1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Đề cương ôn tập kỹ thuật thi công và tổ chức thi công cầu có đáp án, đại học công nghệ gtvt

27 225 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 668 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

* Tác dụng của dung dịch vữa Bentonite trong thi công cọc khoan nhồi: Vữa sét có tì trọng cao hơn nước tạo nên áp lực lên thành lỗ khoan lớn hơn áp lực chủ động từ phía đất nền tác dụng

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP

KỸ THUẬT THI CÔNG VÀ TỔ CHỨC THI CÔNG CẦU

LÝ THUYẾT PHẦN MỐ TRỤ CẦU

Câu 1:

1) Mục đích và các quy định của công tác đóng cọc thử?

* Mục đích: Do khảo sát địa chất có thể chưa chính xác hoặc điều kiện địa chất tại khu

vực móng phức tạp, kết quả khảo sát địa chất chưa đủ để phản ánh một cách chính xác Vì vậychiều dài cọc theo thiết kế chưa chắc đã chính xác Để kiểm tra lại và hiệu chỉnh chiều dài cọcmột cách chính xác, trước khi triển khai đúc cọc hàng loạt cần tiến hành đóng một số cọc thử,qua đó xác định được chiều dài thực tế của cọc cần đóng Từ kết quả đóng cọc thử ta còn cóđược giá trị độ chối thực tế để theo dõi đóng các cọc đại trà trong móng

* Quy định: Vị trí đóng cọc thử ở ngay móng, số lượng cọc thử bằng 2% số cọc trong

mỗi móng và ít nhất là 2 cọc Dùng chính quả búa chọn thi công sau này để đóng cọc thử

Đóng cho đến khi nào cọc xuống khó khăn thì ngừng đóng, để cho cọc nghỉ từ 3 – 5ngày, sau đó đóng lại và đo độ xuống của cọc sau 10 nhát búa đóng, lấy giá trị này chia cho sốnhát đóng xác định được độ chối thực tế: ethuc = /10 Nếu ethuc ≤ etinh toan thì chiều dài cọc sẽ đúcbằng phần cọc đã đóng vào trong nền cộng với chiều dài ngàm cọc trong bệ và cộng với khoảngcách từ mặt đất tự nhiên đến đáy bệ

2) Trình bày khái niệm về độ chối, cách xác định độ chối thiết kế và độ chối thực tế của cọc.

* Khái niệm về độ chối: Là độ sụt xuống của cọc sau một nhát búa đóng ở tại thời điểmcọc đạt đến khả năng chịu tải giới hạn theo đất nền Công thức tính độ chối:

) ( ) (

1

2

cm q

q Q

q q k Q F n m

P P

mnFQH e

gh gh

n: Hệ số phụ thuộc vào vật liệu cọc và phương pháp đóng (kN/cm2)

F: Diện tích tiết diện cọc (cm2)

Q: trọng lượng phần rời của quả búa (kN)

H: chiều cao rơi của quả búa (m):

Trang 2

- Cách xác định độ chối thiết kế: Độ chối thiết kế được tính toán theo quy định hiệnhành do đơn vị thiết kế tính toán và theo thực tế thi công.

- Với cầu nhỏ thì theo tính toán, thực tế và kinh nghiệm

- Với cầu lớn thì dùng kết quả của phương pháp thử động

* Cách xác định độ chối thực tế của cọc: Độ chối thực tế lấy bằng độ chối khi dừng đóngcọc thử theo tính toán sức chịu tải đã tính đến hệ số an toàn

hệ thống dây và độ ổn định của giá búa Sau đó cho búa hoạt động bình thường

+ Trong quá trình đóng cọc phải theo dõi thường xuyên vị trí cọc, nếu phát hiện sailệch cần chỉnh lại ngay Phải theo dõi tốc độ xuống của cọc, hướng xuống của cọc và độ sụtcủa nó để kịp thời phát hiện những hiện tượng báo hiệu sự cố có thể xảy ra và đưa ra giảipháp xử lý kịp thời

+ Quá trình đóng cọc phải ghi nhật ký theo dõi các sự cố và quá trình đóng cọc

* Các sự cố có thể xảy ra trong quá trình đóng cọc và cách xử lý:

- C c b nghiêng l ch: ọc bị nghiêng lệch: ị nghiêng lệch: ệch:

Nguyên nhân: do dựng cọc không thẳng, do giá búa bị nghiêng lệch, do mũi cọc bị lệch

Xử lý: Dừng đóng cọc, điểu chỉnh rồi mới đóng tiếp, nếu không điều chỉnh được thì nhổ lên đóng lại

- C c đóng t nhiên lún nhi u: ọc bị nghiêng lệch: ự nhiên lún nhiều: ều:

Nguyên nhân: cọc đóng tới tầng đất mềm yếu hoặc cọc gặp hang hốc

X lý: Ng ng đóng c c, đ i chi u v i b n đ đ a ch t và các c c đóng trọc, đối chiếu với bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó ối chiếu với bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó ếu với bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó ới bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó ản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó ồ địa chất và các cọc đóng trước đó ịa chất và các cọc đóng trước đó ất và các cọc đóng trước đó ọc, đối chiếu với bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó ưới bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó c đó

