Để minh hoạ về bệnh này, cách đây khoảng 40 năm, cơquan y tế Liên Hợp Quốc có cho phổ biến trên toàn thế giới một mẫu bích chương cổ đọng phong trào phòng chốngbệnh ung thư bằng hình ảnh
Trang 1BỆNH UNG THƯ TẬP II
DẪN NHẬP
Trong tập 1, phần lớn quan điểm và sở đắc lâm sàng của cả hai nền y thuật Đông Tây đã được lý giải một cách khúcchiết, minh bạch Qua hướng dẫn, không nhất thiết phải là bậc thông minh tài trí hay uyên thâm Hán ngữ, mọi ngườicũng có thể cảm thụ được ít nhiều thuật ngữ y khoa, biết triệu chứng lam sàng để tự chẩn đoán bệnh tất và ứngdụng chính xác những bài thuốc thích hợp nhằm phòng bệnh hay chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ
Trong tập 2, sẽ trình bày đặc biệt hai tong nhiều chứng bệnh “nan y” cực kỳ hiểm ác mà cả thế giới đang lo sợ Đó làbệnh Ung thư (cancers) và bệnh Liệt kháng hay Suy giảm miễn dịch HIV/AIDS Chúng ta lo là vì bệnh có thể thànhlập bất cứ lúc nào, bộc phát bất cứ ở đâu trong cơ thể Chung ta lo sợ vì các khoa học gia vẫn còn bó tay, chưa tìmđược thuốc điều trị đặc hiệu Mắc bệnh ung thư vào giai đoạn trễ tràng, vướng vi khuẩn HIV vào thời kỳ toàn phát, làxem như cái chết được báo trước
Riêng Đông y học, chủ yếu Trung Quốc, giới thầy thuốc y học cổ truyền từ lâu đã gia tâm tìm kiếm và thử nghiệmhằng nghìn chủng loại dược thảo có tác dụng kháng nguyên cao nhằm góp phần vào công trình nghiên cứu chungcủa toàn thế giới Bước đầu, tuy không quảng bá rầm rộ, Trung y chứng minh Đông dược có khả năng, mang lạinhiều dấu tích chỉ cực đối với hai bệnh ung thư và HIV/AIDS
Sau đây xin giới thiệu học thuyết, giải pháp điều trị bệnh ung thư và liệt kháng theo quan điểm mới nhất của cả hainền y lý Đông Tây
I BỆNH UNG THƯ (Cancer)
Ung thư hiện nay được coi như một bệnh dịch thời đại, nhưng thật ra dấu vết về ung thư đã được khám phá cáchđây hơn 5,000 năm qua những bộ xương và hộp sọ của một số xác ướp tại Ai Cập (Egypt) Peru Tại Hoa Kỳ, theothống kê năm 2000, tổng số người mắc bệnh ung thư lên tới hơn 10,000,000 (10 triệu) người và hằng năm tiêu tốn
từ 1,000,000,000.00 (1 tỷ) đến 1,200,000,000.00 (1 tỷ 200 triệu) Mỹ kim tiền thuốc và tiền chăm sóc y tế cho bệnhnhân Qủa là một con số khổng lồ
Theo Y Học Hiện Đại:
Hippocrates, một thầy thuốc trứ danh của Hy Lạp (Greek) sống vào khoảng 400 năm trước Công Nguyên, lần đầutiên đặt ra một thuật ngữ mới: “carcinoma” để chỉ bệnh ung thư da (skin cancer) Đối với người Hy Lạp, chữkarkinoma có nghĩa là con của (crab), bởi vì vào thời kỳ ung thư lan rộng nó tạo những nếp gấp vừa dài vừa côngxuyên qua tế bào, mô hoặc da giống như chân con cua Để minh hoạ về bệnh này, cách đây khoảng 40 năm, cơquan y tế Liên Hợp Quốc có cho phổ biến trên toàn thế giới một mẫu bích chương cổ đọng phong trào phòng chốngbệnh ung thư bằng hình ảnh một chàng dũng sí dùng thanh kiếm báu phóng tay đâm chết một con cua với những cáichân vừa dài vừa nhọn, ý nói khoa học có khả năng tiêu diệt được bệnh ung thư cả trong thời kỳ di căn (metastasis).Ung thư (cancer) thật sự là một loại bệnh do những tế bào lành mạnh (healthy cells) ngưng hoạt động theo chứcnăng và tăng trưởng hết mức theo hướng hỗn loạn Theo các nhà khoa học, có thể nó bắt đầu bằng sự đột biếnkhác thường bên trong nhân (nucleus) tế bào, đặc trưng là sự biến đổi trong bản sơ đồ di truyền học (geneticblueprint), còn gọi là DNA (Deoxyribonucleic acid) Khi DNA biến đổi, tự nó sao chép lại thành nhiều phụ bản và hiệpvới gene kết thành chuỗi, chuyển thông tin này qua những tế bào khác bằng cách lan truyền mạnh mẽ đến độ khôngcòn kiểm soát được nữa, cuối cùng trở thành ung thư
Sự hình thành và phát triển ung thư được gọi là sự gây ung thư (carcinogenesis) Tế bào ung thư, khi được khảo sátdưới kính hiển vi (microscope), nhận thấy hình dáng khác thường, tương phản, mang tính kềm hãm hoặc phá hoại tổchức lành mạnh và làm biến dạng bản chất cấu trúc, còn gọi là bản chất rối loạn sinh vật học (biological disorder)
A PHÂN LOẠI UNG THƯ (Cancer Classifications):
Tính chúng, có khoảng 150 dạng (types) ung thư khác nhau, nhưng thông thường chỉ có 05 nhóm chính chủ yếu sauđây được thừa nhận:
1 Carcinomas: là dạng thành lập trong tế bào biểu mô(epithelial cells), bao gồm các vị trí: trên mặt da, vòm miệng
(mouth), mũi (nose), cổ họng (throat), đường hô hấp (lung airways), cơ quan sinh dục-niệu quản đường tuyến (lineglands) như tuyến vú (breast gland), tuyến giáp trạng (thyroid gland) Ung thư phổi (lung cancer), ung thư vú (breastcancer), ung thư da (skin cancer), ung thư dạ dày (stomach cancer), ung thư nhiếp hộ tuyến hay tiền liệt tuyến(prostate cancer) và ung thư ruột già (colon cancer) được xếp vào dạng ung thư biểu mô (carcinomas) và là thể ucứng (solid tumors)
2 Sarcomas: là dạng thành lập trong xương (bones), trong mô liên kết mềm (soft connective tissues) và mô nâng
đỡ (supportive tissues) như sụn (cartilage), cơ bắp (muscles), gân (tendons), mỡ ( fat), những lớp màng lót bênngoài cơ quan như màng tim (heart lining), màng phổi (lungs lining), màng bụng ( abdomen lining), màng trung tâm
hệ thống thần kinh và mạch máu Sarcomas cũng thuộc thể u cứng nhưng phần lớn hiếm khi là những u ác tính(malignant tumors) và hầu hết bệnh nhân đều chết
3 Leukimas: là dạng thành lập trong máu, trong tuỷ xương (bone marrow) Những tế bào bạch huyết cầu ( white
blood cells) biến chất sinh sôi nẩy nở di chuyển xuyên qua dòng máu tạo ra nhiều hệ luỵ cho lá lách ( spleen) và các
mô khác Leukimas không thuộc thể u cứng Chúng có đặc điểm là sản xuất quá mức loại tế bào bạch huyết cầukhông bình thường
Trang 24 Lymphomas: là các dạng ung thư thuộc hạch bạch huyết ( lymph glands) Hạch bạch huyết đóng vai trò một bộ
lọc chất bẩn cho cơ thể và được tập trung phần lớn ở cổ, háng, nách, lá lách, giữa ngực và chung quanh ruột.Lymphomas thường kiến tạo ra limphô bào hay bạch huyết bào bất thường ( abnormal lymphocytes) Chúng tụ tậptrong hạch bạch huyết và sản xuất những khối rắn ( solid masses) Bệnh Hodgkin và bệnh không phải Hodgkin kiểu
u bạch huyết hay u limphô ( non-Hodgkin’s lymphomas) là hai thể thường thấy nhất về u limphô tại Hoa Kỳ Trong khi
đó, u limphô kiểu Burkitt (Burkitt’s lymphoma) lại là dạng ung thư phổ biến tại vùng Trung Phi
5 Myelomas: là dạng u bướu rất hiếm thấy Nó xuất hiện trong kháng thể ( antibody), nơi sản xuất tế bào huyết
tương ( plasma cells) hoặc tế bào huyết cầu (hemopoietic cells) thuộc nhiều dạng mô khác nhau trong tuỷ xương
B CÁC GIAI ĐOẠN UNG THƯ ( Stages):
Bí quyết đặc trưng của tế bào ung thư là chúng có đời sống kéo dài rất lâu so với những tế bào bình thường Thậtmỉa mai khi cho rằng ung thư là thứ bệnh do định mệnh an bày và con người đóng vai trò “cây chủ” giúp sức chochúng “ ăn bám” để lớn lên Trên thực tế, tế bào ung thư bất tử ( immortal) và “ đẻ” vô kỳ hạn
Tế bào ung thư, chẳng những không chết ( nếu giả sử chúng phải chết) mà còn sáng tạo ra nhiều chức năng hết sứcquái lạ qua việc sao chép ( counterparts) tế bào gốc ký thác vào những tế bào lành mạnh để sinh sôi nẩy nở nhiềuthêm Màng tế bào ung thư biến thành công cụ ký sinh ( parasites) Chúng thành lập mạng lưới mạch máu riêng đểhút chất dinh dưỡng từ mạch máu chính của “ cây chủ” (con người) cho dù ở xa, nhờ những ống dẫn dài Tiến trìnhnày âm thầm, không ai chú ý và kiểm soát, cuối cùng dẫn tới việc thành lập một khối u hay bướu ( tumor) trươngphòng lên do hệ quả bởi những tế bào bất thường tăng trưởng Nếu khối u xâm lấn sát gần mô lành mạnh hoặcgiăng xuyên qua mạch bạch huyết ( lymph vessels) hay mạch máu để tới những mô lành mạnh khác thì khối u nầyđược xem như loại u ác tính (malignant tumor)
Cũng cần phân biệt giữa u ác tính với u lành tính:
- U lành tính (benign tumor) được bọc trong nang bởi chất sợi ( encápulated by fiber) Theo chức năng, u lành tính
cô lập cơ thể tránh bị thương tổn do tác dụng độc hại của chúng gây ra Điều chắc chắn là u lành tính sẽ ngưng tăngtrưởng kể từ lúc chúng không “đẻ” thêm được một khối u nào khác Vì vậy, nhiều người mang trong cơ thể khá nhiều
u bướu lành tính mà vẫn khoẻ mạnh cho đến khi chết vì một lý do khác
- Trái lại, u ác tính không bọc trong nang bởi chất sợi Đặc tính bệnh học của dạng ung thư nầy là có tài tách rời tếbào gốc xâm lấn sang những mô khác, di chuyển theo dòng máu qua mạch hạch huyết tới những vùng thật xa bêntrong cơ thể Tế bào ung thư nào không giăng mắc tay chân ra tới mô hay cơ quan khác nơi chúng muốn thành lậpđược coi là ung thư khu trú ( localized cancer) Nếu ung thư căng tới những phần khác trong cơ thể, gọi là ung thư dicăn ( metastasized cancer) Đa số các nạn nhân ung thư không chết vì những tế bào dị dạng hình thành lúc ban đầu
mà do hậu quả từ những tiến trình lần thứ hai, tức ung thư di căn Chúng lấn chiếm cực nhanh cho dù tế bào ungthư còn rất nhỏ và được coi như kẻ xâm lược nguy hiểm vì mang nhiều ác tính Quan sát tiến trình xâm thực củaung thư di căn trong phòng thí nghiệm, các nhà nghiên cứu ung thư đưa ra một đồ biểu thật kinh ngạc:
+ Ung thư rất chậm bành trướng, thời gian di căn mất trên 300 ngày
+ Ung thư khá chậm bành trướng, thời gian di căn tăng gấp đôi: 151-300 ngày
+ Ung thư bành trướng hoà hoãn, thời gian di căn tăng gấp đôi:61-150 ngày
+ Ung thư ác tính, tốc độ di căn gấp đôi chỉ trong vòng 60 ngày hoặc ít hơn
Một đặc tính khác của tế bào ung thư di căn là chúng phô bày rất ít hoặc không lộ hình tướng bằng nhiều tế bào kếtchùm lại với nhau Phạm vi và mức đọ nguy hiểm của ung thư ác tính tuỳ thuộc vào tốc độ sinh sôi nẩy nở của tếbào xâm lược và diện tích khối u mở rộng Một khối u lớn, cân nặng đến vài pounds hay kilograms, nhưng phải trảiqua vài năm thành hình và phát triển
C DẤU HIỆN UNG THƯ ( Telltale Signs of Cancer):
Bí quyết duy trì sức khoẻ, ngăn chặn và hạ thấp nguy cơ tử vong về bệnh ung thư, tốt nhất là khám phá sớm ngaykhi tế bào ung thư còn nhỏ hay mới thành lập Dưới đây là 08 dấu hiệu lộ liễu về bệnh ung thư có thể nhận biếtngay:
1 Một cục (lump), một cái bướu hay khối u cứng ( solid tumors)nằm trong vú hay trong tinh hoàn Hãy nhờ bác
sĩ chuyên khoa thực hiện ngay một cuộc khám nghiệm an toàn về ngực cho phụ nữ và tinh hoàn cho đàn ông, làcách bảo vệ tốt nhất để chống lại bệnh ung thư vú ( Breast cancer) và ung thư tinh hoàn ( testicular cancer) Cụcbướu, khối u trong ngực hoặc sự thay đổi đáng chú ý trong tinh hoàn là những dấu hiệu cảnh báo sớm, không nên
bỏ qua
2 Một mụt cóc ( wart) hay nốt ruồi (mole) xuất hiện trên mặt da có thể là biểu thị loại u hắc sắc tố, còn gọi là bướu
ác tính có hắc tố ( melanoma) hay loại carcinoma có vảy ( squamous carcinoma) Ung thư da (skin cancers) có thểxuất hiện ở dạng khô, dạng miếng có vảy (scaly patches), dạng mụn nhọt ( pimples) nhưng không bao giờ biến mất,
có thể sưng tấy hay viêm loét
3 Đau rát da (skin sore) hoặc đau cổ dai dẳng ( persistent sore throat) không lành.Hiện tượng đau đớn không
lành sau một thời gian xuất hiện có thể là dấu hiệu ung thư thuộc loại u hắc sắc tố (melanoma) Tình trạng đau cổhọng dai dẳng, khàn tiếng ( hoarseness), nuốt khó khăn, một cái mụt hay khối u trong cổ họng có thể biểu lộ loại ungthư họng ( pharynx cancer), ung thư thanh quản ( larynx cancer) hoặc ung thư thực quản (esophagus cancer) Cácloại ung thư nầy có khả năng trị liệu nếu được phát giác sớm
4 Sự thay đổi xấu trong ruột (bowel) hay bàng quang (bladder) Những triệu chứng đi tiểu khó khăn tiếp diễn
không ngừng, chứng táo bón (constipation), tiêu chảy kinh niên ( chronic diarrhea), đau vùng bụng ( abdominalpains), trực tràng chảy máu ( rectal bleeding), đường tiểu chảy máu (urinary bleeding) hoặc đi tiểu ra phân đen như
Trang 3hắc ín ( dark tar-like stools) đều không nên thờ ơ Chúng có thể là dấu hiệu lộ liễu nhiều loại bệnh ung thư phát triểnbên trong, cần được bác sĩ khám bệnh càng sớm càng tốt.
5 Ho dai dẳng ( persistent cough) hoặc ho có máu ( coughing blood).Nếu ho biến thành mãn tính, đặc biệt với
những người hút thuốc lá, cần tới bác sĩ khám bệnh ngay Bởi vì ung thư xuất hiện trong đường hô hấp, vào tớibuồng phổi, chúng có khả năng làm nghẽn tắc cục bộ hay kích thích bắt ho và làm chảy máu đường thở Chỉ các nhà
y học chuyên môn mới xác định được hiện tượng bế tắc hay kích thích ho dai dẳng nầy
6 Chứng chậm tiêu ( constant indigestion) hay nuốt khó ( trouble swallowing).Tình trạng nuốt khó khăn hay ăn
uống chậm tiêu kéo dài, buồn nôn ( nausea), ợ nóng ( heartburn), sưng ( bloating), chán ăn ( loss of appetite) và sựthay đổi khác thường trong ruột, tất cả có thể là những triệu chứng ung thư ruột già (colon cancer) hay ung thư dạdày ( stomach cancer) hoặc ung thư thực quản ( esophagus cancer) Sụt cân không có lý do cũng là một dấu hiệuđáng ngờ về ung thư
7 Chảy máu hoặc tiết xuất bất thường trong âm đạo ( unusual bleeding or vaginal discharge).Giai đoạn sớm
của ung thư màng trong tử cung ( uterine endometrial cancer) và giai đoạn muộn của ung thư âm đạo ( vaginalcancer) thường biểu lộ dấu hiệu chảy máu bất thường hoặc tiết ra những chất hôi hám Hãy nhanh chóng kiểm tranhững triệu chứng nầy để khám phá ung thư kịp thời Đối với những ca về ung thư tử cung, phương pháp thửnghiệm “Pap” có thể phát hiện sớm và điều trị sớm thay vì chờ đến giai đoạn muộn làm chảy máu thì nặng hơnnhiều
8 Bị mệt mỏi kinh niên (chronic fatigue).Khi cảm thấy mệt mỏi lâu ngày mà không tìm ra nguyên nhân, thường có
nguy cơ đi kèm theo một loại ung thư đang hình thành hoặc phát triển rất nhanh mà ta không sao nghĩ tới Nếu lâmvào trường hợp nầy, nên liên lạc với bác sĩ càng sớm càng tốt
D 33 NHÂN TỐ GÂY UNG THƯ (Causes for cancer):
Đa số bác sĩ khoa ung thư học (cancerology) đều thừa nhận ung thư là loại bệnh rất phức tạp, chưa có một chất đơnđộc nào hay phương pháp thần kỳ nào tiêu diệt được Có nhiều nhân tố tương quan nhau góp phần gây ra ung thư.Theo nhận xét của bác sĩ John Diamond, W.Lee Cowden và nhà nghiên cứu y học Burton Glodberg Hoa Kỳ, cókhoảng 33 nhân tố chính góp phần vào việc tạo ra ung thư:
1 Tia nắng mặt trời (sunlight):
Tia bức xạ ( solar radiation) từ ánh sáng mặt trời, đặc biệt tia tử ngoại B và C (ultraviolet-B & C radiation) là chất phổbiến gây ra ung thư (carcinogen) Tại Hoa Kỳ, hiện có trên 400,000 người bị ung thư da ( skin cancers) và hơn 1triệu trường hợp ung thư da khác được phát hiện mỗi năm Nguy cơ này sẽ còn tăng cao vì lỗ hổng tầng ozone trên
bề mặt địa cầu ngày càng bị xé rộng ra thêm, tạo điều kiện cho tia tử ngoại ảnh hưởng đến sức khoẻ con người
2 Bị ảnh hưởng điện từ trường ( Electromagnetric Field Exposure):
Những sự thay đổi về dòng điện từ trong môi trường vật chất có thể gây ảnh hưởng bất lợi cho việc cân bằng cơ thể
và sức khoẻ con người, góp phần tạo ra bệnh tật
Theo nghiên cứu của cơ quan bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ, nhiều bằng chứng cho thấy rằng, giữa bệnh ung thư và dòngđiện từ có liên quan chặt chẽ với nhau Trong thời đại khoa học, nhất là ngành điện tử thăng tiến vượt bậc như hiệnnay, ngoài công dụng tiện ích cho đời sống, những sản phẩm chứa điện từ trường đã tạo mối hại rất lớn mà conngười không sao ngờ được Chung quanh chúng ta toàn là tiện nghi căng thẳng: máy truyền hình, máy điện toán,điện thoại cầm tay, lò nướng điện, đèn chiếu trên tầng nhà, hằng triệu chiếc xe đang gầm rú xả hết tốc lực ngoàiđường,…Tất cả “đập” thẳng vào hệ thống sinh-hoá của cơ thể, làm rối loạn enzymes, gên, trao đổi tuyến, điều chỉnh
sự phát triển Tác động lâu dài biến thành hỗn loạn mãn tính, khiến mất hẳn khả năng đề kháng và tế bào ung thư có
cơ hội thành lập
Năng lực của quả đất, tự nó có khả năng gây ra ung thư, ảnh hưởng đến con người Tia bức xạ có từ tính ( magneticradiations) từ quả đất liên kết với những vết nứt địa chất ( geological fractues) và mạch nước ngầm hay ống dẫnnước đặt dưới nền nhà có tác dụng làm hại đến người đang lưu trú Tại Đức, vào năm 1932, một cuộc phân tích quy
mô về cái chết của 5,348 bệnh nhân mắc bệnh ung thư bằng cách cho dò tìm bên dưới nền nhà của nạn nhân vàkhám phá ra rằng nhà nào cũng có hệ thống ống dẫn nước chôn ngang dọc dưới lòng đất Trước đó, năm 1920, mộtcuộc kiểm tra sức khoẻ cho 3,300 cư dân sống trên 565 căn hộ được xây trên mạch nước ngầm ( subterraneanwater veins) ở độ sâu 44-55 mét Kết quả, 54% bị bệnh ung thư
Rất nhiều bằng chứng khẳng định sức hút của địa cầu và sức đẩy của nước dưới lòng đất là nhân tố góp phần vàoviệc gây ra ung thư Theo bác sĩ Hans A Nieper Hoa Kỳ, tất cả bệnh nhân bị ung thư do ảnh hưởng bởi địa chất daođộng và 93% thuộc dạng ung thư ác tính ( malignant cancer) Có ít nhất 2 học thuyết giải thích về hiện tượng địa cầucăng kéo Thuyết thứ nhất, do tia vũ trụ ( cosmic ray) xuyên qua mặt đất tạo từ trường xấu Khu bị ảnh hưởng nặnghay nhẹ tuỳ thuộc vào cường suất và chiều dài của tia chiếu dẫn tới việc làm suy yếu sức khoẻ Thuyết thứ hai, địacầu căng kéo làm ảnh hưởng đến vũ trụ, đặc biệt khu vực có đường chiếu thẳng góc với những tia nằm sâu thẳmtrong không gian vô tận Cơ thể con người khó thích nghi trong điều kiện không gian thay đổi vừa rộng vừa mạnhnên chức năng miễn dịch bị suy giảm và bệnh tật sẽ xuất hiện
4 Hội chứng công trình xây dựng ( Building Syndrome):
Trươc snăm 1980, các bác sĩ bắt đầu dùng từ ngữ “Hội chứng đau yếu vì xáy cất” để chỉ một loạt triệu chứng tệ hại,ảnh hưởng trầm trọng đến sức khoẻ con người như: chảy nước mắt, chảy nước mũi, đàm trong cổ họng, tức ngực,
da khô, ngứa da, nổi mẫn đỏ, nhức đầu, mệt mỏi, ngủ gậc, ho, hen, suyễn, thở khò khè, nghẹt mũi, sụt cân tạm thời,viêm tấy, tức giận vô cớ… Tất cả triệu chứng này do suy giảm hệ miễn dịch ( immune system), biểu thị tình trạngkhông khí bị ô nhiễm nặng và tạo cơ hội cho ung thư bộc phát
Trang 4Ngoài khói bụi thải ra không gian do xây dựng nhà cửa, nhiều nguồn độc hại khác cũng góp phần gây bệnh tật chocon người như: hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong công nghiệp chế nước sơn, đồ dùng trong nhà, thảm, keo dán,nươc shoa, thuốc giặt quần áo, thuốc rửa chén, thuốc chùi nồi, thuốc tẩy sàn nhà, khói thuốc lá, khí gas radon tiết ra
từ phân bón… Ô nhiễm ngoài trời, ô nhiễm trong nhà, quyện vào nhau biến thành ô nhiễm toàn diện, tạo môi truờngcho vi khuẩn, nấm mốc và vi trùng sinh sôi nảy nở tự do
Theo cơ quan bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ ước lượng, hằng năm có chừng 10,000 người bị mắc bệnh ung thư do nhiễmkhí radon bốc ra từ phân bón và trong đó tỷ lệ ung thư phổi chiếm tới 10%
5 Tia ion hoá (ionizing radiation):
Tia ion hoá bao gồm những tia năng lượng cao thế ( high-energy rays), có khả năng tách rời điện tử (electron) từ vậtchất làm thay đổi cấu trúc di truyền dẫn tới ung thư Công việc chụp tia X-ray kỹ thuật cao ( X-ray technology) chobệnh nhân mỗi ngày, các bác sĩ và chuyên viên về tia X (radiologists) có tỷ lệ mắc bệnh ung thư rất cao
Theo báo cáo của Hội Đồng Nghiên Cứu Quốc Gia ( The National Research Council) Hoa Kỳ năm 1990 về tác dụngsinh học của tia Ion hoá ( Biological Effects of Ionizing Radiation – BEIR) kết luận: Nguy cơ về u bướu (tumors) vàbệnh bạch cầu ( leukemias) do tia X-rays tăng cao gấp 3-4 lần hơn so với báo cáo năm 1980 Điều nầy có nghĩa 1triệu người chụp X-rays 2 lần một năm thì trong vòng 5 năm chụp vùng ngực sẽ xó 5,200 người mắc bệnh ung thư,gấp 4 lần nhiều hơn năm 1980 Cần lưu ý, tia X-rays còn phát ra từ đèn huỳnh quang ( fluorescent lights), máy vi tính( computer monitors) và máy truyền hình (television screens) Chúng ta thường ít chú tâm đến những dụng cụ độchại nầy
6 Bức xạ hạt nhân (nuclear radiation):
Theo nghiên cứu của Uỷ ban đặc trách về hạt nhân báo động, những ai sống gần nhà máy hạt nhân đều có nguy cơ
bị ung thư, cho dù tổng số chất phóng xạ (radioactive) thải ra hằng ngày rất nhỏ Hơi phóng xạ bốc lên, gặp mưa rơixuống, tích luỹ trong lòng đất Khi chúng ta trông trọt, hoa màu sẽ hấp thu chất độc hại nầy và sẽ xâm nhập vào cơthể con người qua thực phẩm Ai dùng thực phẩm có chứa chất phóng xạ sẽ hứng lấy chất sinh ung thư( carcinogens)
Theo báo cáo của tiến sĩ Steve Wing thuộc trường đại học North Carolina, trẻ em tại 3 nước Ukraine, Belarus vàRussia có tỷ lệ ung thư tuyến giáp tăng 100 lần kể từ sau ngày nhà máy hạt nhân Chernobyl của Nga bị tai nạn rò rỉphóng xạ vào tháng 4-1986 Sau thời gian đó, năm 1995, tại tiểu bang Connecticut Hoa Kỳ, các nhà nghiên cứu cũngtìm thấy chất iodine-131 lẫn trong sửa bò và tỷ lệ trẻ em bị ung thư tuyến giáp tại tiểu bang nầy cũng tăng rất nhanh
do vị trí địa lý khá gần nhau
7 Cặn bã thuốc trừ sâu – diệt cỏ (Pesticide-Herbicide Residues):
Thuốc trừ sâu và thuốc diệt cỏ là hoá chất (chemicals) Bác sĩ Epstein nhận xét: Nhiều bệnh ung thư có liên quanđến thuốc trừ sâu, hoá chất công nghiệp (industrial chemicals), tập trung cao nhất chung quanh môi trường sống vàtrong thực phẩm Hoá chất có mặt trong nhà gồm thuốc lau chùi nhà cửa, giặt quần áo, rửa chén bát, trừ kiến, trừmối Hoá chất có mặt ngoài đồng gồm thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu rầy, thuốc kích thích tăng trưởng các loại câytrồng, rau quả, chăn nuôi gai súc Do đó, phần lớn trâu, bò, heo, gà, vịt, cá, rau quả dều có chứa ít nhiều cặn bãthuốc trừ sâu và hoá chất công nghiệp Chúng bám ngoài vỏ, trên thân lá, tích luỹ trong mô mỡ của động vật Khichúng ta dùng thực phẩm là chuyển tải loại mỡ hoà tan có chứa chất gây ung thư nầy vào cơ thể, đọng lại ở não, cơquan sinh dục và vú
Theo báo cáo của học viện quốc gia về khoa học Hoa Kỳ ước lượng cứ 1,000 người dùng thực phẩm có chứa 28loại thuốc trừ sâu thông dụng thì có đến 6 người bị ung thư Hiện Hoa Kỳ có hơn 1,600,000 trường hợp bị ung thư,
đa số bị bệnh bạch cầu hay ung thư máu ở trẻ em, ung thư não và ung thư vú do ảnh hưởng vài loại thuốc trừ sâuđược xem là an toàn nhất
8 Độc tố công nghiệp (Industrial toxins):
Một số lớn chất độc hoá học (toxic chemicals), vật liệu (materials), kim loại nặng (heavy metal) do tiến trình côngnghiệp thải ra được tìm thấy trong mô con người Kim loại nặng gồm có: chì, thuỷ ngân, aluminum, nickel,cadmium…xâm nhập vào cơ thể qua đường hô hấp, nước uống, thực phẩm, thuốc lá và tích luỹ trong tế bào mỡ,trung tâm hệ thống thần kinh, xương, não, tuyến, lông tóc Nhiều cuộc nghiên cứu cho biết những hoá chất này códính líu đến bệnh ung thư
Chất độc chì vào phổi khi hút thuốc lá, chất ceramic được tráng mỏng trên các dụng cụ nấu bếp bằng nhôm hoặcthiếc đựng thực phẩm, chì được hàn trong ống nước, cadmium lẫn trong trà và café…Phân tích cho thấy những hoáchất nầy là nguyên nhân tạo ra ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến (prostate cancer)
9 Nước bị ô nhiễm (Polluted Water):
Nguồn nước máy công cộng tại Hoa Kỳ vẫn còn là mối nguy hại cho sức khoẻ Theo cơ quan bảo vệ môi trường, 30triệu dân Hoa Kỳ dùng nước máy có chứa hàm lượng chì (lead) rất cao Phân tích nguồn nước công cộng của thànhphố, các nhà nghiên cứu thấy khá nhiều loại chất bẩn độc hại gây bệnh gồm có: vi khuẩn (bacteria), chút ít chấtphóng xạ, kim loại nặng, chất xăng dầu đã hoà tan, rác công nghiệp, cặn bã hoá chất và các chất hữu cơ tổng hợpnhư benzene, trichloroethylene…dùng khi đánh bóng hay tẩy rửa sản phẩm
Nước uống bị ô nhiễm là nguy cơ gây ung thư Theo tiến sĩ William L.Lappenbusch, chuyên gia độc chất học nguồnnước giải thích: Nhân phóng xạ trong nước uống tạo ra nhiều bệnh ung thư hơn bất cứ tác nhan nào khác Nướcuống có chứa chất chì làm nguy hại cho sức khoẻ cho người lớn lẫn trẻ con, bao gồm các dạng: thai phụ sanh thiếutháng, học kém, huyết áp cao, giảm trí nhớ và yếu sức
Trang 5Các nhà khoa học tin rằng tia tử ngoại của mặt trời gây ra sự thay đổi cấu trúc về DNA, tác dụng lên một gene đơnmang tên gene chặn u p53 tong tế bào da, làm yếu đi hệ thống miễn nhiễm Da càng trắng nguy cơ càng cao Đặcbiệt đối với sắc dân Caucasian ở Úc, do da quá trắng, ung thư da chiếm tỷ lệ cao nhất thế giới.
