1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu (2) HOC VIEN SOAN

15 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 379,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2- Yếu tố môi trường và sự phát triển nhân cách a- Khái niệm môi trường Trong giáo dục học: Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội xun

Trang 1

GIÁO DỤC HỌC NGHỀ NGHIỆP

1. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH

Sự hình thành và phát triển nhân cách chịu sự tác động của nhiều yếu tố: khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài, sinh học và xã hội, tự phát và tự giác Cụ thể là:

1- Yếu tố bẩm sinh – di truyền và sự phát triển nhân cách

a- Khái niệm bẩm sinh – di truyền

- Bẩm sinh: Là những thuộc tính đặc điểm sinh học có ngay từ khi mới

sinh ra

Theo học thuyết Paplov: Khi sinh ra con người đã có nhiều thuộc tính và bản năng bẩm sinh, đó là những thuộc tính và bản năng thuộc về nhóm phản xạ không điều kiện, ví dụ như: phản xạ tiết nước bọt, phản xạ định hướng, phản xạ tự vệ, cấu tạo hình hài là một con người v.v

- Di truyền: Là sự tái tạo ở thế hệ sau những thuộc tính sinh học ở thế hệ

trước Là sự truyền lại từ thế hệ trước đến thế hệ sau những phẩm chất nhất định đã được ghi lại trong hệ thống gen

Di truyền trước hết đảm bảo cho loài người phát triển, đồng thời cũng giúp cho cơ thể con người thích ứng được với những biến đổi của các điều kiện sinh tồn

Di truyền với những đặc trưng sinh học của cha mẹ cho con cái không phải chỉ biểu hiện một cách hiện hữu khi đứa bé mới sinh ra, mà có thể những mầm mống tư chất sau một thời gian mới bộc lộ thành dấu hiệu của một số năng khiếu như hội họa, thơ ca, toán học…, hoặc thiểu năng trong những lĩnh vực cần thiết đối với cuộc sống cá nhân

b- Vai trò của yếu tố bẩm sinh – di truyền

Bẩm sinh và di truyền là yếu tố có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh

vực giáo dục Khi bàn về vai trò của yếu tố bẩm sinh - di truyền trong sự

hình thành phát triển nhân cách, tục ngữ ca dao đã có câu: “Cha mẹ sinh con trời sinh tính” hay “con vua thì lại làm vua/ con sãi ở chùa thì quét lá đa” Hẳn rằng đây là một quan niệm dân gian đã có từ xa xưa để đánh giá

vai trò vô cùng quan trọng của yếu tố bẩm sinh - di truyền có tính chất tiền định về “số phận, tính cách” (nhân cách) của con người Vậy, hiện nay khoa học giáo dục đã giải thích vấn đề đó như thế nào?

Bằng lý luận và thực tiễn, tâm lý học và giáo dục học hiện đại đều cho rằng không có một chương trình hóa sinh học hành vi của con người trong

xã hội Nghĩa là, khi mới lọt lòng, con người chưa có tiền định về bản chất hành vi của thiện ác, tốt xấu, về quan điểm, tư tưởng thế giới quan nào

cả Các năng lực, phẩm chất hợp thành nhân cách được hình thành và phát

triển trong quá trình hoạt động và giao lưu Hoạt động và giao lưu là hai con đường cơ bản đan quyện vào nhau – cần giao lưu thì phải hoạt động, mọi hoạt động đều có ý nghĩa giao lưu Thông qua con đường hoạt động và giao lưu, con người sẽ tinh lọc và tiếp thu được những kinh nghiệm quý báu cho quá trình hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực nhân cách của mình theo yêu cầu của xã hội

Như vậy, bẩm sinh - di truyền với các đặc điểm sinh học nêu trên không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của xã hội con người Những đặc điểm sinh học mặc dù có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành tài năng,

Trang 2

xúc cảm, sức khỏe, thể chất nhưng chúng không phải là yếu tố quyết

định – mà chỉ tạo cơ sở tiền đề vật chất, là khả năng tiềm tàng, là

điều kiện cần thiết cho sự phát triển tâm lý, nhân cách, nó nói lên

chiều hướng, tốc độ, nhịp độ của sự phát triển Những đứa trẻ có gen di

truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc lộ thiên hướng về lĩnh vực hoạt động đó Song để trở thành một tài năng cần phải có môi trường thuận lợi và sự hoạt động tích cực của cá nhân

