Ta chỉ thực hiện công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước thành công khi phát huy cao độ nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế- xã hội.. Vì vậy, để nghiên cứu vạch ra những cơ sở
Trang 1
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI:
LÀM RÕ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀ YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG? NHỮNG GIẢI PHÁT NHẰM PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI NHẰM PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
DẪN LUẬN
1 Lí do chọn đề tài
Trang 2Để phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước trong thời đại ngày nay, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng nhất và là yếu tố chủ đạo quyết định các nguồn lực khác Bởi vậy, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới vấn đề nguồn lực con người đều được đặt vào một vị trí vô cùng quan trọng Nguồn lực con người được phát huy không chỉ là động lực trực tiếp mà còn là mục tiêu của sự nghiệp đổi mới ở
nước ta Ta chỉ thực hiện công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước thành công khi phát huy cao độ nguồn lực con người cho sự phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên việc sử dụng nguồn lực con người hiện nay vẫn chưa phát huy hiệu quả Vì vậy, để nghiên cứu vạch ra những cơ sở khoa học cho việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vấn đề cấp thiết, có ý
nghĩa thực tiễn, lý luận quan trọng Đó là lý do em chọn đề tài này
2 Mục đích của đề tài
Tiểu luận nhằm làm rõ những yêu cầu và nội dung việc phát huy nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trên cơ sở đó nêu lên thực trạng, đề xuất những phương hướng, giải pháp nhằm phát huy nguồn lực
con người Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
3 Ý nghĩa của đề tài
Tiểu luận có thể làm tài liệu tham khảo cho việc hoạch định các chính sách, kế hoạch góp phần xây dựng chiến lược con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Và giúp mọi người hiểu rõ tầm quang trọng của nguồn lực con người trong xã hội ngày nay
4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 3Tiểu luận sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, kết hợp với phương pháp tổng hợp, điều tra, thống kê có phân tích và dự báo để hoàn thành
đề tài
Trang 4NỘI DUNG Chương 1: CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1: Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa VII ( tháng 1- 1994) đã có bước đột phá mới trong nhận thức về khái niệm công nghiệp hóa- hiện đại hóa “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ và phương tiện tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”
1.2: Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Mục tiêu lâu dài mà Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt ra là cải biến nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng – an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
Để thực hiện được mục tiêu trên, ở mỗi thời kỳ phải đạt được những mục tiêu cụ thể Đại hội X đã xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
1.3: Quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa:
Bước vào thời kỳ đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện
Trang 5công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện mới Những quan điểm đó là:
Công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế
Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững; tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học
Chương 2 : NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
2.1 Thế nào là nguồn lực con người ?
Nguồn lực con người hay còn được gọi là nguồn nhân lực hiện nay trên thế giới
có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên Hợp Quốc thì
“Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”
Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Trang 6Theo tổ chức lao động quốc tế thì: Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động và các nước có nền kinh
tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt:
về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất
lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động
Vậy ta có thể hiểu nguồn nhân lực theo hai nghĩa như sau:
Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động,
có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất
xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường
2.2 Vì sao công nghiệp hóa, hiện đại hóa lại lấy phát huy nhân tố con người là yếu tố cơ bản để phát triển nhanh và bền vững?
Trước tiên ta phải tìm hiểu thế nào là phát triển nhanh và bền vững? Phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 trong Báo cáo của Ủy Ban Môi trường và phát triển của ngân hàng thế giới Trong báo cáo nêu rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng tổn hại đến nhu cầu tương lai” Phát triển bền vững là một sự phát triển triển cân đối giữa ba cực tăng trưởng kinh tế, xã hội, môi trường, không được xem nhẹ cực nào Ở nước
Trang 7ta, quan điểm phát triển nhanh và bền vững đã được nhận thức rất sớm và thể hiện trong nhiều chủ trương, nghị quyết của Đảng
Để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững Đây là sự phát triển quan điểm truyền thống coi con người là vốn quý nhất
Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm và cũng là tư tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : Phát triển nhanh phải
đi đôi với nâng cao tính bền vững Quan điểm của Đảng đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt tới con người trước hết và trên hết phải nêu cao vai trò của con người với
tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến đổi tự
nhiên; là phương tiện, là động lực cơ bản của 6ang trưởng kinh tế đồng thời là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế-xã hội Có thể thấy, quan điểm của Đảng ta hoàn toàn phù hợp với những tuyên bố quốc tế về phát triển bền vững, trong đó nổi lên tư tưởng ban đầu lấy con người là trung tâm của sự phát triển
Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện nay, đang đặt ra những yêu cầu rất cao về trí tuệ của nguồn nhân lực – những người lao động Họ không những phải