10 Khử nước bằng Clo (Chlorinated water):
Phương pháp dùng Chlorine hoà tan trong nước uống nhằm khử một số vi khuẩn có hại như Shigella, Salmonella,Vibrio cholera, nhiều nhà nghiên cứu và bảo vệ sức khoẻ cho biết chất Chlorine can dự vào việc tạo ra ung thư.Quan niệm chlorine đóng vai trò tận diệt một số bệnh lây nhiễm như thương hàn, dịch tả đang bị xét lại, vì nhiềubằng chứng hiển nhiên mới đây cáo giác rằng nước uống có pha trộn chất chlorine làm tăng nguy cơ về ung thư chokhoảng 200 triệu người dân cho Hoa Kỳ đang dùng thứ nước nầy Theo báo cáo năm 1992 của cơ quan tại Na Uy,
tỷ lệ người dùng nước uống có pha chất chlorine đã bị ung thư ruột già và ung thư trực tràng tăng từ 20-40% Theonghiên cứu của hai trường Đại học Havard University và Medical College of Wisconsin xác nhận, 15% ung thư trựctràng và 9% ung thư bàng quang tại Hoa Kỳ là do tiêu thụ nước uống có pha chất chlorine Như vậy, mỗi năm Hoa
Kỳ sẽ có thêm 6500 ca bệnh ung thư trực tràng và 4200 ca ung thư bàng quang Tỷ lệ hai bệnh nầy sẽ tăng 38% và21% trong vài năm tới
Tại sao chlorine gây ung thư? Khi phản ứng với chất hữu cơ trong bước, chlorine sinh ra một hợp chất hoá học cóđộc và gây ra ung thư tên là trihalomethanes
11 Khử nước bằng Fluoride (Fluoridated water):
Từ năm 1950, chất flouride được Hoa Kỳ cho phép hoà tan trong nước uống và làm kem đánh răng (toothpaste) nhưmột biện pháp ngăn ngừa bệnh sâu răng Nhưng Fluoride là một chất độc Phần lớn sản phẩm fluoride pha trongnước uống hiện nay gồm hợp chất phốt phát trong kỹ nghệ làm phân bón
Theo nghiên cứu khoa học, fluoride làm biến chất tế bào bình thường trong cơ thể, từ đó “đẻ” ra nhiều dạng ung thư.Tiến sĩ Dean Burk, nhà hoá học danh dự của viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ tuyên bố: “Fluoride là thủ phạm gây ungthư nhiều hơn bất cứ loại hoá chất nào khác” Tiến sĩ Dean Burk so sánh: nơi nào dùng nước uống có trộn fluoride,nơi đó tỷ lệ người mắc bệnh ung thư tăng vọt Chính fluoride đã tạo ra 61,000 ca ung thư năm 1995 và tới năm 2015
sẽ là 90000 ca Cho dù giảm mức độ fluoride xuống 1ppm, tức 1 phần triệu gram, nguy cơ bị ung thư da (skincancer) vẫn nằm ở mức 12-100% và ung thư họng (oral cancer), ung thư yết hầu (pharyngeal cancer) vẫn chiếm tỷ
lệ 50%, mỗi năm tăng 8000 ca mới
12 Thuốc lá và hút thuốc lá (Tobacco & Smoking):
“Hút thuốc lá đứng đầu về chất sinh ung thư (carcinogen)” Bác sĩ Dimitrios Trichopoulos, giám đốc trung tâm ngănngừa ung thư trường đại học Harvard Hoa Kỳ đã cho biết như trên Thuốc lá gây ra các bệnh ung thư phổi, đầu, cổ,miệng, lưỡi, cổ họng, thanh quản, thận, bàng quang, dạ dày, cổ tử cung, tuỵ tạng và bạch huyết hay ung thư máu.Người không hút thuốc lá mà sống với người hút thuốc lá cũng bị nhiễm độc, tỷ lệ mắc bệnh ung thư tăng gấp 2 lần.Tại sao thuốc lá tạo ra ung thư? Các nhà nghiên cứu tìm thấy trong thuốc lá có chứa nicotine, chứa trên 2000 hợpchất hoá học và nhiều chất độc khác Khi hút thuốc lá, chất carbon monoxide được thải ra làm giảm lượng dưỡng khí(oxygen) cung cấp cho não, phổi và tim Mặt khác, khi hợp chất hữu cơ bị đốt cháy sẽ sinh ra một chất hắc ín (tar) cótên là carcinogenic hydrocarbons, tong đó gồm các thành phần tạo ra ung thư như nitrosamines, benzopyrenes,benzenes, insecticides và một số độc tố khác Hậu quả dẫn tới hai mối nguy cho sức khoẻ:
-a/ Sản xuất gốc tự do có hại (harmful free radicals)
-b/ Phản tác dụng trên hệ thống miễn nhiễm, DNA bị rối loạn và hư hại
Đây là đầu mối tạo thành ung thư Mỗi năm Hoa Kỳ có chừng 350000-400000 người chết do hút thuốc lá, cao nhất làung thư phổi, chiếm tỷ lệ 30% tổng số ngườ bị chết vì ung thư
13 Nội tiết tố liệu pháp (Hormone Therapies):
Dược phẩm (drugs) làm biến đổi chu kỳ nội tiết tố tự nhiên (natural hormonal cycle) của phụ nữ, dẫn tới nguy cơ gâyung thư Nhiều cuộc nghiên cứu, điển hình là báo cáo của cơ quan Science News năm 1995, đưa ra chứng liệu: Phụ
nữ uống thuốc ngừa thai trên 4 năm, tỷ lệ bị ung thư vú so với người không dùng thuóc cao gấp 2 lần vào tuổi 50.Nếu khởi sự dùng thuốc ngừa thai vào năm 18 tuổi và và tiếp tục ít nhất 10 năm tỷ lệ bị ung thư vú trước năm 35 tuổităng trên 3 lần Phụ nữ dưới 35 tuổi uống thuốc ngừa thai trong vòng 6 tháng, so với người không dùng thuốc, đa sốvẫn có tỷ lệ ung thư vú cao gấp 2 lần
Năm 1960, một công trình nghiên cứu hiệu quả của thuốc ngừa thai với 103 phụ nữ, cho biết có 84% bị tổn thương
cổ tử cung gồm: phồng rộp trong thời hian ngắn, sưng tấy, mạch máu bị xung huyết hoặc bị huyết lõm chỉ sau 1tháng sử dụng Năm 1968, bác sĩ Tilde S.Kline thuộc bệnh viện Peter Brent Brigham ở Boston tiểu bangMassachusetts mở cuộc kiểm tra bằng cách cho 1221 phụ nữ dùng thuốc ngừa thai và 16225 phụ nữ khác khôngdùng thuốc Kết quả, số phụ nữ dùng thuốc bị loạn sản cổ tử cung cao gấp 300%, thường là biến đổi lành tính, tuynhiên có thể là những biểu thị sớm về ung thư Nội tiết tố còn liên hệ với ung thư tế bào thần kinh Một cuộc khảo sát
555 có dùng nội tiết tố tính dục giữa thai kỳ, tỷ lệ trẻ sơ sinh bị bệnh u nguyên bào thần kinh tăng gấp 10 lần chỉtrong vòng 2 năm đầu sau khi sanh Theo học viện ung thư Roswell Park ở New York, neuroblastoma là loại u áctính của phôi tế bào thần kinh (embryonic nerve cells)
14 Thuốc trấn áp (Suppressive Drugs):
Một số lớn dược phẩm quy ước được sử dụng thường xuyên tạo thành thông lệ, như thuốc kháng sinh và ngay cảthuốc chủng ngừa cũng có dự phần vào việc làm suy yếu hệ thống miễn nhiễm (immune system), tác động phối hợpvới nhiều nhân tố khác để tạo ra ung thư
Trang 6Thuốc aspirin, acetaminophen, ibuprofen, glucocorticosteroid đều làm giảm mức sản xuất kháng thể (antibody) vàtrấn áp sinh lực miễn dịch (immune vitality) Nghiên cứu lấy mẫu máu một người trước và sau khi cho chủng ngừabệnh sốt phát ban (typhus), thấy rằng tế bào limphô bào T (T lymphocyte cells) bị trấn áp, giảm 50% tỷ lệ nâng cao
hệ thống miễn nhiễm từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 14 sau khi tiêm chủng Thuốc kháng sinh cũng có thể dẫn tới tìnhtrạng không chấp nhận thực phẩm (food intolerances) và gây dị ứng (allergies) bởi vì chúng góp phần cản trở nănglực của hệ thống miễn nhiễm, hạ thấp uy lực limphô bào T đến 50%
Cũng không thể bỏ qua những tác nhân độc hại tế bào (cytotoxic agents) hoặc hoá dược (chemotherapy drugs) dùngngăn chặn ung thư phát triển, đều có tác dụng trấn áp hệ miễn dịch rất nặng nề Chúng làm giảm một số bạch cầutrung tính (neutrophils), tạo nguy cơ mới, tiếp tục mắc bệnh ung thư làn thứ nhì
15 Thực phẩm khử bằng quang tuyến (Irradiated foods):
Phương pháp chiếu tia X (irradiation) qua thực phẩm dinh dưỡng thường là loại phóng xạ cesium-137 và cobalt-60.Cesium-137 là sản phẩm tích ly từ chất plutonium-uranium dùng trong chế tạo vũ khí hạt nhân (nuclear weaponry).Mục đích dùng tia X là để diệt côn trùng (insects), vi khuẩn (bacteria), mốc (molds) và nấm (fungi) Tuy nhiên, kết quảlại có hại cho người tiêu thụ, vì tiến trình chiếu tia X dẫn tới việc biến thành những chất độc (toxic substances) nhưbenzene, formaldehyde và nhiều hoá phẩm độc hại khác
Cuộc nghiên cứu của cơ quan Ralston Scientific Services Hoa Kỳ cho biết, những con chuột cho ăn thịt gà đượcchiếu tia X bị chết sớm hơnvà bị u bướu cao hơn Mặt khác, khi thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt côn trùng,thuốc diệt nấm lẫn chứa trong thực phẩm mà chiếu qua tia X, chúng sẽ biến thể thành chất độc mà các nhà khoa họcgọi là “Sản phẩm lạ đời từ tia quang tuyến – Unique Radiolytic Products – URPs” Cơ uqn kiểm soát thực phẩm vàduợc phẩm Hoa Kỳ, the FDA, ước lướng có khoảng 10% hoá chất trong thực phẩm được chiếu tia X đã trở thànhURPs Đây là nguyên nhân làm tăng mức aflatoxin, một dạng gây ung thư chết người (đealy carcinogen)
16 Chất phụ gia trong thực phẩm (Food additives):
Mỗi năm tại Hoa Kỳ có trên 3000 thứ hoá chất trộn thêm vào thực phẩm để cung cấp cho người tiêu thụ Hầu hếtnhững chất phụ gia nầy chỉ được thử nghiệm trên súc vật chứ chua thử nghiệm qua con người
- Chất phụ gia phổ biến nhất là hai loại đường hoá học: saccharin ( thường cung cấp cho người bị tiểu đường) vàcyclamates (dành cho người muốn sụt cân) Cả hai đều làm gia tăng nguy cơ bị ung thư bàng quang (bladdercancer)
- Chất butylated hydroxytoluene, một chất bảo quản thực phẩm ngăn chặn sự phân huỷ và chất tannic acid tìm thấytrong rượu vang (wines) và trái cây, đều góp phần gây ung thư gan (liver cancer)
- Chất aflatoxins, tìm thấy trong sữa bò, ngũ cốc, đậu phộng, chẳng những dính líu đến ung thư gan mà còn gópphần gây ung thư dạ dày (stomach cancer) và ung thư thận (kidney cancer)
- Chất gentian violet dùng chữa gà và gà tây bị bệnh nấm ở chân, lại tìm thấy chúng hiện diện trong thực phẩm bántại các siêu thị Đây là chất gây ung thư (carcinogen)
- Chất nitrofurans gồm nitrofurezone và furazolidone, cùng với chất aldicarb được trộn vào thức ăn nuôi gia súc nhưtrâu, bò, cừu, ngựa và gia cầm như heo, gà, vịt Mục đích là nhằm kích thích tăng trưởng, chóng to béo Tuy nhiên,chúng đều là chất có nguy cơ gây ra ung thư
- Chất aspartame được làm từ hai chất amino acids: aspartic acid và phenylalanine, là một chất ngọt giả tạo, ngọthơn đường mía 200 lần Ngày nay, chất aspartame được gia vào trên 5000 loại thực phẩm khác nhau, bán ra trên 1
tỷ mỹ kim mỗi năm, nhưng phenylalanine lại có hại cho sức khoẻ vì axit phenylpyruvic-niệu (phenylketonuria) Quanghiên cứu, aspartame có huynh hướng làm tăng huyết áp, mất ngủ, nhạy cảm về đau nhức, tăng sự thèm ăn, làmhỏng thị giác, giảm trí nhớ và nếu bị bệnh Parkison thì càng trầm trọng hơn Các nhà khoa học cho rằng pha chấtngọt aspartame trong nước giải khác có soda là một tai hoạ về u não (brain tumors)
- Sự tiêu thụ những sản phẩm về bơ sữa (dairy products) và thịt (meats) đã bị nhiễm steroids và kháng sinh, qua việctrị bệnh hay phòng bệnh cho gia súc, cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư
17 Độc tính thuỷ ngân (Mercury Toxicity):
Thuỷ ngân là một kim loại nặng (heavy metal) Kim loại nặng tác động tương tự như gốc tự do (free radicals), phảnứng mãnh liệt, chỉ cần nuốt hay hấp thu chút ít cũng có thể làm thiết hại cơ thể, làm hư hỏng mô, mạch máu và bóthần kinh (nerve bundles) đặc biệt là gây ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer)
Trong nha khoa, người ta dùng một hợp chất có trộn thuỷ ngân tên là “Amalgam fillings” như một biện pháp mạnhnhầm ngăn chặn hư răng Amalgam là một hợp chất mềm, gồm có 1 hoặc 2 hay nhiều hợp chất kim loại (metals)trộn theo tỷ lệ: 50% thuỷ ngân, 35% bạc, 9% thiếc, 6% đồng đỏ và chút ít kém Tuy nhiên, theo nha sĩ Joyal Taylorgiám đốc Environmental Dental Association tại California cho biết, chất amalgam mà hầu hết bệnh nhân được trámrăng hiện nay chỉ gồm 2 thành phần: 50% thuỷ ngân và 25% bạc
Mỗi năm tại Hoa Kỳ có trên 100 triệu miếng trám răng có trộn thuỷ ngân đặt vào miệng bệnh nhân Nhưng thuỷ ngân
là chất độc hại, chất gây ung thư Sau khi vào máu, 80-100% chất thuỷ ngân được hấp thụ qua phổi, gây cản trởmáu lên não, góp phần tạo các bệnh lú lẫn (Alzheimer), bệnh sơ cứng cột bên tao cơ (amyotrophic lateral sclerosis).Triệu chứng nhiễm độc thuỷ ngân: biếng ăn, chán đời, mệt mỏi, mất ngủ, viêm khớp, tính cáu kỉnh, mất trí nhớ, buồnnôn, tiêu chảy, bẹnh nướu răng, sưng các tuyến, nhức đầu…
18 Nhân tố về răng (Dental Factors):
Nhiều thầy thuốc chăm sóc sức khoẻ gia đình cho biết tình trạng bất ổn về răng và bệnh tất có liên quan với nhau.Khi một chiếc răng bị viêm hoặc nhiễm trùng, nói chung là bị tổn thương, nó có thể phong toả năng lượng (energy)
Trang 7vận chuyển dọc theo một hay nhiều kinh tuyến châm cứu của cơ thể, làm hư hỏng cơ quan tạng phủ tương ứng vớiđường kinh, dẫn tới ung thư.
Theo bác sĩ Thomas Rau, giám đốc Paracelsus Clinic ở Thuỵ Sĩ cho biết, 90% bệnh nhan bị ung thư vú (breastcancer) đang được chữa trị đều có nhân tố về răng Bác sĩ Rau giải thích, vú nằm trên đường kinh vị (dạ dày –stomach) Khi răng bị hư, như viêm ống chân răng (infected root canal) hoặc viêm quai hàm (infected jaw), đườngkinh chạy qua đó bị phong bế khiến cho việc truyền tải năng lượng bị hỏng, cuối cùng dẫn tới ung thư
19 Nhiễu loạn thần kinh (Nerve Interference):
Tình tạng loạn chức năng (dysfunctions) và mất quân bình (imbalances) trong hệ thống thần kinh tự động có ảnhhưởng đến tiến trình hình thành ung thư
Khi loạn chức năng thần kinh tự động, triệu chứng phổ biến là co thắt dây thần kinh (arterial spasm) khiến cho mộtphần cơ thể hoặc cơ quan bị “chết đói” dẫn tới tình trạng hư hỏng vì thiếu oxygen và dịch bạch huyết (lymphaticfluid) nuôi dưỡng
Khi mất quân bình, những vết sẹo củ lưu lại trên da do phẫu thuật (surgeries) hay do tai nạn (accidents), hoặc do cơthể bị nhiễm độc bởi thuỷ ngân (mercury), ký sinh trùng (paraside) làm hạn chế máu lưu thông đến ANS, dẫn tới tìnhtrạng hư hoại cục bộ
Theo tiến sĩ Dietrich Klinghardt, Hoa Kỳ, cho biết: Sự nhiễu loạn hệ thống thần kinh tự động có tới 30-45% trườnghợp tạo ra bệnh hoặc cơn đau Thí dụ đau răng do viêm tuỷ, trám răng bằng chất amalgam hoặc sưng nướu răng,đều tạo ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ với 50-80% cơn đau nhức khu vực hàm mặt Không những thế, nhiều khu vựcchung quanh cũng bị ảnh hưởng chung: sưng hạch 2 bên cổ họng (tonsils), viêm xoang mũi (sinuses)
20 Chế độ ăn uống và suy dinh dưỡng (Diet & Nutritional Deficiences):
Điều kiện đơn giản để ngăn ngừa ung thư, bệnh tật là tránh suy dinh dưỡng và chọn chế độ ăn uống thích hợp Tất
cả chất đạm (proteins) có nguồn gốc động vật và mỡ bảo hoà (saturated fats) là nhân tố bất ổn hàng đầu cho sứckhoẻ Chúng có liên hệ mật thiết với ung thư ruột già (colon cancer), ung thư trực tràng (rectal cancer) và ung thưnhiếp hộ tuyến hay tiền liệt tuyến (prostate cancer) Theo cơ quan National Academy of Sciences Hoa Kỳ, 60% cácthể ung thư ở phụ nữ và 40% ung thư ở nam giới có liên hệ đến chế độ ăn uống và dinh dưỡng Một trong nhữngnhân tố chính yếu gây ung thư và dẫn tới tỷ lệ tử vong cao là thiếu quân bình về dinh dưỡng
- Cảnh giác việc lạm dụng chất đạm động vật: Ăn quá nhiều chất đạm động vật là tăng nguy cơ ung thư vú (breastcancer), ung thư ruột già (colon cancer), ung thư tuỵ tạng (pancreatic cancer), ung thư thận (kidney cancer), ung thưnhiếp hộ tuyến (prostate cancer), ung thư màng trong tử cung (endometrial cancer) Lý do: sản xuất một khối lượngnitrogen – đống rác phế liệu- khổng lồ trong ruột, vài thứ trong đó biến thành hợp chất gây ung thư cao hoặc chấtnitrosamines và muối ammonium Bội thực chất đạm còn kiến tạo thành phần acid, chẳng những không có hy vọng
hạ thấp mức loãng xương (osteoporosis) về sau mà còn làm phương hại hàng loạt tổ chức khác, gây ung thư xươngkhi mức calcium dự trữ bị huy động và tháo hết ra ngoài Nhiều cuộc nghiên cứu tại Hoa kỳ cho thấy mức tiêu thụ thịt
đỏ gồm thịt bò, thịt heo, thịt cừu và bệnh ung thư, nhất là ung thư vú, ung thư thuộc già và ung thư nhiếp hộ tuyến,
có liên hệ mật thiết với nhau Thịt xông khói, thịt giầm nước sốt, thịt ướp gia vị, cá khô, thịt đút lò, thịt nướng vĩ(barbecue) cũng dễ sinh ung thư do tổng hợp giữa chất nitrosamines và hydro-carbon
- Cảnh giác về cá bị nhiễm độc: Do kỹ nghệ và công nghiệp gây ô nhiễm, thải ra sông ngòi và biển những hoá chấtđộc hại như thuỷ ngân, nickel, dầu mỡ, hydrocyanic acid, lactronitrile được phiêu sinh vật hấp thụ Từ đây, chất độc(toxins) truyền qua cá, tích luỹ trong mô và mỡ rồi chuyển sang người Theo báo của Consumer Reports, Hoa Kỳ, lấymẫu cá nghiên cứu cho thấy: 43% mẫu cá hồi (salmon) có chứa polychlorinated biphenyls-PCBs- một chất gây ungthư rất mạnh, 99% mẫu cá mũi kiếm (swordfish) chứa thuỷ ngân (mercury) là mối đe doạ nghiêm trọng tới hệ thốngthần kinh và hệ thống miễn dịch, một số mẫu cá bông lau(catfish) chứa hoá chất DDT, DDE và DDD rất độc hại
- Cảnh giác về sự lạm dụng mỡ: Tiêu thụ mỡ động vật (animal fat) là một trong những nhân tố quan trọng tạo ungthư với tỷ lệ rất cao, chủ yếu là ung thư vú (breast cancer), ung thư ruột già (colon cancer), ung thư trực tràng(rectum cancer), ung thư tử cung (uterus cancer), ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer) và ung thư thận (kidneycancer)
Tất cả mỡ động vật, như mỡ heo, mỡ bò, mỡ gà, mỡ cừu và hai loại dầu thực vật là dầu dừa (coconut oil) và dầu cọ(palm oil) được xếp vào loại omega-6, tức mỡ bảo hoà (saturated fats) Mỡ bảo hoà gồm có những chuỗi ãit béo(fatty acids) chứa carbon, hydrogen và nhiều nguyên tử oxygen (oxygen atoms) với cấu trúc phân tử thật cứng Docấu trúc nhầy dính, loại mỡ bảo hoà góp phần lấp kín mạch máu gây bế tắc hệ thống tuần hoàn và làm thay đổi hàngloạt chức năng bình thường của màng tế bào (cell membranes) Đặc biệt, chỉ có mỡ cá hay dầu cá (fish oil) đượcđánh giá là loại mỡ động vật duy nhất có ích cho sức khoẻ Nhờ cung cấp chất chống oxy hoá (antioxidants), thuộcloại omega-3, tức chất béo không bảo hoà (unsaturated fat), dầu cá cùng với các loại dầu thực vật như dầu olive,dầu hạt lanh (flaxseed oil), dầu hạt bí (pumpkin seed oil) và dầu hạt hồ đào (walnut oil) có ích cho sức khoẻ
Một cuộc nghiên cứu trong 6 năm với 429 người bị bệnh ung thư phổi (lung cancer) chưa từng hút thuốc lá, ghi nhận
họ đều tiêu thụ nhiều mỡ động vật Năm 1992, một cuộc nghiên cứu khác tại Hoa Kỳ với 13000 phụ nữ bị ung thưphổi không hút thuốc lá, cũng kết luận mỡ bảo hoà là nhân tố hàng đầu gây ung thư
- Cảnh giác về chất Eicosanoids: Eicosanoids là chất giống như nội tiết tố (hormone), được mỗi tế bào sản xuất quatrao đổi giữa arachidonic acid và axits béo (fatty acids) Eicosanoids có năng lực rất mạnh, chỉ cần 1/tỷ gram cũng đolường được tác dụng, ảnh hưởng đến nhiều chức năng bao gồm sự hoạt động của tế bào miễn nhiễm (immune-cell),
sự kết tụ tiểu cầu (platelet aggregation), viêm nhiễm (inflammation), sản xuất chất steroid hormone, chất dịch tiếttrong dạ dày-ruột non (gastrointestinal secretions), huyết áp và cảm giác đau đớn
Trang 8Nhiều cuộc nghiên cứu nhận xét, một trong những Eicosanoids là PGE2 (chữ viết tắt cấu trúc chất béo, thường ghisau chất prostaglandins), làm gia tăng nhiều dạng ung thư khác nhau.
- Lạm dụng đường tinh chế (refined sugar): Đường tinh chế và bột mì trắng là hai sản phẩm được coi là nhân tố gópphần tạo ra ung thư Một nhà nghiên cứu về ung thư, Wayne Martin ở tiểu bang Alabama Hoa Kỳ, phát biểu: “Khimột người ăn đường cơ thể phải tiết ra insulin và insulin thúc đẩy việc hình thành ung thư vú (breast cancer), giốngnhư kích thích tố estrogen làm việc đó”
Đường có tác dụng làm giảm năng lực hệ thống miễn nhiễm Chỉ cần ăn 3 ounces (100g) đường mà ngồi một chỗ, tếbào bạch huyết cầu-đặc biệt là bạch cầu trung tính (neutrophils)- sẽ giảm mạnh tới 40% trong vòng 2 giờ sau khi ăn,tức giảm một nửa năng lực hữu dụng Khi bạch cầu giảm uy lực thì các loại vi khuẩn (bacteria) thừa cơ hội bùngphát, gây bệnh Cần hiểu rõ, u bướu (tumors) phát sinh là do tác dụng biến thể bất thường (abmormal metabolism),lớn nhanh dưới điều kiện yếm khí (low-oxygen) và đường huyết cao (high glucose) Bác sĩ Keith Block Hoa Kỳ giảithích: “Đường còn là hiện thân của loại chất béo xấu, kích thích sản xuất chất prostaglandin E2, làm gia tăng chứngviêm ( inflammation) và u bướu
- Lạm dụng chất sắc (iron): Dùng quá nhiều chất sắc gây ảnh hưởng xấu cho sức khoẻ và tạo nguy cơ xuất hiện ungthư Có hai báo cáo y khoa gần đây cho biết: Thứ nhất, cho dù giảm lượng chất sắc tiêu thụ hằng ngày nhưng khốilượng chất sắt đã tích luỹ từ trước trong cơ thể vẫn làm tăng mức độ sinh ung thư Thứ hai, nhiều loại ung thư hiệnphát triển tại Hoa Kỳ hiện nay có liên hệ đến việc tiêu thụ quá mức thịt đỏ ( red meat) là nguồn chất sắt (iron) thật dồidào
Bác sĩ Neal Barnard nguyên là Physicians Committee for Responsible Medicine phát biểu: “Mặc dù chưa biết chấtsắc trong thịt có thúc đẩy u bướu có tăng trưởng hay không, nhưng khẳng định chất sắc góp phần tạo ra sản phẩmgốc tự do (free radical production) Chính cái nầy là đầu mối sinh ung thư”
- Lạm dụng rượu (alcohol): Uống nhiều rượu, kể cả beer, chắc chắn có nguy cơ mắc bệnh ung thư Theo bác sĩCharles B Simone, tiểu bang New Jersey Hoa Kỳ, thói quen uống rượu bia có nguy cơ rất cao về bệnh ung thư vú,vòm miệng, cổ họng, tuỵ tạng, gan Bia rượu làm ung thư phát triển nhanh do ức chế tế bào sát độc tự nhiên (naturalkiller cells-NK)
Natural killer cells (NK) nguyên là loại tế bào miễn dịch (immune cell), sản xuất từ trong tuỷ xương (bone marrow) vàlưu cư trong tuyến ức (thymus gland) Tế bào nầy có thể nhận diện và nhanh chóng huỷ diệt chất đạm lạ, vi khuẩnhay tế bào ung thư ngay khi chạm trán lần đầu nhờ kho vũ khí hùng mạnh gồm khoảng 100 chất độc hoá-sinh(biochemical poisons) khác nhau , không cho mầm độc có cơ hội phát triển Uống rượu là giảm số lượng tế bào NK,làm suy yếu khả năng miễn dịch, tạo điều kiện thuận lợi cho ung thư hình thành và lớn lên
- Lạm dụng cà phê (caffeine): caffeine gây hư hỏng chất di truyền (genetic material) và làm suy yếu thành phần DNA(deoxyribonucleic acid) bình thường, tăng thêm nguy cơ mắc bệnh ung thư
Truy tìm một số tác dụng thức uống phổ thông như: coffe, trà, colas, chocolate, nhiều nhà nghiên cứu ghi nhậncaffeine là một nhân tố tong việc sinh sản tế bào ung thư đường tiểu, abo gồm ung thư bàng quang (bladder cancer).Kết quả nghiên cứu dẫn chứng: Nhóm bệnh nhân bị ung thư bàng quang có tiền sử uống coffe thường xuyên trên 3tách/ ngày
21 Căng thẳng kinh niên (Chronic Stress):
Tinh thần đóng vai trò trung gian giữa mạnh khoẻ và bệnh tất Sự căng thẳng hay đè nén thường trực sẽ tác độngđến hệ thống miễn dịch và thần kinh hệ, tạo ra nhiều chứng bệnh và dẫn tới nguy cơ mắc bệnh ung thư
Nghiên cứu về khoa thần kinh tâm lý miễn dịch (psychoneuroimmunology-PNI) cho thấy hệ thống miễn dịch và hệthống thần kinh liên kết với nhau bằng những mạng lưới khá rộng qua các đầu thần kinh trong lá lách (spleen), tuỷxương (bone marrow), hạch bạch huyết (lymph nodes) và tuyến ức (thymus gland) Khi bị xúc động do đau buồn,não ra lệnh cho tuyến thượng thận (adrenal glands) tiết xuất một loại hoá chất gọi là corticosteroids và hoá chất nầylàm suy yếu hoá chất của hệ miễn dịch Khảo sát một số phụ nữ bị căng thẳng tinh thần liên tục trong 6 năm, cácnhà khoa học ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ung thư và u bướu tăng gấp 5 lần so với người bình thường Theo tiến sĩLeon Chaitow ở Luân Đôn cho biết: “khi tinh thần căng thẳng quá mức hặc trở thành mãn tính, tình trạng thay đổihoá chất bắt đầu xảy ra trong cơ thể ngày càng xấu đi, dẫn tới hàng loạt chứng bệnh trong đó có cancer”
Nhiều cuộc nghiên cứu về sự bất ổn tâm lý lâu dài ở trẻ em có đời sống thiếu thốn tình cảm gia đình, mất cha mất
mẹ hoặc người lớn từng bị thất vọng vì yêu, ly dị, đời sống goá bụa đều có tỷ lệ ung thư rất cao Bởi vì, khihormones gồm cortisol và adrenalin được tuyến thượng thận tiết ra, chúng ngăn chặn hoạt động của tế bào bạchhuyết, làm giảm số lượng limphô bào (lymphocytes) bao gồm tế bào T và B đóng vai trò bảo vệ sức khoẻ, khiếnbệnh tật phát sinh
22 Cảm súc tạo chức độc (Toxic Emotions):
Nhiều cuộc nghiên cứu khoa học đưa ra nhận xét: “Thường xuyên bị khủng hoảng, bị áp lực hay đe doạ, tuy tácđộng vào tinh thần nhưng nó tự biểu lộ bằng những triệu chứng về vật chất (physical symtoms)
Một chuyên gia chăm sóc sức khoẻ cho phụ nữ, nữ bác sĩ Christiane Northrup thuộc trung tâm Yarmouth tiểu bangMaine Hoa Kỳ giải thích: “Niềm tin và sự cảm xúc thuộc trạng thái sinh vật học (biology), có năng lực giữ chặt bệnhtật một chỗ hoặc thúc đẩy thành những căn bệnh nguy hểm Âns tượng trở thành dấu hiệu vật chất Thí dụ: hành viloạn luân, bị cưỡng hiếp hoặc sử dụng bạo lực lúc còn niên thiếu, lỗi lầm này vẫn còn tiếp tục hiện hữu trong câmnín và làm gia cường độ đau đớn khi mắc bệnh, dễ tạo thành những bệnh nội thương khó chữa lành Bởi vì nỗi ámảnh biến thành những bệnh nội thương khó chữa lành Bởi vì nỗi ám ảnh biến thành chất độc, lưư ko trong từng bắp
Trang 9thịt, cơ quan tạng phủ, toả khắp các mô, tế bào, làm suy yếu hệ thống miễn dịch tạo môi trường tốt cho bệnh tật pháttriển”.
Nhà nghiên cứu y học W Lee Cowden Hoa Kỳ, khám phá thấy tiềm thức (the subconscious) của một người tự coimình là kẻ vô dụng hay tự khinh bỉ mình là rất nguy hiểm vì mỗi xúc cảm sinh ra độc tố và thúc đẩy ung thư thànhhình Sự liên hệ giữa cảm xúc căng thẳng và ung thư tóm tắt bằng chữ “Thần kinh tâm lý miễn dịch học –psychoneuroimmunology – PNI”, có thể giải thích như sau: Tác động phức táp giữa tâm trí, hệ thống thần kinh vàchiều tế bào (cellular dimension) trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ Tế bào ung thư phát triển hay bất động tuỳ thuộcvào cơ thể có kiểm soát hay kích thích nỗi hệ thống thần kinh, hormone và hệ thống miễn dịch hay không Theo kếtquả nghiên cứu 2428 bệnh nhân mắc bẹnh tim và bệnh ung thư, hơn 40% đều có tâm trạng ưu tư (anxiety), buồnchán (depression), mất hy vọng (hopelessness), 9/10 trong số nầy nói họ có những nỗi đau buồn khôn nguôi, khôngsao giải toả được
23 Hoạt động tuyến giáp suy nhược (Depressed Thyroid Action):
Tuyến giáp trạng (thyroid gland), một tuyến nội tiết ở cổ, có liên hệ đến việc ung thư phát triển, và hoạt động củatuyến giáp suy yếu là nhân tố chính
Baest Broda O Barnes Hoa Kỳ dẫn chứng, ở Austria, một quốc gia có khuynh hướng mắc bệnh bướu giáp (goiter)cao cũng có tỷ lệ mắc bệnh ung thư cao nhất Bác sĩ Barnes còn chứng minh thêm, nếu lấy tế bào ung thư ác tính(malignant cancer) từ con chuột được tạo mầm ung thư trong phòng thí nghiệm cấy vào một con chuột mạnh khoẻthì ít khi thấy ung thư “bén rễ” trừ phi trước đó cắt tuyến giáp trạng con chuột lành mạnh bỏ đi Đối với những bệnhnhân mà chức năng tuyến giáp suy yếu cũng dễ mắc bệnh lao (tuberculosis) và các bệnh siêu vi trùng hơn ngườikhác
24 Đường ruột tích độc và tiêu hoá kém (Intestinal Toxicity & Digestive Impairment):
Ruột chúng ta, nếu kéo thẳng, có chiều dài trên 25 feet (tương đương hoặc dài hơn 7.62m) Đường ruột là địa đạo
an toàn cho vô số bệnh tật ẩn nấp, ngăn cản việc hấp thụ chất dinh dưỡng và tạo ra độc tính
Y học giải thích rằng, sức khoẻ bắt đầu và kết thúc tại ruột Nhiều chứng bệnh như: một số bệnh ung thư (cancers),phần lớn bệnh dị ứng (allergies), viêm nhiễm (infections), bệnh gan (liver diseases), mụn trứng cá (acne), vảy nến(psoriasis) và bệnh suyễn (asthma) xuất phát từ đường ruột Nguyên nhân từ đâu? Do chúng ta ăn vào những gìkhông thích hợp khiến cho ruột bị bế tắc sinh ra chất độc và thành bệnh, trong lúc ruột không tống xuất được các loạirác rưởi ra ngoài Một khi ruột tích độc, nó tạo độc tính toàn bộ cơ thể làm đình trệ sự hấp thụ các chất dinh dưỡngcần thiết cho sưc khoẻ và chữa lành bệnh tật
Trước năm 1990, đại đa số dân chúng Hoa Kỳ chỉ mất khoảng thời gian từ 15-20 giờ là kết thúc chu trình tiêu hoá,tính từ lúc nhai nuốt thực phẩm cho đến khi bài tiết Ngày nay, phần đông người Mỹ phải mất đến 50-70 giờ, chậmhơn 3 lần rưởi thời gian mới tiêu hoá xong Do chậm tiêu hoá, phân (stool) có cơ hội gia tăng mức thối rữa, các visinh vật độc hại (harmful microorganisms) mặc sức sinh sôi nẩy nở và chất đọc lan rộng khắp các mô Khi chúng ta
ăn những loại thực phẩm chứa chất nhầy (mucus-producing foods), phần lớn gồm sữa bò và thịt, cá, gà, vịt, trứng,hạt có dầu Chúng rất chậm tiêu, là nhân tố tạo ra chất độc, phá huỷ hết vi khuẩn có ích dẫn tới ung thư, dị ứng,nhiễm trùng, sưng mặt, sưng chân, làm suy giảm hệ thống miễn dịch, hại gan và nhiều cơ quan khác
Có hàng tá ký sinh trùng phá hoại sức khoẻ con người như: giun đữa (roundworms), giun kim (pinworms), giun móc(hookworms), sán dây (tapeworms) và sán lá (flukes) Theo tiến sĩ Hulda Regehr Clark làm việc tại thành phốTijuuana nước Mexico cho biết, một loại sán lá dẹt (flat-worm) tên là Fasciolopsis buskii, có khả năng gây ra ung thư.Tiến sĩ Clark giải thích: sán lá đẻ nhiều trứng Khi trứng nở và trưởng thành, sức nén của hàng trăm cư dân sán lálàm phóng xuất một nhân tố đặc biệt gọi là ortho-phosphotyrosine, chỉ dấu khởi đầu tiến trình hình thành ung thư
26 Siêu vi trùng (Viruses):
Theo nhiều nhà nghiên cứu, hơn 15% cái chết về bệnh ung thư trên thế giới có liên hệ đến tác nhân của siêu vi, vikhuẩn hoặc ký sinh trùng Khắp thế giới, sự nhiễm độc bởi siêu vi, đặc biệt là viêm gan siêu vi B và C (hepatitis B-Cviruses), dẫn tới ung thư gan chiếm tỷ lệ đến 80% Còn siêu vi u nhú (papilloma viruses) loại 16 và 18 (là 2 trong số
75 chủng loại vi sinh vật truyền qua đường sinh dục) gây ra ung thư bộ phận sinh dục (genital cancer) và ung thưhậu môn (anal cancer) tới 70-80% Siêu vi Epstein-Barr, loại chuyên làm tăng bạch cầu đơn nhân (mononucleosis),cũng là thứ gây ung thư, có dính líu khảng 50% về ung thư vòm họng (upper pharynx), 30% ung thư hệ thống bạchhuyết còn gọi là ung thư Hodgkin và 10% không phải Hodgkin (non-Hodgkin’s) và đích xác là ung thư dạ dày (gastriccancers)
Các nhà khoa học tại Johns Hopkins University School of Medicine Hoa Kỳ, sau khi nghiên cứu 183 phụ nữ bị ungthư cổ tử cung, đã đưa ra kết luận: Khi một người đàn ông giao hợp trên 21 người bạn gái, các bà nầy có nguy cơ bịung thư cổ tử cung tăng gấp 11 lần, bà nào thường xuyên giao hợp hơn sẽ tăng trên 8 lần Các nhà nghiên cứu tinrằng loại ung thư nầy trực tiếp liên hệ đến siêu vi u nhú lây truyền qua đường sinh dục, tương tự như bệnh hoa liễu(venereal disease)
Trang 1027 Con đường giải độc bị lấp kín (Blocked Detoxification Pathways):
Bác sĩ Otto Warburg Hoa Kỳ phát biểu: “Sự thật, cội rễ chủ yếu của ung thư và nguồn gốc lầm lạc tạo ra ung thư là
do đời sống thiếu dưỡng khí (oxygen) hoặc kỵ khí (anaerobiosis) Tất cả tế bào bình thường đều đòi hỏi sự hấp thụdưỡng khí nhưng các tế bào ung thư có thể sống mà không cần dưỡng khí”
Trong mỗi thân thể khoẻ mạnh đều có một hệ thống giải độc tự nhiên, đặc biệt là gan, giữ nhiệm vụ thải chất độc(toxins) và nhờ đó làm giảm nguy cơ nhiễm bệnh Nhưng các hệ thống nầy, bao gồm hệ bảo vệ miễn dịch (immunedefense), có thể bị khống chế hoặc tràn ngập bởi vô số chất độc đã dược liệt kê trong chương nầy và trở nên bấtkhiển dụng về khả năng giải độc tự nhiên Một khi hệ thống giải độc bị lấp kín thì sự dẫn lưu của hệ thống bạchhuyết cũng bị bế tắc, kéo theo hàng loạt tai biến bên trong cơ thể, kể cả chứng táo bón kinh niên và loạn chức năngenzyme ở gan Theo Bác sĩ Joseph Pizzorno Hoa Kỳ giải thích, muốn ngăn ngừa ung thư, trước hết hệ thống giảiđộc của gan phải hoạt động tốt nhất Nếu chức năng gan kém, nó không thể khống chế và tống xuất chất gây ungthư hình thành trong cơ thể
Có 4 loại hệ thống thường bị quá tải (overload) lấp kín cơ quan bảo vệ cơ thể chống lại ung thư:
- Qúa tải chuyển hoá (Metabolic Overload): Độc tố (toxins) và chất gây ung thư (carcinogens) có khả năng thúc đẩytiến trình phát triển ung thư xuyên qua một cơ chế (mechanism) gọi là qua tải về chuyển hoá (metabolic overload) vàthành dạng gây ung thư thứ phát (secondary carcinogenesis) Nguồn độc tố quyện chặt vào nhau gồm có: dượcphẩm, ma tuý, thuốc lá, thuốc ngủ, rượu, chất phụ gia, kim loại nặng…Khi độc tố dâng cao, tràn ngập cơ thể, thì hệthống enzyme bị vô hiệu hoá và u bướu (tumor) sẽ bộc phát
- Qúa tải nội tiết (Endocrine Overload): Hormones có thể kích thích tế bào bất bình thường lớn lên và tăng sinh(proliferation) Những chất nầy gồm có các Hormones kích thích tăng trưởng tìm thấy trong các thực phẩm động vật
và hormones trợ sinh lý, đặc biệt là estrogens, testosterone và những chất hoạt động giống như chức năng củaestrogen Khi nội tiết tố quá tải xảy ra, nó tác động lên những tế bào nhạy cảm gây ra ung thư Một vàixenoestrogens, là những estrogen ngoài cơ thể, mang tên DDT hoặc DDE (sản phẩm do chất DDT chuyển hoá) đều
là mầm mống sinh ra ung thư vú (breast cancer)
- Qúa tải gốc tự do (Free-Radical Overload): Sự ô nhiễm (pollution) tạo chất độc, khói thuốc lá, tập luyện quá mức,tia phóng xạ hạt nhân và tia tử ngoại (nuclear and ultraviolet radiation) đều có khả năng làm hư hỏng oxygen gốc tự
do vốn là những phần tử không bền vận chuyển bên trong cơ thể Gốc tự do rất nguy hiểm, vì chúng có huynhhướng tấn công và tàn phá lớp màng mỏng bao quanh tế bào, làm cơ thể bị tổn thương, tạo thuận lưọi cho nhiềuloại ung thư bộc phát Hơn nữa, gốc tự do có ảnh hưởng tương tác với tế bào DNA gây nên tình trạng hoán chuyển
cơ cấu (mutations) dẫn tới việc thành lập ung thư
- Qúa tải miễn dịch (Immune Overload): nhiệm vụ của hệ thống miễn dịch là nhận diện bất cứ cái gì khác lạ hoặckhông an toàn gây nguy hiểm cho cơ thể Nếu quả thật là chất kháng nguyên (antigen), hệ thống miễn dịch sẽ tấncông ngay và cố gắng trung hoà hoặc phá huỷ chúng Cùng thời gian đó, hệ thống miễn dịch cũng nhận diện và chịunhững gì mà cơ thể bằng lòng Hệ thống này có khả năng nhận biết vài kháng nguyên u (tumor antigens), tức lànhững proteins lạ trên bề mặt của khối u, và sắp xếp một cuộc tấn công có hiệu quả nhầm loại trừ khối u Đáng tiếc
là đôi khi tế bào ung thư tạo ra được tính đồng nhất như tế bào bình thường khiến hệ thống miễn dịch nhận lầm vàchịu cho sống chung Cùng lúc, hệ thống miễn dịch bị quá tải do các thực phẩm gây dị ứng và các kháng nguyênkhác dẫn tới hậu quả kháng thể suy sụp, ngăn chặn hoạt động của đại lực bào (macrophages), và tế bào ung thưmặc tình sinh sản
28 Gốc tự do (Free Radicals):
Gốc tự do là một phân tử không bền (unstable molecule) với một điện tử không có đôi (unpaired electron) do ăn cắp
1 điện tử từ 1 phân tử khác và sinh ra tác dụng độc hại Gốc tự do xuất hiện khi những phân tử bên trong tế bàophản ứng với oxygen, tức qui trình oxy-hoá, coi như tiến trình trao đổi bình thường Nếu không được chất chốngdưỡng hoá, còn gọi là chất chống oxy-hoá (antioxidants) kiểm soát, gốc tự do có thể phân tán tế bào và làm hư hạienzymes, hư hại màng tế bào, huyết thanh lipoprotein, chất béo bảo hoà trong màng tế bào và DNA hoặc nhiễm sắcthể (chromosomes)
Gốc tự do được sinh ra bởi cả hai thế lực độc hại bên ngoài như chất phóng xạ (radiation) và ô nhiễm môi trờng(environmental pollution) và các tiến trình bên trong như sự chuyển hoá (metabolism) và phòng vệ miễn dịch Cơ thểmất vũ khí chế ngự, gốc tự do sẽ kiến tạo ít nhất là 100 tình cảnh thoái bộ gồm ung thư, bệnh tim mạch và sự lãohoá (aging) Tài nguyên của gốc tự do gồm có: chất gây ung thư, ô nhiễm, khói thuốc lá, rượu, siêu vi, chất phóng
xạ, phần lớn sự nhiễm trùng, dị ứng, căng thẳng quá mức (stress), chứng thiếu máu cục bộ (ischemia), vết bỏng,lạnh, thực phẩm không tốt, tập luyện quá sức và chứng viêm (inflammation)
Chất chống oxy-hoá là một chất hoá sinh tự nhiên (natural biochemical substance), đóng vai trò bảo vệ các tế bàosinh động chống lại gốc tự do độc hại bằng cách ngăn chặn tiến trình oxy-hoá, không cho ăn cắp điện tử trong vậtchất Chất chống oxy-hoá trong cơ thể sẵn sàng phản ứng bằng oxygen, phân huỷ sản phẩm xấu và gốc tự do, trunghoà chúng trước khi chúng làm hại cơ thể Nguồn dinh dưỡng chống oxy-hoá gồm có: Vitamin A-C-E, beta carotene,selenium, coenzyme Q10, grape seed extract, L-glutathione, superoxide dismutase và bioflavonoids Dược thảochống oxy-hoá có lá bạch quả (ginkgo biloba) và tỏi (garlic) Khi chất chống oxy-hoá được tổng hợp, tác dụng sẽmạnh hơn dùng đơn độc
29 Tế bào thiếu dưỡng khí (cellular oxygen deficiency):
Giáo sư bác sĩ Otto Warburg, nhà hoá sinh người Đức đoạt giải thưởng Nobel về hoá học năm 1931, khám phá rằngthiếu oxygen và sự lên men tế bào (cell fermentation) là điều kiện thích hợp để ung thư phát triển Giáo sư Warburg
Trang 11viết: “Từ quan điểm người thầy thuốc và chuyên trách ngành hoá học, tôi thấy giữa tế bào bình thường và tế bào ungthư có một sự khác biệt rất lớn, một hình ảnh rất rõ ràng Tất cả một tế bào bình thường cần một nhu cầu tuyệt đối làoxygen, một qui tắc không có bất kỳ ngoại lệ nào”.