Với những điều phân tích trên, bẩm sinh-di truyền chỉ tạo ra sức sống

trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho con người hoạt động có kết quả trong một lĩnh vực nhất định với phạm vi khá rộng của mỗi lĩnh vực Vì vậy, nhà giáo dục:

- Cần quan tâm đúng mức để phát huy hết bản chất tự nhiên đó của con người

- Cần khai thác những tư chất và những năng lực vốn có, những say mê, hứng thú của trẻ bằng cách sớm phát hiện, xác định rõ tính chất và phương hướng của những sức sống đó để có kế hoạchchăm sóc, bồi dưỡng kịp thời nhằm phát triển tài năng trẻ

- Cần chú ý đúng mức đến vai trò của bẩm sinh-di truyền trong sự hình thành phát triển nhân cách Nếu xem nhẹ yếu tố sinh học thì vô hình chung chúng ta bỏ qua yếu tố tư chất - tiền đề thuận lợi cho sự phát triển Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa hoặc đánh giá quá cao nhân tố này sẽ dẫn đến sai lầm

về mặt nhận thức luận của thuyết “định mệnh do di truyền”, thuyết “sinh học hóa giáo dục”, phủ nhận khả năng biến đổi bản chất con người cũng như hạ thấp vai trò của giáo dục và tự giáo dục

Cần lưu ý: Những tư chất được di truyền chỉ đặc trưng cho những lĩnh

vực hoạt động hết sức rộng rãi mà không định hướng vào một hoạt động hay sáng tạo cụ thể nào Việc định hướng này do điều kiện xã hội-lịch sử cụ thể, do trình độ phát triển của sản xuất, khoa học, nghệ thuật và nhất là do hoạt động sống của cá nhân quyết định Sự thành công trong một lĩnh vực nào đó phần lớn còn phụ thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn, vào lao động học tập, rèn luyện cũng như việc tích lũy kinh nghiệm cá nhân

Mỗi con người có những đặc điểm riêng về bẩm sinh - di truyền nên cần

có phương pháp giáo dục thích hợp nhằm cá biệt hóa trong giáo dục (đảm

bảo nguyên tắc sát đối tượng) Không nên có định kiến trong giáo dục học sinh, cần phát hiện kịp thời những khả năng (năng khiếu) của học sinh để tạo điều kiện cho các em phát triển

2- Yếu tố môi trường và sự phát triển nhân cách

a- Khái niệm môi trường

Trong giáo dục học: Môi trường là hệ thống các hoàn cảnh bên ngoài, các điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội xung quanh cần thiết cho hoạt động sống và phát triển của con người

Có hai loại môi trường:

- Môi trường tự nhiên: bao gồm các điều kiện tự nhiên-sinh thái phục vụ

cho việc học tập, lao động rèn luyện sức khỏe, vui chơi của con người

Khí hậu, đất đai, không khí, nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên có ảnh hưởng đến cách sống và tính chất lao động của con người Tuy nhiên, môi trường tự nhiên cũng như yếu tố bẩm sinh - di truyền giữ một vai trò nhất

Trang 3

định trong sự hình thành và phát triển nhân cách Nó chỉ là nơi diễn ra

sự hình thành và phát triển nhân cách chứ không phải là yếu tố quyết định

- Môi trừờng xã hội: Là môi trường bị qui định bởi:

+ Môi trường chính trị: chế độ chính trị, quan hệ giai cấp, cơ quan chính

quyền, đoàn thể chính trị

+ Môi trường kinh tế sản xuất: chế độ kinh tế, các quan hệ sản xuất,

các cơ sở sản xuất, kinh doanh…

+ Môi trường sinh hoạt xã hội: gia đình, các tổ chức phục vụ sinh hoạt

cộng đồng…

+ Môi trường văn hóa: hệ tư tưởng, các nhà trường, các cơ quan văn

hóa giáo dục, các phương tiện thông tin đại chúng…

Trong giáo dục học, khi nói đến ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách thì trước hết và chủ yếu là nói đến môi trường xã hội, vì nếu không có môi trường xã hội, không có quan hệ giao tiếp với người khác thì những tư chất có tính người sẽ không thể phát triển được, con người cũng không thể trở thành người theo đúng nghĩa người Trong môi trường xã hội được phân thành môi trường lớn và môi trường nhỏ