- C c đóng không xu ng: ọc bị nghiêng lệch: ống:

Nguyên nhân: cọc gặp chướng ngại vật hoặc đá mồ côi

Xử lý: Ngừng đóng cọc, đối chiếu với bản đồ địa chất và các cọc đóng trước đó để tìm nguyên nhân

- C c đóng sai v trí: ọc bị nghiêng lệch: ị nghiêng lệch:

Nguyên nhân: Do định vị vị trí của tim cọc chưa chính xác

Xử lý: Nếu sai số quá trị số cho phép ±5cm thì phải nhổ lên đóng lại

- C c b g y: ọc bị nghiêng lệch: ị nghiêng lệch: ẫy:

Trang 3

Nguyên nhân: Do chất lượng cọc không đảm bảo, đóng cọc sai quy cách, gặp đá mồ côi

Xử lý: Phải ngừng lại, nhổ cọc lên đóng cọc khác thay thế Nếu không nhổ được lên thìđóng cọc bổ xung

Câu 3:

* Trình bày các biện pháp khoan tạo lỗ cọc khoan nhồi và các thiết bị khoan tương ứng (xem

1) trong 2.4.2)

* Tác dụng của dung dịch vữa Bentonite trong thi công cọc khoan nhồi:

Vữa sét có tì trọng cao hơn nước tạo nên áp lực lên thành lỗ khoan lớn hơn áp lực chủ động từ phía đất nền tác dụng vào trong lòng lỗ khoan, mặt khác do có độ nhớt, dung dịch khoan tạo màng trên bề mặt thành lỗ cố kết các hạt rời có tác dụng làm ổn định chống được sụt

lở thành vách

Có độ nhớt phù hợp làm cho mùn khoan được trộn lẫn với vữa sét tạo nên trạng thái huyền phù để dễ dàng lấy mùn khoan ra khỏi lỗ khoan

Cản trở sự lắng đọng của mùn khoan, tạo điều kiện cho việc khoan nhanh hơn

Có độ chìm lắng thích hợp để làm lắng các hạt khi xử lý cặn vệ sinh đáy lỗ khoan

* Các yêu cầu của dung dịch vữa Bentonite trong thi công cọc khoan nhồi:

- Tỷ trọng g = 10,5  12 kN/m3, thích hợp nhất là 11,5 kN/m3, tỷ trọng cần duy trì ổnđịnh và ít thay đổi

- Độ nhớt: khoảng 20  25 giây

- Độ nhả nước, sự tách nước nằm trong phạm vi cho phép

- Vữa sét không bị phân tầng

- Độ pH ban đầu nằm trong khoảng 8 ÷ 10

Câu 4 :

* Trình bày biện pháp hạ lồng cốt thép : Hạ lồng cốt thép xuống lỗ khoan

theo từng đốt Các đốt cốt thép đã chuẩn bị sẵn nhưng đặt ở vị trí nằm ngang,

phải có thanh nẹp làm đòn gánh để treo lồng cốt thép đỡ cho các thanh cốt

dọc và các ống Sonic không bị uốn cong Dùng cần cẩu thông qua đòn gánh

dựng khung cốt thép đặt nằm nghiêng, sau đó đổi vị trí móc cẩu, móc vào

những điểm treo định trước để cẩu lồng cốt thép theo phương thẳng đứng và

hạ vào trong lỗ khoan Khi hạ xuống hết chiều dài một đốt, lồng cốt thép

được treo giữ bằng giá đỡ ở phía trên miệng lỗ khoan để chồng đốt tiếp theo

và thực hiện nối cốt thép và ống Sonic Khung cốt thép cọc không được tựa

vào đáy lỗ khoan mà phải treo cách đáy lỗ khoan 10cm và neo lại để lồng cốt

thép không bị đẩy trồi lên trong qúa trình đổ bê tông cọc

* Trình bày biện pháp đổ bê tông cọc khoan nhồi:

Vữa bê tông cọc khoan nhồi dùng xi măng porland PC40,đá 1×2,cát vàng có môduyn hạt ≥2,5 Tỉ lệ N/X ≤0,45, dùng phụ gia làm chậm ninh kết và tăng độ sụt của vữa bê tông Độ sụt của vữa bê tông 16÷20cm

Trang 4

Bê tông cọc đổ trong vữa sét theo phương pháp rút ống thẳng đứng Chỉ sử dụng một ống để đổ bê tông, ống có đường kính bằng bốn lần kích thước đá và ≤ 0,5 Dcọc Chiều dài mỗiđốt 3m, nối bằng ren vuông đảm bảo nhẵn trong và nhẵn ngoài đồng thời dễ tháo dần từng đốt khi rút ống lên Chiều dày thành ống ≥ 8 mm

