trải nghiệm Nói về điều này

+ GV nhấn mạnh phần dẫn dắt phải liên kết chặt chẽ với phần yêu cầu nghịluận, tránh luẩn quẩn, rời rạc Muốn viết mở bài tốt, dẫn dắt phù hợp, HS phảihiểu sâu sắc về đề bài, HS phải trả lời câu hỏi: vấn đề cốt lõi trong đề bài là gì?Khi hiểu thấu đáo, HS chọn phần dẫn dắt sát vấn đề hơn

- Thân đoạn:

+ Phần thân đoạn là tổng hợp của nhiều thao tác: giải thích, phân tích,chứng minh, bình luận đôi khi là bác bỏ HS phải hiểu được những đặc trưngriêng của từng thao tác Giải thích phải ngắn gọn, súc tích, sáng vấn đề, tránhlan man; phân tích, chứng minh thì lí lẽ phải sắc sảo, phù hợp; bình luận phảithể hiện góc nhìn đa dạng, ở nhiều khía cạnh khác nhau, bày tỏ suy nghĩ riêng

Để sử dụng tốt các thao tác này, GV phải cho HS luyện nhuần nhuyễn từngphần, sau đó mới chuyển sang phần tiếp theo

+ Viết phần thân đoạn cần kết hợp nhiều loại kiến thức, đặc biệt là kiến thứccủa bộ môn Giáo dục công dân HS sẽ không chỉ bày tỏ góc nhìn của một cánhân mà còn là của một công dân Viết phần thân đoạn phải bám sát vào khungdàn ý

+ Cách sử dụng dẫn chứng: chọn một dẫn chứng tiêu biểu, toàn diện, khôngnên kể quá chi tiết hay sơ sài, liệt kê, phải dùng lời văn của mình để giới thiệu

về dẫn chứng đó; chọn thông tin trong dẫn chứng phải phù hợp với yên cầu làminh chứng cho đề

+ Phần thân đoạn không viết lan man, dài dòng Tất cả các ý phải xoáy vàonhiệm vụ làm sáng vấn đề, tránh nghĩ gì viết đó, câu từ bóng bẩy, biểu cảm quánhiều, không thuyết phục Trong quá trình ôn luyện, GV ôn tập phải kiên trìtìm ra ưu điểm và hạn chế của từng em để rèn luyện Những thao tác nào chưatốt, GV cần cho các em luyện nhiều hơn

- Kết đoạn: Kết đoạn được coi như phần “vĩ thanh” của bài viết, sao cho

vừa khái quát được những ý đã trình bày ở thân đoạn, vừa tạo dư ba ở ngườiđọc bởi những nhận xét, đánh giá khái quát, đích đáng được rút ra từ quá trìnhphân tích, chứng minh, bình luận trước đó Tuy nhiên, HS thường viết rất hờihợt, không chủ tâm luyện phần này Vì vậy, GV ôn luyện phải nhấn mạnh tầmquan trọng của kết đoạn, luyện cho HS nhiều hơn

+ Phần kết đoạn hai câu trở lên GV hướng dẫn HS dùng những từ ngữ có ýnghĩa khái quát để thâu tóm vấn đề Có thể sử dụng một ý tưởng tương tự nhưmột câu danh ngôn, một vài câu thơ để khép lại vấn đề, có thể kết đoạn theokiểu đầu cuối tương ứng hoặc cuối phần kết đoạn có thể đặt ra một câu hỏi đểkhơi gợi sự suy nghĩ nơi người đọc

Ví dụ: Phần kết đoạn đề văn từ câu nói của nguyên Tổng thống Mĩ Barack

Obama nói về sự thay đổi của con người trong cuộc sống, em Võ Thị ThanhXuân viết: Vì vậy, không bây giờ thì không bao giờ, hãy bắt tay vào hành động, hãy thay đổi mình và thay đổi cuộc sống Biết đâu mai sau, cuốn lịch vạn niên

Trang 18

sẽ ghi dấu một phần tên tôi và tên bạn – những người làm nên lịch sử loài người?