Theo học thuyết của giáo sư Warburg, khi tế bào bị tước đoạt oxygen, chúng quay về trạng thái nguyên thuỷ, đi vàophản ứng đường huyết (glucose reactions) và nhờ sự lên men để sinh năng lượng thay vì nhờ oxygen như loài thảomộc hay tế bào loài vật đã làm Lý do gia tốc tỷ lệ ung thư trong thế kỷ vừa qua là vì mức oxygen bị giảm và mứccarbon monoxide trong thành phố tăng lên Carbon monoxide (CO) có ái lực cao với hemoglobin, chất vận tải oxygenđến các tế bào, nên khi hơi thở của ta đầy CO thì hemoglobin bị tràn ngập CO hơn oxygen Hậu quả, tế bào ung thưsinh sôi nẩy nở mạnh trong môi trường yếm khí Giáo sư Warburg đưa ra bảng chỉ danh tạo khối u (oncogenes), cácgene triệt khối u (tumor suppressor genes) và ước định nơi ung thư phát triển như sau:
Oncogenes Presumed Cancer Exposures
(Tạo khối u) (Ước đoán nơi ung thư xuất hiện)
-PDGF -ung thư não-u thần kinh đệm (glioma)
-erb-B -ung thư não-u nguyên bào xốp (glioblastoma) và ung thư vú
-erb-B2 -ung thư vú, tuyến nước bọt (salivary gland),
buồng trứng (ovarian )
-RET -ung thư bướu giáp (thyroid cancer)
-Ki-ras -ung thư phổi, buồng trứng, ruột già, tuỵ tạng
-N-ras -bệnh bạch cầu (leukemia)
-c-myc -bệnh bạch cầu, ung thư vú, dạ dày, phổi
-N-myc -u nguyên bào thần kinh (neuroblastoma) và ung thư u nguyên
bào xốp (glioblastoma cancer)
-Bcl-2 -u bạch huyết tế bào (cell lymphoma)
-Bcl-1 -ung thư vú, đầu, cổ
-MDM2 -sarcomas
Các Gene triệt khối u (Tumor Suppressor Genes):
-APC -Triệt ung thư ruột già, dạ dày
-DPC4 -Triệt ung thư tuỵ tạng
-NF-1 -Triệt u xơ thần kinh (neurofibroma), bệnh bạch cầu dạng tuỷ
bào (myeloid leukema)
-NF-2 -Triệt u màng não (meningioma), u tế bào màng não thất-ung
thư não (ependymoma-brain cancer)
-MTS1 -Triệt nhiều loại ung thư khác nhau trên qui mô rộng
-RB -Triệt ung thư xương, mắt, bọng đái, tế bào nhỏ ở phổi, vú
-p53 -Triệt nhiều loại ung thư khác nhau trên qui mô rộng
-BRC1 -Triệt ung thư vú, buồng trứng
-BRC2 -Triệt ung thư vú
30 Đẳng cấp tế bào (Cellular Terrain):
Hậu quả do những nhân tố phức tạp nêu ở mục 29 đủ bảo chứng rằng đẳng cấp tế bào tuỳ thuộc vào các nhân tố Ph(cân bằng giữa acid/base) và khả năng giảm nhẹ oxy hoá Vấn đề nầy, các thầy thuốc Châu Âu đặt tên là “đẳng cấp
tế bào” hay nội môi (internal milieu) Đẳng cấp bao gồm các điều kiện: sức sống tổng thể, hoạt động và điều kiện hoásinh của tế bào trong cơ thể khi đo lường theo các tiêu chuẩn (criteria) chính xác
Theo bác sĩ Thomas Rau, giám đốc Parcelsus Clinic in Lustmuhle ở Thuỵ sĩ, giải thích về địa vị hay đẳng cấp của tếbào bên trong môi trường cơ thể như sau: “Khi tế bào trở nên mất quân bình, đẳng cấp sẽ rơi xuống vì bị bệnh, bịnhiễm trùng, mắc bệnh kinh niên hoặc ung thư phát sinh Khi tế bào được phục sinh, quân bình thì đẳng cấp trở về vịtrí khoẻ mạnh Sự đau yếu không phải do nguyên nhân vi khuẩn gây ra nhưng vi khuẩn tiếp tay làm đau yếu Vikhuẩn, siêu vi hay nấm chỉ có thể sinh trưởng nếu chúng gặp địa vị tế bào thích hợp Chúng phát triển từ bên trong
cơ thể, không phải xâm lấn từ ngoài vào Mặc dù tác nhân nhiễm trùng vào cơ thể từ bên ngoài, nhưng nếu cơ thểkhoẻ mạnh và địa vị tế bào quân bình, chúng không thể phát triển được, ngay cả muốn sống còn cũng khó tồn tại
31 Tạo khối u (Oncogenes):
Chiều hướng trọng tâm các cuộc nghiên cứu ung thư ngày nay là tìm các chỉ dấu cá biệt có khả năng gây bệnh, nhưung thư bắt đầu tăng sinh hoặc bộc phát bằng khối u lớn mạnh Khởi đi từ năm 1970, những genes gây bệnh kiểunầy được đặt tên chung là oncogenes (nghĩa của gene bắt đầu bằng chữ oncos, tức là khối u –tumor mass) Cókhoảng 50 kiểu oncogenes khác nhau được đánh dấu và phân tích
Mỗi oncogene là một gene được tin chắc rằng nó làm biến đổi tế bào lành mạnh thành tế bào ung thư, biến ra ungthư Một số genes loại nầy cũng được báo cáo là do viruses gây ra Các nhà nghiên cứu hiện nay ghi nhận khoảng20% các dạng thư mà con người thường di luỵ, một phần do sự hoán chuyển của oncogene Ki-ras (xem bảng liệt kê
ở mục 29 trên), họ hàng của gia đình myc oncogene Khoảng 50% ung thư ruột già và trực tràng do ras oncogenetác động trong khi gene p53 và DCC lại là những máy triệt khối u đặc dụng đến 70% trường hợp Các nhân tố khác
Trang 12về gene cũng có khả năng triệt khối u, như sự thay đổi DNA Ung thư chỉ có thể sinh sản nếu DNA thay đổi mà sau
đó không sửa chữa được
32 Nhân tố di truyền (Genetic Predisposition):
Thuật ngữ “Hội chứng ung thư có nòi-family cancer syndrome” được dùng để mô tả những dạng ung thư đặc biệtnhư: ung thư vú, ung thư ruột già hay ung thư buồng trứng, thường có khuynh hướng nối tiếp nhau mắc phải tronggiòng họ hoặc gia đình Nhiều cuộc nghiên cứu hiện nay tin rằng các ung thư theo dạng thừa kế sau đây có liên hệđến sự thay đổi trong các gene triệt hạ khối u: ung thư u hắc sắc tố (melanoma) và ung thư tuỵ tạng tương ứnggenes triệt hạ MTS1 và p16, ung thư vú và ung thư buồng trứng tương ứng genes triệt hạ BRC1, ung thư vú tươngứng gene triệt hạ BRC2, ung thư ruột già và ung thư tử cung tương ứng genes triệt hạ MSH2, MLH1, PMS1, PMS2
và ung thư não sarcomas tương ứng gene p53
Một khi gene triệt khối u có khuyết tật, không hoàn hảo, thay đổi thì các loại ung thư tương ứng có nguy cơ thành lập
và phát triển Chẳng hạn, BRC1 bị khiếm khuyết, tỷ lệ người mắc bệnh ung thư vú chỉ chiếm khoảng 9-10% đối vớingười là nhưng đạt tới 90% đối với người cùng huyết thống
- Uế khí dạng giang mai (syphilitic miasm) gây bệnh có nguồn gốc từ mầm độc giang mai
- Uế khí dạng loét (sycotic miasm) mọc lên như phần như thừa của bệnh lậu (gonorrhea)
E ĐIỀU TRỊ UNG THƯ (Cancer Trêatmnts)
THEO Y HỌC HIỆN ĐẠI
Tại Hoa Kỳ, dược phẩm và các phương pháp điều trị ung thư là một ngành kinh doanh vô cùng qui mô, béo bở Từkhi tổng thống Nixon phát động “Chiến tranh chống ung thư – War on Cancer” vào năm 1971, hàng năm Hoa Kỳ đãtiêu tốn trên 1000 tỷ Mỹ kim (1 trillion dollars) để nghiên cứu và điều trị ung thư nhưng cũng không sao cứu đượckhoảng 18% bệnh nhân phải cam đành đi theo thần chết Sau đây là một vài phương pháp trị liệu chính yếu của Yhọc hiện đại:
- Hoá liệu pháp (chemotherapy): là phương pháp dùng hoá chất (chemical substances) hoặc dược phẩm (drugs) để
tị bệnh
- Phóng xạ liệu pháp (radiation therapy): là phương pháp dùng tia quan tuyến X (X-ray) để điều trị hoặc chẩn đoán
- Phẫu thuật (surgery): là phương pháp mổ xẻ (operation) để trị bệnh, phục hồi cơ quan bị hư hỏng (injury) hay dịdạng (deformity)
- Điều trị khối u (oncotherapy): là phương pháp chống lại nhân tố sinh ra ung thư Phương pháp nầy khá đa dạng,gồm nhiều lãnh vực như chống oxy-hoá liệu pháp (antioxidant therapy), vật lý liệu pháp (physical therapy), sinh họcliệu pháp (biological therapy), nội tiết tố liệu pháp (hormone therapy), dinh dưỡng liệu pháp (nutritional therapy), tâmthần liệu pháp (psychotherapy), kháng virus và kháng nấm liệu pháp (antiviral and antimycotic therapies)
- Ung thư não bộ gọi là Não thư
- Ung thư nướu răng gọi là Cốt tào
- Ung thư vú gọi là Nhũ nham
- Ung thư phổi gọi là phế thư
- Ung thư lưỡi gọi là Thiệt nham
- Ung thư mũi gọi là Tỷ tức nhục
- Ung thư môi gọi là Kiển thần
- Ung thư xương gọi là Phụ cốt thư
b/ Căn cứ hình thái, chứng trạng:
- Ung thư cổ họng gọi là Ế ách
- Ung thư hàm gọi là Thạch thư
- Ung thư hạch cổ gọi là khí lưu
- Ung thư ở mạch máu gọi là Cân anh
- Ung thư hạch bạch huyết gọi là Đàm hạch, Ác hạch
- Ung thư tuyến amng tai gọi là Thất dinh
- Ung thư dạ dày gọi là Âmr tịch
- Ung thư gan gọi là Bành trướng
- Ung thư tuỵ tạng gọi là tướng mãn
- Ung thư ruột gọi là Phục lương
- Ung thư da gọi là Phiên hoa sang (ha sung)
- Ung thư chân răng gọi là Tẩu mã nha cam
Trang 13- Ung thư màng bụng gọi là Phúc bỉ
- Ung thư ruột thừa gọi là trường đàm
- Ung thư bộ phận sinh dục gọi là Âm khuẩn
- Ung thư tử cung gọi là Trừng hà
- Ung thư hạch háng gọi là Huyên tịch
2 Nguyên nhân gây bệnh:
Đông y căn cứ vào chứng hậu, tức là hệ quả, mà phân loại bệnh Có hai dạng chứng hậu: Chứng hậu theo nguyênnhân và chứng hậu theo tạng phủ kinh lạc Biện chứng tìm nguyên nhân là nguyên tắc căn bản về chẩn đoán họccủa Đông y Dựa vào “chứng” để suy ra “nguyên nhân” được xem là yếu tố quan trọng về nhận thức khoa học giữa
“hiện tượng” và “bản chất”
Phân chứng theo nguyên nhân gồm có 3 yếu tố:
a/ Chứng hậu do lục dâm:
Lục dâm bao gồm 6 nhân tố chính từ bên ngoài xâm nhập vào cơ thể sinh bệnh:
- Phong: Hiểu đơn giản là gió độc, chất độc Phong còn chia ra hai dạng: ngoại phong và nội phong Biểu tượng củanội phong gồm gió, khí mang theo mầm độc Nội phong bao gồm các triệu chứng đau nhức xương khớp, đau nhức
cơ gân, mẩn ngứa ngoài da, u nhọt hòn cục hay nốt đỏ nổi lấm tấm ngoài da, cơ mặt tê đau hay bị co giật méo lệch,tay chân co rút
- Hàn: là lạnh, gồm khí lạnh, nước lạnh, thời tiết lạnh, vật chất mang tính lạnh Hàn cũng chia ra hai dạng: ngoại hàn
và nội hàn Biểu tượng của ngoại hàn gồm sợ lạnh, phát sốt, đầu cổ đau, eo lưng xương sống cứng đơ, đau nhứctoàn thân Nội hàn bao gồm triệu chứng gân mạch co rút, tay chân co quắp, bụng đau, sôi ruột, nôn mửa, tiêu chảy
- Thử: là khí nóng, oi bức Nhẹ thì nặng đầu, ngực bức bối, sốt cao, miệng khát, tiểu tiện đỏ Nặng thì bất tỉnh, ngảlăn xuống đất, thở gấp
- Thấp: là ẩm ướt, kết dính, nhờn Chứng hậu gồm các hiện tượng cơ thể nặng nề, mỏi rủ, đau nhức xương khớp,bụng ọc ạch nhiều nước, ăn kém ngon, da nổi u nhọt vỡ nước vàng không chịu khô, sưng hai gối và hai mắt cáchân, ngứa gãi chảy nước trong
- Táo: là khô hanh, kiệt nước Chứng hậu gồm có sợ lạnh, đau đầu, ho, ngứa cổ họng, nghẹt mũi, đau cổ họng, khạcđàm có lẫn máu
- Hoả: là nóng, nhiệt nặng Chứng hậu gồm có sốt cao, phiền nhiệt, họng đau, miệng khát, mặt đỏ, mắt đỏ
- Giận: nội kinh nói: “giận hại gan” Giận quá khí nghịch làm cho đường trong máu gia tăng, sau đó thành toan hoá(acid-hoá) làm nhiễm độc thần kinh vận động nên phát sinh cơn co giật Trong Tam Quốc Chí của Tàu có truyện Chu
Du nước Ngô giận Gia Cát Khổng Minh nhà Thục đến nỗi ói máu mà chết Còn chuyện Lạng Tương Như giận quákhiến cho tóc lông dựng ngược chỉa cả ra ngoài mũ
- Lo: âu lo quá độ thì tình chí uất trầm, khí cơ bế tắc, tổn thương cho phế dẫn tới nguy hại cho cả tỳ Sách nói: “lo hạiphổi” Hậu quả của lo là khí đoản, ho nhiều đàm, tay chân yếu đuối, ăn kém, bụng trướng, tiêu lỏng, huyết tắc Trong
Đệ II thế chiến, hầu hết phụ nữ bị phát xít Đức bắt giam cầm đều bế kinh cả năm trời vì lo sợ Khi được thả ra, gầnnửa năm sau mới thấy kinh nguyệt trở lại Các bà mẹ lo toan thái quá cũng tắc luôn mạch sửa cho con bú
- Suy tư: suy tư, nghĩ ngợi nhiều là thương tổn tâm-tỳ Nội kinh nói: “nghĩ hại tỳ”, lại nói: “nghĩ thì tâm bị trói, thần bịcột, chánh khí tích tụ không tan cho nên khí kết mà không thư sướng” Nghĩ làm cho thần kinh thác loạn, hay quên,hay run sợ, hay nằm, mồ hôi trộn, ăn kém, hình thái suy thoái
- Buồn rầu: buồn thương quá thì hao khí, tổn thương tâm-phế, khiến cho thần sắc tiêu vong Nội kinh nói: “Buồn thìtâm thống, phế co rút, vinh vệ chướng ngại, nóng uất bên trong làm cho khí hao mòn” Chuyện kể rằng, sau năm
1975, nhiều gia đình Việt Nam cho con đi vượt biển bằng đường biển Khi hay tin con chết, một số bậc cha mẹ buồnđau khôn xiết, không buồn ăn uống, chẳng bao lâu thì lâm bệnh mà chết Lại những người ra được nước ngoài,buồn nhớ quê hương và gia đình, sức khoẻ ngày càng suy sụp rồi cũng chết
- Khủng sợ: khủng sợ hay e sợ quá mức thì khí hạ hãm, đi xuống, làm tổn thương tạn thận Nội kinh nói: “E sợ thìtinh mất, mà tinh mất thì thượng tiêu bế tắc Thượng tiêu bế tắc thì khí hạ hãm Khí hãm thì hạ tiêu trướng, khôngthông” Người mắc chứng khủng sợ thì hoảng loạn, giật thót từng cơn, ngoài thì muốn đóng cửa như đi trốn nhưngbên trong lại chao động không yên Có nhiều chiến binh ra mặt trận đánh giặc, vì quá sợ chết, khi trở về sụt mất10kg, bạch huyết cầu suy giảm đén 40%, tuyến nang thượng thận bị teo nhỏ lại
- Kinh hãi: nếu qua mức thì khí loạn, tâm thần bất định Nội kinh nói: “kinh hãi thì tâm vô sợ trụ, thần mất chỗ nươngtựa nên khí phải loạn vậy” Không hiếm những trường hợp vì sợ hãi thái quá mà phát sinh điên loạn, như tỉnh như
mê, nói năng loạn động Khí loạn thì huyết cũng chạy càn làm cho tóc của nhiều người trai trẻ bị bạc trắng như vôi.Trung y dẫn chứng một trường hợp là vào thời kỳ nổ ra cuộc chiến tranh Trung-Nhật, thành phố Nam Kinh bị Nhật
Trang 14oanh tạc bằng phi cơ suốt 24 giờ Viên chức lãnh đạo Nam Kinh chui vào núp trong một căn hầm, vì qua kinh hãi,ông ta cứ bò loạn khắp nơi Đến hôm sau tóc, lông mày bạc trắng như tuyết, người chung quanh không nhận ra.Nói về chứng hậu do nguyên nhân thất tình thường có quan hệ đến cá tính từng bệnh nhân, chịu ảnh hưởng bởinhiều hoàn cảnh và mức tác động khác nhau Ban đầu là thần chí tổn thương, lâu dần hệ luỵ đến tạng phủ: “mừngquá thương tâm, giận quá thương can, nghĩ ngợi quá thương tỳ, lo lắng quá thương phế, sợ hãi quá thương thận”.Hơn nửa, tạng phủ hoạt động dưới quy luật của ngũ hành, tức là qui luật tuơng sinh hay tương khắc Khi một tạngphủ bị bệnh sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều tạng phủ khác Thí dụ, uất giận thương can (gan và hệ thống tiêuhoá), can khí hoành nghịch, thì thấy hiện tượng mặt xanh như chàm do đởm (mật) tiết xuất quá nhiều hoặc đỏ nhưgấc vì tim bị kích thích đập nhanh bơm máu tối đa lên não, đồng thời bụng đầy tắt không ăn uống được do can mộckhắc tỳ thổ (giận cành hông) Một thí dụ khác, lo lắng quá thương phế (phổi và hệ thống hô hấp), phế bệnh sẽ làm tỳbệnh, vì phế là con của tỳ (theo qui luật tương sinh), bệnh của con lây sang cho mẹ…
- Thương tổn do mệt nhọc thái quá: làm việc quá sức, lâu ngày làm cho oải cơ, đau mỏi toàn thân, ăn uống giảm sút,ngủ không ngon giấc, cuối cùng là nguyên khí phi việt ra ngoài Bệnh nhẹ thì yếu liệt đi không vững, cảm nhiễmquanh năm, da thịt gầy róc trơ xương, già sớm Nặng thì suyễn thở, tâm run, khí huyết hao mòn, kháng thể cạn kiệt.Mỗi khi nhiễm bệnh thì trị liệu lâu lành, bệnh nhẹ hoá nặng, bệnh nặng khó thoát
- Thương tổn do phòng dục quá độ: theo đông y, muốn bảo thọ phải gìn giữ “Tinh-Khí-Thần” thật kiên cố Nếu tráctáng, dâm dục quá độ, tinh khí sẽ cạn kiệt Đây là đầu mối của nhiều chứng bệnh nội thương trầm trọng: hư tổn cơnhục, lao phổi, ho khạc ra máu tươi, sốt âm ỉ, mất ngủ, đổ mồ hôi trộm, liệt dương, tảo tiết, đi đứng không vững, kiệtsức rồi chết
- Thương tổn do ngoại vật: ngoại vật bao gồm những dụng cụ bén nhọn, tra tấn hay đánh đập, bị chấn thương sautai nạn, bị trùng thú cắn, không khí ô nhiễm, tiếp xúc với chất độc Một số trường hợp thương tổn do ngoại vật biếnthành bệnh mãn tính làm suy yếu hệ thống miễn nhiễm tạo điều kiện cho các bệnh nguy hiểm khác bộc phát amnhjhơn, đe doạ đến tính mạng người bệnh
Tóm lại, nguyên nhân gây ra ung thư không ngoài khí huyết hao mòn, thần khí suy kiệt, ngoại vật nhiễm vào lâu ngàylàm cho biến loạn nội thân, thành hình ổ bệnh Vì lúc đầu tăng trưởng âm thầm, không đau nhức nên người bệnhchẳng máy kưu tâm Lúc phát giác thì thường quá trễ, vô phương cứu chữa
3 Chẩn đoán bệnh ung thư:
Trung y chẩn đoán bệnh dựa theo hai phương pháp “bát cương” và “tứ chẩn”
Bát cương là tám cương lĩnh căn bản trong biện chứng, gồm có: “Hàn, nhiệt, hư, thực, biểu, lý, âm và dương” Vậndụng bát cương để phân tích, qui nạp chứng bệnh, cung cấp dữ liện cho khoa điều trị
- Phân tích “biểu, lý” để thẩm định bệnh nông hay sâu
- Phân tích “Hàn, nhiệt” để thẩm định tính chất bệnh lạnh hay nóng
- Phân tích “Hư, thực” để thẩm định sự thịnh suy của chính khí và tà khí
- Phân tích “Âm, dương” để thẩm định sự chuyển hoá về sinh lý cũng như bệnh lý
Tứ chẩn là bốn phương pháp chẩn đoán bệnh, gồm có: “Vọng, văn, vấn và thiết chẩn” Nguyên tắc chẩn đoán củaĐông y rất nghiêm ngặt, thực hiện đầy đủ bốn pháp trên mới có thể biết rõ nguồn gốc bệnh
- Vọng chẩn: là phép quan sát về thần sắc và hình thái Sách y nguyên, thiên “Vọng bệnh tu sát thần khíluận” nói: “Phàm thần khí con người hiện ra ở mặt Bất luận da mặt sắc gì đều phải có thần khí” Nội kinh, thiên “ngũtạng sinh thành” chứng minh: “xanh như cỏ úa là chết, vàng như quả chanh non rụng lâu ngày là chết, đen như khói
ám là chết, đỏ như máu là chết, trắng như xương khô là chết” Về hình thái bệnh, Vương khẳng Đường viết trongsách “Chứng thị chuẩn thằng” rằng: “Phàm người bệnh trăn trở dễ dàng thì dễ trị, nếu bất động hay xoay chuyểnnặng nề thì bệnh nguy Bệnh thuộc dương chứng thì mắt mở, chân tay hoà dịu, muốn có người trò chuyện, dễ chửa.Bệnh thuộc âm chứng thì mình mẩy nặng nề, tay chân lạnh, mắt luôn nhắm nghiền, mặt quay vào vách không muốntiếp ai, khó chữa” Đến như xem lưỡi cũng có thể đoán được sống chết Ngô khôn Yên trong “Thương hàn chỉchưởng” nói: “lưỡi co rụt, duỗi không quá hàm răng là thận đã bại, chết Lưỡi nổi bợn trắng từng mảng như hoa tuyết
là tỳ tuyệt, chết” Rêu lưỡi mà trắng trơn là bệnh ngoại cảm phong hàn, rêu vàng đậm có gai là nhiệt cực, rêu xámtrơn là hàn tà trực trúng âm kinh, rêu đen mục nát là tâm thận tuyệt, chết
- Văn chẩn: là phép nghe phát âm để chẩn đoán bệnh Nội kinh nói: “Ngũ tạng có ngũ âm ngũ thinh” Ngũ âm gồmcó: “Âm cung, âm thương, âm giốc, âm chuỷ, âm vũ” Ngũ thinh gồm có: “Hét, cười, ca, khóc, rên” Dựa theo 5 âm, 5thinh để quan sát sự biến động của 5 tạng theo luận lý sau đây:
+ Âm cung: giọng nói lớn mà hoà hoãn, lưỡi nằm khoảng giữa, biểu thị của nó là ca hát Nếu âm cung loạn động làbệnh ở tỳ
+ Âm thương: giọng nói nhẹ mà cứng, mồm thường há to, biểu thị của nó là khóc Nếu âm thương loạn động là bệnh
ở phế
Trang 15+ Âm giốc: giọng nói điều hoà mà thẳng, lưỡi thường rút vào trong, biểu thị của nó là quát nạt la hét Âm giốc màloạn động là bệnh ở gan.
+ Âm chuỷ: giọng nói hoà dịu mà dài, chót lưỡi thường duỗi thẳng đụng răng, biểu thị của nó là cười Âm chuỷ làmloạn động là bệnh ở tim
+ Âm vũ: giọng nói chìm trầm mà sâu, môi hướng lên mũi, biểu thị của nó là rên rỉ Âm vũ loạn động là bệnh ở thận
- Vấn chẩn: là phép hỏi han để chấn đoán bệnh Sách Y nguyên, thiên “vấn chứng cầu bệnh luận” nói: “bệnh tàngchứa bên trong, chứng thì hiện rõ ra ngoài Thầy thuốc hỏi, không phảilà hỏi chứng, mà nhờ chứng để tìm gốcbệnh” Tất cả những gì biết được, như ăn uống quá độ, ngủ nghỉ thất thường, buồn lo sợ giận, cuộc sống giàunghèo, có cảm thấy đau đớn gì không, đau nhức ở vị trí nào…Một người ăn ngọt, ăn mặn, nghiện thuốc lá, laothương, không hỏi kỹ thì làm sao mà biết được!