Lắp sẵn từng đoạn hai đốt ống làm một và dùng cần cẩu thả từng đoạn ống vào lỗ khoan, khi thả hết chiều dài đoạn nối thì giữ chặt cổ ống bằng sàn kẹp để lắp nối đoạn ống tiếp theo Sàn kẹp có vòng cổ áo gồm hai nửa đóng mở được bằng bản lề ôm vòng quanh ống đổ, đồng thời là sàn công tác che lấy miệng lỗ khoan ngăn cản không để thiết bị hoặc người rơi vào trong lỗ khoan trong khi đổ bê tông Sàn kẹp định vị ống đúng tâm không để ống chạm vào cốt thép, thông thường sàn kẹp đặt ngay trên miệng ống vách

Hạ ống đổ cho mũi ống cách đáy lỗ khoan 20cm, lắp phễu đổ và treo giữ cả hệ thống này bằng cần cẩu Chế tạo quả cầu để ngăn không cho vữa bê tông tiếp xúc với vữa sét và đẩy vữa sét ra khỏi ống đổ khi vữa bê tông trôi xuống Quả cầu tiện bằng gỗ hoặc làm bằng nhựa có dạng hình trụ vừa lọt trong lòng ống, hai đầu hình chỏm cầu Treo quả cầu cách cổ phễu đổ 20÷40cm, dùng vải bạt quấn chèn để quả cầu khít với thành ống dẫn

Dùng máy bơm vữa hoặc xe bơm để cấp vữa bê tông Bơm rót bê tông vào cạnh thành phễu,không rót trực tiếp lên quả cầu, khi vữa đổ đầy phễu thì cắt dây để bê tông cùng với quả cầu trôi xuống phía dưới, trong khi đó liên tục cấp vữa vào phễu giữ cho dòng bê tông trong ống đổ liên tục nếu để ngắt quãng sẽ hình thành túi khí trong bê tông Khi vữa bê tông dừng lại không chảy, từ từ nâng ống lên thêm 30cm cho quả cầu thoát ra ngoài, vữa bê tông chảy tràn ra xung quanh đáy lỗ khoan, giữ phễu ở vị trí đó để tiếp tục đổ bê tông và theo dõi cao độ vữa dâng trong lỗ cọc Luôn luôn theo dõi lượng vữa cấp vào để tính được chiều cao vữa dâng lên trong lỗ khoan, đối chiếu với chiều sâu đo đạc thực tế, thông qua quan hệ này để kiểm tra tình trạng thành vách lỗ khoan và nâng rút ống đổ đúng lúc

Ống đổ được nâng rút lên khi gặp một trong hai trường hợp sau :

+ Vữa bê tông trong phễu không tụt xuống

+ Cao độ mũi ống ngập sâu trong vữa quá 4 m

Nâng ống lên với tốc độ 1,5m/phút cho đến vị trí mà mũi ống ngập trong bê tông 2,0m thì dừng lại, và tiếp tục cấp vữa bê tông vào phễu

Trường hợp khoan cọc trên sàn đạo hoặc trên hệ nổi, phễu và ống đổ bê tông treo giữ trên cần cẩu Khi kéo rút lên hết hai đoạn ống, cho vữa bê tông chảy hết xuống đến ngang mặt

Trang 5

sàn kẹp, kẹp giữ đầu ống và tháo bỏ bớt hai đốt bên trên, lắp lại phễu đổ và tiếp tục đổ bê tông

Để đưa vữa bê tông lên cao độ treo phễu phải dùng xe bơm bê tông

Nếu thi công trên mặt bằng hoặc trên mặt đảo nhân tạo, phễu đổ đặt ngay trên mặt sàn kẹp và vữa bê tông trút trực tiếp từ xe Mix vào phễu Tháo dần từng đốt sao cho vẫn đảm bảo mũi ống ngập sâu vào cao độ mức vữa tối thiểu là 2,0m và sau khi tháo đốt ống lắp lại phễu đổ, phễu vẫn đặt trên cao độ mặt sàn kẹp

Ở giai đoạn cuối cùng đổ bê tông cọc khoan nhồi có thể kết hợp giữa đổ bê tông và nhổống chống vách Khi nhổ ống chống vách, phễu đổ bê tông phải treo riêng trên cần cẩu và dùng cần cẩu khác để cặp búa rung nhổ ống chống hoặc dùng thiết bị xoay lắc để nhổ rút dần Trong khi nhổ ống vách phải đảm bảo điều kiện đáy ống luôn thấp hơn cao độ mũi của ống đổ bê tông

là 2,0m Trong khi kéo ống vách lên phải có biện pháp thu lại vữa Bentonite không để mức vữa trong ống dâng cao Nếu đầu cọc nằm sâu trong nền, sau khi rút ống vách phải hút hết vữa sét trong đoạn lỗ phía trên và đổ lấp cát vào hố đầu cọc

Trong tất cả các biện pháp đổ bê tông cọc, bê tông phải đổ cao hơn đỉnh cọc thiết kế tốithiểu là 1,0m để đẩy hoàn toàn phần bê tông nhiễm vữa sét lên đầu cọc, đoạn đổ cao thêm này

sẽ được phá bỏ

* Nêu các sự cố có thể xảy ra trong thi công cọc khoan nhồi và biện pháp xử lý.