Ví dụ kết đoạn cho ĐV nghị luận về câu chuyện “Hai hạt mầm”, em

Trương Thị Thu Huyền viết: R Ta – go, nhà thơ Ấn Độ cho rằng Đúng vậy lời chia sẻ của R Ta – go cũng chính là lời nhắn nhủ phía sau câu chuyện

“Hai hạt mầm” – hãy sống chủ động, mạnh mẽ để tỏa sáng, để sống trọn vẹn với hai chữ con người mà tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta, để khi khép lại hành trình sống, trong từ điển cuộc đời mình sẽ không có hai từ nếu như hoặc giá thì [3]

- Viết bài: Trên cơ sở rèn luyện những kĩ năng viết mở bài, thân bài, kết bài,giáo viên cho HS viết thành các bài hoàn chỉnh GV cũng nên nhấn mạnh, HSGkhông chỉ tập trung vào việc giải quyết một đề văn mà còn phải bày tỏ, chia sẻquan điểm của riêng mình trước vấn đề Sau đó, HS phải kiểm tra lại kết quảbài làm

+ Ngoài các bài kiểm tra thì phần viết ĐV chủ yếu được HS thực hiện ởnhà GV sẽ đọc và nhận xét bài làm cho HS Sau đó, HS trao đổi bài viết chonhau, học tập lẫn nhau để hoàn thiện bài viết và nhất thiết HS phải viết lại nếuchưa đạt yêu cầu

2.3.1.7 Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả ôn luyện của học sinh

- Tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả ôn tập của HS cũng là một giảipháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả ôn luyện môn Ngữ văn ởtrường THPT Nó vừa giúp HS hiểu rõ mình đã nắm chắc được những kiếnthức và kĩ năng cơ bản ở mức độ nào theo yêu cầu của chuyên đề viết ĐV nghịluận xã hội, vừa góp phần quan trọng giúp GV ôn luyện điều chỉnh phươngpháp ôn luyện hợp lý, kịp thời uốn nắn, bổ sung những chỗ hổng về kiến thức,những sai sót về kĩ năng của HS

- Ôn thi THPT QG là quá trình lâu dài, GV phải xây dựng kế hoạch với nộidung, mục tiêu cụ thể Trong đó, kiểm tra, đánh giá là một phần quan trọngtrong mục tiêu đó Để giúp HS trưởng thành trong tư duy và nhận thức xã hội,

GV phải xây dựng ngân hàng đề để ôn luyện và kiểm tra

- Sau khi ôn tập xong một dạng đề nghị luận xã hội, giáo viên cho học sinhkiểm tra để đánh giá mức độ nắm bắt vấn đề, kĩ năng vận dụng kiến thức củahọc sinh

- Giáo viên ôn luyện kết hợp nhiều hình thức kiểm tra, đánh giá:

+ HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau sau mỗi bài viết, bày tỏ suy nghĩ vềnhững gì đã hài lòng và chưa hài lòng về bài viết, tự nhận xét mức độ bài làmcủa mình

+ Trong quá trình ôn luyện, chúng tôi thường trao đổi với thầy cô giáo cũ,hiện đang giảng dạy tại một số tỉnh phía Bắc, có kinh nghiệm ôn tập để xin một

số đề và đáp án tham khảo Sau đó, chúng tôi cho HS kiểm tra, chụp và gửi bàiqua email để nhờ thầy cô chấm, góp ý để điều chỉnh phương pháp bồi dưỡng

Trang 19

Minh chứng: Một trong thầy cô chúng tôi thường trao đổi là thầy Trịnh Trọng

Nam- Phó Phòng THPT(thạc sĩ chuyên Viên Ngữ văn) cốt cán trong bộ mônNgữ văn tỉnh Thanh Hóa, thường xuyên được mời đi ra đề thi các cấp, có nhiềuthành tích trong việc bồi dưỡng HSG, ôn thi THPT QG Đặc biệt THPT QGnăm học 2018 – 2019, chúng tôi đã được thầy định hướng để xây dựng hướng

ôn luyện, thường xuyên trao đổi chuyên môn qua điện thoại, nhờ thầy chấm bàigóp ý chi tiết cho HS