- Thiết chẩn: là phép xem mạch ở hai cổ tay để chẩn đoán bệnh Thực tế, thiết chẩn bao gồm hai thủ thuật: bắt mạch
và sờ nắn Thiết chẩn tuy là một trong tứ chẩn nhưng lại là bộ môn trọng yếu nhất, uyên thâm nhất và khó lãnh hộinhất trong đông học Do vậy, thiết chẩn được các thầy thuốc cổ truyền nghiên cứu và biên soạn thành sách riêng.+ Mạch tượng: với thầy thuốc đông y, mạch ở hai cổ tay bệnh nhân phản ánh vô số biểu thị đang diễn ra bên trong
cơ thể Tất cả nhịp đập mạnh yếu, dài ngắn, nông sâu của mạch gọi là mạch tượng Khí huyết vận hành ra sao, Âmdương thịnh suy như thế nào đều hiện lên mạch
Vương Thúc Hoà, một thầy thuốc nổi tiếng về mạch lý đời nhà Tần của Trung Quốc, định ra 27 mạch tượng, còn gọi
là đơn mạch, chia thành hai dạng: âm mạch và dương mạch Âm mạch gồm có 14 đơn mạch: trầm, trì, đại hoãn, hư,đảo, sắc, Tế, vi, nhu, nhược, tán, phục và kết Dương mạch gồm có 13 đơn mạch: phù, sác, xúc, động, khâu, khẩn,huyền, hồng, truờng, thực, hoạt, cách và lao Ngoài 27 đơn mạch, còn có 7 quái mạch (mạch lạ thường hay tuyệtmạch, tức mạch chết) nâng tổng số lên 34 đơn mạch cùng hằng chục mạch kép hay hợp mạch (tức có 2-3-4 đơnmạch đứng chung nhau trong một bệnh) tạo nên một mạng lưới mạch lý vô cùng phức tạp mà chỉ có những thầythuốc giàu kinh nghiệm mới phân biệt được
Sinh lực của mạch do khí huyết tạo ra KHí huyết thịnh thì mạch thịnh Khí huyết suy thì mạch suy Khí huyết hoà thìmạch bình Khí huyết loạn thì mạch bệnh Mạch vân hành được là nhờ “động khí” ở thận trước, chu lưu khôngngừng là nhờ “cốc khí” hay “vị khí” ở tỳ sau Thận thuộc thuỷ, Tỳ thuộc thổ, cho nên Đông học nói: “Thận là tiên thiêncòn tỳ là hậu thiên” Tiên thiên hậu thiên mà vững vàng thì trăm tuổi là chuyện thường
Muốn thiết chẩn đạt kết quả cao, người thầy thuốc phải nhớ bảy nguyên tắc cốt yếu gọi là “Thất chẩn pháp”, gồm:tĩnh tâm (im lặng, tập trung thần trí vào mạch), vong ngoại ý (gạt bỏ mọi suy nghĩ riêng tư), quân hô hấp (điều hoàhơi thở để đếm nhịp mạch), khinh án (đặt nhẹ 3 ngón tay lên 3 vị trí để nghe mạch ở phủ-tức phù án), bất kinh, bấttrọng án (ấn đầu ngón tay xuống khoảng cơ nhục để nghe mạch vị khí-tức trung án), trọng án (ấn mạnh đầu ngón tayxuống sát gân xương để nghe mạch ở tạng), sát mạch tức (tính số mạch đi lại, nhanh chậm, nhiều ít để đoán bệnh)
- Xúc chẩn: là pháp sờ nắm, tiếp cận với da để tìm bệnh Ung thư rất cần phương pháp xúc chẩn, như ung thư thựcquản, ung thư vú, ung thư gan, ban đầu không thấy triệu chứng đau đớn nhưng có xuất hiện khối u hoặc gò cứng khi
sờ tay lên mặt da
Tuy nhiên, các phương pháp chẩn đoán của Đông y học không thể nào chính xác bằng các phương pháp thựcnghiệm của y học hiện đại Thầy thuốc Đông y cần khai dụng ưu điểm của mỗi bên để y lý được chân xác
Y Học hiện đại:
Y học hiện đại giải thích, dược thảo (herbal medicine) là khoa học dùng cây cỏ làm thuốc để trị bệnh Một dược liệu
có thể dùng toàn cây hoặc chỉ dùng lá, hoa, thân cây, rễ, quả, vỏ, hạt hay bất cứ bộ phận nào có ích
- Bác sĩ John Diamond và W Lee Cowden Hoa Kỳ nhận định rằng đa số dược thảo (herbs, botanicals) có chứa ítnhiều hoá chất có năng lực tác động về mặt sinh vật học (biological activity) Trên 150 năm qua, các nhà hoá học vàdược học đã chiết xuất, tinh chế nhiều chất trong cây cỏ làm thuốc để sản xuất ra được dược liệu dưới tên gọi làthuốc (drugs, medicines) như: Digoxin, chiết xuất từ lá cây foxglove, tên khoa học Digitalis purpurea, để chửa bệnhtim mạch
Reserpine, chiết xuất từ rễ cây snakeroot, tên khoa học Rauwolfia serpentina, để trị cao huyết áp hay rối loạn tâmthần
Colchicine, chiết xuất từ củ autumn crocus, tên khoa học Colchicum autumnale, để trị bệnh thống phong hay bệnhgout và bệnh viêm khớp
Morphine, chiết xuất từ dựa cây thuốc phiện opium poppy, tên khoa học Papaver somniafera, dùng làm thuốc mê,
thuốc ngủ, giảm đau và chống kinh giật…
- Theo bác sĩ Andrew Weil, một thầy thuốc giỏi của Hoa Kỳ vừa là nhà nghiên cứu sâu rộng về Dược thảo với nhiềutác phẩm y khoa có giá trị hiện nay giải thích, những chất dẫn xuất trong dược thảo có ảnh hưởng tới sự tuần hoàncủa máu và đi vào các cơ quan theo một lộ trình gián tiếp, nghĩa là tác dụng của chúng thường chậm và ít nguy hạihơn các loại thuốc tinh chế trực tiếp đi vào máu hay cơ quan Các bác sĩ và bệnh nhân đã quen dùng những loạithuốc tổng hợp với tốc độ thẩm thấu nhanh, dữ dội, sẽ không có thiện cảm với dược thảo Thực tế, dược thảo làmthay đổi sức khoẻ, có hiệu lực trị lành nhiều bệnh mãn tính, ít nguy hiểm do phản ứng phụ (side effects) vốn là đặctrưng của Âu dược Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là dược thảo tác dụng chậm và vô hại nếu như sử dụng liềulượng không thích hợp
Cũng theo bác sĩ Andrew Weil, sau nhiều cuộc nghiên cứu phân tích dược thảo để xem chúng tác động như thế nào
về phương diện sinh lý học (physiology) trong cơ thể con người Kết quả, nhiều trường hợp cho thấy hoá chất hiện
Trang 16diện trong dược thảo có tác động giao hưởng (interactions) rất phức tạp giữa những cấu trúc khác nhau về chủngloại cây cỏ Riêng đối với bệnh ung thư, tác nhân dược thảo đạt tới năm nhu cầu chính:
Kích thích cơ chế DNA (deoxyribonucleic acid) sửa chữa hư hỏng
Sản sinh tác dụng chống oxy-hoá (antioxidant effects)
Thúc đẩy cảm ứng (induction) các enzymes phòng vệ
Ngăn chặn enzymes hoạt hoá-ung thư (cancer-activating enzymes)
Tạo tác dụng oxy-hoá (oxygenating effects)
- Theo tiến sĩ A Duke, khoa học gia thuộc cơ quan quản trị dược phẩm Hoa Kỳ cho biết, hơn 25% dược phẩm được
kê toa cho bệnh nhân và nhiều loại thuốc khác đang dùng hiện nay là những hoạt chất lấy từ cây cỏ có dược tính Ví
dụ, hai loại thuốc chống ung thư theo qui ước là vincristine sulfate và vinblastine sulfate gồm alkaloids chiết xuất từcây Madagascar periwinkle, tên khoa học Catharanthus roseus, nguyên là nhược thảo cổ truyền của dân cư vùngMadagascar Tại Việt Nam, cây nầy được xác định là cây dừa cạn hay trường xuân hoa Bộ phận rễ khô của hai loạinhược thảo khác là may-apple, tên khoa học Podophyllum hexandrum, dùng trị ung thư tinh hoàn (testicular cancer)ung thư buồng trứng (ovarian cancer), u bạch huyết (lymphomas), ung thư phổi (lung cancer) và vài loại bệnh bạchcầu (leukemia) được kết hợp với hoá học liệu pháp (chemotherapy)
- Trong cuốn “Cancer” phát hành năm 1997, một quyển sách y học chuyên về khoa ung thư của tác giả BurtonGoldberg với sự cộng tác của 23 vị bác sĩ, Tiến sĩ và bác sĩ dược khoa nổi tiếng Hoa Kỳ, có đề cập đến một sốphương pháp trị bệnh ung thư bằng dược thảo trên khắp thế giới đạt những thành tựu thật kỳ diệu Cuốn sách giớithiệu một số dược thảo có tác dụng kháng ung thư:
Betulinic acid: là một hoá chất được chuyển hoá từ hợp chất betulin, tìm thấy trong lớp vỏ trắng của cây birch, một
giống thông mọc rất nhiều ở vùng bắc bán cầu Betulinic acid phong toả sự phát triển của các u ác tính hay hắc sắc
tố ác tính (melanoma tumors) Thử nghiệm trên cơ thể của chuột, các nhà nghiên cứu ghi nhận chất Betulinic acidkhông làm hại tế bào bình thường Thử nghiệm trên tế bào ung thư của người, thấy hiệu ứng kháng lại ung thư phổi,ung thư bạch huyết và ung thư gan rất mạnh
Thuja tincture: là cồn thuốc chiết xuất chất thuja nằm trong cây Arbor vitae, tên khoa học Thuja occidentalis, còn gọi
là cây “nhân sinh” (Tree of Life) Tại Việt Nam, Arbor vitae được nhận diện là cây trắc bách diệp với tên khoa họcThuja orientalis, thuộc họ trắc bách Cupressaceae Chất Thuja được thừa nhận trị lành nhiều ca ung thư Một bà lão
86 tuổi, đã từng bị đau khổ 14 năm liền vì một khối u to bằng quả cam nằm trong vú bên phải Khối u nầy đã lan rộngtới hạch bạch huyết (lymph nodes) và nhiều bác sĩ khẳng định không mổ được vì ung thư vú dạng carcinoma ở vàothời kỳ thứ 3 thêm di căn bạch huyết (lymph metastases) Điều nầy đồng nghĩa với cái chết
Bà lão liền được cho uống thuốc tamoxifen, một loại chẹn hormone, đồng thời uống thêm dược liệu thuja tinh chế,liều 20 giọt, ngày 3 lần, và Echinacea 1viên, ngày 3 lần, cùng với vitamins và minerals Ngoài ra, bà ta còn đượcthoa kem Thuja lên khu vực bị bệnh và sau đó uống thêm comfrey, passionflower, sweet violet, cleavers vàchickweed Sau 1 tháng, hạch bạch huyết nguy hiểm tiêu mất, khối u trở nên mềm Sau 6 tháng kế tiếp, khối u conhỏ lại 25% và đúng 1 năm, khối u cũng như mọi dấu hiệu về ung thư hoàn toàn biến mất
Bromelain: là một hợp dịch (mixture) giữa chất proteases và nhiều enzymes khác chiếc xuất từ cây dứa và quả dứa
(dân miền nam Việt Nam gọi là trái thơm hay khóm), vốn là thuốc trị bệnh viêm nhiễm và rối loạn cơ thể từ nhiều thế
kỷ qua
Gần đây, các nhà khoa học dùng Bromelain trị ung thư đường ruột nhờ có những khả năng khác nhau trên ba tuyến
tế bào bạch cầu Bromelain kích thích tế bào bạch cầu đơn nhân to (monocyte cell) và tế bào đại thực bào(macrophage cell) –là loại tế bào chuyên diệt thù- thiết lập hàng rào phòng vệ kháng lại ung thư, ngăn chặn khôngcho tế bào ung thư phát triển Theo báo cáo khoa học, khi Bromelain được kết hợp với phương pháp hoá liệu pháp(chemotherapy) để trị ung thư thì thấy hiệu quả cao nhất, đặc biệt là ung thư trực tràng (rectal cancer)
Phenol: là chất hoá học chống oxy hoá (antioxidants) chiết xuất từ cây bạc hà (mint) Mint gồm nhiều chủng loại,
nhiều tên gọi khác nhau: Mint, tên khoa học Mentha piperita thấy mọc ở Châu Âu và vùng miền Đông Châu Mỹ vớicái tên gọi Peppermint, Brandy mint, Lamb mint Loại Mint, tên khoa học Mentha spicata, tìm thấy trên khắp thế giới
ở những khu vực có khí hậu ẩm ướt với tên gọi Spearmint, lamb mint, mint, Our Lady’s mint, sage of Bethlehem.Loại Mint, tên khoa học Mentha crispa, được dân Châu Âu và Bắc Mỹ trồng làm kiểng với tên gọi Curled mint,crisped-leaved mint, cross mint Nói chung, trong các giống Mint đều chứa tinh dầu
Hợp chất chống oxy hoá Phenol có tác dụng mạnh hơn vitamin E, giúp ngăn cản khối u tái phát nhờ chất rosmarinicacid được tìm thấy với mức độ cao trong hầu hết các giống bạc hà Chất rosmarinic acid cũng còn tìm thấy trongdược thảo wild selfheal, tên khoa học Prunella vulgaris, mọc ở Châu Mỹ và Trung Quốc Nó chính là cây Hạ khô thảocủa Việt Nam
Centella: là một chất giàu dinh dưỡng, chiết xuất từ cây Gotu Kola, tên khoa học Centella asiatica hoặc Trisanthuscochinchinensis, thuộc họ Hoa tán Apiaseae Tại Việt Nam Gotu kola được nhận diện là cây rau má hay tích tuyếtthảo Chất Centella trong cây Gotu kola có năng lực trung hoà và tiêu huỷ độc tố (toxins), cải thiện chức năng tinhthần giúp người bệnh đương đầu và ngăn chặn sự hư hoại về tinh thần Các khoa học gia thuộc trung tâm AmalaCancer Research Center tại Kerala Ấn Độ khám phá thấy Gotu Kola có khả năng tẩy rửa tế bào ung thư rất mạnhnhờ hoạt chất centella
Perillyl: là tinh dầu chiết xuất từ hoa của cây Lavender, tên khoa học Lavandula officinalis hay Lavandula
angustifolia, thuộc họ Hoa môi Lamiaceae Cây nầy mọc nhiều nhất ở Châu Âu, Châu Mỹ và miền tây Địa Trung Hải,không thấy xuất hiện tại Việt Nam Dầu hoa Lavender gồm thành phần chất cồn perillyl, có tác dụng kháng ung thư
Trang 17nhất là ung thư vú Qua nhiều cuộc thí nghiệm ghi nhận cồn perillyl chận đứng việc tăng trưởng của khối u nhờ chẹnđược gene tạo ra ung thư, thuật ngữ y học gọi là oncogene.
Bee pollen: là phấn hoa thu được từ tổ ong mật (honeybees) Pollen vốn là tế bào sinh lý của nam giới tìm thấy
trong các loài hoa, được ong thu nhặt mang về luyện thành mật Người ta gọi phấn ong mật là thực phẩm trời cho vì
nó gồm đầy đủ tính chất một cách tự nhiên
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy trong phấn hoa chứa tới 22 amino acids, 27 chất khoáng (minerals), nhiều vitamins,carbohydrates phức hợp, các acid béo (fatty acids) cần thiết, enzymes và co-enzymes, protein cao gấp 5-7 lần thịt
bò Theo tạp chí Journal of the National Cancer Institute Hoa Kỳ tiết lộ, gia súc được nuôi bằng phấn hoa của ong ít
bị u bướu và ung thư hơn nuôi với thực phẩm thông thường Cuộc nghiên cứu phổ biến trên tờ Nature báo cáo rằng,
có hai lô chuột tiêm tế bào gây ung thư Lô thứ nhất cho ăn mật hoa do ong cung cấp thì cả thảy đều sống trên 12tháng, trong khi lô thứ hai cho ăn bình thường thì chúng chết hết không quá 12 ngày
Qua thử nghiệm trên cơ thể nhiều phụ nữ bị ung thư tử cung không mổ được, cho họ dùng phấn hoa thì thấy hệthống miễn nhiễm rất mạnh và giảm hẳn chứng buồn nôn, rụng tóc, mệt mỏi so với nhóm người chỉ cho dùng thuốcgiả tạo (placebo) Nhiều cuộc nghiên cứu tương tự cũng báo cáo những bệnh nhân trị liệu bằng tia phóng xạ(radiation) cho dùng thêm phấn hoa thì sức khoẻ tốt hơn là không dùng Tại Nga, nhiều nhà nuôi ong mật sống trên
100 tuổi nhờ ăn mật ong tươi hằng ngày Các nhà khoa học phương Tây cho rằng tuổi thọ gia tăng là vì nguồn phấnhoa rất dồi dào nằm trong mật ong tươi
Phấn hoa còn có giá trị làm giảm mập phì (obesity) do tác động trao đổi chất xuyên qua amino acid phenylalanine,tạo năng lượng đốt những thành phần thặng dư giúp ngăn chặn sự tăng cân, tăng sức cho các lực sĩ thi tài, điềuchỉnh tình trạng bị tiêu chảy hay táo bón, tăng lưu lượng máu, giải độc rượu, thuốc lá, dược phẩm, hoá chất, giảmtác dụng phụ do dùng tia phóng xạ trị bệnh, bảo vệ da chống những tác nhân lây nhiễm giúp kích thích sinh sản tếbào da mới
Phẩm chất trên cả phấn hoa và mật ong là sửa ong chúa (royal jelly), chính xác là một loại dịch nhũ giống như sữa,
do nhóm ong thợ tiết ra để làm thực phẩm nuôi dưỡng ong chúa trong suốt thời gian sinh sản
Sữa ong chúa là một nhà máy điện (powerhouse) cung cấp dồi dào nguồn năng lượng về vitamins B, calcium, iron,potassium và silicon thiên nhiên
Sữa ong chúa còn đảm nhiệm luôn vai trò chuyển hoá enzyme, kích thích tố dục tình (sex hormone) và có tất cả 8amino acid cần thiết cho sự sống của sinh vật
Mặt khác, sữa ong chúa lại là một loại thuốc kháng sinh (antibiotic), kích thích phản vệ, miễn nhiễm, cung ứng nguồndinh dưỡng cao cấp khi sức khoẻ và tinh thần bị đe doạ hoặc suy thoái, bảo trợ cho tế bào được sống lâu dài hơnbình thường
Nhiều nhà nghiên cứu nhận xét, sữa ong chúa là một trong những nguồn dồi dào nhất trên thế giới về pantothenicacid, là chất tuyệt vời chống lại chứng căng thẳng thần kinh (stress), chứng mệt mỏi kinh niên và chứng mất ngủ(insomnia) Tình trạng hói đầu, rụng tóc, tóc bạc sớm, da khô, da nhăn cũng sẽ nhanh chóng được cải thiện với sữaong chúa Phụ nữ kinh nguyệt bị rối loạn, nam giới bị viêm sinh nhiếp hộ tuyến, sữa ong chúa có năng lực điều chỉnh
và cân bằng tuyến và hormone trở lại không mấy khó khăn Tuy nhiên, chất lượng cao nhất của sữa ong chúa phảiđược bảo quản trong điều kiện nguyên sơ, tươi “còn sống – alive” thì cơ thể mới dễ dàng hấp thụ được Mỗi ngàychỉ cần một giọt nhỏ sữa ong chúa là đầy đủ chất dinh dưỡng rồi
Pear barley: là lúa mạch, tên khoa học Hordeum vulgare hoặc Hordeum distichon, thuộc họ lúa Graminaceae Lúa
mạch là một loại ngũ cốc, có mặt trên khắp thế giới, riêng tại Việt Nam không thấy gieo trồng giống nầy Lúa mạchđem ngâm nước cho nẩy mầm rồi phơi khô để dùng làm thuốc gọi là mạch nha Việt Nam dùng lúa nếp thay chomạch nên gọi là cốc nha, công dụng tương đương
Trong hạt lúa mạch chứa nhiều chất dinh dưỡng: vitamins B và E, polysaccharides, proteins, sugars, fats Lúc cònnon, trong lúa mạch có thêm chất amines tyramine và gramine Các cuộc nghiên cứu cho thấy lúa mạch ngoài tácdụng làm tiêu hoá chất sữa, giúp trẻ con ngăn ngừa được tình trạng thức ăn vón cục (curds) trong dạ dày, viêmđường ruột, tiêu chảy và sốt, còn có nhiều khả năng hoá đàm, giảm viêm tấy do bệnh thoái khớp (gout) và đườngtiểu, làm thuốc trị chứng sưng đau cổ họng, nuốt khó Một số nhà nghiên cứu Trung Quốc xác định mạch nha có khảnăng trị bệnh viêm gan siêu vi (hepatitis), bệnh tiểu đường (diabetes), giảm cholesterol huyết và ngăn chặn ung thưruột (bowel cancer)
Reishi mushroom: là vị Linh chi thảo của Trung Y, còn gọi là nấm linh chi, nấm trường thọ hay nấm thần tiên, tên
khoa học Ganoderma lucidum, thuộc họ nấm gỗ Ganoderma- taceae Theo bác sĩ James F Balch Hoa Kỳ, reishimushroom có khả năng điều chỉnh nhiều sự rối loạn khác nhau trong cơ thể, nâng cao sức sống cho các cơ quan.Còn tiến sĩ Linda Page Hoa Kỳ xếp reishi musroom vào hàng thuốc bổ cao cấp nhất giúp gia tăng tuổi thọ nhờ côngnăng chống gốc tự do (free radical) và là chất chống oxy-hoá mạnh, nâng cao hệ miễn nhiễm Thực tế, reishimushroom giúp làm giảm huyết áp trong chứng cao máu (high blood presssure), bệnh tim mạch, làm hạ cholesterol
và triglycerides huyết, tạo sức đề kháng chống bệnh tật, chống mệt mỏi, chống nhiễm trùng (viral infections), suy gan
do nhiễm độc, viêm gan viruses (hepatitis), viêm cuống phổi Đặc biệt, reishi mushroom có tác dụng kháng u bướu,ung thư biểu bì (carcinoma) nên được dùng để trị nhiều loại bệnh ung thư khác
Trung y khám phá ra Linh chi thảo (reishi mushroom) cách đây hơn 2000 năm, được chia thành 6 loại dựa theo màusắc và công dụng: 1-Thanh chi màu xanh 2-Hồng chi hay xích chi, đơn chi màu đỏ hồng 3-Hoàng chi hay kim chimàu vàng 4-Bạch chi hay ngọc chi màu trắng 5-Hắc chi hay huyền chi màu đen 6-Tử chi màu tím Các loại nấm gỗnầy thường thấy mọc hoang ở những vùng núi cao và lạnh, nhiều nhất tại tỉnh Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây
Trang 18Trung Quốc Nhật Bản và Việt Nam có di thực nấm Linh chi để trồng làm thuốc nhưng mẫu gỗ và phẩm chất khôngcao bằng ở Trung Quốc Về thành phần hoá học, nhiều viện nghiên cứu Trung Quốc ghi nhận, trong Linh chi thảochứa lignin, phenol, cellulose, fat, hợp chất steroid, ergosterol, amine acid, proteins, saponin Đặc biệt, hàm lượnggermanium –là chất bổ trợ giúp tế bào hấp thụ oxygen nhiều hơn, thúc đẩy khí huyết lưu thông tốt hơn- hiện diệntrong cả 6 loại linh chi thảo đều cao gấp 5-8 lần lượng germanium có trong nhân sâm Các nhà khoa học cũng thấyhoạt chất ganoderic acid trong linh chi thảo có tác dụng chống viêm, dị ứng Quan trọng nhất là lượng polysaccharintrong linh chi thảo rất cao, giúp tăng cường sự miễn nhiễm, làm mạnh tế bào gan, có khả năng ức chế và tiêu diệt tếbào ung thư.
Gần đây, nhiều bác sĩ Trung Quốc sau khi thử dùng linh chi thảo tại một số bệnh viện, đưa ra kết luận: Linh chi thảo
có ảnh hưởng tốt đối với bệnh tim mạch, giảm đau thắt cơ tim, ngừa bệnh mạch vành, cân bằng huyết áp, viêm phếquản, hen suyễn, thấp khớp, viêm gan mãn tính, chứng rối loạn vào thời kỳ mãn kinh, bệnh đường ruột, tăng thêm trínhớ và nhiều chứng bệnh khác Cho nên, dân vùng Châu Á gọi linh chi thảo là nấm thần tiên, trị được bá bệnh
Shiitake mushroom: là một loại nấm hương đặc biệt, tên khoa học Lentinula edodes, thấy mọc nhiều ở nước Nhật
và Trung Quốc Về dược tính, nấm Shiitake mushroom có khả năng trị bệnh như nấm reishi mushroom, nhưng quanghiên cứu sau rộng cho thấy Shiitake mushroom còn có nhiều tác dụng kháng nguyên rất mạnh
Các nhà khoa học khám phá hai hợp chất lentinan và lentinula edodes mycelium (LEM) trong nấm Shiitake có khảnăng kháng u bướu mạnh Năng lực của hai chất nầy hoạt động tương tự như năng lực tự nhiên trong cơ thể conngười, nghĩa là bài tiết hơn là tấn công tế bào khối u Tại Nhật, một số bệnh nhân bị ung thư trị bằng hoá liệu pháp(chemotherapy) được tiêm lentinan 2 lần/tuần thì các nhà nghiên cứu thấy tỷ lệ bệnh nhân còn sống khá cao, khối uphát triển chậm lại so với những bệnh nhân chỉ dùng hoá liệu pháp Hiện nay, Shiitake được dùng ở dạng tinh chế
để trị ung thư, nhờ tác dụng làm tiêu mòn dần khối u (tumors)
Nấm Shiitake có tác dụng hết sức kỳ diệu trong việc trị những trường hợp liên quan đến bệnh già sớm, loạn chứcnăng sinh lý (sexual dysfunction), viêm gan (hepatitis) và hội chứng mệt mỏi kinh niên (chronic fatigue syndrome).Trải qua hằng nghìn năm kinh nghiệm, Shiitake chẳng những được dân Nhật và Trung Quốc coi như loại thực phẩmquý mà còn dùng làm thuốc trị vi khuẩn, siêu vi trùng, giúp làm giảm mức cholesterol huyết, cao huyết áp, nâng cao
hệ thống miễn dịch bằng cách sản xuất chất interferon nội môi Đối với bệnh liệt kháng do nhiễm siêu vi HIV/AIDS,chất LEM cũng có tác dụng ngăn chặn mức lây nhiễm siêu vi HIV tốt hơn AZT là loại thuốc thông dụng trị bệnh AIDShiện nay Theo dõi trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học ghi nhận LEM có khả năng phong toả nhanh tình trạng
bị viêm nhiễm siêu vi HIV giai đoạn khởi đầu trong khi thuốc AZT lại phản ứng chậm hơn, trở nên kém hiệu quả hơn
về lâu dài
Calendula:còn có nhiều tên khác như garden marigold, holigold, marigold, Mary bud, pot marigold, tên khoa học
Calendula officinalis, thuộc họ Cúc Asteraceae Calendula thuộc loại cây thảo, mọc thành bụi, cao từ 1-2 feet, lá hìnhmuỗng, mọc so le, không cuống Hoa màu vàng cam, nhiều cánh, nhiều tầng xếp lên nhau như hoa cúc, giữa cónhuỵ màu gạch nung
Calendula có nguồn gốc ở Ai Cập, một số quốc gia miền Đông Địa Trung Hải và miền Nam Châu Âu, nhưng naythấy xuất hiện cả ở Hoa Kỳ và Canada, là một loại dược thảo của phương Tây
Liều dùng: dạng nấu trà: 1-2 muỗng canh bột hoa tươi hay khô với nửa ly nước, đun sôi chừng vài phút, ngày 2 lần.Dạng cồn thuốc: 30 giọt pha với nước, ngày 3 lần Bên ngoài thoa thêm kem hoặc cao mỡ
Thyme: là loại cây bụi, cao khoảng 3 feet Có 2 giống: Garden Thyme hay common thyme, rubbed thyme, thymi
herba và timo, tên khoa học thymus vulgaris, thuộc họ hoa môi Lamiaceae Giống thứ hai Mother of Thyme haycreeping Thyme, mountain Thyme, wild Thyme, tên khoa học thymus serpyllum, cũng thuộc họ hoa môi Lamiaceae.Thyme mà chúng ta đang tìm hiểu ở đây là giống Mother of Thyme hay wild Thyme
Mother of Thyme là dược thảo có nguồn gốc ở Châu Âu, mọc hoang dã và trồng nhiều nhất ở Tây Ban Nha và Y ĐạiLợi Hiện nay Mother of Thyme cũng thấy xuất hiện ở Bắc Châu Mỹ
Mô tả: Mother of Thyme, thân nhỏ hơn giống garden thyme nhưng có hai đặc trưng chung là lá và hoa mọc theo kiểuhình vuông và cuống lá có lông, mỗi thân cây chia thành 2-3 nhánh, lá nhọn và cứng, hoa màu tím hoa cà và cũngnhỏ hơn giống garden thyme
Bộ phận dùng làm thuốc: hoa
Thành phần hoá học: volatile oil gồm thymol, carvacrol và linalool, flavonoids, caffeic acid, tannins và resin
Tác dụng: là chất khử trùng, thuốc bổ dưỡng, làm giảm co thắt cơ, thuốc long đàm, tẩy ký sinh trùng đường ruột,chống oxy-hoá, diệt nấm Thực tế, Mother of Thyme được các thầy thuốc cổ truyền Châu Âu dùng để trị nhiều bệnhviêm nhiễm ngoài da, coi như thuốc sát trùng và làm lành vết thương sưng tấy hay ung loét Uống Mother of Thyme
Trang 19để trị cảm lạnh, cảm cúm, viêm cổ họng, ho khò khè, viêm phế quản, suyễn, nghẹt mũi, viêm xoang mũi, tai ù, đaubụng, đầy gas, bệnh viêm vú, xổ lãi cho trẻ con.
Liều dùng: dạng thô, 1-2 muỗng canh bột thuốc ngâm trong một ly nước sôi chừng 15 phút, ngày 1-2 lần Trườnghợp dạ dày nhiều gas, nên pha thêm mật ong Dạng sirup: 20ml ngày 3 lần Nếu là cồn thuốc: 40 giọt, ngày 2-3 lần.Chinese cucumber: tên khoa học Trichosantheo kirilowii thuộc họ bí Cucurbita-ceae Đông y nhận diện Chinesecucumber chính là vị qua lâu nhân hay Quát lâu nhân bên Đông dược
Qua lâu nhân là hạt của nhiều loại Qua lâu mọc rải rác ở các quốc gia vùng Á Châu Thái Bình Dương, nhiều nhất tạiTrung Quốc Qua lâu vốn là loại dây leo như bầu, bí, lá to mọc so le, hoa màu trắng, quả to hình chuỳ và bên trongchứa rất nhiều hạt được dùng làm thuốc
Thành phần hoá học trong hạt Qua lâu chứa 25-26% chất dầu, trong đó tỷ lệ acid béo chiếm tới hơn 96%
Tác dụng: thanh nhiệt, hoá đàm, nhuận phế Trị ho, táo bón kinh niên, viêm phổi, đau dạ dày, viêm đường ruột Theonhiều khảo sát gần đây, một số nhà nghiên cứu ghi nhận hạt qua lâu có khả năng kháng ung thư phổi, ung bướutrong thành vú, viêm và ung thư ruột già
Liều dùng: 12-16g ở dạng thuốc nấu, kết hợp với nhiều vị thuốc khác
Stinging nettle: còn nhiều tên khác như: nettle, common nettle, common Stinging nettle, great Stinging nettle,Stinging nettle Tên khoa học Urtica dioica, thuộc họ Gai Urticaceae
Mô tả: nettle là loại rau xanh, ăn được Nettle có nguồn gốc ở Châu Âu, nhưng hiện nay thấy xuất hiện khắp thế giới,
kể cả tại Hoa Kỳ (Tiểu bang Colorado, Missouri, South Carolina) và Canada Nettle là loại cây cỏ sống quanh năm, lámọc đối từng cặp, rìa lá có răng cưa giống như lá cây gai ở Việt Nam
Bộ phận dùng làm thuốc: toàn cây
Thành phần hoá học: phần lá và thân chứa Flavonoids chủ yếu là quercitin, amines gồm histamine, choline,acetylcholine, serotonin, glucoquinone, nhiều chất khoáng gồm calcium, potassium, silicic acid, iron Phần rễ chứahợp chất sterols gồm stigmast và stigmasterol, phenols
Tác dụng: làm thuốc bổ thuốc lợi tiểu, làm se da, ngăn ngừa bệnh trĩ, chống dị ứng, làm giảm sưng nhiếp hộ tuyếnkhi dùng rễ, chống nhiễm trùng Qua nghiên cứu tại nước Đức, lá Nettle có khả năng kháng nhiễm trùng Dân chúngĐức dùng 50g lá Nettle mỗi ngày để trị viêm khớp thì thấy dịu ngay trịu chứng đau đớn Cũng qua nghiên cứu, cácnhà khoa học Hoa Kỳ, Đức và Nhật Bản ghi nhận rễ Nettle có tác dụng mạnh trong việc trị sưng nhiếp hộ tuyến Kếtquả nầy cho phép sử dụng Nettle để trị một số ung thư, như ung thư nhiếp hộ tuyến, ung thư ruột già
Liều dùng: dạng capsule 100mg, ngày 3 lần, mỗi lần 1 viên Dùng lá khô, liều 200ml, ngày 1 lần Dạng cồn thuốc, 1muỗng canh pha với nửa ly nước, ngày 2 lần
Algae: là hải tảo, rau mã vĩ hay rong biển trong Đông y dược Nó còn có nhiều tên khác tuỳ theo loài: Kelp, agar,brown Algae, horsetail, sea girdles, seaweed, sugar wrack, tangleweed, laminaria; tên khoa học Sargassum, HerbaSargassi, Laminaria digitata, Laminaria japonica, Laminaria saccharina, Macrocystis pyrifera đều thuộc họ Rong mơSargassaceae Đặc biệt, loài tảo Gelidium amansii và Gelidium cartilagineum sống tại bờ biển Thái Bình Dương vàBắc Mỹ Châu lại thuộc họ Rhodophyceae
Hải tảo hay rong biển bao gồm nhiều chủng loại, nhiều màu sắc, nhiều cấu trúc và thành phần hoá học khác nhau,nhưng vốn là nguồn thực phẩm cực quý của loài người mà các nhà dinh dưỡng học mệnh danh là loại “thịt xanh”.Rong biển có loài mọc thành bụi ngắn dưới 50cm, có loài mọc dài hơn 1 mét, thân gồm nhiều phiến lá dẹt có nhữngtúi nhỏ chứa đầy không khí để giữ cho thân đứng thẳng trong nước biển Rong biển thường kết thành mảng, trảirộng cả 10-20 km, bám vào những tảng đá ngầm dọc theo bờ biển, nhiều nhất ở Trung Quốc và Nhật Bản, Mexico,California và vùng Nam Phi Châu
Bộ phận dùng làm thuốc: toàn thân
Thành phần hoá học: rất giàu iodine, lipid, protein, alginic acid, polysaccarides, agaropectin nhiều đến 90%
Tác dụng: có khả năng làm hạ huyết áp, giảm mập phì, giảm đâu trong bệnh thấp khớp Qua nhiều cuộc nghiên cứu,các nhà khoa học nghiên cứu ghi nhận rong biển có tác dụng làm long đàm, làm mềm khối rắn, đã dùng trị u bướu(tumors) và ung thư vú (breast cancer) thì thấy kết quả rất khích lệ
Trong những năm gần đây, có hai loài tảo biển tên Chlorella và Spirulina được Nhật Bản và Hoa Kỳ khai thác bán rathị trường rất mạnh, hằng năm tiêu thụ trên 6500 tấn
Tảo Chlorella: có màu xanh thẫm như nước biển, được cấu tạo dưới dạng đơn bào (unicellular) Nhờ cấu trúc đặcbiệt nầy, tảo Chlorella và Spirulina hội đủ tính chất cấu tạo của tất cả cây thực vật hữu cơ nên còn gọi là tảo vi lượngxanh (green mocro-alga) Tảo vi lượng Chlorella tập trung hầu hết chất dinh dưỡng thiên nhiên mà không cần dungnạp quá nhiều về khối lượng Điều nầy có nghĩa chỉ cần ăn một ít tảo Chlorella là bằng ăn hằng trăm gram thịt bòhay các loại thực phẩm khác có cùng lượng chất bổ dưỡng ngang nhau Xem bảng phân tích đối chiếu dưới đây,chúng ta có quyền xác định nguồn lương thực siêu dinh dưỡng chính là loại “thịt xanh” thay vì “thịt đỏ”
Bảng phân tích nguyên tố Chlorella (100 grams)
· Phân tích tổng quát:
- Độ ẩm: (Moisture) 3.6%
- Protein thô (Crude protein) 60.5%
- Chất béo thô (Crude fat) 11.0
- Chất đường bột (carbohydrate) 20.1%
- Chất sợi thô (Crude fiber) 0.2%
- Chất tro thô (Crude ash) 4.6%
Trang 20- Nhiệt lượng (Calorie) 421 cal.
- Mỡ bảo hoà (Saturated) 18.2%
- Mỡ không bảo hoà (Unsaturated) 81.8%
(Ghi chú: bảng phân tích nầy trích dẫn từ sách Chlorella – The Emerald Food của tiến sĩ Dhyana Bewicke, ấnbản 1984, Ronin Publishing, Berkeley-CA)
Tảo Spirulina: có tên đầy đủ là Spirulina Platensis, thuộc họ Tảo lam Cyano-phyceae, mọc nhiều ở vùng bờbiển Châu Phi và Châu Mỹ La Tinh Tảo Spirulina hiện diện trên bề mặt trái đất cách đây hơn 3 tỷ 500 triệu năm,hình thể có dạng xoắn lò xo, dài 1/4mm, màu xanh lam, mắt thường khó thấy rõ Tảo sống trong môi trường có độkiềm pH cao, nhiệt độ thích hợp từ 35-36 độ C, tốc độ sinh trưởng rất nhanh Mỗi hecta, hàng năm có thể thu hoạchđến 39-45 tấn protein Nhiều nhà nghiên cứu khoa học gọi tảo Spirulina là nguồn thực phẩm của tương lai
Tảo Spirulina rất giàu nguồn dinh dưỡng Mỗi kg tảo khô chứa từ 60-70% chất đạm (protein), cao gấp 2 lầnđạm trong sữa bột, cao gấp 3 lần thịt bò (chỉ có 22% đạm), cao gấp 3 lần thịt gà (chỉ có 24% đạm), gấp 20 lần sửatươi (chỉ có 3.5% đạm) Tảo Spirulina chứa nhiều loại amine acid cần thiết cho cơ thể, vì cơ thể không tự tổng hợpđược chất amine acid, nên phải bổ sung từ thực phẩm bên ngoài Tảo Spirulina dồi dào nguồn vitamin, đặc biệt là
Trang 21vitamin B12, cao gấp đôi gan bò Hàm lượng linolenic acid và vitamin E rất cao, 2 chất quan trọng trong việc chốngvữa xơ động mạch bảo vệ tế bào thần kinh và gan.