- Các s c khi khoan t o l và cách x lý: ự nhiên lún nhiều: ống: ạo lỗ và cách xử lý: ỗ và cách xử lý: ử lý:

+ Sập lở thành lỗ khoan:

Xảy ra ở phạm vi nhỏ do gặp phải những thấu kính, những lớp đất kẹp giữa hai lớp đất dày, do tốc độ khoan nhanh chưa kịp hình thành màng dung dịch cố kết thành vách và có thể do

tỉ trọng vữa sét chưa thỏa đáng Xảy ra ở phạm vi lớn là do lỗ khoan đi qua khu vực nước ngầm

có áp lực cao hoặc đi qua tầng cuội sỏi

Biểu hiện : mức vữa sét tụt nhanh, đầu khoan quay chậm lại hoặc không quay được Cách khắc phục : Trước hết bù đủ mức vữa trong lỗ khoan, phân tích để kết luận nguyên nhân gây ra sụt lở Lấy đầu khoan lên bằng cách xói hút lấy bớt đất lở vùi lấp đầu khoanđến khi có thể quay được đầu khoan thì tiến hành quay và rút chậm đầu khoan lên với tốc độ 2÷4m/phút

Các biện pháp khoan hoặc phá đá đều gây chấn động mạnh vì vậy thành lỗ khoan phải được giữ ổn định bằng ống chống cho đến tận vị trí phá đá

Phá vỡ tảng đá bằng biện pháp: Giã phá bằng đầu choòng; Khoan bằng mũi nhỏ và nổ phá; Dùng chất phá vỡ trương nở, những chất này đều trộn với nước sạch rồi đổ vào lỗ khoan

Khoan xuyên qua tảng đá : Khi tảng đá quá lớn không thể phá vỡ thành mảnh nhỏ để gắp lên phải xử lý bằng cách khoan xuyên qua Thay đầu khoan có lưỡi cắt đá hoặc dùng biện pháp khoan giã đá Mùn khoan là các mảnh vụn đá nên lấy lên bằng biện pháp hút tuần hoàn nghịch Khi đã xuyên thủng qua tảng đá, tiếp tục bơm vữa sét vào lỗ khoan và khoan theo biện pháp ban đầu

+ Dụng cụ thi công bị rơi vào trong lỗ khoan :

Thường là đầu khoan do lỏng bulông hoặc do bất cẩn Khi chưa bị đất cát vùi lấp thì có thể dùng gầu ngoạm hoặc cặp càng cua để cắp và kéo lên, có thể dùng móc nhiều ngạnh thả xuống để móc kéo lên Trường hợp đã bị đất cát vùi lấp thì cần nối dài và hạ tiếp ống chống

Trang 6

xuống đến vị trí đầu khoan bị chôn, sau đó dùng xói hút thủy lực để đào moi đất lấp trên đầu khoan Khi đã bộc lộ được đầu khoan, tìm biện pháp để móc lên.

+Gặp hang Castơ trong khi khoan qua tầng đá vôi:

Có hai dạng hang Castơ là hang sống và hang chết Hang sống là hang có những mạch ngầm và hệ thống hang ngách đi sâu không kiểm soát được, hang chết là hang kín chỉ là một túi rỗng cục bộ quanh khu vực lỗ khoan đi qua Hiện tượng gặp phải hang Castơ chết là lượng vữa sét hoặc mực nước trong lỗ khoan tụt đột ngột sau khi cấp bù thì mất chậm hoặc đứnglại, khi gặp phải hang Castơ sống, vữa sét tụt mất nhanh và không bù được Trong điều kiện hang bị ngập trong nước thì hiện tượng gặp hang là bị kẹt hoặc hẫng đầu khoan Để xác định loại hang Castơ phải bơm cấp thử nước vào trong lỗ khoan, nếu lượng nước bơm vào bị rút đi nhanh chóng là hang sống

Biện pháp khắc phục : đối với hang chết nên đổ bê tông mác thấp vào lấp kín hang sau đó khoan qua lớp bê tông này và tiếp tục khoan sâu vào nền đá Đối với hang sống dùng ốngchống có đường kính lớn hơn đường kính cọc để mở rộng lỗ khoan phía trên, sau đó lồng đoạn ống vách có đường kính nhỏ hơn vào trong và đi qua khu vực hang Thông qua ống chống trongtiếp tục khoan đến cao độ thiết kế ống chống bên trong có vai trò như ván khuôn để giữ bê tông không chảy tràn vào trong hang

+ Vữa sét bị quánh lại, :

Nguyên nhân là bột Bentonite kém chất lượng hoặc do tỉ lệ pha trộn không đúng Cách khắc phục là xói hút để lấy vữa kém lên và thay thế bằng vữa sét đã điều chỉnh