Kiểm tra, đánh giá thực sự trở thành động lực thúc đẩy học sinh tích cực, tựgiác, học tập, nâng cao chất lượng và hiệu quả ôn luyện

2.4 Hiệu quả thu được khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

2.4.1 Hiệu quả thu được.

Sáng kiến đã được áp dụng thử và áp dụng chính thức tại trường THPTThạch Thành 3 từ năm học 2016 – 2017 đến nay đã mang lại nhiều lợi ích thiếtthực

- Nếu trước khi chưa áp dụng SKKN ít giáo viên còn tỏ ra lúng túng, thanphiền, thậm chí nhiều giáo viên không hoàn thành được nhiệm vụ năm học khikhông có phương pháp dạy chuyên đề viết ĐV nghị luận xã hội, thì kể từ khi ápdụng sáng kiến này, giáo viên đều cảm thấy chủ động hơn trong việc ôn luyện.Điều này tạo cơ sở quan trọng để nâng cao thành tích, tiếng vang của nhàtrường, của tổ chuyên môn, và cá nhân trực tiếp ôn thi THPT QG

2.4.2 Sử dụng những giải pháp trong sáng kiến xây dựng thành một tiết dạy cụ thể trong chương trinh Ngữ Văn 12.

Với nội dung cho phép tôi xin đưa phần giáo án thực nghiệm này vào phần phụ lục của sáng kiến Kết quả cụ thể qua các kì thi THPT QG như sau: Trước khi áp dụng sáng kiến: Kết quả thi học thi THPT QG 2014-2016

Năm học Trước khi áp dụng sáng kiến, kết quả trung bình điểm

môn văn cả trường đạt

Sau khi áp dụng sáng kiến (Từ năm học 2016 – 2017 đến nay)

Năm học Sau khi áp dụng sáng kiến, kết quả trung bình điểm

môn văn cả trường đạt

Trang 20

Từ việc thống kê thái độ hành vi, nhận thức của HS, điều dễ thấy là khi chưa ápdụng sáng kiến này kết quả thi học sinh thi THPT QG chưa cao, cả về số lượng

và chất lượng giải Còn sau khi áp dụng sáng kiến, kết quả thi ngày càng cao cả

ôn luyện môn Ngữ văn, đạt được những thành tích cao

+ Kết quả thi THPT QG của trường THPT Thạch Thành 3 nói chung và của

tổ Ngữ văn nói riêng qua các kì thi đã có sự thay đổi Giáo viên tham gia ônluyện luôn có sự chủ động, mạnh dạn, ít gặp những lúng túng và vướng mắcnhư trước đây khi chưa áp dụng sáng kiến Giáo viên thuận lợi hơn khi dạychuyên đề viết ĐV nghị luận xã hội, tạo được niềm tin cho Ban giám hiệu, cácbậc cha mẹ học sinh và học sinh

Ở chừng mực đề tài này tôi chỉ đưa ra một số giải pháp để cùng traođổi Mong đồng nghiệp tham khảo và hi vọng lúc nào đó nó được sử dụng nhưmột tư liệu hỗ trợ hiệu quả cho tiết dạy

3.2 Kiến nghị

3.2.1 Đối với trường:

- Tủ sách thư viện được trang bị phong phú, đa dạng sẽ giúp GV có điều kiệnthuận lợi để trau dồi kiến thức về chuyên môn và nghiệp vụ

- Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn học tập, trao đổi kinh nghiệm giảngdạy giữa GV trong tổ, các tổ xã hội, nhất là phương pháp giảng dạy theo tinhthần đổi mới sách giáo khoa và định hướng phát triển năng lực của học sinh

3.2.2 Đối với tổ chuyên môn:

- Đầu tư có chất lượng cho các tiết thao giảng, dạy tốt, hội giảng

- Thay đổi hình thức sinh hoạt chuyên môn, bên cạnh dự giờ, góp ý, rút kinhnghiệm, còn nên tổ chức các hội thảo chú trọng vào phương pháp dạy họcbằng những chuyên đề cụ thể, thiết thực