có khả năng tiếp thu những tri thức mới, vận dụng có hiệu quả vào sản xuất mà còn phải biết thường xuyên tự đổi mới tri thức, để không bị lạc hậu trước sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học – công nghệ Vì vậy, nguồn nhân lực cần thiết cho công nghiệp hóa, hiên đại hóa phải bao gồm những người lao động có sự phát triển cao về năng lực, trí tuệ, đủ sức sáng tạo, có khả năng sử dụng các công cụ, phương tiện lao động hiện đại, tiên tiến…
Xuất phát từ yêu cầu đó, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhất thiết phải nâng cao trình độ học vấn chung của nguồn lực con người Theo tổng kết của thế
Trang 8giới, trình độ văn hóa tối thiểu của người dân phải có là tiểu học ở nền văn minh nông nghiệp, trung học cơ sở ở nền văn minh công nghiệp và trung học hoàn chỉnh (xong giáo dục phổ thông mười hai năm) ở nền văn minh thông tin, trí tuệ Bởi vậy, con đường cơ bản nhất để phát huy tiềm năng nguồn nhân lực là biến dân tộc
đó thành xã hội có học vấn Điều đó giải thích vì sao cuộc chạy đua về kinh tế giữa các quốc gia hiện nay chủ yếu là cuộc chay đua về phát triển giáo dục đào tạo Tiến hành công nghiệp hóa còn đòi hỏi ở người lao động hàng loạt phẩm chất lao động và nghề nghiệp như: kỷ luật tự giác, tiết kiệm nguyên liệu và thời gian, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động công nghiệp, có lương tâm nghề nghiệp và trách nhiệm cao trước công việc được giao… Tất cả những vấn đề đó, ngày nay được sử dụng trong một chỉ tiêu tổng hợp là yếu tố văn hóa trong lao động Đây là một yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn lực con người nói chung và nguồn lực con người cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng
Sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi ngoài môi trường chính trị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết, như: nguồn lực con
người, vốn, tài nguyên, thiên nhiên, cơ sở vật chất – kỹ thuật, vị trí địa lí, và nguồn lực nước ngoài Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa không giống nhau, trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định là vì:
• Các nguồn lực khác không có khả năng tự thân mà phải thông qua nguồn lực con người mới phát huy được tác dụng Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa
xã hội tích cực, khi được kết hợp với nguồn lực con người, 7ang7 qua hoạt động có
ý thức của con người Bởi lẽ, con người là nguồn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí, biết lợi dụng các nguồn lực khác, gắn kết chúng lại với nhau, tạo
Trang 9thành sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Các nguồn lực khác là những khách thể, chịu sự cải tạo, khai thác của con người và hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích con người, nếu con người biết tác động và chi phối hợp quy luật Vì thế, trong các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, người lao động là yếu tố quan trọng nhất, là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”
• Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt , trái lại nguồn lực con người mà cái cốt lõi là trí tuệ , là nguồn lực vô tận nên càng ngày càng phát triển Tính vô tận của trí tuệ con người biểu hiện ở chỗ, nó có khả năng không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh học, mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển
về chất trong con người, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý Đó là cơ
sở làm cho năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận, xét về bình diện cộng đồng, nhân loại Nhờ vậy, con người từng bước làm chủ tự nhiên, ngày càng khám phá ra những tài nguyên thiên nhiên mới, hoặc 8ang tạo ra những nguồn tài nguyên vốn không có sẵn trong tự nhiên Với bản chất hoạt động có mục đích và sáng tạo, con người bằng trí tuệ và lao động của mình, đã liên tiếp chế tạo ra các thế hệ công cụ sản xuất mới, nhằm tác động vào tự nhiên có hiệu quả hơn Chính sự phát triển không ngừng của công cụ sản xuất từ thủ công đến cơ khí và ngày nay là tự động hóa đã đưa xã hội loài người chuyển qua các nền văn minh từ thấp lên cao, tự nó đã nói lên tính vô tận của trí tuệ con người Đúng là, “tri thức có tính chất lấy không bao giờ hết”
• Trí tuệ của con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hóa, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn các nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển, vận động đến nền kinh tế trí tuệ ở những nước này,
Trang 10lao động trí tuệ ngày càng chiếm tỉ lệ cao, nguồn lợi mà họ thu được từ lao động chất xám chiếm tới một nửa tổng giá trị tài sản quốc gia
• Quá trình công nghiệp háo, hiện đại hóa sẽ không thể đạt được kết quả tốt nếu không lựa chọn được mô hình đúng, các bước đi thích hợp và các giải pháp hữu hiệu, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi nước và bối cảnh quốc tế, dù có đủ các nguồn lực khác Không hiếm các nước giàu có về tài nguyên thiên nhiên và được tài trợ lớn từ bên ngoài nhưng vẫn không thành công trong công nghiệp hóa Điều này một lần nữa lại nói lên nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực – chủ thể trực tiếp, hiện thực của toàn bộ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ, khoa học quản lí, và đội ngũ công nhân lành nghề giữ vai trò đặc biệt quan trọng Nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải đủ số lượng, cân đối về cơ cấu và trình độ, có khả năng nghỉ nắm bắt và sử dụng các thành tựu khoa học và công nghệ mới Vì vậy, trong chiến lược phát triển của mình, nhiều nước đã đặt con người vào vị trí trung tâm, quan tâm đặc biệt đến yếu tố con người và chuyển đối tượng khai thác vào chính bản thân con người
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI
NHẰM PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1 Thực trạng nguồn nhân lực nước ta
Theo một thống kê mới nhất từ Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình (Bộ
Y tế), tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2016, dân số Việt Nam là gần 9ang mươi hai triệu người, đứng thứ tám châu Á và thứ ba Đông Nam Á Điều này phản ánh nguồn nhân lực của việt nam đang phát triển dồi dào và nước ta đang ở thời kì dân