- Nh ng s c x y ra trong giai đo n đ bê tông c c và cách x lý: ững sự cố xảy ra trong giai đoạn đỗ bê tông cọc và cách xử lý: ự nhiên lún nhiều: ống: ảy ra trong giai đoạn đỗ bê tông cọc và cách xử lý: ạo lỗ và cách xử lý: ỗ và cách xử lý: ọc bị nghiêng lệch: ử lý:

+ Bê tông bị thừa:

Khối lượng bê tông đổ vào so với dự kiến tính toán bị thừa, đây là sự cố nghiêm trọng

vì có thể có hiện tượng khoan thiếu chiều dài hoặc do sụt lở thành vách

Để kịp thời phát hiện sự cố này cần phải tổ chức theo dõi khối lượng đổ BT chặt chẽ Khi xảy ra sự cố phải có hội đồng xem xét, đánh giá và đưa ra giải pháp khắc phục thích hợp

+ Khung cốt thép bị đẩy trồi:

Nguyên nhân là do ma sát giữa cốt thép và thành ống vách nên cốt thép bị kéo lên theo khi rút ống

Biện pháp khắc phục là xoay lắc ống vách hoặc dùng búa rung cặp vào thành ống vách

để rung, những viên đá kẹt giữa ống vách và khung cốt thép rời ra và khung cốt thép sẽ tự chìm xuống

+ Khối lượng bê tông vượt quá dự kiến:

Khối lượng đổ vượt quá dự kiến là hiện tượng bình thường, tỉ lệ vượt khoảng từ 5 ÷ 20%

Câu 5:

* Biện pháp vệ sinh và yêu cầu về độ sạch của đáy lỗ khoan của cọc khoan nhồi:

- Khi khoan, những hạt mịn nhỏ bị trộn lẫn với vữa sét, những hạt lớn thì lắng đọng xuống phía dưới cho nên phải nạo vét lượng mùn đọng này bằng những biện pháp khác gọi là công tác vệ sinh đáy lỗ khoan

Trang 7

- Lượng cặn lắng ảnh hưởng lớn đến chất lượng bê tông mũi cọc và nếu lớp này có chiều dày lớn sẽ ảnh hưởng đến sức chịu tải của cọc khoan nhồi.

- Biện pháp kiểm tra chiều dày lớp cặn lắng và đánh giá mức độ sạch của khu vực mũi cọc:

+ Kiểm tra độ sạch của vữa sét lấy lên từ khu vực mũi cọc sau khi khuấy hút phía dưới đáy lỗ khoan So sánh tỉ trọng giữa loại vữa sét này với vữa sét chưa sử dụng để đánh giá mức độ nhiễm bùn

+ Đo chiều dày của lớp bùn lắng dưới đáy lỗ khoan bằng cách dùng hai loại quả rọi

có trọng lượng 3kg treo thả bằng dây cáp Lần đầu tiên thả quả rọi có mũi thuôn nhọn và cho rơimạnh để quả rọi này cắm sâu vào trong lớp bùn đọng và đo được chiều sâu thả rọi Lần thứ hai thay bằng quả rọi hình chuông, thả nhẹ để quả rọi này tựa trên mặt bùn lắng và xác định chiều sâu thả rọi So sánh giữa hai chiều sâu có thể xác định một cách tương đối chiều dày lớp bùn lắng Hai lần đo phải thả cùng một điểm

- Dùng biện pháp siêu âm, thả hai ống cắm xuống đáy lỗ khoan ở hai phía đối diện sát thành lỗ khoan và thả hai đầu thu phát của máy đo siêu âm xuống đáy ống và kéo lên để đo tốc

độ truyền sóng khu vực đáy lỗ khoan, khu vực có tốc độ thay đổi cho biết ranh giới của lớp bùn lắng

- Với biện pháp khoan tuần hoàn thuận, cặn lắng dưới đáy lỗ khoan gồm hai loại: loại hạt mịn trộn lẫn với vữa sét trên suốt chiều dài lỗ khoan từ dưới lên trên do đó sau khi ngừng khoan thì nâng đầu khoan và quay không tải để khuấy vữa đồng thời bơm rửa lòng cọc bằng vữasét cho đến khi kiểm tra tỉ trọng của vữa sét lấy lên ở trên miệng lỗ so với tỉ trọng của vữa sét bơm vào chênh lệch không vượt quá 10% thì có thể coi là sạch, loại hạt thô không nổi lên được cùng với vữa sét mà lắng đọng ở dưới đáy lỗ cần phải kiểm tra nếu chiều dày của lớp này lớn hơn 5cm thì phải xử lý cặn lắng đáy lỗ bằng biện pháp thổi khuấy

- Với biện pháp khoan gầu xoay, dung dịch vữa sét trên cả chiều dài cọc bị nhiễm mùn khoan do đầu khoan thường xuyên kéo lên, cần phải để cho cặn lắng xuống sau đó dùng biện pháp thổi khuấy dưới đáy lỗ để lấy cặn