Trang 21

- Người GV Ngữ văn không nên xem dạy học là nghề mà hãy xem đó là cái

nghiệp Vì lẽ ấy, mỗi chúng ta luôn luôn không ngừng tự bồi dưỡng, nâng cao

kĩ năng giảng dạy, hình thành năng lực mới đạt tới độ thăng hoa trong nghệthuật dạy học

- Cuối cùng, với những điều trình bày trên đây có thể đề tài vẫn còn có khíacạnh mang tính chủ quan Với tâm huyết và tấm lòng của mình tôi muốn đónggóp một đề tài nhỏ để nâng cao hiệu ôn thi THPT QG Rất mong nhận được sựđồng cảm và góp ý của các thầy cô giáo và đồng nghiệp

XÁC NHẬN CỦA THỦ

TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thanh Hóa,ngày 15 tháng 05 năm 2019

Tôi xin cam đoan đây là SKKN củamình viết, không sao chép nội dung củangười khác

Trang 22

Mục lục

2.3.1 Một số cơ sở lí thuyết và thực tiễn khi “Sử dụng một số giải

pháp nhằm nâng cao hiệu quả ôn thi THPT- Quốc gia môn Văn tại

trường THPT Thạch Thành 3- chuyên đề viết đoạn văn nghị luận xã

hội”

18

2.4 Hiệu quả thu được khi sử dụng sáng kiến kinh nghiệm đối với

hoạt động giáo dục với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

18

2.4.2 Sử dụng những giải pháp trong sáng kiến xây dựng thành một

tiết dạy cụ thể trong chương trình Ngữ văn 10.

Trang 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 [1] Bộ đề luyện thi THPT QG năm 2019 môn Ngữ văn năm 2019

NXB GDVN

2 [2] Ban tổ chức kì thi, Đề thi thử THPT QG 2017-2018

3. Hướng dẫn chuẩn kiến thức kĩ năng môn Ngữ Văn lớp 12 NXB GD

Việt Nam

4. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên THPT kỹ năng xây dựng ma trận, biên soạn câu hỏi, bài tập đề kiểm tra, đề thi THPT QG môn ngữ văn Thanh Hóa , năm 2016

5. Tài liệu bồi dưỡng giáo viên THPT kỹ năng xây dựng ma trận, biên soạn câu hỏi, bài tập đề kiểm tra, đề thi THPT QG môn ngữ văn Thanh Hóa , năm 2017

6 Nguyễn Viết Chữ, Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo

loại thể NXB ĐHQGHN, 2001

7. Sách phương pháp dạy học tác phẩm văn chương của tiến sĩ Nguyễn

Viết Chữ

8 Phan Trọng Luân, Phương pháp dạy học văn, NXB GD, 1999

9 Đặng Thiêm, Kinh nghiệm dạy giảng văn ở cấp II, THPT (NXB GD,

17.Sách bồi dưỡng chuyên đề thực hiện SGK Ngư văn lớp 10, 11,lớp 12,.

NXB GD Phan Tọng Luận – Trần Đình Sử chủ biên

Trang 24

DANH MỤC

CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ

CÁC CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: HỒ THỊ GIANG

Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THPT Thạch Thành 3

Cấp đánh giá xếp loại (Phòng,

Sở, Tỉnh )

Kết quả

đánh giá xếploại(A,B, hoặc C)

Năm học đánh giá xếp loại

1 Giờ trả bài kiểm tra là

giờ sửa lỗi chính tả, phát

âm sai cho học sinh dân

tộc thiểu số trường

THPT Thạch Thành 4.

Sở giáo dục

và Đào tạo Thanh Hóa

và Đào tạo Thanh Hóa

và Đào tạo Thanh

Trang 25

thú học tập cho HS Hóa

5 Sử dụng những nguyên

lí: Kết cấu, luật thi, tứ

thơ, ngôn ngữ, nhan đề

vào dạy học mảng thơ

Đường trong chương

trình Ngữ văn THPT

nhằm kích thích hứng

thú học tập cho HS

Sở giáo dục

và Đào tạo Thanh Hóa

B

2015

6 Áp dụng một số giải

pháp nhằm nâng cao

hiệu quả bồi dưỡng HSG

môn ngữ văn tại trường

THPT Thạch Thành

3-Chuyên đề nghị luận xã

hội.