So với cà rốt, lượng beta-carotene trong tảo Spirulina cao gấp 10 lần, giúp ngăn ngừa bệnh ung thư, chốnglão hoá, giảm nguy cơ bệnh tim mạch, phòng và trị bệnh khô giác mạc Sắc tố xanh lam trong tảo Spirulina còn kíchthích hệ miễn nhiễm, ngăn ngừa tế bào ung thư phát triển, làm tăng lượng sữa cho con bú Dùng tảo Spirulina có lợicho những ai bị bệnh tiểu đường, viêm gan, xơ gan, viêm tuỵ tạng, mắt kém, loét dạ dày, chứng mập phì Uống 1-2muỗng canh bột Spirulina 2 giờ trước mỗi bữa ăn, người mập phì sẽ không cảm thấy đói bụng, đảm bảo đủ chấtdinh dưỡng và sụt cân tự nhiên
Về hình dạng, tảo Spirulina giống như tảo Chlorella, nhưng về cấu trúc có nhiều đặc tính khác nhau Dưới đây
là những dị biệt chính:
Tảo Chlorella Tảo Spirulina
- Cấu tạo: dạng đơn bào - Cấu tạo: dạng đa bào
- Thuộc lớp: Chlorophyceae và - Thuộc lớp: Cyanophyceae và
Chlorococales order Nostocales order
- Nhân: có nhân tế bào - Nhân: không có nhân tế bào
- Kích thước nhân: 3-8 microns - Kích thước nhân: to hơn 100 lần
- Sản xuất: Chlorophyll a-b - Sản xuất: Chlorophyll a-b
B-carotene B-carotene và Phycocyanin
- Cung cấp: Iron ++ - Cung cấp: Iron ++
Aloe vera: là cây nha đam, lô hội hay hổ thiệt của Việt Nam Có khoảng 275 loài Aloe vera khác nhau nhưng
chỉ có 3-4 loài được khai thác mạnh nhất Tại các nước Âu Mỹ, cây nha đam được gọi bằng nhiều tên: Aloe, Aloevera, Aloe barbadensis, barbados aloe, burn plant, cape aloe, Curacao aloe, elephant’s gall, first-aid plant, hsiang-dan, lily of the desert, lu-hui, medicine plant, miracle plant, plant of immortality, socotrine aloe, Venezuela aloe,Zanzibar aloe Tên khoa học Aloe vera barbadensis, Aloe vulgaris hybrids, Aloe africana, Aloe ferox, Aloe perryi vàAloe spicata, thuộc họ hành tỏi Liliaceae
Mô tả: cây nha đam có nguồn gốc tại các quốc gia miền Đông và Nam Châu Phi (Africa) nhưng cũng thấy mọchoang dã và nuôi trồng rộng rãi ở nhiều quốc gia vùng nhiệt đới như Ấn Độ, Trung Quốc, ở cả Bắc Trung Nam MỹChâu, Tây Ban Nha Tại Việt Nam, nha đam tập trung nhiều nhất ở Nha Trang, Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết dọctheo bờ biển Dược sĩ Perrier của Pháp, sau nhiều năm phân tích các loài aloe vera đã kết luận rằng, nha đam củaViệt Nam có phẩm chất tốt nhất
Trang 22Nha đam mọc thành bụi, cao khoảng 30-50cm, thân ngắn hoá gỗ, lá không cuống mọc thành vành áp sátnhau, phiến lá màu xanh lục, trên mặt lá có điểm vô số đốm trắng, mép lá có nhiều gai thưa và cứng, bên trong phiến
lá mập dày có chứa một loại dịch lỏng trong suốt, hoa màu vàng cam hay vàng xanh mọc thành chùm dọc theo mộtcành đơn độc
Bộ phận dùng làm thuốc: nhựa cây, đúng hơn là nhựa trong phiến lá
Thành phần hoá học: Anthraquinones, chủ yếu là hoạt chất aloin và aloe-emodin, resins, tannins, polysaccharides,aloectin B Theo bác sĩ Martin C Robson, William Hagstrom Jr và tiến sĩ John P Heggers thuộc trường Đại họcChicago Hoa Kỳ cho biết, trong aloe vera có hai thành phần: chất vô cơ (inorganic substances) gồm sodium,
potassium, chloride, calcium và phosphorus Chất hữu cơ (organic compounds) gồm glucose, protein, cholesterol,
triglycerides, salicylic acid, chút ít magnesium và zinc Riêng protein trong aloe vera có tới 18-20 amino acids tìmthấy trong cơ thể con người Về nguồn vitamin cũng dồi dào, nào VitaminA, B1, b2, b6, C,E
Tác dụng:Chữa lành vết thương, giúp làm dịu đau, kích thích tăng tiết mật, nhuận trường Trên thực tế nhựa cây nha
đam được điều chế, tổng hợp thành hàng nghìn loại sản phẩm khác nhau trong công nghiệp chế mỹ phẩm, thựcphẩm và thuốc trị bệnh hết sức đa dạng
Về mặt trị bệnh: Nhiều cuộc nghiên cứu sâu rộng vào năm 1930 tại Hoa Kỳ và Nga Sô, ghi nhận chất keo trong suốtcủa cây nha đam có khả năng làm lành vết thương như viêm loét, ung nhọt, bị cháy bỏng da Đặt một miếng nhựamỏng lên vết thương và quan sát qua kính hiển vi, các nhà khoa học nhận thấy tốc độ mô, tế bào mới tạo mau lẹ gầnnhư tức khắc Tác động nầy, một phần nhờ sự hiện diện của chất aloecinB, kích thích mạnh hệ thống miễn nhiễmlàm việc
Yhọc hiện đại sử dụng rộng rãi cây nha đam từ năm 1950 Khoa da liễu dùng aloe vera để trị vết nứt, mụn mặt, bỏnglửa, bỏng nước sôi, bỏng nắng hay hoá chất, đặc biệt bỏng do nhiễm phóng xạ Nha khoa dùng aloe vera để chốngviêm nướu răng Nhãn khoa dùng aloe vera để chữa viêm giác mạc Huấn luyện viên thể thao dùng aloe vera giúpcác lực sĩ điền kinh trị bong gân (sprains), đau cơ bắp, da bị ăn mòn, phồng rộp Uống nhựa cây nha đam còn trịđược nhiều chứng bệnh lở loét, như loét dạ dày và hội chứng viêm tấy đường ruột, viêm khớp, tiểu đường Chấtđắng màu vàng trong lá nha đam là anthraquinones, có tác dụng nhuận trường rất mạnh
Về mặt mỹ phẩm: Trong cuộc nghiệp điều chế mỹ phẩm, thuốc gội đầu có trộn têm chất nhựa cây nha đam giúp làmmềm tóc, kem bôi da thêm aloe vera giúp làm da mịn và nuôi tế bào da tươi trẻ Vô số mỹ phẩm do Hoa Kỳ, Pháp,Nhật, Anh sản xuất đều có sự tham da của aloe vera Hằng năm Hoa Kỳ tiêu trên một triệu Mỹ kim cho nhu cầu sảnxuất thuốc men và mỹ phẩm có chứa aloe vera
Về kinh nghiệm trị ung thư: Tháng 11 năm 1003, trên tờ báo Công giáo viết bằng tiếng Tây Ban Nha, có phổ biến
một tin y học của tác giả Vittorio Bosello Ofm với tựa đề "Il miracolo dell' aloè e del miele" - tạm dịch "Nha đam, aloe vera, thần dược trị ung thư" Bài viết đã gây chấn động chẳng những cho giới y học mà còn lan nhanh trong
công chúng, dậy lên phong trào sử dụng aloe vera mạnh mẽ trên khắp thế giới, coi như phép lạ trị được bách bệnh.Mãi cho đến năm 2002, bài viết nêu trên vẫn còn được phổ biến,dịch bằng nhiều thứ tiếng khác nhau kể cả tiếng ViệtNam Dưới đây là nội dung bài báo
"Du khách viếng thăm Thánh Địa Bếtlehem thế nào cũng có dịp gặp Cha Romano Zago, người Brazil, sống trong cộng đoàn các cha dòng Phancisco quản thủ Thánh Địa bên cạnh Vương Cung Thánh Đường, Giáng sinh, có hang
đá nơi chúa Giêsu đã sinh ra cách đây 2000 năm Từ nhiều năm nay, cha nỗi tiếng vì đã chữa rất nhiều người khỏi bệnh ung thư mặc dù cha không phải là Bác sĩ, cũng không phải là thầy pháp, lại càng không phải là phù thuỷ Cha chỉ dùng sự hiểu biết học hỏi được nơi người dân Brazil khi còn sống ở quê để cứu giúp các bệnh nhân.
Cha Romano Zago sinh tại Lajeado trong Giáo phận Proto Alegre bên Brazil năm 1932 Sau khi nhập dòng Phancisco, Cha được chỉ định làm việc tại Thánh địa, ban dầu làm giám học trông coi các thầy dòng trẻ đang theo chương trình triết học tại cư xá sinh viên Bếtlehem, sau đó đổi về Đại chủng Việt Thần Học Quốc Tế Giêrusalem thuộc thu viện Chúa Cứu Thế Giêrusalem.Tại đây cũng như tại cư xá sinh viên Bếtlêhem, cha dạy môn Latinh Cha Romano Zago có gương mặt tròn trịa, rất hiền lành và đơn sơ Chính vì thế khi nhìn cha, lại càng khó tin là Cha có khả năng giúp nhiều người khỏi bệnh ung thư Cha nói "Tôi đã học nơi dân nghèo Brazil, là những người không có
đủ tiền để ăn nên không bao giờ giám lui tới tiệm thuốc tây để mua các loại âu dược tân tiến, vừa đắt tiền, vừa không chữa lành được bệnh ung thư Họ tới thẳng với Thiên Chúa nhân từ, là Đấng đã tạo dựng lên nhiều loại cỏ chữa bệnh rất tuyệt vời, trong đó có cây aloe vera, là một loại dứa cảnh mọc khắp nơi, ngay cả bên vệ đường Dân nghèo
đã dạy tôi nhận diện nó và dùng nó để chữa bệnh ung thư".
Toa thuốc chữa bệnh ung thư của Cha Zago rất đơn giản:
- Dùng hai lá lớn hay ba lá nhỏ cây Aloe vera.
- Nữa (1/2)kg mật ong.
- Từ 2-4 muỗng canh rượu mạnh.
Rửa sạch lá Aloe vera, gọt bỏ hai cạnh có gai, cắt từng khúc ngắn, bỏ vào máy xay sinh tố xay nhuyễn thành một loại hồ đặc Cho ½ kg mật ong và 3-4 muỗng rượu và xoay trộn một lần nữa thành một thứ xi-rô Sau cùng rót cất trong một bình có nắp đậy.
Liều dùng: Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần một muỗng canh xi-rô thuốc Uống 15 phút trước 3 bữa ăn: sáng, trưa,
chiều và nhớ lắc đều lọ thuốc trước khi dùng
Giải thích: Mật ong là loại thực phẩm đặc biệt, được cơ thể hấp thu dễ dàng Chất rượu mạnh giúp cho mạch máu
nở lớn, thúc đẩy máu lưu thông nhiều hơn, tạo điều kiện cho mật ong và aloe vera thâm nhập tới mọi tế bào trong cơthể, vừa nuôi dưỡng, vừa chữa lành vết thương là lọc sạch máu Bình thường việc trị bệnh kéo dài 10 ngày, sau đó
Trang 23nên đi khám nghiệm so sánh kết quả trước và sau dùng thuốc xem bệnh tình có chuyển biến tốt hay không Theokinh nghiệm của nhiều người dùng qua, chỉ sau vài hôm là cảm thấy khá ngay, nhưng đây mới chỉ là dấu hiệu, chưaphải lành bệnh Cần kiên trì nhẫn nại Hiệu quả cây Aloe vera rất chắc chắn, mạnh mẽ, có khả năng chống bất cứloại ung thư nào, từ ung thư da, ung thư cổ họng, ung thư vú, ung thư tiền liệt tuyến, ung thư não, ung thư ruột đến
cả ung thư máu nữa
Thật ra mọi dân tộc trên thế giới đều biết tới cây aloe vera và công hiệu chữa bệnh của aloe vera Có trên 300 loàialoe vera, nhưng thường được dùng trị bệnh là loài Aloe vera, aloe đảo Socotra, aloe vùng Cap ở Nam Phi, aloeSaponaria, aloe sinensis, aloe arborescens, aloe vùng Natale và aloe Forox Loài aloe vera barbadensis là loại dứacảnh, lá thon, hai bên có gai nhọn, dài trung bình từ 40-50 cm, cây cao khoảng 60-90cm Bên trong lớp vỏ xanh làchất thạch trắng Theo bảng phân chất của Linh mục Bác sĩ Grandi thuộc dòng Phansicô, làm việc tại Trung tâmnghiên cứu La Torre tỉnh Torino miền bắc Italia, xác định trong cây Aloe có các chất:
- 13 chất khác nhau thuộc loại Lignine, saponine và antrachinoni gồm các chất kháng sinh chống lại nhiều loại vikhuẩn gây bệnh
- 08 loại vitamins cần thiết cho sức phát triển và hùng mạnh của tế bào nuôi dưỡng cơ thể, tạo máu, điều hoà vàchữa lành các vết thương gồm VitaminA, B1,B2, B6,B12, Niacine, folic, acid, C
- 20 thứ muối đạm cần thiết cho cơ thể: calcium, phosphorus, iron, sodium, manganese, zic giúp tạo xương, nuôi
dưỡng cơ bắp hoạt động, kích thích làm lành vết thương
-Chất Polysaccharides đơn và đa dạng, giúp củng cố hệ thống miễn nhiễm
- Nhiều amino acids cần thiết cho cơ thể và chất men giúp chống viêm, giảm đau, ngăn chặn chất H2O2 không cho ứđọng trong các tế bào, thúc đẩy việc tiêu hoá
Kinh nghiệm lâm sàng:
- Bệnh án 1: Lần đầu tiên, năm 1987, tại Bếtlêhem có một cụ già bị ung thư tiền liệt tuyến vào thời kỳ cuối Các Bác
sĩ thất vọng không chữa được nên cho bệnh nhân rời nhà thương để cụ chết ở nhà với người thân Cha Romanođược gọi tới ban bí-tích xức dầu cho người bệnh sắp chết Sau nghi lễ, Cha Romano đề nghị ông cụ dùng thửphương thuốc trị bệnh của Cha Ông cụ làm theo và lành bệnh, hiện nay vẫn còn sống khoẻ mạnh dù đã 85 tuổi Lọthuốc còn dư mà Cha Romano điều chế cho ông cụ, bị một nữ tu giúp việc bỏ quên rất lâu trong hộc tủ, đến khi y tá
nữ tu Silvana của nhà dòng biết tin một bà bạn bị ung thư liền tìm lọ thuốc đưa cho người bạn uống và làm thêm
xi-rô aloe vera đúng như công thức Cha Romano chỉ dạy Chỉ vài tháng sau, bạn của nữ tu Silvân khỏi bệnh ung thư,sống rất khoẻ mạnh
- Bệnh án 2: Một vị thư ký của trường Thánh Địa Bếtlêhem bị ung thư cổ họng, nói không ra tiếng nữa Linh mụcRaffaelle Caputo, Giám Đốc trường, kêu cứu Cha Romano Zago và được Cha tới thăm ông ta với một lọ xi-rô Aloevera trên tay Chỉ 2 tháng sau vị thư ký khỏi bệnh, nói được, trở lại làm việc bình thường
- Bệnh án 3: Vụ chữa bệnh cảm động nhất mà Cha Romano Zago còn nhớ là vụ chú bé Geraldito, người Argentian,
5 tuổi Geraldito bị ung thư máu Sau khi tìm mọi cách chữa trị không kết quả, các Bác sĩ đề nghị với cha mẹ emphương pháp cấp tuỷ vào cột sống cho Geraldito Đây là phương pháp phẫu thuật rất phức tạp và tốn kém, nhưng vìthương con cha mẹ chú bé Geraldito cũng bằng lòng Người hiến tuỷ không ai khác hơn là anh ruột của Geraldito vàđược thực hiện tại một bệnh viện tối tân ở Barcelona, Tây Ban Nha
Cuộc phẫu thuật coi như thành công mỹ mãn, nhưng kết quả không kéo dài được bao lâu Bệnh ung thư máu lại táiphát và lần này nặng hơn trước Các Bác sĩ hoàn toàn bất lực, không còn cách nào cứu thoát bệnh nhân khỏi tay tửthần
Cha mẹ Geraldito rất buồn, nhưng là tín hữu có đức tin sâu xa, ông bà quyết định đem hai anh em Geraldito sang hành hương tai Thánh Địa Bếtlêhem với ước mơ được Chúa Giêsu cứu thế ban cho ân phước chữa lành bệnh nan y cho đứa con yêu Đang khi cả gia đình quỳ cầu nguyện trước hang đá nơi Chúa Kitô hạ sinh cách đây 2000 năm, cũng nhầm vào giờ các cha dong Phancisco xếp hàng đi rước kiệu và hát kinh chiều, trong số đó có cả Cha Romano Zago Liếc nhìn đôi vợ chồng trẻ và hai đứa con nhỏ quỳ cầu nguyện một cách thành tâm, Cha Romano Zago đoán chắc gia đình này có điều không vui nên bước tới hỏi chuyện và hiểu rõ nguồn cơn Cha đề nghi cho bé Geraldito dùng thử phương thuốc xi-rô Aloe vera một tháng mà không hứa hẹn gì cả Thế là bé Geraldito ngoan ngoãn uống xi-rô Aloe vera do đích thân Cha Romano Zago điều chế Đúng một tháng sau, người ta thấy bé Geraldito vui vẻ theo các cha đi rước kiệu và hát kinh chiều, trông dáng dấp rất khoẻ mạnh Cha Romano Zago đề nghị cả gia đình bé Geraldito lưu lại Bếtlêhem thêm một tháng nữa để cho em tiếp tục dùng thuốc Cha mẹ bé Geraldito thấy kết quả kỳ diệu nên đòng ý ngay Có một sự kiện rất đỗi kinh ngạc là trước khi tháng thứ hai chấm dứt, các Bác sĩ lấy mẫu máu
bé Geraldito đi thử lại và cho biết bệnh ung thư máu biến mất, sức khoẻ em hoàn toàn hồi phục".
Đây là những lời Cha Romano Zago thuật lại Nguyệt San "Thánh Địa" tháng 11-12 năm 1993 ghi chép và phổ biếnrộng rãi trong Giáo Hội Công Giáo Về phương diện y học, Aloe vera quả thực có khả năng trị nhiều chứng bệnh,không còn hoài nghi
Amygdalin: Là chất glucoside trong hạt Hạnh nhân của Đông Y Hạnh nhân còn có nhiều tên khác, như Điềm mai,
Đức nhi, Lão âm tử, Thảo kim đơn, Bạch hạnh nhân, Quang hạnh nhân, Khổ hạnh nhân, Bắc hạnh nhân, người ViệtNam gọi là quả mơ (Apricot) Tên khoa học Prunus armeniaca (Khổ hạnh nhân) hoặc Prunus amygdalus (Điềmhạnh nhân), thuộc họ Hoa hồng Rosaceae Thấy mọc nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Châu Phi và Tiểu BangCalifornia của Hoa Kỳ
Mô tả: Cây hạnh nhân cao khoảng 3-4m có khi tới 10m, lá đơn, hình bầu dục, mọc sole, mép lá có khía nhọn như
lưới cưa, hoa trắng 5 cánh như hoa mai, quả màu vàng xanh có lông tơ, lúc chín vỏ ửng vàng Khi quả chín, hái về
Trang 24bỏ phần thịt ngoài, đập vỡ hạch để thu lấy nhân bên trong Dùng nước sôi ngâm xát bỏ lớp áo lụa, dùng nhân màutrắng đục.
Bộ phận dùng làm thuốc: Nhân hoặc ép nhân lấy dầu.
Thành phần hoá học: Trong hạt hạnh nhân chứa chừng 8% chất amygladin, chất cyanogenic glycoside sản xuất ra
laetrile và hydrocyanic (prussic) acid
Tác dụng: Mặc dù trong nhân hạt có chứa một tỷ lệ toxic prussic acid khá cao, các thầy thuốc y học cổ truyền TrungQuốc và Việt Nam sử dụng với liều nhỏ để trị ho, suyễn, thở khò khè do quá nhiều đàm dãi, táo bón Chiết xuất chấtlaetrile trong nhân hạt, Y học hiện đại dùng chữa bệnh ung thư Thầy thuốc Đông Y dùng dầu hạnh nhân để trị viêmloét âm đạo phụ nữ
Liều dùng: Rất ít, do thầy thuốc quyết định, để ngừa trúng độc
Astragalus: Là vị Hoàng kỳ của Đông Y dược Hoàng kỳ còn có khoảng 32 tên khác nữa, trong đó Hoàng thị, Miên
kỳ, Bách dược miên, Miên hoàng kỳ, Đại hoàng kỳ, Thổ hoàng kỳ, Nham hoàng kỳ được nhắc tới nhiều nhất Tênkhoa học Astragalus mem-branaceus, thuộc họ Đậu Fabaceea
Mô tả: Cây thảo sống lưu niên, thân mọc thẳng đứng, phân ra nhiều cành, cao từ 60-70cm, lá kép lông chim, mọc so
le, hoa mọc thành tràng màu vàng nhạt Rễ hình trụ, đường kính 1-2cm đâm thật sâu xuống đất, dai rất khó bẻngang, vỏ rễ màu vàng nâu hay nâu đỏ hoặc đen xám tuỳ giống, bên trong màu vàng tươi, vàng nhạt hay trắng đục.Đây là dược liệu quý đặc biệt của Mông Cổ và Trung Quốc, không thấy ở các quốc gia khác
Bộ phận dùng thuốc: Rễ.
Thành phần hoá học: Triterpene saponins gồm astragolosides, isoflavonoids chứa formonentin, polysacchairides và
phytosterols Theo tư liệu của Viện nghiên cứu y học Bắc Kinh Trung Quốc, trong Hoàng kỳ co cholin, betain,sacaroza, selenium và nhiều acid amine
Tác dụng: Theo Andrew Chevallier, tác giả cuốn "Encyclopedia of Herbal Medicine" Hoa Kỳ cho biết, tác dụng căn
bản của vị Hoàng kỳ là chuyển hoá năng lượng, tác nhân kích thích miễn dịch, lợi tiểu, giãn nở mạch máu
(vasodilator), kháng virus Các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ ghi nhận Hoàng kỳ tập trung vào vai trò phục hồi chức năng
miễn nhiễm bình thường cho những người mắc bệnh ung thư Sau nhiều cuộc thử nghiệm với các bệnh nhân bị ung
thư trải qua phương pháp trị liệu (Chemotherapy) và phóng xạ trị liệu (radiotherapy), cho thấy phần lớn người bệnh
mau hồi sức và sống lâu hơn nếu cùng lúc được dùng thêm dược thảo có vị Hoàng kỳ
Theo kinh nghiệm Đông Y, hoàmg kỳ bổ khí, cố biểu, lợi tiểu, bài nùng (mủ) Chủ trị huyết áp cao nhờ tác dụng giãnmạch ngoại vi nhưng lại bảo vệ mao mạch không cho vỡ bể, tăng lượng nước tiểu giúp đường tiểu thông suốt, vếtthương nung mũ, mồ hôi ra dầm dề, cơ thể suy nhược, sa dạ con, sa ruột Là đầu vị trong toa thuốc bổ khí cùng vớinhân sâm
Liều dùng: 12g-60g tuỳ bệnh, do thầy thuốc quyết định
Cat's claw: Nghĩa đen là móng, vuốt mèo Cat's claw gồm khoảng 20 loài khác nhau nhưng chỉ 1-2 loài được dùng
làm thuốc, số còn lại chứa toxic rất độc ít được dùng Là loại dây leo như dây nho, vươn cao tới 100 feet (30m) hoặcdài hơn, lá có những móc nhọn và cong như lưỡi câu nên đặt tên là cây vuốt mèo (cat's claw) Nhiều nơi còn gọi làcat's claw bằng các tên: life-giving vine of Peru, samento và una de gato Tên khoa học Uncaria tormentosa, thuộc
Tác dụng: Theo kinh nghiệm của dân địa phương, cat's claw trị hàng loạt chứng bệnh, từ hen suyển, tiểu đường,
đến viêm khớp và ung thư Các thầy phù thuỷ sử dụng dược liệu nầy như một thứ phép lạ
Theo sách Herbal Medicine của hai dược sĩ Charles W.Fetrow và Juan R.Avila Hoa Kỳ, nhiều cuộc nghiên cứu khoahọc hiện nay xác nhận cat's claw quả có tác dụng đối với bệnh AIDS, ung thư máu và nhiều loại ung thư khác, bị
nhiễm trùng, bệnh viêm nhiễm đường hô hấp, rối loạn dạ dày và ống tiêu hoá, bệnh viêm xương khớp (osteo arthritis) như siêu vi mụn rộp hay dời ăn đơn giản ( herpes simplex), mụn rộp lở loét quanh mình (herpes zoster) và
-siêu vi HIV gây bệnh AIDS
Liều dùng:Với dạng viên, trung bình 350mg ngày ba lần bột tinh chế Liều tối đa có thể lên tới 500-1000mg Ngoài ra,
còn dùng ở dạng trà, 5g ngày 2-3 lần Tuy nhiên, theo lời khuyến cáo của giới khoa học Hoa Kỳ, không nên dùngcat's claw khi phụ nữ có thai hoặc xuất huyết phổi
Echinacea:Còn nhiều tên khác như American cone flower, Kansas niggerhead, Kansas snakeroot, Narrow - leaved
purple coneflower, Purple cone - flower, Purple Kansas coneflower, Red sunflower, Scurvy root, Dampson root, Blacksampson, Black susans, Cock - up -hat, Comb flower, Coneflower, Echinacea care liquid, Hedgehog, Indian head và
Snakeroot Tên khoa học Echinaceae angustifolia, Echinace pallida hoặc loài Echinaceae purpurea thuộc họ cúc Asteraceae.
Echinacea chỉ tìm thấy tại Bắc Mỹ Châu, là một trong những loại dược thảo quan trọng bậc nhất của thế giới Sosánh với nhân sâm của Trung Quốc hay Đại Hàn, dược liệu cực quý dùng bồi bổ chính khí, thì Echinacea của Hoa
Kỳ cũng cực hay, thuốc kháng sinh trị tất cả bệnh nhiễm trùng bất luận bên trong nội tạng hay ngoài da
Thành phần hoá học: Alkamides chủ yếu gồm chất isobutylamides, caffeic acid esters gồm hai thành phần chính là
echinacoside và cynarin, polysaccharides, volatile oil gồm chất humulên, echinolone
Trang 25Bộ phận dùng làm thuốc:Thân rễ.
Tác dụng: Về căn bản, Echinacea có khả năng kích thích miễn nhiễm, chống viêm tấy, kháng sinh, giải độc (detoxofication), tiết xuất mồ hôi, chữa lành vết thương, chống dị ứng.
Theo kinh nghiệm cổ truyền, Echinacea đầu tiên được thổ dân Commanche tại Hoa Kỳ dùng làm thuốc trị đau răng,
đau rát cổ họng, chữa bị chó dại cắn (rabies), rắn cắn và vết thương nhiễm trùng gây mủ Ngày nay, các nhà dược
thảo học Hoa Kỳ dùng Echinacea nhằm giúp kích thích hệ thống miễn nhiễm, trị các loại nhiễm trùng đặc biệt là
nhiễm trùng kinh niên, viêm tai, viêm amidan (tonsilitis), chữa da bị nứt nẻ (chilblains) rất tốt, chứng cảm lạnh flu, viêm ngoài da, trị bệnh đường hô hấp như suyễn (asthma), viêm mũi, viêm đường tiểu, viêm bộ phận sinh dục do nấm, mụn mặt, nhọt lở Làm thuốc súc miệng (gargle) trị viêm cổ họng rất công hiệu.
Theo kết quả nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học Hoa Kỳ tuy chưa hiểu đầy đủ về tính năng dược ký cảuechinaceae, nhưng biết rõ rằng dược thảo nầy có khả năng kháng sinh rất tốt, nhờ kích thích hệ thống miễn nhiễm
chống lại cả hai tác nhân lây nhiễm là vi khuẩn (bacteria) và siêu vi trùng (viruses) Chất polysaccharides có công
dụng kháng lại động tố, chận đứng vi trùng không cho vào và làm hại tế bào, trong lúc chất alkamides lại kháng vikhuẩn và nấm Năm 1999, một cuộc phân tích sâu rộng về loài Echinacea purpurea, nhận thấy rõ giúp ngăn ngừa
chứng viêm đường tiểu Tiến sĩ James A.Duke, tác giả quyển "The Green Pharmacy" đã xếp Echinaeae vào 3 hạng
sao (cao nhất về tác dụng) đối với các bệnh lây nhiễm do siêu vi Tại nước Đức các Giám định viêm trong Uỷ ban y
tế đã giới thiệu giá trị kỳ diệu về Echinacea lên chính phủ Đức và được chấp thuận dùng để trị các bệnh có triệuchứng giống như dịch cúm Còn dược sĩ Cherles W.Fetrow và Juan R.Avila Hoa Kỳ cho rằng Echinacea dùng trị
bệnh chàm (eczema), ung thư ruột già (colon cancer) và ung thư gan (liver cancer).
Liều dùng: Dạng viên capsule 500 mg, ngày 3 lần Dạng trà, 1muỗng canh bột khô trong một cốc nước sôi, ngày 306
lần
Essiac: Là một loại thuốc Tây hay tân dược được dùng để trị bệnh ung thư, được chiết xuất từ một guống rau ranh
tên là Sheep's Sorrel, tên khao học Rumex acetosella thuộc họ rau răm Polygonaceae Sheep's sorrel sống lưu niên,
mọc trong những vùng khí hậu ôn đới, thường được dùng làm rau salad ăn hằng ngày
Bộ phận dùng làm thuốc:Toàn phần nằm trên mặt đất.
Thành phần hoá học: Trong Sheep's sorrel có chứa hoạt chất onalates và anthra - quinones gồm các thành phần
chrysophanol, emodin và physcion Các nhà hoá học trích lý các hoạt chất nầy đem thử nghiệm và thầy có tác dụng
kháng ung thư (cancer - fighing remcdy) nên đặt tên là Essiac Tại Hoa Kỳ, ngoài việc dùng rau Sheep's sorrel, công thức thuốc Burdock, tên khoa học Arctiun lappa; Đại hoàng hay Rhubarb, tên khoa học Rheum palmatum và slippery elm, tên khoa học Ulmus rubra Riêng Ngưu bàng và Đại hoàng là hai vị thuốc thông dụng nằm trong danh mục
dược liệu của Đông Y
Tác dụng:Sheep's sorrel, Burdock, Rhubarb và Slippery elm là những dược thảo có công năng kháng độc tố rất
mạnh, giúp trị nhiều bệnh mãn tính, lợi tiểu, nhuận trường, viêm đường ruột Từ lâu, các nhà điều dưỡng tại Canada
đã dùng Sheep's sorrel trị ung thư vú (breast cancer)rất thành công Lịch sử được phẩm Essiac được bắt nguồn từ
đây
Flavnoid: Là hợp chất polyphenols, có mặt trong hầu hết các loại cây cỏ trên thế giới, đóng vai như những sắc tố
(pigments), truyền tải màu sắc, và thường là màu vàng hoặc trắng lên hoa hay trái cây
Flavonoid giữ vai trò quan trọng trong đời sống cũng như trong công nghiệp làm thuốc nhờ khả năng chống oxy hoá và đặc biệt dùng để duy trì hệ thống tuần hoàn luôn khoẻ mạnh Một số flavonoid còn có năng lực chống viêmnhiễm, kháng siêu vi trùng và bảo vệ chức năng gan, trong khi một số khác thì làm gia tăng sự bền bỉ các mao mạch(capillaries) và ngăn chặn vật lạ thẩm thấu qua mô
-Garlic: Tên thông dụng là tỏi, Đông dược là Đại toán Các nước ở Châu Âu và Châu Mỹ gọi tỏi (galic) bằng nhiều
tên khác: garlic Power, Garlique, Kwai, kyolic, Odorless Garlic Tablets One a Day Garlic, Sapec và Clove Garlic Tên
khoa học Allium sativum thuộc họ Hành tỏi Liliaceae Tỏi có nguồn gốc ở vùng Trung Á, ước tính có khoảng 700 loài Allium khác nhau và ngày nay được trồng khắp thế giới Hoa Kỳ đánh giá tỏi (theo thang điểm tối đa 5 sao) như
sau:
- Nghiên cứu phân tích trên con người ***
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: ****
- Dùng theo phương pháp cổ truyền: *****
- Báo cáo kiểm soát độ an toàn: ****
Ngày nay, tỏi được sử dụng để ngăn ngừa các bệnh về tim mạch (cardiovascular diseases), cao huyết áp (high blood pressure), bệnh tiểu đường (diabetes) dựa theo kinh nghiệm, cao cholesterol huyết, chống oxy- hoá (antioxidant) và trị cả ung thư (cancer).
Chứng minh khoa học:
Trang 26Tỏi là những dược liệu được hơn 40 quốc gia tập trung nghiên cứu rộng rãi nhất từ 50 năm qua nhằm bốn mục tiêuchích: bệnh tim mạch, bệnh ung thư, bệnh viêm nhiễm và tác dụng chống ôxy - hoá Năm 1997 đã có trên 1.200cuộc ngiên cứu dược lý với trên 200 ca dành cho người và 650 kiểm nghiệm về hoá học, dẫn đầu gồm có Hoa Kỳ,Đức và Ấn Độ.
+ Trợ tim mạch: Trong hơn 30 năm thử nghiệm, các nhà khoa học ghi nhận tỏi có ảnh hưởng tốt đến cơ tim, làm giảm mức cholesterol huyết, gia tăng lượng cholesterol tốt (high - density lipoproteins, HDL cholesterol) và thể hiện
sự huỷ tiểu cầu (antiplatelet) là tác nhân quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh xơ cứng động mạch (atherosclerosis), chứng cao máu, chứng nhồi máu cơ tim (heart attack) và chứng đột quỵ (stroke) Theo kết
quả nghiên cứu, liều lượng thường được dùng hằng ngày từ 600-900 mg bột chứa alliin
Thử nghiệm: Cho 365 người lớn có chứng cao cholesterol, một nhóm dùng mỗi ngày dùng từ ½ đến 1 tép tỏi tươitrong thời gian 2-4 tháng, thấy mức cholesterol hạ xuống 12% Một nhóm khác mỗi ngày dùng 600-900g bột tỏi khôcũng thấy chất lượng hạ cholesterol xuống 12% trong vòng 4 tuần lễ
Nhiều cuộc kiểm nghiệm cho thấy tỏi giúp cải thiện máu lưu thông cho cả người khoẻ mạnh cũng như người có bệnh
về tim mạch, làm giảm cholesterol xấu (low -density liporoteins, LDL cholesterol) và triglycerides, đồng thời gia tăng cholesterol tối (HDL) và fibrinolysis là chất chống lại tình trạng máu đóng khối (blood -clotting) Điều đáng chú ý là tỏi
đã tác động lên động mạch chủ, giúp cho huyết áp hạ xuống một cách tự nhiên
+ Tác dụng chống oxy - hoá: Tỏi vốn là chất chống oxy hoá, làm giảm tinh trạng oxy - hoá mỡ trong máu, nguyên
nhân chính dẫn tới việc tạo vỡ xơ động mạch và các bệnh về tim mạch Nhiều cuộc nghiên cứu xác nhận tỏi tươihay bột khô đều có khả năng làm giảm mỡ trong máu (lipoproteins blood fats) Nếu dùng liên tục trong hai tuần lễ,
mỡ trong máu có thể giảm xuống tới 34% Qua các thử nghiệm chiết xuất lấy bốn thành phần tính chất trong tỏi già
để trị bệnh, các nhà nghiên cứu nhận thấy có tác dụng làm giảm sự oxy hoá ngăn chặn việc tạo mỡ xấu (LDL) mộtcách rõ rệt, đồng thời bảo vệ mạch máu tránh bị hư hỏng bởi LDL nờ thành phần Sallyl - cysteine trong tỏi già
+ Trị ung thư: Một trong những lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn nhất đối với các nhà khoa học về công dụng của tỏi là
năng lực kháng ung thư Qua nhiều cuộc khảo sát rộng rãi về tỏi, củ hành tây và các loại rau xanh thuộc họ hành tỏi,đều thấy giảm nguy cơ bị ung thư một cách chắc chắn, đặc biệt là bệnh ung thư dạ dày và đường ruột Vào năm
1994, Hoa Kỳ cho 41,000 phụ nữ ung thư ruột già dùng tỏi trong 1 tuần lễ thấy nguy cơ giảm xuống 35% so vớinhững người dùng 127 loại thực phẩm khác Cho dù có những báo cáo trái ngược, cho rằng tỏi không có tác dụngkháng ung thư vú, ung thư ruột già, ung thư dạ dày và ung thư phổi, nhưng kết quả này chưa phản ánh trung thực
về các thói quen ăn uống bừa bãi làm mất hoặc giảm công năng của tỏi
Thực tế, tỏi kháng ung thư là điều không còn nghi ngờ nữa, kể cả nghiên cứu trong các cuộc thí nghiệm Nhềunghiên cứu đối với gia súc và gia cầm, cho thấy tỏi có tác dụng mạnh lên các tế bào u bướu, làm giảm nguy cơ bịung thư ruột già, dạ dày, ung thư vú, tuyến tiền liệt, thực quản, da và ung thư não
Liều dùng:600-900mg dạng viên nén hay capsule/ngày Cồn tỏi 4ml/ngày Dầu tỏi 10mg/ngày.Tỏi tươi 3-4g/ngày.