- Thiết bị dùng để vệ sinh đáy lỗ khoan bằng biện pháp thổi khuấy bao gồm một gầu hứng bùn hình chậu treo vào đường ống thả xuống đáy lỗ khoan Đường ống xuyên qua đáy chậu và có các khe thoát khí tạo nên dòng thổi khí khuấy cuộn ở phía dưới đáy chậu Trên một

số đoạn của đường ống có bố trí các vòng định tâm để gầu và đường ống định vị đúng với tim lỗkhoan Dùng cần cẩu thả gầu xuống gần sát đáy và thổi hơi ép vào đường ống Lớp bùn lắng cùng với các hạt nặng bị thổi cuộn lên và tụ vào trong gầu hứng Ngừng thổi khí và để lắng rồi kéo lên khỏi lỗ khoan

Trang 8

- Nếu cặn lắng là cuội sỏi hoặc dăm vụn đá, phải dùng máy hút thủy lực với đầu hút có lồng hút đá hoặc có thể áp dụng biện pháp thổi khuấy

- Các hạt mịn lơ lửng trong vữa sét, trong thời gian chờ đổ BT có thể lắng xuống thành một lớp bùn dưới đáy lỗ, trước khi đổ BT cần kiểm tra chiều dày của lớp này, nếu vượt quá chiều dày cho phép thì phải tiếp tục nạo vét

- Cách xử lý lớp cặn lắng thứ cấp:

+ Dùng máy bơm hút khí động, áp dụng khi lớp cặn lắng này quá dày

+ Thổi sục khí, cách này chỉ sử dụng hơi ép để thổi sục cho lớp bùn lắng tan ra, các hạt mịn theo bọt khí nổi lên hòa lẫn cùng với vữa sét sau đó bị vữa bê tông đẩy dần lên trên miệng lỗ khoan Biện pháp này áp dụng khi lớp cặn lắng chỉ gồm những hạt mịn và mỏng, tiến hành ngay trước khi đổ bê tông và sử dụng ngay ống đổ bê tông để dẫn ống thổi khí nén

* Vai trò của ống vách trong biện pháp thi công cọc khoan nhồi có sử dụng vữa sét và cáchxác định chiều dài ống vách:

- Vai trò của ống vách tạm:

+Ổn định đất mặt

+Nâng cao cột nước áp lực để ổn định vách hố

+Đỉnh ống vách tạm là chỗ để treo lồng cốt thép, để sàn giữ ống đổ bê tông phục vụ cho công tác đổ bê tông sau này

Trang 9

+Dẫn hướng cho cần khoan trong quá trình đi lên, đi xuống không va vào vách hố khoan.

* Phạm vi áp dụng vòng vây cọc ván thép khi thi công hố móng mố trụ cầu:

- Hố móng thi công trong điều kiện có nước ngầm hoặc ngập nước, mực nước sâu trên3m, nền đất xung quanh có hệ số thấm cao hoặc có hiện tượng cát chảy

- Điều kiện thi công chật hẹp, địa chất yếu

* Cấu tạo vòng vây cọc ván thép khi thi công hố móng mố trụ cầu:

- Vòng vây một hàng cọc ván: Kết cấu này được dùng khi hố móng mố trụ cầu hẹp, kếtcấu khung vây gồm các cọc ván thép đóng xỏ me kín khít với nhau đóng sâu vào đất nền.Chiều sâu đóng vào nền khoảng ½ chiều sâu cột nước Cao độ đỉnh cọc ván lớn hơn cao độmực nước thi công tối thiểu là 0,5m Các cọc ván thép được giữ ổn định bằng các tầng khungchống trong, số lượng và khoảng cách giữa các tầng khung chống phụ thuộc vào độ cứng củacác loại cọc ván thép và kết cấu dầm chống trong, thông thường lấy từ 3 ÷ 4m, càng xuốngsâu khoảng cách càng nhỏ Đối với khung vây dạng này thường phải đổ bê tông bịt đáy theo

Trang 10

phương phỏp đổ bờ tụng trong nước Khung võy loại này chỉ phự hợp khi kớch thước haichiều của hố múng ≤ 25m.

- Vũng võy cọc vỏn thộp kộp: Vũng võy hai hàng cọc vỏn thộp được sử dụng khi thi cụng

hố múng cú kớch thước hai chiều lớn hơn 25m Kết cấu vũng võy gồm hai hàng cọc vỏn thộpđược đúng sõu vào đất nền, chiều sõu ngập trong đất bằng ẵ chiều sõu cột nước Giữa haihàng cọc vỏn thộp là đất hoặc cỏt để tăng độ cứng, độ ổn định cho vũng võy và chống thấmnước Khoảng cỏch giữa hai hàng cọc vỏn thộp phụ thuộc vào chiều sõu cột nước, thườngchọn bằng 0,8 lần chiều sõu cột nước Khung võy dạng này ổn định nhờ vào cỏc thanh giằngnộo và khối đất đắp giữa hai hàng cọc vỏn thộp, khối đất đắp trong khung võy nờn chọn loạiđất cú gúc ma sỏt lớn