Sở giáo dục

và Đào tạo Thanh Hóa

và Đào tạo Thanh Hóa

hỏi gợi mở xoay quanh

nhân vật trung tâm- xung

đột trung tâm- hành

động trung tâm, giảng

bình trong giờ dạy học

kịch bản văn học trong

và Đào tạo Thanh Hóa

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 26

- THPT QG: Trung học phổ thông Quốc gia

- NXB ĐH QGHN: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội

- NCGD: Nghiên cứu giáo dục

Trang 27

Do cấu trúc đề thi có sự thay đổi, trong trương trình SGK trên lớp vẫn là viết bài văn nghị luận xã hội Cho nên trong quá trình dạy giáo viên sẽ linh động sao cho phù hợp với yêu cầu của đề thi THPT QG

Tiết 13: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

I Mức độ cần đạt

- Nắm được cách viết bài văn ghị luận về một hiện tượng đời sống

- Lập được dàn ý bài văn nghị luận

II Trọng tâm kiến thức

1 Kiến thưc:

- Nội dung, yêu cầu của một bài văn nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Cách thức triển khai bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.

2 Kĩ năng:

- Biết nêu ý kiến nhận xét, đánh giá đối với một hiện tượng đời sống.

- Biết phân tích đề, lập dàn ý đề văn nghị luận về một hiện tượng đời sống.

- Biết huy động các kiến thức sách vở và những trải nghiệm của bản thân

để viết bài nghị luận về một hiện tượng đời sống

III Các hoạt động dạy học

1 Kiểm tra bài cũ: Nghị luận về một tư tưởng đạo lý là gì?

2 Bài mới:

HOẠT ĐỘNG CỦA GV-HS NỘI DUNG

-Giáo viên đọc tư liệu tham

khảo Sgk trang 75

-Đề bài yêu cầu nghị luận về

hiện tượng gì? Có mấy luận

điểm?

- Bài viết sử dụng những dẫn

chứng minh hoạ nào? Nhận xét?

-Tác giả đã sử dụng những thao

tác lập luận nào?

I Cách làm một bài nghị luận về một hiện tượng đời sống.

+ Luận điểm: -Việc làm của Nguyễn Hữu

Ân

-Hiện tượng của NguyễnHữu Ân là hiện tượng sống đẹp của thanhniên ngày nay

+ Dẫn chứng: -Đưa ra một số việc làm có

ý nghĩa của thanh niên ngày nay nhưNguyễn Hữu Ân (Ví dụ: dạy học ở lớp tìnhthương, tham gia phong trào thanh niêntình nguyện …)

-Đưa ra một số việc làm đáng phê phán củathanh niên học sinh như: đua xe, bỏ học đichơi điện tử…

Trang 28

-Tác giả đã trình bày nội dung gì

trong phần thân bài?

-Theo em, nghị luận về một hiện

tượng đời sống là gì? Cần đạt

các yêu cầu nào khi làm bài văn

nghị luận về một hiện tượng đời

- Phân tích hiện tượng Nguyễn Hữu Ân:Hiện tượng Nguyễn Hữu Ân có ý nghĩagiáo dục rất lớn đối với thanh niên học sinhngày nay

- Biểu dương việc làm của Nguyễn HữuÂn

- Ngoài việc vận dụng các thao tác lập luậnphân tích so sánh, bác bỏ, bình luận…ng-ười viết cần diễn đạt giản dị, ngắn gọn,sáng sủa nhất là phần biểu cảm

Khi viết bài văn nghị luận anh chị có cần thiết phải lập dàn ý không, tại sao?

Hướng dẫn về nhà: Chuẩn bị bài: Hồn Trương Ba da hàng thịt.

? Nắm được những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của Lưu Quang Vũ?

? Những hiểu biết về nội dung của vở kịch

PHẦN 2: ĐỀ VÀ ĐÁP ÁN THAM KHẢO

Ngày đăng: 22/10/2019, 08:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w