Ginkgo biloba:Đông dược gọi là Bạch quả, Áp cước tử, Công tôn thụ, Ngân hạnh Âu Mỹ gọi Ginkgo biloba hay
Bạch quả bằng nhiều tên khác như: Maidenhair tree (cây đuôi chồn), Ginkogink, Rokan, Sophium, Tanakan,Tebofortan, Tebonin, EGB 761, GBE, GBE 24, GBX và LI 1370 Tên khoa học Ginkgo biloba, thuộc Họ Bạch quảGinkgaceae
Theo tài liệu tại thư viện Hoa Kỳ, Ginkgo biloba được xem là một trong những loài thực vật xuất hiện sớm nhất trêntrái đất, cách nay khoảng 200 triệu năm Ginkgo biloba có nguồn gốc ở Trung Quốc, nhưng hiện nay được di thựctrồng rất nhiều tại Pháp, Đức và Hoa Kỳ
Bộ phận dùng làm thuốc: Lá, thu hoạch vào mùa thu khi lá ngả sang màu vàng nhạt, đem phơi khô xay thành bộtmịn
Thành phần hoá học: Flavonoids, Ginkgolides, Bilobalides, Protein (chất đạm), Lipid (chất béo), Starch (tinh bột),Sugar (đường)
Tác dụng: Theo y thuật cổ truyền Trung Quốc, quả và nhân Ginkgo biloba được dùng làm thuốc trị ho đàm, hensuyễn, khí hư bạch đới ở phụ nữ
Trái lại, các nước Âu Mỹ thường dung lá Ginkgo biloba để trị nhiều chứng bệnh sau:
+Làm thuốc bổ, kích thích gia tăng tuần hoàn máu
+Chống sự oxy-hoá (antioxidant)
+Chống hen (antiasthmatic)
+Chống co giật, co thắt (antispasmodic)
+Chống dị ứng (antiallergenic)
+Chống viêm nhiễm (anti-inflammatory)
Các nhà nghiên cứu dược thảo Hoa Kỳ đã đánh giá Ginkgo biloba qua thang điểm (tối ưu 5 sao) như sau:
+Nghiên cứu thí nghiệm với con người:****
+Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:****
+Sử dụng theo lịch sử cổ truyền:**
+Tài liệu báo cáo về mức độ an toàn:****
+Sự công nhận trên bình diện Quốc tế:****
Xét về thanh danh qua hàng triệu năm chứng nghiệm, Ginkgo biloba quả là một loại cây kỳ diệu, có khả năng phụchồi trí nhớ, gia tăng chức năng của não bằng cách thúc đẩy sự tuần hoàn máu và dưỡng khí cho não, cho tim, chotai, cho mắt, cho cả tứ chi Do đó, người Tây phương đặt tên Ginkgo biloba là dược thảo chống lão suy (anti-aging)
Trang 27Thực tế, Ginkgo biloba có tài trị được bệnh lú lẫn do tuổi già (senile dementia) và bệnh mất trí nhớ (Alzheimer'sdisease), thiểu năng não (cerebral insufficiency), bệnh động mạch ngoại biên (peripheral artery disease), chứng loạnnhịp tim (irregular heartbeats), hen suyễn (asthma), rối loạn về thị giác như giảm thị lực, loạn thị, rối loạn về tính giácnhư ù tai, tai điếc, giúp gia tăng sức khỏe cho tim mạch, chống sự oxy-hoá (antioxidant), chứng liệt giương ở namgiới do dùng thuốc Prozac hoặc tương đương để chống cơn đau và hội chứng rối loạn trước kỳ kinh của phụ nữ,Báo cáo khoa học: Hằng trăm hồ sơ nghiên cứu trong phòng thí nghiệm được công bố về những tác dụng phức tạp
và khác biệt về dược thảo Ginkgo biloba, trong đó có ít nhất 44 cuộc thử nghiệm theo kiểu mù đôi (double-blind) cho
trên 9,772 người mắc nhiều loại bệnh khác nhau Ginkgo biloba được chiết xuất theo tiêu chuẩn đồng nhất: 50:1
gồm 24% ginkgo flavone glycosides và 6% terpene lactones (ginkgolides).
Sau 10 cuộc nghiên cứu có kiểm soát chặt chẽ đối với người già bị suy giảm nặng về chức năng não (cerebral insufficiency), cụ thể là máu và dưỡng khí lưu thông lên não yếu kém Cho dùng Ginkgo biloba một thời gian ngắn,
các nhà nghiên cứu ghi nhận trí nhớ bệnh nhân được cải thiện rõ rệt, lời nói trở nên có ý thức hơn, chú tâm hơn,thích trò chuyện và dễ hoà nhập với người chung quanh hơn
Năm 1997, một cuộc nghien cứu về tác dụng của Ginkgo biloba đối với người bị mất trí nhớ (Alzheimer's disease) và
lú lẫn do hậu quả chứng đột quỵ (strokes) làm tiêu hao dần chức năng não bộ Với 309 bệnh nhân bị Alzhemer, cho
dùng liều 40mg Ginkgo biloba tinh chế, ngày 3 lần trong thời gian 1 năm (52 tuần lễ); sau khi kiểm chứng, các nhànghiên cứu ghi nhận tế bào não có dấu hiệu trẻ trung và khoẻ mạnh hơn Điều đó chứng minh tiến trình lão hoá nãochậm lại ít nhất là sáu tháng kể từ ngày xảy ra biến cố
Dùng Ginkgo biloba để trị bệnh động mạch ngoại biên (intermitent claudication, peripheral artery disease), cụ thể là
những động mạch nằm ở chân bị teo nhỏ dẫn tới tình trạng bị đau do chứng chuột rút, vọp bẻ thường xuyên Cácnhà nghiên cứu nhận thấy các động mạch chân trở nên nới rộng hơn, người bệnh đi lại dễ dàng và mất hẳn hiệntượng chuột rút
.Gần đây nhất, qua các cuộc khảo sát về các bệnh hen suyễn, đục nhân mắt (cataracts), tăng nhãn áp (glaucoma),chứng trầm cảm còn gọi là chán đời (depression), tai điếc, các trường hợp giải phẫu vùng đầu , các nhà nghiên cứuthấy Ginkgo biloba có tác dụng rất tốt so với nhóm bệnh nhân dùng phương pháp placebo (thuốc giả)
Ginkgo biloba hoạt động như thế nào? Các nhà nghiên cứu Âu Mỹ liệt Ginkgo biloba là đại biểu nhóm dược thảo trítuệ vùng nhiệt đới, bởi lẽ nó tác động thẳng vào trung tâm hệ thống thần kinh, giúp cải thiện nhưũng chứng bệnh liênquan tới bộ não, đặc biệt là mất trí nhớ Trong hàng loạt lợi ích, các nhà khoa học rất quan tâm đến tác dụng vi tuầnhoàn (microcirculation) của Ginkgo biloba, thúc đẩy việc bơm máu và dưỡng khí cung cấp tới các mao quản huyết ởnão, mắt, tai, tay chân, nên hầu như bộ phận nào trong cơ thể cũng được nuôi dưỡng đầy đủ Năng lực này được tinchắc là tác nhân chống oxy-hoá mạnh có thể quét sạch gốc tự do nguy hiểm, mầm mống tạo ra tế bào ung thư Một
ưu điểm khác nữa của Ginkgo biloba là ngăn chặn tác dụng của một chất gọi là PAF (platalet-activating factor), tuyrằng cũng cần thiết cho sức khoẻ, nhưng khi quá nhiều PAF sẽ dẫn tới tình trạng máu bị đóng khối và bị viêm, bị dịứng đường hô hấp, hen suyễn, bị bệnh vảy nến (psoriasis) và các bệnh về tim mạch Tại sao Bác sĩ Tây Y chonhững người mắc bệnh tim mạch uống mỗi ngày một viên Aspirin có tác dụng chống PAF Ginkgo biloba, gừng,nghệ và tỏi cũng có đủ đặc tính chống PAF như Aspirin nên có thể dùng thay thế mà còn được lợi thêm về nhiều mặtkhác
Liều dùng: Liều trung bình 120mg/ngày, có nhiều dược sĩ như Charles W.Fetrow, Juan R.Avila Hoa Kỳ lại cho dùng
tới 260-420mg/ngày, liên tục từ 4-24 tuần lễ cho đến khi thấy kết quả (Theo tiêu chuẩn quốc tế: lá Ginkgo bilobachiết xuất đạt tỷ lệ 50:1, gồm 24% chất ginkgo glycosides và 6% chất terpene lactones)
Ginseng:Là vị Nhân sâm của Đông Y Trước khi tìm hiểu công năng của nhân sâm theo kiến thức khoa học hiện
đại, tưởng cũng nên tìm hiểu nhân sâm theo kinh nghiệm Đông Y ngõ hầu có thể thẩm dịnh vị thuốc này một cáchchính xác về phương diện dược lý
Đông Y coi nhân sâm là loại thuốc bổ cực quý, đặc biệt bổ chân khí Trải qua hơn 5,000 năm nghiệm trị, các quốcgia vùng A'Châu còn trọng dụng y học cổ truyền vẫn xếp nhân sâm vào đẳng cấp "vua dược thảo" theo thứ tự ngôi vị
"Sâm, nhung, quế, phụ (phụ tử)" Nhân sâm mắc hơn vàng ròng Sở dĩ gọi nhân sâm vì dáng vẻ trông giống hìnhngười, gồm đầu, cổ, ngực, bụng và hai chân Điểm cần lưu ý là Đông Y dược dùng rất nhiều loại sâm làm thuốc bổnhưng phẩm chất và tính vị quy kinh lại không đồng nhất Sâm thường gặp gồm có: Phòng đảng sâm, Thái tử sâm,Đan sâm, Bố chính sâm, Đông dương sâm, Thổ cao ly sâm, Cát lâm sâm, Hồng sâm, Bạch sâm, Sa sâm, Huyềnsâm, Sâm Siberian Theo truyền thuyết, nhân sâm nghe hiểu tiếng người, biết ẩn trốn nhưũng kẻ hung ác vào rừngsăn tìm linh dược nhưng lại sẵn sàng dâng tặng cho người có thiện duyên Ai ăn được củ thiên niên sâm, tức củsâm 1,000 năm, sẽ trường sinh bất lão Thực tế, theo tư liệu của Viện nghiên cứu Đông Y Thượng Hải năm 1996,một củ nhân sâm mọc hoang trên núi ở độ cao 2000 mét tìm thấy năm 1938 và được coi là "vô tiền khoáng hậu" bởicác đặc điểm ngoại hạng: chiều dài từ đầu (tiếp giáp với phần thân cây) xuống tới 2 chân (không tính rễ phụ) là227cm, đường kính chỗ phìng to nhất 146cm, cân nặng 1 kg 962, tuổi thọ ước chừng 280 năm (tính bằng cách cắtngang đếm vòng li-be gõ qua kính hiển vi) Thông thường, chỉ có thầy thuốc Đông Y giàu kinh nghiệm mới giải thích
tỏ tường về chất lượng và công dụng từng loại nhân sâm
Theo tài liệu cổ, nhân sâm vị ngọt, hơi đắng, tính ấm, bổ cả 5 tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận), chạy thẳng vào 2 kinh tỳ
và vị, có tác dụng đại bổ nguyên khí, ích huyết sinh tân, an thần, định trí, có năng lực trấn an hồn phách, chế ngự sợhãi, trừ tà khí, sáng mắt, uống lâu nhẹ mình tăng tuổi thọ Trên thế giới, chỉ có Trung Quốc và Triều Tiên là hai quốcgia cung cấp mặt hàng nhân sâm mọc hoang dã hoặc trồng lâu năm (trên 6 năm) với phẩm chất tốt nhất
Trang 28Theo Y học hiện đại, Ginseng hay nhân sân hay còn có nhiều tên gọi khác: Asiatic gmseng, chinese ginseng, wonder
- ò the world, Korcan ginseng Oriental ginseng, seng and sàn Tên khoa học Panax ginseng, thuộc họ Ngũ gia bìAraliaceae Chữ Panax có nghĩa là "thuốc trị bách bệnh" panacea hay cure - all Tuy nhiên không nên nhầm lẫn vớihai loài Ginseng khác có công dụng tương tự nhưng kém hiệu quả hơn nhân sâm là American ginseng, tức sâm Hoa
Kỳ trồng ở Tiểu Bang Wisconsin, tên khoa học Panax quinquefolius, và Siberian gin - seng còn gọi là Sâm Tây Bá Lợi Á hay Sâm Nga, tên khoa học Eletheroccocus senticosus Muốn tránh nhầm lẫn, cách đơn giản nhất là xác định tên khoa học Panax ginseng đúng thật là nhân sâm.
Bộ phận dùng làm thuốc: Rễ, chủ yếu là rễ cái hay rễ củ.
Thành phần hoá học:Ginsenosides với ít nhất 31 lần nhận diện trong các cuộc phân tích, tritepenoid saponins
(0,7-3%), sesquiterpenes, polyacetylenes, polysaccharides, panaxans, acetylenic, compounds germanium, vitamin B1,B2
Đánh giá: Dựa theo hệ thống thang điểm 5 sao, nhân sâm được đánh giá như sau:
Nghiên cứu trên con người tại các dưỡng đường: **
Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: ****
Lịch sử ứng dụng theo kinh nghiệm cổ truyền: *****
Báo cáo về mức độ an toàn: ***
Sự công nhận bình diện quốc tế: ***
Tác dụng:Qua nhiều năm nghiên cứu, hầu hết các nhà khoa học đều cho rằng nhân sâm có năng lực hoạt động theo
dạng hormone (kích thích tố) bởi vì phạm vi tác dụng rất rộng trên nhiều hệ thống khác nhau của cơ thể và tất cả vậnhành dưới sự điều tiết của hormone
Phản ứng của cơ thể trước những biến cố như nóng và lạnh, môi trường chất độc, nhân tố về tình chí như sợ hãi,đau buồn, tức giận hoặc yếu tố căng thẳng tinh thần như: lo âu, chán đời, đè nén xúc cảm thường là phản ứngvừa đối chiều, vừa khẩn cấp, khiến gây tổn thương dồn dập cho hệ thống thần kinh và nhiều cơ quan khác Cơ chếđương đầu trong cơ thể chúng ta có liên hệ đến sự tác động qua lại hết sức phức tạp về hoá học thần
kinh (neurochemicals)hormone và nhân tố miễn dịch học (immunological Factors).
Như một kỹ thuật sinh tồn, các loài vật kể cả loài người, sáng tạo một khả năng phản xạ cực nhanh và cực mạnh gọi
là "chiến đấu hoặc bỏ chạy" Sự đáp ứng này nhờ adrenaline giữ vai trò trung gian làm thay đổi nhiều dự tính của cơthể đúng vào lúc cuộc khủng hoảng lên cao tột đỉnh về cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần Một phần bí quyết của tiến
trình này gọi là "pha báo động - alarm phase" Nó liên hệ đến hormone tuyến thượng thận (adrenal hormone) như là: Glucocorticoids, dùng để đo lường về ứng sách sinh lý (Physiological stress) Nhân sâm có biệt tài tạo ra sức mạnh
để đối phó với nhiều loại biến cố bất ổn bằng phản ứng hormone diễn ra âm thầm và gián tiếp bên trong
Tại sao các dân tộc Á Châu gọi nhân sâm là thuốc trị bách bệnh? Nhiều nhà phân tích dựa vào hai thống kê chính đểđánh giá:
Thứ nhất, năm 1904, có hơn 400 triệu người dân Trung Quốc dùng nhân sâm Đến năm 1998, con số đã vượt hơn1,000 triệu, tức trên 01 tỷ người
Thứ hai, ngoài giá trị gia tăng trí lực cho nam giới, nâng cao sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ, nhân sâm còn được xem
như một loại thuốc cao cấp trị rất nhiều chứng bệnh như: thiếu máu (anemia), lãng trí (amnesia), biếng
ăn (anorexia), hen suyễn (asthma), xơ cứng động mạch (atherosclerosis), mụn nhọt (boils), vết thâm tím (bruises), chứng co giật (convulsions), ho (cọugh), suy nhược (debility), tiểu đường (diabetes) và ung thư (cancer) Nhân sâm còn có tác dụng lợi tiểu, cầm kiết lị (dysentery), làm dịu cơn đau khi phụ nữ có kinh nguyệt (dysmenorrhea), chứng ă khó tiêu (dyspepsia), chống động kinh (epilepsy), mệt mỏi (fatigue), sợ hãi, sốt, viêm dạ dày (gastritis), chứng ngầy ngật (hangover), đau đầu, đau tim, khái huyết hay ho ra máu (hemoptysis), chứng xuất huyết (hmorrhage) do nội thương, chứng đường huyết cao (hyperglycemia)trong bệnh tiểu đường, chứng cao huyết áp hay cao máu (hypertension), chứng huyết áp thấp (hypotension), chứng liệt dương (impotence) ở nam giới, rối loạn đường ruột, bệnh sốt rét (malaria), chứng buồn nôn (nausea), chứng hồi hộp và tim đập nhanh (palpitation), chứng đa niệu hay đái vặt (pelyuria), viêm mũi (rhinitis), thấp khớp (rheumatism) Cũng làm thuốc trị ho, thuốc bồi dưỡng thần kinh,
thuốc trấn thống, thuốc kích thích và thuốc an thần
Một trong những sức mạnh quan trọng bậc nhất của nhân sâm đối với các chứng bệnh chưa có thuốc trị đặc hiệu là
tác dụng bảo vệ kháng lại ung thư (anticancer effects) Tại bệnh viện của Nam Hàn (Korea), một nhóm nhà nghiên
cứu đã chọn 1,810 bệnh nhân bị nhiều loại ung thư khác nhau, phân làm hai nhóm, mỗi nhóm 905 người
Nhóm A cho dùng nhân sâm tinh chế và Nhóm B cho dùng Placebo (thuốc giã) Sau một tháng thử nghiệm, báo cáoghi nhận nhóm A có dấu hiệu giảm nguy cơ ung thư rõ rệt, trong khi nhóm B tiếp tục lan rộng Đặc biệt nhân sâm tinhchế hay bột khô có tác dụng cao hơn nhân sâm tươi hoặc trà sâm Các nhà nghiên cứu chỉ rõ rằng chấtGinsenosides Rg3 và Rh2, polyacetylenes và chất polysaccharides đã tạo tành vòng đai cô lập, xâm lấn dần và đẩy
lùi tế bào ung thư Chất polysaccharides trong nhân sâm có tác dụng như loại tế bào bảo vệ (cytoprotective), giúp gia
tăng hoạt động tổng thể của hệ thống miễn nhiễm, bao gồm hành động tiêu diệt tế bào ung thư tự nhiên, sản xuấtnhững thành tố trong hệ miễn nhiễm như: interferon và interleukins, đồng thời gia tốc mức phát triển tế bào bạch
huyết cầu Mặt khác, nhân sâm còn là chất chống oxy-hoá (antioxodant effct) tốt, giúp ngăn ngừa sự tổng hợp chất nitrich oxide bên trong tế bào nội mô (endothelial cells) của phổi, tim và thận Đây là thành phần gốc tự do độc hại Tác động này làm tăng độ giản mạch máu (vasodilation), tạo điều kiện cho lưu lượng máu được bơm đi nhiều hơn, tốt hơn, ngay cả chuyện góp phần kích thích hành động tình dục (aphrodisiac action).
Trang 29Liều dùng: Ngày 200 - 500mg nhâm sâm tinh chế (tiêu chuẩn 4-5% ginsenosides), có nhiều dưỡng đường cho dùng
từ 0,5g-8g Theo kinh nghiệm của các nhà khoa học, nếu dùng liều cao, nhâm sâm gây chứng mất ngủ, nóng nảybồn chồn, tiêu chảy Người bị cao huyết áp và uống cafê đậm đặc không nên dùng nhân sâm
Hiện nay các quốc gia có nền y học tiên tiến phương Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ cũng thừa nhận giá trị đặc biệt củanhân sâm Ở Đức, nhân sâm được dùng làm thuốc bổ để cũng cố sức khoẻ trong suốt thời gian bị mệt mỏi và suynhược, chống lại tình trạng tàn tạ do lao động nặng nhọc hay thiếu ăn Thuỵ Sĩ, Úc đại lợi, Pháp, Nga chế biến nhânsâm, buôn bán nhân sâm thật quy mô không thua gì các quốc gia sản xuất như Nhật, Triều Tiên và Trung Quốc.Garpe seed: là hạt nho Nói đến nho, không riêng gì các sắc dân sống trong vùng Châu Á Thái Bình Dương mà ngay
cả dân văn minh da trắng ở Châu Âu hay Châu Mỹ cũng chẳng biết rõ về lịch sử trái nho và hạt nho ngoài ba sảnphẩm thông dụng địa phương: Nho tươi, rượu nho và nho khô
Lần theo dấu vết một số lá nho hoá thạch được khám phá tại vùng Miocene và Tertiari thuộc thời kỳ cổ đại ở Châu
Âu (Europe), Anh (England), băng đảo (Iceland) và Bắc Mỹ Châu (North American), các nhà khảo cổ học (Archeologists) cho biết nho xuất hiện trên trái đất cách nay không dưới 5.000 năm Một bằng chứng khác, qua nghiên cứu những bức hoạ khắc trên tường nằm bên trong một số ngôi mộ cổ của dân Ai Cập (Egyptians) xây cất
cách đây không dưới 4,500 năm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy sự hiện diện của rượu cho pha trộn vào nguyênliệu tổng hợp để chế ra bột màu để vẽ tranh Theo lịch sử cận đại, nho được cư dân vùng biển Caspian trồng sớm
nhất vào thế kỷ thứ 17 trước Công Nguyên, dần dần lan rộng đến Hy Lạp (Greece), Ý Đại Lợi (Italy) và Pháp (France) Tại Hoa Kỳ, những khu vườn nho bắt đầu được trồng tại các vùng bờ biển phía Đông vào năm 1616
nhưng sau đó phải hủy bỏ vì thời tiết giá lạnh và có nhiều bệnh phá hại cây nho Chỉ ở Tiểu Bang California là vùng
có khí hậu ưu việt nhất nên công nghiệp trồng và chế biến rượu nho được phát triển mạnh từ đây Riêng hạt
nho (grape Seed), vừa mới được các nhà khoa học Hoa Kỳ nghiên cứu và đưa vào làm thuốc vào năm 1970 Do
vậy, đối với đa số các thầy thuốc Đông Y, hạt nho quả là một vị dược liệu khá mới lạ
Hạt nho (Grape Seed) còn có tên khác là Vitis coignetiae và vitis vinifera, thuộc họ Nho Vitaceae Nho thanh mãnh,
yếu, vươn dài thành dây leo, lá xẻ nhiều thuỳ hình chân vịt, trái kết thành chùm hình trứng hoặc tròn, khi chín có màuxanh, xanh nhàn, vàng nhạt, đỏ hoặc tím đen tuỳ theo giống, vị ngọt hoặc chua ngọt Một số giống nho có hạt trongkhi một số khác thì không
Bộ phận dùng làm thuốc:Hạt (seed).
Thành phần hoá học:Chất chủ yếu là Procyanidolic Olygomers (PCOs) còn gọi là Ologo -Meric Procyanidins (OPCs) Đánh giá:Theo hệ thống thang điểm 5 sao, hạt Nho được xếp hạng như sau:
Nghiên cứu trên cơ thể người : **
Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: ***
Ứng dụng theo lịch sử y học cổ truyền: **
Báo cáo về mức độ an toàn: ****
Tác dụng:Chống oxy - hoá, bệnh về mắt và nhìn kém, chứng giãn tĩnh mạch hay nổi gân xanh (varicose veins), máu lưu thông không đều, mao mach dễ vỡ (capillary Fragility) tạo thành những vết thâm tím dưới da, tổn thương do tập thể theo, giúp cơ tim khoẻ mạnh, tiểu đường, nhiều bệnh do thái hoá, bị viêm tấy và ung thư (cancer).
Ngoài kinh nghiệm của người Pháp thường uống rượu nho đỏ để ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh tim mạch, các nhànghiên cứu còn tin rằng, sức khoẻ được gia tăng nhờ một số chất da vị phức tạp trong hạt nho gọi là Procyanidolic
oligomers (PCOs) hay procyanidins Đây là hợp chất chống oxy-hoá, giúp bảo vệ chống lại gốc tự do (Free radicals) nguyên là những phân tử không bền làm hư hỏng tế bào và mô trong cơ thể, các nhà khoa học ghi nhận có
sự liên hệ qua lại giữa gốc tự do với các nếp nhăn sớm hiện trên da, sự phá huỷ da do ánh nắng mặt trời và hơn
100 loại bệnh gồm bệnh cườm mắt (cataracts), viêm đa khớp dạng thấp (rhcumatod arthritif), bệnh tim mạch và bệnh
ung thư Cơ thể sản xuất vài loại enzymes để sẵn sàng đối phó với gốc tự do nhưng sự bảo vệ tự nhiên của chúng
ta có thể bị áp đảo dễ dàng khi chế độ dinh dưỡng quá thiếu thốn, thường bị căng thẳng tinh thần, bị ô nhiễm môitrường và nhiều nguyên nhân do cuộc sống văn minh vật chất tác động Nên biết rằng PCOs có khả năng cũng cố
cấu trúc chất tạo keo (Collagen) là chát làm ra mạch máu và da Ngoài hạt nho, chất PCOs còn tìm thấy trong võ cây thông tinh chế (Pine bark extracts).
Chứng minh khoa học: Từ năm 1970, hầu hết các cuộc nghiên cứu tại Hoa Kỳ và Châu Âu đều tập trung vào chất
Procyanidins chứa trong hạt nho tinh chế
- Năm 1981 tại Pháp, qua nghiên cứu 28 bệnh nhân bằng phương pháp so sánh giữa nhóm dùng 2-3 viên hạt nho
tinh chế (100-150mg/ một ngày) và nhóm dùng thuốc trấn an (placebo) Sau 3 tháng, các nhà nghiên cứu ghi nhận
hạt nho tinh chế có tác dụng làm giảm tệ trạng vỡ mao mach do hậu quả của bệnh cao huyết áp và bệnh tiểu đường.Người có chứng giảm tĩnh mạch khi dùng hạt nho tinh chế cũng thấy cải thiện rõ rệt, gân xanh nỗi cộm lên mặt dadần dần biến mất Lưu ý, hai bệnh cao huyết áp và tiểu đường là tác nhân làm cho cấu trúc mạch máu và mao mạch
bị suy yếu và dễ vỡ
- Năm 1988, thử nghiệm với 98 bệnh nhân bị cườm mắt và sức nhìn kém bằng liều lượng 4 viên (200mg) hạt nhotinh chế mỗi ngày, sau 5 tuần lễ, dùng máy nycometr, scotoptometer và ergovision để đo lại thị giác thì thấy thị lựctăng lên rõ rệt, sức nhìn tinh tường hơn trước
- Năm 1990, nghiên cứu tác dụng hạt nho tinh chế trong phòng thí nghiệm, các nhà khoa học ghi nhận dược liệu này
có khả năng kháng ung thư (anticancer) và giúp làm giảm độc tính khi dùng hoá trị liệu pháp (chemothrapeutic drugs) Theo kết quả trong một cuộc nghiên cứu khác cho thấy hạt nho tinh chế có tác dụng hơn vitaminC và E trong
việc bảo vệ những người nghiện thuốc lá nhằm chống lại tình trạng tế bào bị hư hỏng bởi gốc tự do sinh ra từ thuốc
Trang 30lá Đây là tin tốt lành cho hàng chục triệu người mắc bệnh ung thư trên khắp thế giới, trong đó 1/3 nguyên nhân hútthuốc lá hoặc ảnh hưởng bởi khói thuốc lá Ngoài ra, các nhà nghiên cứu xác nhận trong vai trò kháng oxy-hoá, hạtnho tinh chế còn bảo vệ cả màng ống tiêu hoá không cho hư hỏng, tạo năng lực chặn đứng bệnh viêm dạ
dày (gastritis), viêm loét dạ dày và hành tá tràng (gastric and duodenal ulcers), chứng ăn khó tiêu (dyspepsia) và cả dun thư dạ dày (gastriccancer).
Hạt nho tác động thư thế nào? Các nhà nghiên cứu đưa ra hai bằng chứng quan trọng nhất về chức năng của hạtnho trong vai trò cũng cố và nâng cao sức khoẻ cơ thể: Thứ nhất hạt nho tinh chế có năng lực cung ứng thật dồi dào
chất keo (collagen) vốn là chất đạm trong cơ thể Thứ hai có năng lực trung hoà gốc tự do trước khi chúng có thể
gây ra nguy hại cho cơ thể
Gốc tự do là những phân tử không bền, hay thay đổi, chúng tàn phá mô (tissues) dưới dạng oxy - hoá chất béo là
chất lo duy trì màng tế bào và làm hư hỏng DNA, một chất di truyền Các nhà khoa học ngày nay tin chắc rằng gốc
tự do là một mẫu số chung, thủ phạm gây ra vô số vấn đề bất lợi cho sức khoẻ bao gồm các bệnh về mắt, bệnh timmạch, hệ thống tiêu hoá, chết yểu, các bệnh ung thư Trái lại, chất procyanidins (PCOs) chứa trong hạt nho và cỏcây thông tinh chế có hiệu lực chống oxy - hoá, giúp trung hoà gốc tự do Theo các nghiên cứu chất PCOs chốngoxy-hoá mạnh gấp 70 lần hơn so với VitaminE chỉ đạt 47 lần, vitaminC 18 lần, becta - carotene 16 lần về khả nănglàm giảm mức độ vỡ cấu trúc DNA trong mô gan, chất PCOs mạnh gấp 47 lần so với sức mạnh của các chất oxy-hoá khác gồm vitaminE 36 lần, vitaminC 12 lần, beta - carotene 10 lần Tương tự như vậy, sức mạnh làm giảm mức
độ vỡ cấu trúc DNA trong mô não của chất PCOs là 48 lần so với vitaminE chỉ có 31 lần, vitaminC 14 lần và betacarotene 11 lần
Về mức độ an toàn (safety), hạt nho tinh chết được chuẩn nhận là không có độc tố và có thể dùng trị bệnh lâu dài vẫn tốt Về phản ứng phụ (sideeffects), rất hiếm xảy ra Một vài trường hợp, báo cáo ghi nhận có hiện tượng xáo trộn
nhẹ trong dạ dày, chóng mặt hoặc ngứa sần da
Điều sau cùng chúng ta muốn biết, ai là người khám phá ra chất procyanid olicoligomers - PCOs? Tiến sĩ Jacques
Masquelier! ông là một nhà nghiên cứu trẻ Pháp, đã khám phá và cô lập được chất PCOs lần đầu tiên trong vỏ lụamàu đỏ của hạt đậu phộng vào giữa thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ Do mưu tìm một nguồn đinh dưỡng tổnghợp hầu cứu đối cho nước Pháp đang bị chiến tranh tàn phá, Tiến sĩ Masquelier trước hết nghiên cứu các nguồn
thực phẩm quanh nhà, trong khu rừng thông kéo dài từ Bordeau với Tây Ban Nha (Spain) tồi trích ly được chất PCOs trong vỏ cây thông và đặt tên "Pycnogenols" như một cách phân biệt với các loài gia vị khác Sau đó ít lâu,
Tiến sĩ Masquelier phân lập được chất PCOs từ hạt nho, một được liệu quý nhưng bị vứt bỏ trong công nghiệp làmrượu nho của nước Pháp Hiện nay, PCOs là thuốc bổ trợ có chỉ số tiêu thụ đứng hàng đầu tại Âu Châu và Hoa Kỳ
Liều dùng:Viên nén hoặc capsules, liều trung bình từ 50-100mg/ngày, có khi tăng tới 150-300mg/ngày tuỳ trường
hợp cần thiết Hạt nho tinh chế phải đạt tiêu chuẩn hoá tỷ lệ 85-95% hoạt chất procyanidins
Green tea: Là trà xanh hay chè xanh Tại các quốc gia phương Tây, trà xanh hay chè xanh được gọi là tea, green
tea hay matsu - cha Tên khoa học Camellia sinensis, thuộc họ Chè Theaceae.
Lịch sử: Chè xanh là một loại đặc sản của Trung Quốc Các nhà khảo cổ học tìm thấy tư liệu về cây chè trong một
cuốn sách cổ viết vào năm 780 sau Công Nguyên Người khám phá ra chè xanh và đưa vào làm đồ uống là VuaThần Nông, sống cách nay khoảng 3,500 năm
Về sau, thông qua con đường buôn bán xuyên biến giới, chè xanh theo chân đàn người thương mãi xâm nhập vào
Ấn Độ, Nhật Mãi đến thế kỷ thứ 6 sau Công Nguyên, chè xanh mới thấy trồng tại Thổ Nhĩ Kỳ (Turkish) rồi tiếp theo
là Hà Lan (Dutch), Anh (British), muộn nhất có lẽ là Hoa Kỳ nhờ những người di dân lập nghiệp đầu tiên mang vào.
Tuy nhiên, hiện nay Hoa Kỳ là nước tiêu thụ chè xanh lớn nhất thế giới với nhiều kiểu khác nhau thật phổ biến nhưchè cà phê đóng gói, chè lạnh, chè thuốc, chè trộn thực phẩm Hằng năm, Hoa Kỳ uống trên 2 tỷ gallons (trên 7 tỷ
560 triệu lít) nước chè lạnh
Bộ phận dùng làm thuốc: Lá, đặc biệt là lá non tức búp chè.
Thành phần hoá học: Polyphenolic flavonoids gồm chất epicatechin, epigallocatechin và gallate esters; chất
quercetin, myricetein; chất tannins, terpenoids và alkaloids gồm caffeine, theo - bromine, theophylline, vitaminsB1,B2-C, folic acids, chất béo
Thang điểm theo tỷ lệ hệ thống 5 sao
- Nghiên cứu với con người trong dưỡng đường: **
- Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm: ***
- Sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền: ****
- Báo cáo an toàn: ***
- Thừa nhận theo tín lực quốc tế: ***
Tác dụng: Theo lịch sử nguyên thuỷ, chè xanh được dùng như một chất kích thích, tiểu khó, chống viêm, chống sâu răng (dental cavities), ngăn ngừa chứng vữa xơ động mạch do chất bẩn bám trong thành mạch máu (atherosclerosis), giảm lượng mỡ trong máu (cholesterol), giảm nguy cơ bệnh ung thư, giúp làm khoẻ mạnh tim
và gan
Tại cá quốc gia Á Châu như Trung Quốc, Ấn Độ, Miến Điện, Việt Nam, Nhật, người ta coi chè như nguồn giải khátthông dụng sau nước uống Năm 1992, nhiều cuộc nghiên cứu dài hạn đã khám phá một hệ quả hết sức ngạc nhiên
đối với những phụ nữ Nhật thực hành cách uống chè theo nghệ thuật "Trà đạo - chanoyu" có tỷ suất tử vong thấp
hơn so với các phụ nữ không dùng chè xanh Trên thương trường có nhiều dạng chè như chè ô long, chè đen,
Trang 31nhưng thực chất đều xuất phát từ giống cây chè Camellia sinensis Hình thái khác nhau chẳng qua do kỹ thuật chếbiền mà ra Chè xanh là do sấy khô lá chè một cách đơn giản.