* Biện phỏp thi cụng vũng võy cọc vỏn thộp:

- Đóng một số cọc thép chữ H xung quanh về phía trong của vòng vây để làm cọc định vịkhoảng cách 2 ữ 3m cho một cọc Dùng búa rung để đóng

- Dùng cần cẩu cẩu lắp khung chống tựa trên các cọc định vị để làm khung dẫn h ớng choướng chocác cọc ván

- Tổ hợp cọc ván : tổ hợp 3 ữ 5 cọc thành một mảng tr ớc khi đóng Dùng các thanh ray kêướng cho

đệm phía d ới và đặt ngửa hai cọc ván ở hai bên h ớng chiều lòng máng lên trên để mộtướng cho ướng chokhoảng trống giữa chúng, luồn thanh thứ ba vào giữa theo chiều úp xuống lắp khớp với cạnh mecủa hai thanh bên rồi dùng tời kéo chậm để các cạnh me tr ợt hết chiều dài thanh cọc Dùngướng chothanh kẹp, kẹp các cọc đã tổ hợp lại với nhau

- Xảm me cọc ván thép có tác dụng làm kín mạch nối ghép giữa các cọc Vật liệu là dâythừng tẩm dầu thải, dùng que nhét vào khe hở giữa các cạnh me

- Dựa vào khung dẫn h ớng tiến hành ghép vòng vây Dùng cần cẩu cẩu từng tổ hợp cọc theoướng cho

ph ơng thẳng đứng và lùa một cạnh me của tổ hợp vào hàng cọc đã ghép tr ớc, d ới đáy cạnhướng cho ướng cho ướng cho

me còn lại dùng dây thừng hoặc mảnh gỗ làm nút ngăn không cho đất hoặc sỏi chèn vào, thả từ

từ cho tổ hợp cọc tr ợt thẳng theo rãnh me và cắm ngập chân vào trong nền Đối với vòng vâyướng chohình chữ nhật, xuất phát từ hai góc của vòng vây còn đối với vòng vây có hình tròn hoặc elíp thì

có thể bắt đầu từ một vị trí bất kỳ của vòng vây

- Tại điểm hợp long, đo cụ thể khoảng hở còn lại để chế tạo cọc khép mối và tiến hành khépkín mối nối

- Dùng búa rung rung hạ cọc ván, đi lần l ợt từ một góc cho hết một l ợt xung quanh vòngướng cho ướng chovây, chiều sâu hạ giữa các cọc không chênh nhau quá 1m

Với tr ờng hợp đóng ở trên cạn, cọc ván thép dùng làm t ờng ván ổn định vách hố móngướng cho ướng chohoặc vách t ờng hào thì không cần tổ hợp và xảm me giữa các cọc mà lần l ợt ghép cọc vàoướng cho ướng chophần t ờng ván đã đóng rồi rung cho cọc hạ xuống hết tầm đến cao độ thiết kế ướng cho

Cõu 8:

* Trỡnh bày giải phỏp làm khụ hố múng:

Trang 11

- Khi nước ngầm chảy vào hố móng với tốc độ lớn, có thể làm lún sụt công trình xungquanh, khi đó nếu không đóng được cọc ván xuống sâu thì tiến hành đào đất ngầm trongnước rồi đổ bê tông bịt đáy để làm khô hố móng.

- Các hố móng đào trong các tầng đất cát nhỏ dễ xảy ra hiện tượng cát trôi, khi đó người

ta hay dùng biện pháp giếng lọc để hạ mực nước ngầm làm khô hố móng

- Khi lượng nước thấm vào hố móng không lớn lắm, thường bố trí máy bơm trên bờ hốmóng để hút nước trực tiếp, đầu máy bơm được thả vào hố tụ nước, xung quanh móng đàocác rãnh thoát nước tập trung nước về hố tụ

* Tác dụng lớp bê tông bịt đáy: Tăng độ ổn định của vòng vây cọc ván thép, ngăn không chonước ngấm từ phía dưới đáy vào trong hố móng, chống áp lực đẩy nổi làm bục đáy hố móng khihút cạn nước, giúp làm khô hố móng thuận lợi cho việc thi công bệ móng

* Nêu yêu cầu cấu tạo lớp bê tông bịt đáy: Chiều dày lớp bê tông bịt đáy phải thỏa mãn haiđiều kiện: đủ nặng để thắng áp lực đẩy nổi của nước và đảm bảo về mặt cường độ

* Cách xác định chiều dày lớp bê tông bịt đáy: dựa vào khả năng chống áp lực đẩy nổi củanước và về mặt cường độ

* Nêu cách thi công lớp bê tông bịt đáy: Có thể dùng phương pháp đổ bằng bao tải, dùngthùng mở đáy, phương pháp vữa dâng hay phương pháp rút ống thẳng đứng