Môi trường lớn: Đặc trưng chủ yếu bởi tính chất của nhà nước, chế độ

chính trị, kinh tế, tư tưởng được thiết lập trong xã hội

Môi trường nhỏ: Là một bộ phận của môi trường lớn, trực tiếp bao

quanh trẻ, bao gồm: gia đình, nhà trường, bạn bè, đoàn đội, người lớn thân thuộc, cơ sở văn hóa ở địa phương trẻ tham gia sinh hoạt…Môi trường nhỏ tác động trực tiếp và mạnh mẽ tới trẻ Môi trường lớn ảnh hưởng đến trẻ thông qua môi trường nhỏ Đồng thời môi trường nhỏ mang tính độc lập, tương đối, chịu sự biến đổi dễ dàng và nhanh chóng hơn

Môi trường xã hội thường ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển nhân cách bằng hai con đường:

- Con đường tự phát: Dù muốn hay không sống trong hoàn cảnh xã hội

nào phải chịu sự chi phối tác động của hoàn cảnh đó

- Con đường tự giác: Đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch và có

phương pháp trong đó giáo dục đóng vai trò là chủ đạo

b- Vai trò của yếu tố môi trường

Tục ngữ Việt Nam có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” Mạnh Tử nhà giáo dục nổi tiếng Trung Hoa cổ đại (372 - 289 TCN) khẳng định: “Nơi ở làm thay đổi tính nết, việc ăn uống làm thay đổi cơ thể Nơi ở quan trọng lắm thay” Rõ ràng, quan niệm dân gian cũng như tư tưởng của nhiều nhà giáo dục từ xa xưa đã khẳng định “nơi ở” hiểu theo nghĩa rộng là môi trường, hoàn cảnh có tác động hầu như là quyết định đến việc hình thành nhân cách con người

Như vậy, mỗi con người ngay từ khi mới sinh ra đã phải sống trong một môi trường, hoàn cảnh nhất định, có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát triển thể chất, tinh thần của cá nhân Môi trường tự nhiên và

xã hội với các điều kiện kinh tế, thể chế chính trị, hệ thống pháp luật, truyền thống văn hóa, chuẩn mực đạo đức… đã tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành và phát triển động cơ, mục đích, quan điểm, tình cảm, nhu cầu, hứng thú, chiều hướng phát triển của cá nhân Thông qua hoạt động và

Trang 4

giao lưu trong môi trường mà cá nhân chiếm lĩnh được các kinh nghiệm, giá trị xã hội loài người, từng bước điều chỉnh, hoàn thiện nhân cách của mình Khi nói tới ảnh hưởng của môi trường đến sự hình thành và phát triển

nhân cách, giáo dục học khẳng định: Sự hình thành và phát triển nhân cách chỉ có thể thực hiện trong một môi trường xã hội nhất định Môi trường góp phần tạo nên động cơ, mục đích, cung cấp phương tiện, điều kiện cho hoạt động giao lưu của cá nhân, nhờ đó cá nhân chiếm lĩnh các sức mạnh bản chất của loài người (các kinh nghiệm xã hội, các giá trị văn hóa) để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách.

Tuy nhiên, tính chất và mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự phát triển nhân cách còn tùy thuộc vào lập trường, thái độ, quan điểm của

cá nhân đối với các ảnh hưởng (tiếp thu, chấp nhận hay phản đối…) cũng như tùy thuộc vào xu hướng, năng lực và mức độ của cá nhân tham gia cải biến môi trường (tích cực hay tiêu cực, mạnh hay yếu)

Như vậy, trong sự tác động qua lại giữa nhân cách và môi trường, cần chú ý hai mặt của vấn đề:

Thứ nhất: Tính chất tác động của môi trường, hoàn cảnh sinh hoạt đã

phản ánh vào quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Thứ hai: Tính tích cực của nhân cách tác động đến hoàn cảnh nhằm mục

đích làm cho hoàn cảnh đó phục vụ nhu cầu và lợi ích của mình

Hai mặt nói trên có ảnh hưởng lẫn nhau, đúng như K.Marx đã nhận xét:

“…Hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người và trong một chừng mực nhất định con người lại sáng tạo lại hoàn cảnh” (Hệ tư tưởng Đức)