Chè ô long là cách ủ cho lá chè lên men nữa giai đoạn và chè đen thì ủ cho lá chè lên men hết giai đoạn chuyển
màu để cuối cùng thu lây hương vị thơm ngon hất, màu sắc đen nhất hoặc giảm vị chát (tannins) cũng như các polyphenols khác Phương pháp ủ hay lên men (fermentation) chè không giống lên men vi khuẩn theo kiểu cất rượu
hoặc yogurt Nó vẫn còn là bí quyết riêng theo kiểu gia truyền
Sự lợi ích trước nhất của chè xanh là phòng ngừa, không phải chữa bệnh Tác dụng làm tăng sức khoẻ nhờ hợp
chất mang tên polyphenols được tìm thấy trong nhiều loại trái cây, rau xanh và dược thảo, có đặc tính chống hoá (antiodant) Nên biết rằng oxy-hoá phát xuất từ những phản ứng hoá học có liên hệ đến gốc tự do độc hại, làm
oxy-hư hỏng chất đạm (proteins) và hệ thống di truyền DNA trong cơ thể Gốc tự do làm hao mòn sức khoẻ, gây lão hoásớm và tạo ra nhiều bệnh tật Chẳng hạn, bệnh ung thư và bệnh tim, cả hai đều có liên hệ đến gốc tự do, đầu mốiđộc hại đáng sợ Trái lại, polyphenols trong chè xanh vốn là chất chống oxy-hoá cực mạnh, đặc biệt
chất catechins có khả năng ngăn ngừa sự hình thành và tác hại bởi gốc tự do.
Về lợi ích thiết thực của chè xanh qua nghiên cứu gồm có:
- Ngăn chặn phản ứng bất lợi của gốc tự do nhờ hợp chất chống oxy-hoá mạnh
- Gia tăng năng lực của loại enzymes chống oxy-hoá nhằm bảo hộ cơ thể.
- Cải thiện về tỷ lệ giữa mỡ xấu (bad cholesterol hay low-density lipoprotein - LDL) và mỡ tốt (good cholesterol hay high-density lipoprotein HDL).
- Giúp hạ bớt số lượng hợp chất độc hại do men gan bị oxy-hoá sinh ra
- Nâng cao sức khoẻ cho răng, giúp ngăn ngừa bệnh sâu răng (cavities).
Báo cáo khoa học:Trong vòng 15 năm trở lại đây, nhiều cuộc khảo sát các sắc dân trên thế giới song song với những cuộc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã đưa ra một số báo cáo khao học rất đáng chú ý: "chè xanh có tác dụng chống oxy-hoá, đặc biệt polyphenols, có khả năng ngăn chặn và làm giảm bệnh tật" Mặc dù nghiên cứu dịch tể học (epidemiological studies) còn khá giới hạn và chưa hoàn toàn thống nhất về kết quả, chẳng hạn thừa nhận chè xanh có khả năng kháng lại ung thư ruột già (colon cancer) nhưng không trị được ung thư dạ dày (stomach cancer); đồng thời quy kết việc uống trà đen (black tea) là tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư phổi (hung caner) và ung thư ruột
già
Sự khảo sát trong phòng thí nghiệm đưa tới kết luận chưa thống nhất so với thực tế cũng là điều dễ hiểu, vì cònnhiều nhân tố khác như ăn uống và còn rèn luyện thân thể có ảnh hưởng rất lớn đến việc gia tăng hay suy giảmnăng lực đối kháng với bệnh tật Tuy vậy, tính hiển nhiên của trà xanh ngăn chặn bệnh ung thư là kết luận khả tínđược nghiên cúu cẩn thận trong một thời gian dài
- về giảm nguy cơ gây ung thư:Tiêu thụ đồ uống có chất caffeine, đặc biệt là chè xanh, làm biến đổi mức đọ hormone
và giúp giảm bớt nguy cơ ung thư vú Trong một cuộc nghiên cứu khác cho thấy việc uống chè xanh làm giảm vàitác dụng đột biến do hút thuốc lá, hạ thấp tỷ lệ ung thư dạ dày đối với những người uống trên 10 chén chè xanh mỗingày Theo dõi việc uống chè xanh của dân tộc Trung Quốc, các nhà nghiên cứu ghi nhận họ bị ung thư ruột già vàung thư tuỵ tạng thấp hơn rất nhiều so với sắc dân da trắng, đàn bà có tác dụng mạnh hơn đàn ông
Vào năm 1997, qua một cuộc khảo cứu với 8,552 người Nhật, cả nam lẫn nữ trên 40 tuổi, các nhà nghiên cứu ghinhận người nào uống chè thường xuyên đều có khuynh hướng tránh hoặc bị ung thư rất ít Cuộc điều tra với nhữngcâu hỏi về lịch sử gia đình, tình trạng sức khoẻ, thói quen ăn uống hằng ngày kể cả thói quen uống chè Tiếp theo,các nhà nghiên cứu cho phân tích máu và số người tham dự để xem tác dụng của chè xanh qua chức năng của timmạch và gan; đồng thời tìm hiểu có bao nhiêu trường hợp bị ung thư thành lập sau 9 năm Kết quả cho thấy, cànguống chè xanh lâu năm càng ít có nguy cơ bị ung thư tấn công Uống trên 10 chén chè mỗi ngày, tỷ lệ bị ung thư thậthiếm ngoại trừ những người hút thuốc lá
Năm 1998, trong một cuộc nghiên cứu với 462 phụ nữ bị bệnh ung thư vú thời kỳ I,II và III, các bệnh nhân nầy đượchỏi về sức khoẻ tổng quát, tập quán đời sống, thói quen ăn uống và trải qua cuộc kiểm tra để xác định về kích thước
cục bướu, số liệu về các hạch huyết di căn (metastasized lymph nodes) và dấu tích về các bệnh khác Liên tiếp trong
7 năm, các nhà khoa học cho tất cả bệnh nhân nầy uống chè xanh theo liều lượng như nhau Kết quả, khi tănglượng chè xanh lên thì thấy giảm số lượng hạch bạch huyết di căn đối với các phụ nữ bị ung thư vú thời kỳ I và II
vào giai đoạn tiền mãn kinh (premennipause); đồng thời cũng gia tăng thụ thể progesternone và estrogen đối với các phụ nữ ở vào giai đoạn hậu mãn kinh (post - menopause).
Tất cả nhân tố này thật quan trọng nhằm xác lập dữ kiện tiên lượng về ung thư Điều đáng lưu ý với mức uống hơn 5chén chè xanh mỗi ngày trong thời gian dài có dấu hiệu giảm hẳn tình trạng tái đi tái lại của ung thư vú ở thời kỳ I và
II Rất tiếc, chè xanh không thấy tác dụng ung thư vú bước sang giai đoạn III
- Về Cholesterol: Năm 1995, khảo sát 1, 371 đàn ông Nhật thường uống chè xanh trên 10 chén mỗi ngày, các nhà
nghiên cứu ghi nhận lượng mỡ trong máu và tổng cộng cholesterol thấp hơn mức trung bình (199mg/dl) Các mẫu
máu có hai chi tiết khá rõ rệt là lượng mỡ khá tốt (good cholesterol - HDL) tăng lên trong khi lượng mỡ xấu (bad cholesterol - HDL) giảm xuống và nồng độ (concentrations) hoá chất liên quan đến tình trạng làm hư hỏng tế bào gan
cũng hạ xuống Quan sát tỷ lệ giữa lượng mỡ tốt HDL và mỡ xấu DLD, các nhà nghiên cứu thấy bệnh xơ cứng độngmạch (arteriosclerosis) cũng được cải thiện, Kết luận, uống chè xanh là phương cách trực tiếp làm giảm, ngăn chặnbệnh tim và bệnh gan
Chè xanh hoạt động như thế nào? Ngày nay, các nhà khoa học đều nhận biết phần lớn bệnh tật có liên quan đếngốc tự do là những hoá chất độc hại phản ứng cao độ làm hư hỏng DNA, chất đạm và những phân tử khác trong cơ
Trang 32thể Còn chè xanh gồm các hợp chất chống oxy-hoá, chủ yếu polyphenols, đặc biệt là actechins Nghiên cứu trong
phòng thí nghiệm, catechins được công nhận có năng lực chống oxy - hoá cao nhất so với các hợp chất khác trong
lá chè xanh
Ảnh hưởng của polyphenols trong chè xanh có nhiều tác dụng khác nhau Trước hết, ngăn chặn nhóm cytochrome
-P-450, đầu mối tạo chất gây ung thư (carcinogens) Cytochrome P-450 vốn là hệ thống enzyme của gan, trợ giúp
tổng quát cho cơ thể tống xuất chất độc và chuyển hoá dược phẩm, nhưng trong vài trường hợp có thể tạo ra chất
gây ung thư Thứ hai, hạ thấp mức nhạy cảm kết tụ khối u vì chúng nâng cao hoạt động enzymes chống oxy-hoá, diễn tiến một cách tự nhiên trong cơ thể gồm men khửglutathione và truyền glutathione-S Thứ ba, polyphenolic flavonoids cũng xuất hiện để ngăn ngừa việc thành lập chất gây ung thư xảy ra do những hợp chất tạo đột biến xấu luôn tiềm tàng trong các loại thực phẩm chế biến Sau cùng, epigallocatecchin gallate, một trong những thành phần chủ yếu của polyphenols trong chè xanh có tác dụng ngăn ngừa u bướu thành hình và đẩy mạnh việc tẩy rửa chất
gây ung thư
Mức độ an toàn: Nói chung, chè xanh an toàn và không có độc tố Mỗi bát chè chứa khoảng 50mg chết caffeine
trong khi coffee chứ tới 85mg Ceffeine có tính năng kích thích hệ thống thần kinh, không nên dùng lâu ngày haydùng quá liều lượng Một vài loại chè tinh chế tuy đã khử bỏ chất caffeine nhưng không làm ảnh hưởng đến hàmlượng polyphenol trong lá chè
Tác dụng phụ:Cả hai chè xanh cà chè đen gồm có chất caffeine, giống như coffee, gây ra phản ứng phụ như loạn nhịp tim (heart irregularities), trạng thái lo âu (anxiety), bồn chồn không yên (restlessness), hốt hoảng xáo trộn tính
nhạy cảm của dạ dày Hơn nữa, tuy chè không chứa độc tố, phụ nữ có thai, người bị cao huyết áp cũng như trẻ connên tránh những thức uống có chất caffeine
Liều dùng:Ngày uống 2-3 bát chè xanh, nhưng nhiều cuộc nghiên cứu chấp nhận cho uống đến 10 bát (40 ounces
hay gần 12g chè/ngày) Riêng chè tinh chế có nhiều tiêu chuẩn khác nhau, thông thường trên 97% pophenols, trong
đs có khoảng 60% chất catechins
- Tiêu chuẩn tinh chế: Hàm lượng 90% polyphenols, uống từ 250-400mg/ngày
- Tiêu chuẩn chè xanh: Từ 2-5 bát/ngày Cứ một muỗng cà phê lá chè khô tương đương với 1 bát nước sôi
- Cách pha chè: Chè xanh đòi hỏi nước mát và trong sạch, hãm chè trong thời gian ngắn dưới 3 phút mới tránh mấthương vị Hãy để nước sôi với ngọn lửa nhỏ trước khi ngâm chè Còn chè đen và chè ô long phải để nước sôi nhẹ
và ngâm lâu hơn 1 chút, độ 3-5 phút
Ngoài ra còn rất nhiều dược thảo khác trên thế giới cũng có công năng kháng và tiêu trừ ung thư hết sức hiệu quả,
sẽ được lần lượt giới thiệu trong các bài thuốc hỗn hợp Đông - Tây Chẳng hạn:
- Iscador: hoạt chất chiết xuất từ lá, quả của cây mistletoe ở Châu Âu.
- Larch Arabinogalacta: Là chất nhựa chiết xuất từ một giống thông ở Trung Đông
- Maitake mushroom: Một loại nấm hương của Nhật Bản
- Pau d'arco: là vỏ cây lapacho vùng Nam Mỹ Châu và vịnh Calibbean.
- Pectin: là chất sợi (fiber) nằm trong cam, táo, chuối, cà rốt, rau xanh.
- Silymarin: một hoạt chất hiện diện trong dược thảo milk thistle.
- Turmeric: là vị Uất kim, rễ khương hoàng hay củ nghệ của Đông y
Kết luận, nhờ có phương tiện nghiên cứu, y học hiện đại đã hiểu rõ sự hình thành và phát triển của tế bào ung thư;đồng thời ứng dụng một số phương pháp điều trị khá tích cực, đạt được một số thành tựu đáng kể Tuy nhiên, trênthực tế, y học hiện đại vẫn chưa có phương pháp điều trị nào an toàn, tránh được những phản ứng phụ gây thiệt hạisức khoẻ không kém gì mức tàn phá của ung thư Đặc biệt hai trong số phương pháp trị ung thư được coi là hiệu
quả nhất hiện nay là hoá liệu Pháp (chemotherapy) và phóng xạ liệu pháp (radiation therapy) đã để lại nhiều di
chứng thật bi thảm Theo các nhà nghiên cứu trường đại học Stanford Hoa Kỳ xác nhận, phương pháp
dùng chemotherapy giết người nhiều hơn là chữa bệnh (chemotherapy kills more patients! it cures) Trong khi đó, tạo chí Học Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ (journal of the national cancer in stitute) báo cáo, dùng radiation therapy làm gia tăng nguy cơ ung thư đường hô hấp (respiratory cancer) tới 2,7 lần, tăng ung thư bộ phận sinh dục (genital cancers)phụ nữ như ung thư tử cung và buồng trứng (Uterus and ovaries) tới 2,4 lần.
Riêng về Đông y dược xuất hiện cách nay trên 4,700 năm, có một bề dày kinh nghiệm từ Thần nông nếm cây cỏ làmthuốc đến Hoàng Đế phổ cập Nội kinh, Y Doãn, chế thuốc thang, lưu lại cho hậu thế nhiều phương pháp trị bệnh ungthư rất là xảo diệu
Khác với y học hiện đại, Đông y dược học cho rằng:
- Bệnh ung thư có thuốc trị Bảo rằng không có thuốc trị là vì chưa biết mà thôi
- Phương pháp trị ung thư phải hội tụ các yếu tố: tổng thể, an toàn, đặc hiệu
Phân biệt giữa Ung thư và Tràng nhạc (lao hạch):
Trước khi thực hành phương pháp trị ung thư theo Đông y học, cũng cần tìm hiểu và phân biệt giữa khối ung thư vàkhối tràng nhạc có nhiều điểm khác nhau để tránh chẩn đoán nhầm:
Ung thư : Tràng nhạc (lao hạch)
(Cancer) : (Tuberculose lymphadenitis)
Trang 33- Không sưng đỏ, không đau : - Phát sưng đỏ, đau.
- Khi phá miệng, ứa mủ vàng, : - Chảy mủ đục, đậm
hôi
- Phá miệng lâu ngày thì thịt : - Lâu ngày biến thành mạch lươn, ăn lan
lồi lên nơi khác
Từ cái nhìn tích cực qua kinh nghiệm tích luỹ hàng nghìn năm, Trung y đề xuất phương pháp "Tổng thể trị liệu" để
trị ung thư Phương pháp này vừa triệt tiêu mầm bênh, vừa nâng cao hệ thống miễn nhiễm, gia tăng sức khoẻ chobệnh nhân, an toàn và đặc hiệu nhờ các ưu điểm:
- Không bị mổ xẻ, chảy máu, cài kim radium, dùng chemotherapy, chiếu X-ray.
- Không bị tác hại do uống hoá dược, trúng độc, phản ứng phụ
- Làm tiêu dần khối u còn nhỏ, kéo dài sinh mạng khi ung thư di căn hay vỡ loét
- Sức thuốc thấu suốt toàn thân, phân giải chất độc khối ung thư, cải thiện mô và tế bào quanh khối u, thay củ đổimới, gia tăng tế bào lành mạnh
Tổng thể trị liệu gồm có nhiều phương pháp kết hợp nhau tuỳ theo bệnh biến mà ứng dụng cho thích hợp, gồm có:
- Thanh nhiệt, giải độc
- Lương huyết, chỉ huyết
- Hành khí hoạt huyết
- Tư âm, bổ dương
- Hoá đàm, nhuyễn kiên
- Bổ dưỡng khí huyết
- Thay đổi thực phẩm
Về mặt lâm sàng, người thầy thuốc có thể ứng dụng các phương cách trị liệu:
- Nội tiêu trị liệu
- Đối chứng trị liệu
- Tạng khí trị liệu
- Kháng độc trị liệu
- Dược cứu trị liệu
- Dinh dưỡng trị liệu
- Ngoại dụng trị liệu
Sau đây là một số phương pháp dụng dược của Y sư Trịnh Phong Tiều, một thầy thuốc nổi tiếng Đông lẫn Tây y củaTrung Quốc, đã cứu sống hàng chục nghìn người mắc bệnh ung thư tới thời kỳ trầm trọng
a, Nội tiêu trị liệu:
Công thức: "nội tiêu hoàn" chủ yếu gồm có Mã bửu (khối ung thư trong nội tạng loài ngựa) + Cẩu bửu (khối ung thưtrong nội tạng loài chó) và các thành phần dược liệu khác, tuỳ bệnh mà lập phương
Công dụng:
- Khử tế bào ung thư, làm cho khối u tiêu mòn dần qua 6 giai đoạn liên hoàn:
+ Cải thiện mạch máu, làm cho mềm dẻo, hết xơ cứng
+ Cải thiện hệ tuần hoàn, giúp cho máu lưu thông nhiều hơn
+ Cải thiện tế bào lành mạnh, phân giải chất độc tích tụ quanh khối u
+ Cải thiện hệ miễn dịch, gia tăng bạch huyết cầu
+ Phục hoạt mô và tế bào bị hư hoại, làm khối u nhỏ dần
+ Khối u biết mất, không tái phát
Chủ trị: Ung thư não, vũ, hàm mặt, xương, da, ruột, bàng quang, thực quản, tuỵ tạng, mũi, lưỡi, dạ dày, gan, tửcung, bạch huyết, phổi, ruột dư
Kết luận: Khối ung thư chưa phá miệng thì có thể tiêu dần Nếu khối ung thư đã phá miệng thì có thể ngưng phát tác,thu nhỏ dần vết thương
- Nếu cơ thể gầy ốm, suy nhược, da thịt tiêu mòn thì dùng thuốc cường lực: nhân sâm, lộc nhung, lộc giác giao, hàthủ ô, thục địa hoàng, đương quy, bạch truật, đỗ trọng, nhục thung dung, câu kỉ tử, nhục quế, cáp giới vĩ (đuôi tắckè), hải mã, quy bản, miết giáp, lộc thai, tử hà xa Công dụng: Chuyển hoá cơ nhục, nâng cao khí huyết, hồi phụcsức khoẻ
- Nếu khối u cương mũ hay phá miệng, phải dùng thiêm thuốc ngăn làm mũ và ngăn mùi hôi thối: Ngưu hoàng, Xạhương, A ngùy, Bằng sa, Trân châu phân, Tô hợp hương, Bạch phàn phi Công dụng: giữ cho mô đừng bị huỷ hoại,giảm mùi hôi thối
- Nếu bệnh gây đau nhức, cần thêm thuốc trấn thống, làm êm dịu thần kinh, đỡ đau: Long cốt, Mẫu lệ, Long xỉ, toantáo nhân, phục thần, xuyên điền thất, sơn thù du, hương phụ, trầm hương, chế ô đầu hay phụ tử phiến, nhũ hương,một dược, diên hồ sách, ngô châu du, bạch đàn hương, am tấc hương, ích trí nhân, viễn chí
Trang 34Công dụng: Làm tê bớt dây thần kinh cảm giác.
- Nếu có chảy máu nội tạng, gia thêm thuốc cầm máu: Tiên hạc thảo, hắc bồ hoàng, a giao châu, sinh ngẫu tiết (ngósen tươi), sinh bạch thược, quyển bá, bạch cập, trắc bách diệp, hoè hoa, huyết kiệt, đại dã thạch, tiểu kế, địa du.Công dụng: Làm co thắt mạch máu, dễ đông máu khi gặp trường hợp chảy máu không ngưng
Sau đây là một số dược thảo dùng trong pháp đối chứng trị liệu với bệnh ung thư:
Loại chỉ huyết, cầm máu:
- Tiên hạc thảo, còn có tên Long nha thảo, tên khoa học agrimonia nepalensis, thuộc họ hoa hồng Thành phần hoáhọc gồm có chất Acid tannic, ba chất agirmonin A-B-C Có tác dụng đông máu từ 40-50%, điều chỉnh nhịp tim, làmhưng phấn cơ tim, tiêu viêm Giúp cầm máu khi ung thư phá miệng làm chảy máu không ngưng
Liều dùng: Từ 10-20g, có khi tới 30-40g vẫn không gây phản ứng phụ.
- A giao: còn có nhiều tên khác như: phó trí giao, bồn giao, ô giao, bì giao, phú bồn giao nguyên là chất keo chế từ
da con lừa Tên khoa học Colla asini, gelatinum asini, gelatina nigra Thành phần hoá học gồm chất collagen là
chính, khi thủy phân sẽ cho ra các acid amin, nitơ, calci, sulfur Có tác dụng tạo máu, hấp tu calci, loạn dưỡng cơ,chống choáng Chủ trị: bổ dưỡng cầm máu trong mọi trường hợp ho ra máu, ói ra máu, chảy máu cam, băng huyết,
đi tiêu ra máu, kinh nguyệt không đều, động thai không yên Liều dùng: 6-12g, dùng sống hoặc sao chín
- Trắc bách diệp: tên khoa học Thuja orien talis, thuộc họ trắc bách cupressaceae Thành phần hoá học gồm tinh dầu
và chất nhựa, trong tinh dầu có chất pinen, cariophylen, vitaminC Có tác dụng co mạch khi sao đen và dùng với liềuthấp, hiệu quả giống như vitaminK, cầm máu tốt Chủ trị ung thư có xuất huyết Liều dùng: 10-15g (sao gần cháy)
- Hoè hoa: còn gọi hoè mễ, tên khoa học sophora Japonica, thuộc họ cánh bướm fabaceae Thành phần hoá học
gồm có khoảng 6-30% chất rutin (là một loại vitamin P có tác dụng gia tăng sức chịu đựng của thành mạch), chấtesculozit và chất hesperidin cũng có đặc tính giống như rutin Có tác dụng ngăn ngừa mạch máu bị xơ cứng, dễ vở,hay bị adrenalin phá huỷ, làm hạ huyết áp đối với người cao máu Chủ trị: Chỉ huyết, cầm máu trong các bệnh ho ramáu, chảy máu cam, đái ra máu, ruột chảy máu Liều dùng: 6-20g, nấu uống
-Đại kê: Còn gọi là Thích kế, Hổ kế, Mã kế, Sơn ngưa bang, Thiết thích ngãi, Dã thích thái, Thích khải tử, cây ô rô.Tên khoa học Circus japonicus, thuộc họ Cúc Asteraceae Thành phần hoá học gồm tiliaxin, labenzym, tinh dầu,inulin, glucozit, cyanogenes Có tác dụng vượng tim, thông tiểu, co mạch máu Chủ trị: khạc ra máu, tiểu ra máu,chảy máu cam, bị xuất huyết nội, viêm phù thận Liều dùng: 6-12g cây lá phơi khô, nấu uống
Đại kê:Còn gọi là Thích kê, Hổ kế,Mã kế, Sơn Ngưu Bang Thiết thích ngãi Dã thích thái Thích khải tử, cây ô rô Tên khoa học Cricus Japonicus, thuộc họ Cú Asteracae Thành phần hóa học gồm tiliaxin Labenzym, tinh dầu,
inulin, glucozit, cyanogenes Có tác dụng vượng tim, thông tiểu, co mạch máu Chủ trị: khạc ra máu, tiểu ra máu,chảy máu cam, bị xuất huyết nội, viêm phù thận Liều dùng 6-12g cây lá phơi khô, nấu uống
-Kê quan hoa: Còn có tên Kê đầu, Kê quan, bông mồng gà đỏ Tên khoa học Celosia cristata, thuộc họ DềnAmaranthaceae Thành phần hoá học chưa được xác định rõ ràng Theo kinh nghiệm Đông dược, Kê quan hoa cótác dụng thanh nhiệt (làm cho mát) và cầm máu Chủ trị: đi tiêu ra máu, bệnh trĩ chảy máu,, dạ dày và ruột chảy máu,
tử cung xuất huyết, phụ nữ kinh nguyệt kéo dài không dứt Liều dùng: 3-6g, nấu uống
-Sâm tam thất: Còn có tên là Kim bất hoán, Nhân sâm tam thất Tên khoa học Panax noto-ginseng, thuộc họ Ngũ gia
bì Araliaceae Thành phần hoá học gồm 2 chất chính là Arasa-ponin A và Arasaponin B Có tác dụng hành ứ, cầmmáu, tiêu thũng Chủ trị: Thổ huyết, chảy máu cam, lỵ ra máu, ứ huyết do bị đánh đập Liều dùng: 4-8g, nấu uốnghoặc dùng thuốc bột
-Liên phòng: Còn gọi là gương sen (Receptaculum Nelumbinis) Thành phần hoá học có protein, chất béo,hydratcabon, carotin, nuclein và vitamin C Tác dụng: cầm máu, tiêu ứ Chủ trị: ứ huyết đau bụng, sanh xong nhaukhông ra, băng huyết ở phụ nữ, tiểu ra máu, đi tiêu ra máu Liều dùng: 15-30g (sao đen) sắc uống
-Liên ngẫu: Còn gọi là ngó sen tươi (Nodus Rhizomatis Loti) Thành phần hoá học có Asparagin, acginin, trigonelin,tyrocin, este phosphoric, glucoza, vitamin C Tác dụng: cầm máu Chủ trị: Đi tiêu ra máu, tiểu ra máu, nôn ra máu,chảy máu cam, tử cung xuất huyết Liều dùng: 6-12g, giã lấy nước cốt uống tươi mới có hiệu nghiệm cao
-Bạch cập: Tên khoa học Bletilla striata, thuộc họ Lan Orchidaceae Thánh phần hoá học có 55% chất nhầy, tinh dầu
và glycogen Tìm thấy nhiều tại Trung Quốc và vài nước Đông Nam Á Châu Tác dụng: co mạch, cầm máu, giảmsưng Chủ trị: ói ra máu, khạc ra máu, chảy máu mũi, mổ hay chấn thương gây chảy máu, xuất huyết nội không rõnguyên nhân Liều dùng: 4-12g thuốc bột hay nấu chung với các vị thuốc khác
-Thiến thảo căn: Còn có tên Tây thảo căn, Thiến thảo Tên khoa học Rubia cordifolia, thuộc họ cà phê Rubiaceae.Thành phần hoá học có glucozit, acid rutherythric, alizarin, purpurin, rubiadin và glucoza Tác dụng cầm máu, phá tancục máu đông Chủ trị: thổ huyết, tiện huyết, niệu huyết, nội thương xuất huyết Liều dùng: 6-12g nấu uống
-Địa du: Còn có tên Ngọc trát Tên khoa học Sanguisorba officinalis thuộc họ hoa hồng Rosaceae Thành phần hoáhọc có tanin, saponosit, flavon Tác dụng: cầm máu Chủ trị: xuất huyết tử cung, khạc ra máu, đi tiêu ra máu Liềudùng: 6-10g, nấu uống
Loại nhuyễn kiên, phá tích, làm mềm khối u:
*Mẫu lệ: Còn gọi là võ hàu Tên khoa học Ostrea rivularis, thuộc họ Mẫu lệ Ostridae Thành phần hoá học có 80-95%calcium carbonate, calcium phosphate, calcium sulfate, magnesium, aluminum, oxide sắt Tác dụng: giảm đau, comạch, làm mềm và tan biến những khối u cứng rắn Chủ trị: ung thưu hạch bạch huyết, ung thư cổ, hàm, u bướu tửcung Liều dùng:6-12g
Trang 35*Tam lăng: Còn gọi là Kim tam lăng Tên khoa học Scirpus Yagara Ohwi Thành phần hoá học gồm Silicon, calcium,sodium, chlorine Tác dụng: thông kinh, tan ứ huyết mà không làm hại đến tổ chức lành mạnh, làm mềm khối rắn.Chủ trị: ung thư gan, dạ dày, tử cung, ruột, hạch bạch huyết Liều dùng: 6-12g, nấu uống.
*Nga truật: Còn gọi là Bồmh nga truật, tam nại, ngải tím, nghệ đen Tên khoa học Curcuma Zedoaria, thuộc họ gừngZingiberaceae Thành phần hoá học gồm tinh dầu, chất nhựa, chất nhầy Trong tinh dầu, phần lớn là chấtsecquitecpen, zingiberen và xineol Tác dụng: hành khí, phá huyết, tiêu tích, hoá trệ Chủ trị: ung thư cổ tử cung,ruột, dạ dày Liều dùng:6-12g, nấu uống
*Hải tảo: Còn gọi là rong biển Tên khoa học Sargassum, Herba Sargassi, thuộc họ Rong mơ Sargassaceae Thànhphần hoá học gồm có muối vô cơ chứa nhiều iod, asen, kali, lipid, protein và rất giàu algin hay acid alginic Tác dụng:tiêu đờm, nhuyễn kiên (làm mềm chất rắn), tiết nhiệt, lợi thuỷ Chủ trị: bướu cổ, thuỷ thũng, ung thư kết khối rắntrong nội tạng Liều dùng: 6-12g, nấu uống
* Côn bố: Còn gọi là hải đới, nga chưởng thái, tên khoa học laminaria Japonica, thuộc họ Côn bố laminariaceae.
Thành phần hoá học gồm có hydrate carbon, trong đó chủ yếu là chất lagin, lactozan và pentozan, vitanmin, protein
và chất béo, ido, kali, Fe, Calcium Tác dụng: làm mềm chổ cứng rắn, tích tụ Chủ trị: ung thư kết khối rắn trong nội
tạng Liều dùng: 6-12g, nấu uống
*Bạch hoa xà thiệt thảo: còn gội bòi ngài bò, cỏ lưỡi rắn Tên khoa họcoldenlandia diffusa,thuộc họ rubiaceae.
Thành phần hoá học chưa được nghiên cứu và phân tích Tác dụng: theo kinh nghiệm y học cổ truyền, bạch hoa xàthiệt thảo có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, phá ứ tích Chủ trị: các loại nhiễm trùng như nhiễm trùng đườngtiểu, viêm họng, viêm amidan, viêm ruột thừa, viêm khí quản, viêm thanh quản, các loại ung thư sưng cứng, viêmgan vàng da hoặc không vàng da, mụn nhọt, sưng tấy Liều dùng: 30-60g, nấu uống
*Bán chi liên: Còn nhiều tên khác như Nha loát thảo, Hàn tính thảo, Tinh dầu thảo, Hiệp diệp Tên khoa
học scutellaria barbata, thuộc họ labiatae Thành phần hoá học chưa có tài liệu nghiên cứu.Tác dụng: thanh nhiệt
giải độc Chủ trị: tiêu viêm, giảm đau, kháng ung tư, cải thiện tế bào bị huỷ hoại, viêm ruột thừa, viêm gan, xơ gan,chai gan, bị chấn thương ứ huyết Liều dùng: 15-30g, nấu uống (thường dùng chung với vị Bạch hoa xà thiệt thảo)
*Bồ công anh bắc hay bồ công anh Trung Quốc: Còn khoảng 25 tên khác như Hoàng hoa địa đinh, Nã chấp thảo,
Phù công anh, Thiệu kim thảo, Bạch cổ đinh, Thạnh trường sinh, Kim trâm thảo, Kim cổ thảo, Nhĩ ban thảo, Bột cô
anh Tên khoa học: Taraxacum Officinal, thuộc họ Cúc asteraceae (cần phân biệt với Bồ công anh Việt Nam, tên khoa học Lacetuca Indica cũng thuộc họ Cúc asteraceae) Thành phần hoá học có inozitola, Asparagin, men Tyrosinaza, xanthophyl, Inulin, Saccarosa, Glucosa, chất nhựa, chất đắng, nhiều vitamin B và C Tác dụng: giải độc,
thanh nhiệt, lương huyết, tán kết, thông sữa, lợi tiểu Chủ trị: sưng vú, tắc tia sữa, sưng hạch, kết hạch, ung nhọt.Liều dùng: 4-12g, đôi khi dùng tới 15-25g, nấu uống
Loại trấn thống, bài nùng, khử uế (giảm đau, tiêu mủ, khử mùi hôi thối).
*Diên hồ sách: Còn nhiều tên khác như Huyền hồ sách, Nguyên hồ sách, Khuê nguyên hồ, Sanh diên hồ, Vũ hồ
sách, Trích kim noãn Tên khoa học Corydalis ambigua, thuộc họ thuốc phiện Papaveraceae Thành phần hoá họcgồm các chất corydalin, dehydrocorydalin, protopin, corybulbin Tác dụng: hoạt huyết, tán ứ, lợi khí, giảm đau Chủtrị: Đau bụng, đau vùng tim, đau nhức do chấn thương, đau bụng kinh,kết khối trong bụng Liều dùng: 6-12g dướidạng thuốc sắc, thuốc bột, thuốc viên
*Trầm hương: Còn gọi là Kỳ nam, trà hương, gió bầu Tên khoa học Aquilaria agallocha, thuộc họ TrầmThymelacaceae Thành phần hoá học có acid cinnamic, tinh dầu, trong đó gồm chất benzylacetone,methoxybenzylacetone và terpene alcohol Tác dụng: giáng khí nạp thận, bình can, tráng nguyên dương Chủ trị:giảm đau, trấn tỉnh, các chứng unh thư đau nhức, chướng bụng Liều dùng: 2-4g thuốc bột hay mài ra nước uống,ngâm rượu (không nấu)
*Nhũ hương (Mastic hay Olibaum): Là chất nhựa thu được từ giống cây ngũ hương Tên khoa học Pistacia lenticus,thuộc họ Đào lộn hột (miền Nam Việt Nam gọi là cây điều) Anacardiaceae Thành phần hoá học gồm có khoảng 90%hỗn hợp acid masticic, acid masticolic, terpene, tinh dầu mùi long não Tác dụng: chất keo của nhũ hương giúp giữmặt ngoài ngưng ứa nước hay nung mủ Chủ trị: ung thư phá miệng, làm mủ, chảy nước hôi thối Uống vào có côngnăng gia tăng bạch huyết cầu để bài nùng, tiêu thủng Liều dùng:6-12g
*Một dược (Myrrha hay Myrrhe): Là chất gôm nhựa tríc từu giống cây Commiphora momol hay Commiphoraabyssinica, thuộc họ Trám Burseraceae Thành phần hoá học có khoảng 28-40% nhựa và tinh dầu, 61% chất gôm
và ít chất đắng Trong tinh dầu có acid acetic, acid panmitic, aldehyde cumenic, eugenol, limonene, pinene, terpene
và dipentene Tác dụng: hoạt huyết, trấn thông, tiêu thũng Chủ trị: ung thư tử cung, dạ dày, gan sưng đau Liềudùng:6-12g
*An tức hương: Còn có tên cây bồ đề, cánh kiến trắng, benzoin Tên khoa học Styrax tonkinense, thuộc họ Bồ đềStyracaceae Thành phần hoá học gồm có coniferyla benzoate, benzoic acid, cinnamic acid, vanillin và tinh dầu Tácdụng: hành khí, hoạt huyết, trừ uế khí, khai khiếu, đau bụng, làm lành vết thương Chủ trị: ngừa ung thư phá miệnggây mũ, hư hoại, trấn tĩnh thần kinh, ngủ ngon Liều dung:3-4g
*Bạch phàn: Còn gọi là Khô phàn, minh phàn, phèn chua Tên khoa học Alumen Thành phần hoá học gồm muốialuminum sulfate và kalium Tác dụng: giải độc, sát trùng, bài nùng Chủ trị: cầm máu, tiêu mủ, gom miệng vếtthương Liều dùng:3-6g
*Bằng sa: Còn gọi là bồng sa, nguyệt thạch, hàn the Tên khoa học Borax Thành phần hoá học gồm borate natri haytetraborate natri và boric acid Tác dụng: bài nùng, tiêu độc, khử uế, tiêu thủng Chủ trị: dùng ngoài cho tất cả chứngung thư bị phá miệng, làm mủ Liều dùng: 2-4g
Trang 36*Xạ hương: Còn có tên Nguyên thốn hương, lạp tử, hươu xạ Tên khoa học Moschus moschiferus, thuộc họ HươuCervidae, nguyên là túi xạ nằm trong bụng con cầy hương Thành phần hoá học chứa cholesterin, chất béo, muốicalci, amoniac và một chất tinh dầu chủ yếu là cetone mang tên muscon, có mùi thơm rất đặc trưng Tác dụng: trấnkinh, thông khiếu, ngừa mùi hôi Chủ trị: ung thư làm mủ bốc mùi hôi Liều dùng:1-2g.