Câu 9: Trình bày đặc điểm cấu tạo và biện pháp thi công trụ tháp cầu sử dụng ván khuôn di

chuyển luân lưu, ván khuôn leo và ván khuôn trượt

Trang 12

* Đặc điểm cấu tạo và biện pháp thi công trụ tháp cầu sử dụng ván khuôn di chuyển luân lưu:Ván khuôn được tạo thành bằng cách tổ hợp những tấm ván đơn đã được gia công trước, khi đến

vị trí chúng được ghép lại với nhau bằng bu lông, khi bê tông đạt cường độ chúng được tháo dỡ

ra theo từng tấm một Loại này thường dùng cho các kết cấu có cấu tạo đơn gián, chiều cao nhỏ

* Đặc điểm cấu tạo và biện pháp thi công trụ tháp cầu sử dụng ván khuôn ván khuôn leo :Ván khuôn leo là loại ván khuôn di chuyển theo từng đợt đổ bê tông nhờ hệ thống kích đẩy hoặckéo Loại này thường được dùng để thi công các trụ cầu cao, trụ tháp cầu treo và cầu dây văng

Có 3 loại ván khuôn leo: Ván khuôn leo theo khung chôn sẵn; ván khuôn nâng bằng cần cẩu leo

và ván khuôn trượt theo thân tháp bằng kích

* Đặc điểm cấu tạo và biện pháp thi công trụ tháp cầu sử dụng ván khuôn trượt: Ván khuôntrượt là loại ván khuôn di chuyển lên cao liên tục trong xuốt quá trình đổ bê tông nhờ hệ thốngkích nâng

Cấu tạo: Ván khuôn làm bằng thép bản dày 3 ÷ 6mm được tăng cường bằng các sường thépgóc Bộ phận di chuyển gồm: cốt thép dẫn nằm trong lòng kết cấu xuốt từ dưới lên trên Chuyểnđộng dọc theo các cốt thép dẫn là các kích thủy lực Hệ kích gắn chặt với hệ ván khuôn và cáckết cấu bổ trợ, khi kích di chuyển sẽ kéo theo toàn bộ ván khuôn

LÝ THUYẾT PHẦN KẾT CẤU NHỊP

Câu 10:

* Tác dụng của công tác thử tải đà giáo: Thử tải để kiểm tra khả năng chịu lực, triệt tiêu lún

do độ rơ các lỗ bu lông của kết cấu vạn năng và biến dạng lún của nền móng trụ tạm

* Tải trọng chất tải thử lên đà giáo cố định: tải trọng thử cho các trụ tạm được xác định trên

cơ sở tính toán mọi tổ hợp tại trọng bất lợi nhất và theo quy trình thiết kế công trình phụ tạmcho xây dựng cầu

Tải trọng thử phải đạt ít nhất 70% tải trọng sử dụng và phải để nguyên trong thời gián đủ dàitheo tính toán để xuất hiện phần lớn độ lún của đà giáo

* Biện pháp chất tải thử lên đà giáo cố định: Sử dụng cần cẩu để cẩu các đối trọng là các khối

BT lên đà giáo, sắp xếp các đối trọng sao cho sát với sự làm việc của hệ đà giáo trong thực tế

* Kiểm soát, theo dõi khi thử tải đà giáo: Sử dụng các loại máy cao đạc để tiến hành đo từ xanhằm đề phòng trường hợp đổ sập đà giáo Xung quanh khu vực đo phải có người canh gác,không cho người đi vào phía dưới

Câu 11 :

* Trình bày các nguyên tắc hạ đà giáo:

Trang 13

1 Khụng gõy quỏ tải cục bộ cho cỏc bộ phận của đà giỏo và vỏn khuụn dầm.

2 Khụng gõy ra lực xung kớch quỏ lớn

3 Khụng gõy ra cho dầm mụ men uốn trỏi dấu với mụ men uốn trong tớnh toỏn thiết kế

Ghi chỳ:

- Để đảm bảo nguyờn tắc (1) và (2) người ta dựng thiết bị hạ đà giỏo

- Để đảm bảo nguyờn tắc (3) người ta lập trỡnh tự hạ đà giỏo

* Thời điểm hạ đà giỏo: Khi bờ tụng đạt trờn 75% cường độ thiết kế.

+ Đối với cầu dầm giản đơn Tháo từ giữa tháo ra

+Đối với cầu dầm mút thừa

-Tháo nhịp hẫng trớc,

-Tháo nhịp giữa sau, tháo từ giữa tháo ra.

+Đối với cầu dầm liên tục

ra.

+ Sau khi tách dầm ra khỏi đà giáo

Tiến hành tháo ván khuôn đáy của KCN theo thứ tự từ trên xuống dới, từ trong ra ngoài.Tháo dỡ đến đâu, sắp xếp gọn gàng đến đấy để tiện cho lần sử dụng tiếp theo Đặc biệt chú ý đếnbiện pháp an toàn lao động

* Nội dung tớnh chiều cao hạ đà giỏo?

-Biến dạng đàn tính của cọc hay cột đà giáo (1):

l-Chiều dài tính toán của cọc hay cột đà giáo

 -ứng suất nén trong cọc hay trong cột đà giáo

Ngày đăng: 01/12/2018, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w