Tóm lại: Trong sự phát triển nhân cách, môi trường đóng vai trò to lớn

- qui định sự hình thành và phát triển nhân cách Tuy nhiên cần đánh

giá đúng mức vai trò của môi trường Nếu tuyệt đối hóa vai trò của môi trường là phủ nhận vai trò ý thức sáng tạo của chủ thể, đó là sai lầm về

nhận thức luận của thuyết “định mệnh do hoàn cảnh”- Thuyết này tuyệt đối

hóa vai trò của hoàn cảnh, hạ thấp vai trò của giáo dục, biện hộ cho sự duy trì đặc quyền giáo dục đối với các tầng lớp xã hội có hoàn cảnh thuận lợi Nếu hạ thấp và phủ nhận vai trò yếu tố môi trường cũng phạm sai lầm của

thuyết: “Giáo dục vạn năng” - Thuyết này tuyệt đối hóa tác dụng của giáo

dục và phủ nhận ảnh hưởng của di truyền và môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách

3- Yếu tố giáo dục và sự phát triển nhân cách

a- Khái niệm giáo dục

Là quá trình hoạt động phối hợp thống nhất giữa chủ thể (nhà giáo dục) với đối tượng (người được giáo dục) giáo dục nhằm hình thành và phát triển nhân cách theo những yêu cầu xã hội

Hay nói cách khác: Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, được tổ chức một cách có kế hoạch, có phương pháp nhằm hình thành và phát triển nhân cách con người phù hợp với những yêu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển của nó.()

Như vậy, khác với môi trường, những tác động của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển của nhân cách không phải là mang tính tự phát mà bao giờ cũng là tác động có mục đích đến sự phát triển của con người Nó được tiến hành bởi những con người được xã hội giao phó thực hiện chức năng xã hội đặc biệt đó

Trang 5

Giáo dục là hoạt động có chủ đích của xã hội, sử dụng mọi phương tiện mình đang có (nghệ thuật, văn chương, thông tin đại chúng, trường học, các

tổ chức xã hội…) để tiến hành hoạt động nhằm trang bị cho con người: kiến thức, kỹ năng - kỹ xảo cần thiết cho xã hội Trên cơ sở đó nhằm hình thành ở con người những phẩm chất đạo đức, hành vi phù hợp với yêu cầu của một

xã hội nhất định

Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển

b- Vai trò của giáo dục

Nói tới vai trò của giáo dục, ngay từ thời Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng đã có quan điểm đánh giá về vai trò của giáo dục:

“Viên ngọc không được mài dũa thì không thành đồ dùng được Con người

không được học thì không biết gì về đạo lí”, hoặc “Ăn no, mặc ấm, ngồi

dưng không được giáo dục thì con người gần như cầm thú” Bác Hồ cũng đã nói : “…Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn/ Phần nhiều do giáo dục mà nên”

Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục giữ vai trò chủ

đạo Vai trò chủ đạo của giáo dục được thể hiện:

- Giáo dục định hướng: Giáo dục định hướng cho sự hình thành và

phát triển nhân cách, chủ động đề ra mục đích, mục tiêu, qui định phương hướng, nội dung và mức độ của sự phát triển

Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục có tác động qua lại mật thiết với tất cả những ảnh hưởng xuất phát từ môi trường Giáo dục nắm vai trò chủ đạo trong việc sử dụng các điều kiện xã hội thuận lợi cũng như trong việc loại trừ hoặc làm suy yếu những ảnh hưởng và tác động bất lợi bắt nguồn trong một số trường hợp từ gia đình và môi trường gần gũi của đứa trẻ bên ngoài trường

Để định hướng cho sự phát triển nhân cách, giáo dục phải thiết kế được

mô hình nhân cách phù hợp với yêu cầu của xã hội về:

+ Mục tiêu đào tạo: phải xác định những nét cơ bản của nhân cách và

phải được cụ thể hóa trong nội dung giáo dục

+ Nội dung giáo dục: phải dự tính trang bị cho con người khối lượng

kiến thức, khái niệm về văn hóa, khoa học, hệ thống thái độ, hành vi…

+ Giáo dục qui định mức độ phát triển cá nhân bằng cách xây dựng

chương trình cho từng loại đối tượng

- Giáo dục tổ chức dẫn dắt: Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng

cho sự hình thành và phát triển nhân cách mà giáo dục còn phải tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách theo mô hình nhân cách đã được định hướng

Giáo dục là sự dẫn dắt của thế hệ đi trước đối với thế hệ sau theo mục đích, có kế hoạch, phương pháp nội dung chọn lọc Giáo dục là con đường ngắn nhất giúp thế hệ trẻ phát triển