*Trân châu phấn: Còn gọi là Ngọc châu, bạng châu, trân châu (Pearl), là hạt ngọc nằm trong thân nhiều loài trai nhưtrai Pteria martensii, thuộc họ Trân châu Aviculidae hay Pteridae Thành phần hoá học chứa khoảng 90-92%carbonate calci và một số hoạt chất chưa rõ Tác dụng: tán uất, tẩy uế, giải độc, làm đẹp nhan sắc Chủ trị: tất cảchứng ung thư pha miệng, nung mủ, ung thối Liều dùng: 0.3-0.8g dạng thuốc bột
*Tô hạp hương: Còn gọi là Tô hạp du, là nhựa dầu lấy từ cây Tô hạp, tên khoa học Liquidambar orientalis, thuộc họSau sau Hamamelidaceae Thành phần hoá học nằm trong chất nhựa là cồn resitanola và cinnamic acid, tinh dầuchủ yếu gồm chất styrene Tác dụng: tan uất, ngừa thối, thông khiếu sát trùng, lên da non Chủ trị: các chứng ungthư phá miệng, nung mủ, hư hoại Liều dùng: 0.1-0.5g thuốc bột hoặc 5-10 giọt tinh dầu lỏng
Loại bổ dưỡng, tăng sức:
Gồm có: Hoàng kỳ, Nhân sâm, Lộc nhung, Lộc giác giao, Đương qui, Nhục quế, Lộc thai, Nhục thung dung, Bạchtruật, Hà thủ ô, Tử hà xa, Qui bản, Kê nội kim, Phục linh, Thần khúc, Uất kim, Tuyền phục hoa, Bạch giới tử, Sinhđịa, Thục địa
Căn cứ tình trạng sức khoẻ từng bệnh nhân, thầy thuốc chọn lựa vị thuốc và ấn định liều lượng để đối chứng lậpphương cho thích hợp
c Dinh dưỡng trị liệu:
Khi bệnh ung thư vào giai đoạn di can hay phá miệng, bệnh nhân bị suy nhược rất nặng, không thiết gì ăn uống.Cần phải bồi bổ cho đủ chất dinh dưỡng để cải thiện tế bào lành mạnh, nâng cao hệ miễn nhiễm mới mong kềm hãmhoặc tiêu trừ được bệnh Sau đây là một số thực phẩm có ích cho người bị bệnh ung thư:
- Canh phụ tử thịt dê: Thục phụ tử 120g, Thịt dê 240g Cho nước vào nấu thật chín, lấy nước uống từ từ Công hiệu:
Có khả năng kềm chế mức phát triển khối ung thư mới thành hình (thời kỳ thứ nhất), cải thiện năng lực nội sinh, giúp
dễ tiêu hoá, gia tăng sức khoẻ
- Canh gừng tươi thịt gà: Gừng non 60g, Đương quy 12g, Gà giò 500g Cho nước vào nấu thành canh, ăn cái, uốngnước Công hiệu: Bồi bổ sức khoẻ, gia tăng khí huyết cho nhưũng người bệnh ăn uống kém, cơ thể gầy ốm, dễ tiêuhoá
- Cháo ngọc mễ thịt gà: Gạo non 60g, Côn bố 6g, Gà giò 240g, Gừng non 30g Cho nước vào nấu thành cháo ăndần Công hiệu: Đối với các bệnh ung thư thực quản, tuyến nước bọt, bướu cổ, có khả năng tiêu trừ khối ung thưvừa chống suy nhược cơ thể
- Cháo ngọc mễ củ ấu: Gạo ngon 1 phần, ruột củ ấu 1 phần Nấu thành cháo ăn Công hiệu: giúp cải thiện sức khoẻcho các bệnh ung thư lưỡi, tử cung Mỗi sáng sớm ăn 1 bát cháo, có kếy quả rất tốt
- Súp bảo mệnh: Rau sam (mã sĩ hiện) 200g, cà tím 200g Cho nước vapò nấu thành súp uống Công hiệu: Phàmbệnh ung thưu trong tạng phủ, dùng thứuc ăn này sẽ gia tăng tác dụng chống độc, thúc đẩy việc tiêu hoá, chế ngự
sự phát triển của khối u
- Canh cật gà hải đới: Cật gà 4 cặp, Hải đới (rong biển) 30g, Gừng non 30g Cho nước vào nấu thành canh uống.Công hiệu: Làm mềm mạch máu, kềm hãm khối ung thư, giúp ăn ngon miệng, gia tăng sức khoẻ
d Ngoại dụng trị liệu:
Là phương pháp dùng dược liệu thoa, đắp, dan lên ngoài da giúp kích thích máu lưu thông nhiều hơn, cải thiện chỗ
bị bệnh, phục hoạt tế bào lành mạnh, giảm đau, khai uất, phân giải chất độc, làm tiêu mòn tế bào ung thư
-Thuốc đắp: "Tiêu thủng cao" gồm các vị: Thương lục 15g, Tử kinh bì 9g, Sinh nam tinh 6g, Bạch cập 12g, Tạo giác
thích 6g, Thảo ô 6g
+Cách chế: Các vị thuốc trên đem tán bột mịn, mỗi lần đung 1-2 muỗng canh bột thuốc trộn với nước sôi cho sền sệtrồi đắp lên chỗ đau Cứ 10 tiếng đồng hồ thì thay thuốc khác
+Chủ trị: Khối ung thư mới phát, chẳng đau, chẳng đỏ mà cứng
+Công hiệu: Làm cho mềm khối u, tan uất, phân giải chất độc, cải thiện tuần hoàn và đân dần tiêu trừ khối ung thư.-Thuốc dán số 1: "Triệu Thị nhuyễn cao" gồm các vị: Côn bố, Xuyên sơn giáp, Thương lục, Tam lăng, Nhũ hương,Một dược, Tạo giác thích, Xuyên ô, Thiềm tô (mủ cóc) hòa rượu, Xạ hương, Băng phiến, Hương du, Sáp ong trắng.+Cách chế: Đem nấu các vị thuốc trên (trừ Băng phiến, Xạ hương, Hương du và Sáp trắng), gạn lọc 2 lần nước cốtrồi cô đặc cho kẹo như mật ong, lúc nầy mới cho Hương du, Băng phiến, Sáp trắng lần lượt cho vào quấy tan đều và
ch Xạ hương vào sau chót Xong, rót vào một cái lọ miệng rộng, đậy kín nắp Khi dùng, phết lên giấy dán vào chỗđau Nếu ung thư vỡ miệng thì dán chung quanh, chừa chỗ lỡ loét ra
+Chủ trị: Ung thư ở giai đoạn gây đau nhức, sắp phá miệng hoặc đã phá miệng
+Công hiệu: Hết đau, hết sưng, tan uất, giải độc, làm cho mềm khối ung thư
-Thuốc dán số 2: "Ung thư dược cao" gồm các vị: Tam lăng 2,400g (2kg400), Xuyên sơn giáp 1,440g (1kg440),Hương phụ 1,440g, Diên hồ sách 1,440g, Xuyên khung 60g, Phụ tử 60g, Tử kinh bì 60g, Quan chế 60g, Thảo ô 60g,Xuyên ô 60g, Địa long 60g, Bạch cương tằm 60g, Xích thược 60g, Đại hoàng 60g, Đương qui 60g, Bạch chỉ 60g,Bạch cập 60g, Bạch liễm 60g, Xạ hương 30g, A nguỳ 30g, Tục đoạn 30g, Phòng phong 30g, Ma hoàng 30g, Ngũ linhchi 30g, Mộc hương 30g, Trầm hương 30g, Thiềm tô 03g, Tô hạp du 1,920g (1kg920)
+Cách chế: Trước hết, dùng 10 cân (=4,800g hay 4kh800) dầu cải đổ vào 1 cái chảo hay nồi to, cho Tam lăng vàođun sôi, chờ thuốc cháy khét thì vớt xác bỏ ra Tắt lửa, qua ngày hôm sau, lần lượt cho từng vị thuốc còn lại vào nấu
Trang 37chung với dầu cải (trừ vih Xạ hương, Nhũ hương, Một dược, Tô hạp du) và cũng vớt xác khi cháy khét như Tamlăng Lại tắt lửa cho nguội thuốc Sang ngày hôm sau nữa, đem cân lại dầu thuốc cho chính xác rồi đun lửa nấu tiếp.
Cứ 480g dầu thì thêm vào 210g Hoàng đơn (đã sao chín), quấy đều cho đến khi đặc quánh nhưu mật ong là được.Sau cùng, cho Xạ hương, Nhũ hương, Một dược (giã nhuyễn) và Tô hạp du vào quấy đều Rót vào một cái lọ thuỷtinh, cất trong tủ lạnh chờ ba ngày sau thì dùng được Khi dung, phết lên vải một lớp thuốc mỏng, hưo lửa cho chảy
ra và dán vào khối ung thư hay chỗ đau
+ Chủ trị: Ung thư não, ung thư vú, hàm mặt, ung thư hạch bạch huyết, cổ, dạ dày, gan, phổi, thực quản, ruột già,
da, xương, phúc mạc, tử cung
+ Công hiệu: Cải thiện tổ chức tế bào tại nơi bị bệnh, thúc đảy máu lưu thông nhiều hơn, thay cũ đổi mới, chống đaunhức, làm mềm dần khối ung thư và cuối cùng là tiêu khối u
-Thuốc rắc: "Trân châu tán" gồm các vị : Trân châu phấn 9g, Bằng sa 6g, Nhũ hương 3g, Một dược 3g, Minh phàn3g, Hoa mai băng phiến 1.5g
+Cách chế: Hợp lại đem tán thật mịn, cất vào lọ sạch Mỗi lần dùng, xúc một ít bột rắc lên vết thương đã rửa sạch vàchùi khô mủ
+Chủ trị: Khối ung thư đã vỡ miệng, phá miệng làm mủ
+Công hiệu: Giải độc, cầm máu, bài nùng (khử mủ), giảm đau, sinh da thịt mới
-Thuốc rượu: "Tiêu ung thư tửu" gồm các vị: Xuyên sơn giáp 12g, Hương phụ 12g, Diên hồ sách 12g, Côn bố 12g,Tạo giác thích 12g, Tam lăng 12g, Tử kinh bì 6g, Xuyên điền thất 6g, Đương qui vĩ 3g, Xuyên ô 3g, Ma hoàng 3g,Thiềm tô 0.3g
+Cách chế: Ngâm với 1 lít rượu nếp ngon trong vòng 3-4 tuần lễ là dùng được Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần nửa lynhỏ Có thể dùng thuốc rượu thoa lên khối u cũng tốt
-Tử hà xa (rau thai), tử cung vịt: Bồi bổ cho người bị bệnh ung thư tử cung
- Gan dê, gan rái cá: Bồi bổ cho người bị bệnh ung thư gan, xơ gan, sưng gan
- Hải cẩu thận, cật gà: Bồi bổ cho người bị ung thư thận, bại thận, liệt dương
- Lá mía heo: Bồi bổ cho người bị ung thư tuỵ tạng, bị tiểu đường
- Kê nội kim (màng mề gà): Giúp cho người bị ung thư dạ dày, viên loét dạ dày ăn không tiêu, đau bụng, ợ hơi, nuốtchua
- Óc khỉ, óc heo: Bồi bổ cho người bị ung thư não hay màng não
- Hổ cốt: Giúp cải thiện hệ thống xương cho người bị ung thư xương
f Kháng độc trị liệu
Nhiều thầy thuốc Đông Y nhận định rằng khối ung thư cứng rắn, bên trong chứa đầy độc tố, những loại thuốc bìnhthường rất khó tiêu huỷ chúng nên phải ứng dụng phương pháp "độc tố đồng tính" để kháng độc, tức là "lấy độc trịđộc" mới có kết quả
Trịnh Phong Tiều, một danh y chuyên khoa ung thư của Trung Quốc, đã đề xuất một số dược liệu đây sau để trị ungthư:
-Mã bảo: Nguyên là một khối ung thư kết tụ trong nội tạng của loài ngựa Vùng Mông Cổ, Tân Cương, Tây Tạng córất nhiều ngựa và thường được thả rong trên thảo nguyên Quanh năm bầy ngựa này uống nước suối, nước sông cóchứa chất phosphoric acid, sodium và magnesium khiến cho bộ tiêu hoá bị kích thích âm thầm, lâu dần chất calciumphosphate kết khói lại thành đá Nhiều con ngựa bị khối u bướu chẹn tắt dạ dày, ruột hoặc thực quản, khiến chúngđau đớn phát cuồng chạy loạn trên đồng cỏ Người chăn nuôi biết ngựa đã có chứa "Mã bảo" hay "Mã bửu", liền giếtchúng để thu lấy khối đá ung thư
Mã bảo hình dáng không đều, to thì bằng cỡ trứng ngỗng, nhỏ ước chừng ngón tay, cứng như đá, màu trắng hơixanh, khi cắt ra thấy vô số tầng lớpvật chất xếp lên nhau, màu sắc lẫn lộn Thành phần hoá học có carbonic acid,calcium carbonate, phosphoric acid, magnesium, potassium và một vài thành phần vô cơ khác
Phương trị: "Ung thư mã bảo tán"
+Mã bảo - Ngưu hoàng - Trân châu phấn - Trầm hương - Hổ phách - Nhũ hương - Một dược - Lỗ sa (bismuth) Liềulượng do thầy thuốc quyết dịnh
+Tác dụng: Gia tăng sức đề kháng, bài trừ chất độc, cait thiện tế bào lành mạnh, yên định thần kinh, tan ứ, tiêu ungthư
+Chủ trị: Ung thư chưa vỡ miệng hoặc đã phá miệng mà gây đau nhức đều dùng được
+Liều dùng: Bệnh nhẹ ngày uống 2 lần, nặng 3 lần, mỗi lần 2-3g
Sách "Bant Thảo Cương Mục" ghi rằng: "Mã bảo có công hiệu trị ghẻ độc, bệnh ế ách (ăn vào ói ra), bệnh ung thư".Điều này chứng minh Mã bảo có khả năng phân huỷ khối ung thư đồng thời gia tăng kháng thể, đã thực nghiệmnhiều năm tại các bệnh viện Đông Y Trung Quốc và thu được thành công trên 65-70%
Trang 38- Cẩu bảo: Là khối vạt chất kết thành đá rắn trong cơ thể của loài chó khi tuổi đã già Cách dùng tương tự như Mãbảo.
- Tịch thạch: Là khối vật chất kết thnhf đá rắn trong cơ thể con người Ngọc Xá Lợi cũng là một loại Tịch thạch Cáchdùng tương tự như Mã bảo
- Hầu táo: Là khối vật chất kết thành đá rắn trong cơ thể loài vượn, khỉ
g Dược cứu trị liệu:
Là phương pháp dùng vị ngải diệp cuộn lại thành cây thuốc hoặc đặt thuốc lên chỗ đau mà đốt nóng để trị bệnh.Đông Y đã dùng khoa châm cứu trị bệnh cách đây 3-4 nghìn năm, bất luận bệnh bạo phát hay kinh niên, hoãn haycấp, ngoại cảm hay nội thương cũng đều có phương pháp rõ ràng, công hiệu chắc chắn
Dùng phép cứu đốt để điều trị ung thư rất tốt, vì cơ thể suy nhược và bị kích thích liên tục là hai nguyên nhân dẫn tớiviệc tạo thành khối u; sau khi được kích thích bằng nhiệt lượng kháng thể sẽ gia tăng, lượng bạch huyết cầu có thểtăng gấp đôi, máu lưu thông nhiều hơn trong khi khối u teo nhỏ lại và tan dần
+ Cách cứu đốt gián tiếp đúng nhất: Trứoc tiên, bôi một lớp mỏng "Ung thư tiêu thủng cao" lên khối u Xong cắt mộtlát mỏng gừng tươi hoặc tỏi tươi, khoét một lỗ nhỏ ở giữa, ép nhẹ mồi ngải vào lỗ đó rồi đặt lát gừng lên khối u Đốtmồi ngải cho cháy từ từ, đến khi nào mồi ngải tàn thì thay cái khác Mỗi vị trí cứu đốt từ 5-7 mồi
+ Cấm kỵ: Không cứu đốt trên mặt, không cứu đốt tại một số vị trí trọng yếu có ghi rõ trong sách châm cứu học, quásuy nhược, phụ nữ mang thai, đói kiệt sức
Tác dụng của thuốc cứu:
+ Với hoả nhiệt khoảng 45 độ C, da nơi cứu đốt sẽ ủng đỉ thành cuồng do tụ huyết
+ Nếu nhiệt lực lên đến 50 độ C, da bị bỏng, phồng lên vì bên trong có nước
+ Nhiệt cao đến 60 độ C, khu vực da cứu đốt bị hư hoại, ăn sâu tới lớp thượng bì
+ Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, việc nhiệt lực của thuốc cứu làm hư hoại da hoặc mô cơ đã mang lại kếtquả trị ung thư rất tích cực, vùng da bị hư hỏng càng to thì công hiệu càng nhiều Phàm sau khi cứu đốt, vết bỏngban đầu hiện màu đỏ thẫm, vài ngày sau thì biến thành trắng xám hoặc trắng nhạt, cho dù cháy bỏng cũng lành,không sợ lây nhiễm
+ Nếu cắt lấy một chút mô soi lên kính hiển vi sẽ thấy phần ngoài hoàn toàn bị phá hoại nhưng thần kinh tri giác chỉtạm thời tê dại và hồi phục 5-7 ngày sau đó Mô, tế bào mới tái tạo rất nhanh, huyết quản cũng hoạt động mạnh hơntrước Kết quả này là nhờ dược cứu kích thích hệ thống kháng nguyên, gia tăng bạch huyết cầu nơi có bệnh xúctiến việc thay cũ đổi mới thì khối ung thư bắt buộc phải teo dần và tan biến đi
+Bác sĩ Đào Lương Trinh và Bác sĩ Lỗ Bùi Nhiên thuộc Viện Đại Học phóng xạ Cửu Chân Trung Quốc đưa ra bảnphân tích: "Ngải cứu làm cho tế bào nơi đốt biến tính, sản sinh nguồn bạch huyết cầu Chỗ phát sưng càng lớn sứckích thích càng mạnh, vừa phân huỷ mầm bệnh vừa tái tạo huyết dịch, gia tăng sức đề kháng toàn thân"
+Giáo sư Cung Nhập thuộc khoa huyết học Viện nghiên cứu ung thư Thượng Hải Trung Quốc cũng có nhận xét:
"Ngải cứu đốt trên da, so với X-ray và Radiation, hiệu lực như nhau, Chỉ khác một điểm là ngải cứu chẳng nhữngkhông làm tổn hại sức khoẻ mà còn tăng lực"
+ Hợp cốc: Trị ung thư mũi, não, thực quản, hàm, lưỡi, môi,cánh tay Liều dùng: cứu từ 2-3 mồi ngải
+ Thủ tam lý: Trị ung thư dạ dày, gan, ruột, phổi, hàm, cổ, bạch huyết Liều dùng: cứu 2-4 mồi ngải
+ Khúc trì: Trị ung thư dạ dày, ruột, da Liều dùng: cứu 3-4 mồi ngải
+ Túc tam lý: Trị ung thue nội tạng, phổi, dạ dày, gan, ruột, vú, hàm, cổ, bạch huyết cầu Liều dùng: cứu 3-4 mồingải
+ Bách hội: Trị ung thư não, thần kinh, hàm, bạch huyết cầu, mũi, lưỡi, cổ Liều dùng: cứu 1-2 mồi ngải
+ Phế du: Trị ung thư phổi Liều dùng: cứu 1-2 mồi ngải
+ Tâm du: Trị ung thư thần kinh, gan, phổi, động mạch, tĩnh mạch, hàm Liều dùng: cứu 2-3 mồi ngải
+ Cách du: Trị ung thư vùng xương chậu, thực quản, phổi, dạ dày, ruột Liều dùng: cứu 2-4 mồi ngải
+ Can du: Trị ung thư gan, tuỵ tạng, ống dẫn mật, dạ dày Liều dùng: cứu 2-4 mồi ngải
+Vị du: Trị ung thư dạ dày, lá lách, hố chậu, ruột Liều dùng: cứu 2-3 mồi
+Thận du: Trị ung thư thận, thần kinh, dạ dày, gan Liều dùng: cứu 2-4 mồi ngải
+Đại trường du: Trị ung thư ruột, thập nhị chỉ tràng, ruột già, ruột non, bàng quang, thận, thần kinh Liều dùng: cứu
2-4 mồi ngải
+Kiên tĩnh: Trị ung thư bạch huyết, hàm, cánh tay, da, thần kinh, cổ, mũi, não Liều dùng: cứu 2-4 mồi ngải
+Trung cực: Trị ung thư dạ dày, gan, ruột, bàng quang, tử cung Liều dùng: cứu 2-4 mồi ngải
+Đan điền: Trị ung thư tử cung, thận, ruột, bàng quang Liều dùng: 2-4 mồi ngải
+Quan nguyên: Trị ung thư tử cung, ruột, dạ dày, gan, bàng quang, ruột già, bộ sinh dục Liều dùng: cứu 2-4 mồingải
Ghi chú: Muốn biết vị trí các huyệt đạo, cần tham khảo thêm sách Châm cứu học
Trang 39F CÁC LOẠI UNG THƯ - ĐIỀU TRỊ
1 UNG THƯ DA (Skin Cancer)
Ung thư nói chung, ung thư da nói riêng, Y Học hiện đại lập rieng một phân khoa chuyên nghiên cứu và điều trị.Trong khi đó, Đông Y Học không có mấy kinh nghiệm cũng như sách, tài liệu nói về ung thư và ung thư da Bởi thế,trong vòng 40 năm trở lại đây, Trung Y đã thành lập nhiều trung tâm, bệnh viện chuyên nghiên cứu và điều trị ungthư bằng Đông dược Kết quả, các thầy thuốc y học cổ truyền đã phát hiện được khá nhiều loại dược thảo có khảnăng ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thư, tiêu trừ khối u một cách hoà bình; đồng thời còn giúp gia tăng hệthống miễn nhiễm, giảm mức tác hại do Y học hiện đại điều trị bằng phương pháp phẫu thuật (surgery), xạ trị(radiation) hay hoá trị (chemotherapy)
Nguyên nhân:
Theo Tiến sĩ Linda Page Hoa Kỳ, ung thưu da là thưu bệnh dịh tuyên chiến trong mọi thời đại Cứ mỗi 3 bệnh ungthư được xác nhận có 1 ung thư da Chúng gia tăng rất nhanh, mỗi năm tai Hoa Kỳ có thêm 800,000 ca mới và sáthại khoảng 10,000 người Trên 90% ung thư da là do tia tử ngoại B và C (ultraviolet-B and ultraviolet-C radiation)trong ánh nắng mặt trời tác động thường trực lên da làm thay đổi cấu trúc DNA của tế bào da dẫn tới suy yếu hệthống miễn nhiễm gây ung thư da Nhựa than đá, chất creosote, radium, chủng tộc, tuổi tác và phái tính cũng lànguyên nhân tạo ra ung thư Người da trắng, phái nam và trên 55 tuổi có tỷ lệ ung thư da nhất
Các loại ung thư da: Có ba loại chính:
1 Ung thư biểu bid dạng tế bào có vảy (squamous cell carcinoma), phát triển nhanh nhất, có đặc điểm dễ nhận lànốt sần (papule) đỏ hoặc vết đốm (patch) giống như bệnh vảy nến (psoriasis) với lớp vảy cứng trên mặt da Lâu dần,vết sần trở nên cứng và có nhiều cục u nhỏ (nodular) Trên mặt, môi và tai bệnh nhân có thể bị tổn thương
2 Ung thư biểu bì dạng tế bào đáy (Basal cell carcinoma), ít nguy hiểm nhưng lại rất phổ biến, không có hình thái dicăn (matastasis), với đặc điểm là nhỏ, sáng bóng, cục u rắn chắc hoặc bị thương tổn bằng vết loét giống như chứngviêm da cục bộ (local dermatitis)
3 U hắc sắc tố ác tính (Malignant melanoma), là loại ung thư có rễ rất sâu, mọc lên từ một loại tế bào trông gióng
như nốt ruồi (mole) Đây là thứ ung thư cực độc, trầm trọng, nguy hiểm đến tính mạng vì nó có thể di căn đến những
cơ quan khác trong cơ thể, đặc biệt là hạch bạch huyết (lymphnodes) Dấu hiệu đầu tiên của u hắc sắc tố trônggiống như một vết tàng nhang hoặc nót ruồi Dấu hiệu đáng chú ý là ngứa, nhạy cảm đau, hoá cứng hoặc bất kỳ sựthay đổi nào về kích thước và màu sắc trên nuốt ruồi Nếu khám phá sớm, 95-100% trường hợp có thể chữa lành.Trạng chứng: Thường phát sinh ở vùng mặt và cánh tay, ban đầu không đau không ngứa, lâu dần sưng cứng, ngàycàng to cho đến khi chất độc vỡ ra mới thấy đau nhức Có nhiều dạng ung thư da lở loét và khối u chồng chất lênnhau nhưu hình hoa sung
Điều trị:
1 Ung thư tiêu thủng cao và Nội Tiêu Hoàn.
Giáo sư Trịnh Phong Tiều, Trung Quốc, đưa ra hai phương pháp:
a/ Ngoài bôi "Ung thư tiêu thủng cao" điều chế theo công thức:
Thương lục 20g, Bạch cập 16g, Tử kinh bì 12g, sanh Nam tinh 8g, Thảo ô 8g, Tạo giác thích 8g
Cách chế: Tán nhuyễn các vị thuốc nêu trên, bỏ vào lọ dùng dần Mỗi lần 1-2 muỗng canh bột thuốc, tuỳ khối u nhỏhay to mà cân lượng cho thích hợp, trộn với nước sôi quấy đều cho sền sệt, nắn thành một cái bánh rồi đặt lên khối
u lúc thuốc còn ấm Cứ 10 tiếng đồng hồ thay thuốc một lần
b/ Trong uông "Nội tiêu hoàn" với công thức:
Mã bảo, Cẩu bảo, Đương qui, Xuyên khung, Địa long, chế Mộc miết tử, Hắc cương, Ma hoàng, Tam lăng, Nga truật,Tam thất, Thục địa, Hà thủ ô, Thảo ô, Uất kim, Côn bố, Hải tảo, Hương phụ, Bạch giới tử, Tạo giác thích, Hắc sửu,Bạch sửu Phân lượng do thầy thuốc chuyên khoa quyết định
Cách chế: Đem tán bột mịn, vô viên capsule 500mg Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 3-4 viên capsules Nếu ung thưvùng đầu, mặt thì uống với nước pha chút rượu nhạt để dẫn thuốc đi lên Nếu bệnh ở vùng bụng và chân thì dùng 1quả trứng gà, thêm chút đường, khuấy nước sôi uống với thuốc sẽ có hiệu quả mạnh hơn
2 Hoxsey herbs: Là bài thuốc gia truyền do dòng họ Hoxsey chuyên nghề chăn nuôi ngựa ở Tiểu Bang Illinois Hoa
Kỳ phổ biến vào năm 1840 nhân vụ mấy con ngựa bị chết vì ung thư ở chân và hằng chục con khác nhờ trị bằng một
số vị dược thảo đặc biệt mà bình yên mạnh khoẻ Thực tế, bài thuốc Hoxsey Herbs xuất xứ từ vùng Trung Mỹ Châu.Công thức gồm có 9 vị dược thảo, đã được Trung Tâm "Bio-Medical Center" ở Tijuana Mexico dùng điều trị ung thưu
da rất hiệu nghiệm, tỷ lệ thành công đạt tới 80%
Công thức: Red clover, Buckthorn bark, Burdock root, Stillingia root, Barberry bark, Chaparral, Licorice root, Pricklyash bark và Cascara amarga Về sau, vị Cascara amarga được thay bằng Pau d'arco thì thấy hiệu quả tăng lên đáng
kể Không thấy ghi liều lượng
Phân tích:
Red clover(Trifolium pratense): Còn có nhiều tên khác: Wild clover, beebread, cow clover, meadow clover, Missouri
milk vetch, purple clover, trefoil Red clover có nguồn gốc từ Châu Âu, cũng thấy mọc tại miền Bắc Hoa Kỳ Thuộcloại cây thảo, cao từ 1-2 feet, lá có hình chân vịt, hoa màu đỏ tía
Bộ phận dùng làm thuốc: Hoa
Thành phần hoá học: Biotin, choline, copper, coumarins, folic acid, glycosides, inositol, isoflavonoids, magnesium,manganese, pantothenic acid, selenium, bioflavonoids, zinc, vitamin A, B1, B2, B3, B6, B12 và C
Trang 40Tác dụng: Về căn bản, như một loại kháng sinh (antibiotic), ngăn chặn sự thèm ăn, lọc máu, làm êm dịu thần kinh, bịnhiễm trùng, bị HIV (AIDS), sưng phổi, viêm ruột, đau thận, đau gan, suy giảm miễn dịch, viêm da mãn tính, thay thếestrogen sau khi phụ nữ tắc kinh Trên lâm sàng, Red clover kháng ung thư nhờ khả năng chống oxy-hoá(antioxidant) cao, ngăn chặn gốc tự do (free radicals) là nhân tố thúc đẩy ung thư phát triển, chống estrogen hoạtđộng, làm chậm lại sự tăng trưởng của một số bệnh ung thư và chặn đứng sự hình thành mạch máu mới tức làchống lại việc tạo mạch (anti-angiogenesis), như là biện pháp triệt đường sinh sản của tế bào ung thư.
Liều dùng: Ngâm 2 muỗng canh bột hoa Red clover trong nửa cốc nước sôi chứng 10 phút Ngayd dùng từ 1 đến 1.5cốc, có thể gia thêm chút mật ong
Buckthorn bark (Rhamnus purshianus): Còn có nhiều tên khác: Cascara sagrada, California buckthorn, cascara,
sacred bark, nhưng đừng nhầm với 2 loài Buckthorn mang tên khoa học Rhamnus frangula và Rhamnus cathrtica
Là một loại cây to, cao từ 15-25 feet, thấy xuất hiện trên vùng núi phía Bắc Hoa Kỳ, thân màu nâu đỏ và thường phủbên ngoài bằng một lớp rêu xanh, lá xanh đậm hình trứng, hoa nhỏ màu xanh lục
Tuy nhiên theo lời khuyên của các nhà nghiên cứu, vỏ cây thu hoạch phải chờ ít nhất 1 nă sau dùng mới tốt
Liều dùng:Ngâm một muỗng canh bột vỏ buckthom trong một cốc nước sôi chừng 1 giờ Uống 1-2 cốc/ngày trước
khi ăn hoặc lúc bụng đói Nếu chiết xuất bằng cồn, ngày dùng 2 lần, mỗi lần 40-60 giọt pha với nước
Burkdock root(Arctium lappa): Còn có nhiều tên khác: Bardana, clotbur, cocklebur, grass burbock, haidock,
hareburr, hurrburr, turkey burrseed, burrseed, Đông dược gọi là Ngưu bàng căn (vỏ cây ngưu bàng) Ngưu bàng làmột loại cây nhỡ, cao từ 1-1,5 mét, thuộc học Cúc Asteraceae, lá to rộng hình tim, chóp hoa màu hơi tím, tìm thấy ởmiền Bắc Hoa Kỳ, Châu Âu và Trung Quốc nếu có cũng nhờ di thực và nuôi trồng để làm thuốc
Bộ phận dùng làm thuốc: Vỏ, rể.
Thành phần hoá học:Rễ ngưu bàng chứa từ 57-70% inulin, 5-6% glucoza, một it chất béo, chất nhầy, chất đắng và
muối kali Một số nhà nghiên cứu Hoa Kỳ ghi nhận trong rễ ngưu bàng còn có: biotin, copper, iron, manganese,sulfur, tannins, zinc, vitamins B1, B6, B112, E
Tác dụng:Về căn bản, có tác dụng lọc máu, phục hồi chức năng gan và mật, nâng cao hệ thống miễn nhiễm, làm
lành vết thương trên da Theo Dược sĩ Charles W.Fetrow và Juan R.Avila Hoa Kỳ, ngưu bàng căn còn cs nhiều côngdụng Trị ung thư, mụn trứng cá, viêm khớp, viêm loét miệng, cham, thống phong, trĩ, HIV (AIDS), sạn thận, đau đốtsống cùng, liệt dương ở nam giới, vảy nến, thấp khớp, viêm dây thần kinh hông, lọc máu, ung loét, hạ đường huyết,lợi tiểu
Liều dùng:Ngày dùng 6-10g, sắc uống.
Stillingia root (Stillingia syvatica): Còn có nhiều tên khác: Cockup hat, marcory, Queen's delight, queen's root, silver
leaf, yaw root Tên khoa học Euphorbiaceae Stillinggia là loại cây lưu niên, sống cằn cỗi như loài thông, thường thấy
ở miền Đông Nam Hoa Kỳ, cao khoảng 2-4 feet (1,2 mét), lá không có cuống và dai như da, nhựa trắng đục nhưsữa, nhai có vị chát, hoa màu vàng
Bộ phận dùng làm thuốc:Thân rễ ngâm dưới đất Rễ còn tươi có tác dụng cao nhất.
Thành phần hoá học:Diterpenes, fixed oil, volatile oil, resin, tannins.
Tác dụng:Nhận trường nhẹ, lợi tiểu viêm cổ họng, gây nôn đặc biệt dùng trị bệnh ngoài da với những rối loạn dai
dẳng, ngứa da, bị bỏng, phát ban, chàm, lao hạch, bệnh trĩ, hoa liễu, chế ngự được cơn đau và ổ loét bằng thuỷngân Nếu dùng liều cao, có thể nôn mửa và tiêu chảy
Liều dùng:Nấu một muỗng canh rễ khô trong 1 cốc nước sôi, ngày uống 1 cốc Dùng ngoài không kể liều lượng.
Barberry bark(Berberis vulgaris): Còn có nhiều tên khác: European barberry, jaundice berry, pepperidge,
pepperidge bush, sowberry, Oregon grape Thuộc họ khoa học Berberidaceae Là loại cây mọc thành bụi, có gai, cao
khoảng 10 feet (3mét), lá hình trứng, ngoài đuôi có điểm một viềm màu nâu nhạt, hoa nhỏ màu vàng, quả chín đỏnhạt vào mùa thu Barberry có nguồn gốc ở Châu Âu, được di thực trồng trong các vườn dược thảo vùng Đông BắcHoa Kỳ nhưng đôi khi cũng thấy ở vài Tiểu Bang miền Tây
Bộ phận dùng làm thuốc:Vỏ, thân cây.
Thành phần hoá học:berberine, berbamine, berberrubine, columbamine, hydrastine, jatrorrhizine, manganese,
oxycanthine, palmatine, vitanmin C Chất berberine và berbamine có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh, riêng berberinecòn giúp kích thích tăng tiết mật
Tác dụng:Giảm nhịp tim, thở chậm, nới lỏng sự co thắt phế quản, da bị nhiễm trùng, kích thích nhu động ruột Thực
nghiệm chứng minh, các chất alkaloids chứa trong vỏ cây có khả năng ức chế ung thư phát triển (cancer - inhibiting),làm se da, viêm da mãn tính
Liều dùng:Nửa hoặc 1 muỗng vỏ nấu với 1 cốc nước cho sôi trong 5 phút Ngày 1 lần.
Chaparral(Larrea tridentata): Còn có nhiều tên khác: Creosote bush, greasewood, hediondilla Thuộc họ khoa
học Zygophyllaceae Là một loại cây bụi, có gai, cao khoảng 6 feet (2 mét) với những lá nhỏ được phân chia rất đẹp.
Chaparral được xem là một loại dược liệu cổ truyền của Hoa Kỳ, mọc rất nhiều ở những vùng sa mạc thuộc miềnTây Nam Hoa Kỳ và nước Mexico
Bộ phận dùng làm thuốc:lá.