Giáo dục còn tổ chức các dạng hoạt động như dạy học, lao động, hoạt động giao lưu… Trong đó, dưới sự tổ chức và điều khiển của nhà giáo dục, người được giáo dục tích cực tham gia, qua đó nhân cách được hình thành

và phát triển theo định hướng xác định

Trong quá trình hoạt động, diễn ra sự điều chỉnh của nhà giáo dục và sự

tự điều chỉnh của người được giáo dục nhằm giúp cho quá trình hình thành

và phát triển nhân cách của người được giáo dục không bị đi chệch hướng

Trang 6

Tuy nhiên, để thực hiện vai trò này, giáo dục phải tính đến trình độ hiện

có của đối tượng giáo dục, nhưng không phải dừng ở đó mà thông qua sự tác động phải làm biến đổi, làm phát triển Tức giáo dục phải đi trước sự phát triển

- Giáo dục can thiệp, điều chỉnh: Giáo dục phát hiện, khai thác và

tận dụng được những yếu tố thuận lợi, đồng thời, phát hiện, hạn chế và góp phần khắc phục những yếu tố không thuận lợi của bẩm sinh - di truyền, môi trường, nhằm phục vụ cho sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục Cụ thể:

Đối với bẩm sinh - di truyền

Giáo dục phát hiện kịp thời và bồi dưỡng làm phát triển những yếu tố

tư chất - tiền đề sinh học thuận lợi, không để cho chúng bị thui chột

+ Giáo dục phát hiện những mầm mống năng khiếu của cá nhân để bồi

dưỡng và phát triển thành năng lực

+ Giáo dục phát hiện những trẻ bị khiếm thị, khiếm thính, chậm phát

triển trí tuệ do những nguyên nhân sinh học gây ra Từ đó giáo dục đặc biệt đã có những phương pháp hữu hiệu để giúp cho các em hạn chế được

những đặc điểm này

Tóm lại: Đối với bẩm sinh - di truyền: Giáo dục phát hiện, khai thác và

tận dụng được những yếu tố thuận lợi, đồng thời phát hiện, hạn chế và khắc phục những yếu tố không thuận lợi của bẩm sinh - di truyền, tạo tác động tích cực tới sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục

Đối với môi trường

+ Giáo dục phát hiện những yếu tố thuận lợi của môi trường, sử dụng

chúng cho việc giáo dục con người

+ Giáo dục hạn chế và có thể khắc phục được những ảnh hưởng không

thuận lợi của môi trường

+ Giáo dục có thể cải tạo ở chừng mực nhất định những yếu tố không

thuận lợi, biến chúng thành những yếu tố thuận lợi

Tóm lại: Đối với môi trường, giáo dục có khả năng can thiệp vào môi trường nhỏ (gia đình, bạn bè, nhà trường, đoàn đội, người lớn thân thuộc…), phát huy những ảnh hưởng tích cực từ môi trường, hạn chế ngăn ngừa những tác động tiêu cực, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, thống nhất…

Đối với định hướng giá trị

Giáo dục giúp cho thế hệ trẻ có những định hướng giá trị nhân cách đúng đắn, có nhận thức, thái độ, hành vi hợp lý Đó là những nhân tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh, hình thành bản lĩnh cho thế hệ trẻ trước những tác động phức tạp của môi trường

Đối với giáo dục lại

Giáo dục có thể xây dựng được môi trường giáo dục lành mạnh, uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu, giúp ích cho sự hình thành và phát triển nhân cách theo chiều hướng đã định bằng cách tạo ra môi trường quan hệ tốt

- Giáo dục tạo ra sự tiến bộ

+ Giáo dục mang lại những tiến bộ mà bẩm sinh-di truyền, môi trường

không thể mang lại được do tác động tự phát

Trang 7

+ Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết

tật hoặc bị thiểu năng do bệnh tật, tai nạn Giáo dục giúp cá nhân luyện tập, khắc phục những nhược điểm sinh học, giáo dục có những cơ sở đặc biệt để chăm sóc giúp họ phục hồi những chức năng tâm lý đã mất, hoặc phát triển các chức năng khác nhằm bù trừ những chức năng bị khiếm khuyết, có được sự phát triển trí tuệ, giúp cho họ hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng

Tóm lại: Trong sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục giữ vai

trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn đối với sự hình thành phát triển nhân cách của học sinh Song giáo dục không phải là yếu tố vạn năng,

mà sự phát triển hoàn thiện nhân cách là sự tổng hợp của nhiều yếu tố

Tuy nhiên, trên thực tế giáo dục muốn phát huy vai trò chủ đạo của mình phải:

- Có sự thống nhất giữa các lực lượng tham gia giáo dục, các hình thức

tổ chức giáo dục, giáo dục phải tổ chức được các hoạt động giao lưu hợp

lý trên cơ sở tính đến đặc điểm lứa tuổi, trình độ phát triển của cá nhân

- Giáo dục phải đảm bảo tính khoa học, tính hiện đại, phù hợp với yêu

cầu phát triển của xã hội

- Cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo dục

- Giáo dục phải đi trước, đón đầu sự phát triển của xã hội và cá nhân Phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của mỗi cá nhân trên cơ sở tính đến và phát huy triệt để những điều kiện về các sức sống tự nhiên vốn

có ở con người Giáo dục chỉ có thể đảm bảo sự phát triển các phẩm chất nhân cách nếu có được chỗ dựa là các tư chất vốn có ở con người

4- Hoạt động cá nhân với sự phát triển nhân cách (tự giáo dục)

Cuộc sống con người là một dòng hoạt động, con người sống luôn luôn hoạt động Hoạt động là phương thức tồn tại cũng như là con đường hình thành và phát triển nhân cách Nội dung, phương thức hoạt động tạo nên tính cách riêng ở từng con người

Con nguời hoạt động như thế nào thì nhân cách của con người phát triển như thế ấy Hoạt động tích cực là con đường để tiến thân, để thành đạt và là phương thức vươn tới lý tưởng và hạnh phúc cá nhân Mỗi con người là sản phẩm của chính mình

Hoạt động của cá nhân được coi là nhân tố quyết định trực tiếp của

sự hình thành và phát triển nhân cách.

Hoạt động là quá trình con người thực hiện mối quan hệ với tự nhiên, với

xã hội, với người khác, với bản thân Thông qua hoạt động:

- Con người chuyển hóa năng lực, phẩm chất tâm lý của bản thân thành sản phẩm thực tế, ngược lại những sản phẩm thực tế đó làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn liếng tinh thần của chủ thể

- Con người tiếp thu nền văn hóa xã hội và biến nền văn hóa xã hội loài người thành vốn riêng của mình, vận dụng chúng vào cuộc sống, làm cho nhân cách ngày càng phát triển Hoạt động giúp cho cá nhân hiện thực hóa những khả năng về tư chất thành hiện thực, đồng thời nó là ngưồn quan trọng nhất cung cấp cho cá nhân những kinh nghiệm xã hội

- Con người có thể cải tạo những nét tâm lý và những nét nhân cách đang bị suy thoái, hoàn thiện chúng theo chuẩn mực đạo đức xã hội

Trang 8

Tuy nhiên, muốn phát huy được vai trò hoạt động của cá nhân đối với sự hình thành và phát triển nhân cách, nhà giáo dục cần:

+ Tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú, coi hoạt động là phương

tiện giáo dục cơ bản

+ Các hoạt động tổ chức cho học sinh phải vừa có giá trị xã hội, vừa

mang ý nghĩa cá nhân đối với người tham gia hoạt động

+ Coi trọng việc xây dựng nhu cầu, động cơ hoạt động và mục đích

hành động cho các em

+ Tạo không khí thi đua sôi nổi, phấn khởi để đạt những mục đích đề ra

cho hoạt động Nắm được các hoạt động chủ đạo ở từng thời kỳ nhất định

để tổ chức các hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh

+ Phát huy cao độ tính tự lập, tính tích cực, tự giác…của học sinh, biết

đề ra kế hoạch, phân công, kiểm tra, đôn đốc thường xuyên, đồng thời phải

có sự điều chỉnh uốn nắn, sửa chữa về các mối quan hệ và giao lưu trong quá trình hoạt động của học sinh

Tóm lại: Hoạt động cá nhân có liên quan mật thiết với các nhân tố di truyền, môi trường và giáo dục Toàn bộ các nhân tố này hợp lại thành một chỉnh thể và có tác động đồng bộ đến sự hình thành và phát triển nhân cách Trong đó:

- Bẩm sinh - Di truyền đóng vai trò cơ sở tiền đề

- Môi trường đóng vai trò điều kiện

- Giáo dục đóng vai trò chủ đạo

- Hoạt động cá nhân đóng vai trò quyết định trực tiếp

2 MỤC ĐÍCH GIÁO DỤC: Bồi dưỡng nhân tài:

2- Nội dung nguyên lí giáo dục

Điều 3 Luật Giáo dục của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

được thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005 đã ghi: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lí học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lí luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”

Đây chính là một luận điểm giáo dục quan trọng của Đảng và Nhà nước

ta, là kim chỉ nam hướng dẫn toàn bộ các hoạt động giáo dục trong nhà trường và cả trong xã hội

Nội dung của nguyên lí này gồm bốn điểm quan trọng:

- Học đi đôi với hành

- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất

- Lí luận gắn liền với thực tiễn

- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

a- Học đi đôi với hành là một tư tưởng giáo dục vừa truyền thống vừa

hiện đại, vừa có tính khoa học vừa có giá trị thực tiễn Bản chất của tư tưởng như sau:

- Học sinh đến trường để học tập (học và hành) Học là quá trình nhận thức chân lí khoa học Hành là luyện tập để hình thành các kĩ năng lao động

và hoạt động xã hội, tức là biến kiến thức đã tiếp thu được thành năng lực hoạt động của từng cá nhân Từ đó ta thấy: Mục đích giáo dục của mọi thời đại không chỉ là giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn biết áp dụng kiến thức vào thực tiễn, hình thành kĩ năng, kĩ xảo hoạt động Tư tưởng này

Trang 9

thống nhất với cách diễn đạt của Jacque Dolors – nhà giáo dục Pháp trong

báo cáo “Học tập là của cải nội sinh” đó là: học để biết, học để làm.

- Học đi đôi với hành là một phương pháp học tập có hiệu quả, bởi vì học

đi đôi với hành (vừa học, vừa làm) hỗ trợ cho nhau rất nhiều quá trình học tập Trong quá trình học tập nếu biết vận dụng kiến thức đã học để thực hành sẽ làm tăng hiệu quả nhận thức, làm giảm lí thuyết “suông” và lúc đó thực hành không phải “mò mẫm” mà dựa trên một cơ sở lí thuyết khoa học vững chắc Kết quả là kiến thức trở nên sâu sắc và hành động trở nên sáng tạo, tinh thông

- Trong học tập cần sử dụng nhiều mức độ thực hành và phải gắn với nội dung các môn học, với quy trình và mục tiêu đào tạo Các trường phổ thông phải có hệ thống các bài tập thực hành môn học, có các giờ thực hành, thí nghiệm trong các phòng thí nghiệm, các vườn thí nghiệm Các trường dạy nghề có xưởng thực hành chuyên môn, các trường đại học có các hoạt động thực hành nghiên cứu khoa học… Các loại thực hành có thể tiến hành trong nhà trường, ngoài trường, các mức độ thực hành đều làm tăng chất lượng và hiệu quả học tập của học sinh

b- Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất là tư tưởng giáo dục của nhà

trường hiện đại, ta có thể nhận thấy như sau:

- Giáo dục lao động là một nội dung của giáo dục toàn diện, học sinh hôm nay là những người lao động trong tương lai, vì vậy nhà trường phải chuẩn bị cho các em cả tâm lý, ý thức, kiến thức và kĩ năng sẵn sàng bước vào cuộc sống lao động Các trường phổ thông hiện nay đã đưa các môn học như: thủ công, giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề vào chương trình dạy học là nhằm mục đích đó Các trường dạy nghề, giáo dục chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học có hệ thống các môn học nghiệp vụ, kĩ thuật sản xuất, là điều tất nhiên

- Một nguyên tắc giáo dục quan trọng cho học sinh trong mọi thời đại là: giáo dục trong lao động và bằng lao động Lao động sản xuất vừa là môi trường vừa là phương tiện giáo dục con người Mọi phẩm chất nhân cách được hình thành trong lao động và trong hoạt động xã hội Do vậy, tùy theo trình độ lứa tuổi và ngành nghề đào tạo mà các nhà trường vận dụng tư tưởng này một cách sáng tạo để giáo dục có hiệu quả Gia đình và nhà trường tổ chức cho học sinh lao động tự phục vụ và tham gia lao động công ích xã hội để giáo dục ý thức và kĩ năng lao động cho học sinh

- Mục đích đào tạo của các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp là tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Nguồn nhân lực này sẽ đạt tới chất lượng cao khi quá trình đào tạo được gắn chặt với thực tiễn lao động sản xuất trong các ngành nghề cụ thể Các trường dạy nghề, các trường trung học chuyên nghiệp và đại học thường xuyên đưa sinh viên tới các nhà máy, xí nghiệp để thực tập sản xuất, đó chính là phương thức tổ chức dạy học trong lao động và học bằng lao động

c- Lí luận gắn liền với thực tiễn là một yêu cầu quan trọng đối với quá

trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường Việt Nam

Chúng ta đều biết, nhà trường là một bộ phận của xã hội, giáo dục nhà trường là một bộ phận của giáo dục xã hội Nội dung giáo dục nhà trường phải phán ánh những gì đang diễn biến trong thực tiễn xã hội

Trang 10

Trong khi giảng dạy lí luận, giáo viên thường xuyên liên hệ với thực tiễn sinh động của cuộc sống, với những diễn biến sôi động hàng ngày, hàng giờ trong nước và trên thế giới, đây là những minh họa vô cùng quan trọng giúp cho học sinh nắm vững lí luận và hiểu rõ thực tiễn Học tập có liên hệ với thực tiễn làm cho lí luận không còn khô khan, khó tiếp thu mà trở nên sinh động và ngược lại, các sự kiện, hiện tượng thực tiễn được phân tích, được soi sáng bằng những lí luận khoa học vững chắc

Như vậy, giáo dục lí luận gắn liền với thực tiễn cuộc sống, nội dung đào tạo trong nhà trường phán ánh những diễn biến của cuộc sống, từ đó làm tăng chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo

d- Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Con người sống không đơn độc mà luôn có giáo dục, bạn bè và cả cộng đồng xã hội Trong

sự phát triển cá nhân, con người bị rất nhiều yếu tố tác động và do vậy quá trình giáo dục sẽ đạt được hiệu quả nếu ta biết phối hợp giữa các lực lượng giáo dục

Giáo dục là quá trình có nhiều lực lượng tham gia, trong đó có ba lực lượng quan trọng nhất: gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội Ba lực lượng giáo dục này đều có chung một mục đích là hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ

Để tiến hành giáo dục, các lực lượng giáo dục phải thống nhất về mục đích, về nội dung và phương pháp giáo dục, mọi sự giáo dục phân tán, không đồng bộ theo các khuynh hướng khác nhau đều có thể phá vỡ sự toàn vẹn của quá trình giáo dục

Gia đình là nơi sinh ra, nơi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em Giáo dục gia đình dựa trên tình cảm huyết thống, các thành viên gắn bó với nhau trong suốt cuộc đời và như vậy giáo dục gia đình trở nên bền vững nhất Gia đình sống có nề nếp, có truyền thống gọi là gia phong Gia đình hòa thuận, cha

mẹ gương mẫu, lao động sáng tạo, có phương pháp giáo dục tốt, đó là giáo dục có văn hóa Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định giáo dục gia đình có ảnh hưởng rất lớn đối với thế hệ trẻ

Giáo dục xã hội là giáo dục trong môi trường nơi trẻ em sinh sống Mỗi địa phương có trình độ phát triển đặc thù, có truyền thống và bản sắc văn hóa riêng Địa phương có phong trào hiếu học, có nhiều người thành đạt, có bạn bè tốt là môi trường ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của trẻ em Giáo dục xã hội còn bao hàm cả giáo dục của các đoàn thể: Sao nhi đồng, Đội thiếu niên, Đoàn thành niên, Hội sinh viên là các tổ chức quần chúng có tổ chức, có tôn chỉ mục đích phù hợp với mục đích giáo dục của nhà nước và nhà trường Hoạt động của các đoàn thể phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi, cho nên có tác dụng rất lớn đối với thế hệ trẻ

Giáo duc nhà trường phải là trung tâm vì giáo dục nhà trường có mục đích và nội dung giáo dục toàn diện, dựa trên cơ sở khoa học thực tiễn, có

kế hoạch, với đầy đủ các phương tiện đóng vai trò chủ đạo trong toàn bộ quá trình giáo dục trẻ em

Mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình, với các tổ chức xã hội và các cơ quan kinh tế, văn hóa đóng ở địa phương càng chặt chẽ, càng đem lại những thành công cho giáo dục, trong đó nhà trường phải chịu trách nhiệm chính trong sự phối hợp với tất cả các lực lượng giáo dục

Ngày đăng: 21/11/2018, 17:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w