1. Trang chủ
  2. » Tất cả

CHINH TA 2 AM CHINH-NGUYEN VAN CHI

44 1 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 317,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài Trong quá trình dạy mơn Tiếng Việt, nhiệm vụ của giáo viên tiểuhọc là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nĩi, đọc, viết.Phân mơn Chính tả cĩ nhiệm vụ

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong quá trình dạy mơn Tiếng Việt, nhiệm vụ của giáo viên tiểuhọc là hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng nghe, nĩi, đọc, viết.Phân mơn Chính tả cĩ nhiệm vụ rèn kĩ năng viết, nghe, đọc; giúp học sinhnắm vững các quy tắc chính tả và hình thành kĩ năng chính tả Ngồi ra, nĩcịn rèn cho học sinh một số phẩm chất như tính cẩn thận, ĩc thẩm mĩ Quachữ viết đúng, đẹp, bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt, hình thành thĩi quen giữgìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt cho học sinh

Dạy chính tả theo khu vực phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗichính tả của học sinh ở từng khu vực, từng vùng miền để hình thành nộidung giảng dạy Như vậy, trước khi dạy, giáo viên cần tiến hành điều tra cơbản để nắm lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đĩ lựa chọn nội dunggiảng dạy thích hợp với đối tượng học sinh lớp mình dạy

Hiện nay, tình trạng viết sai chính tả nĩi chung cũng như trongtrường tiểu học nĩi riêng đang trở nên phổ biến Trong bối cảnh đĩ, việcđổi mới phương pháp dạy học, tìm ra các biện pháp nhằm mục đích nângcao kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh là một việc làm cần thiết Tuyvậy thì việc dạy học Chính tả theo tinh thần đĩ hiện vẫn là một khĩ khănkhơng nhỏ đối với cả giáo viên lẫn học sinh Nhiều giáo viên và học sinhcịn tỏ ra lúng túng, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của định hướng đổimới Ý thức được tầm quan trọng của việc dạy Chính tả, đồng thời gĩpphần tháo gỡ những vướng mắc khó khăn cả về lí luận lẫn thực tiễn vàtự nâng cao trình độ sư phạm cho bản thân, chúng tôi mạnh dạn chọn đề

tài Một số biện pháp sửa lỗi chính tả âm chính học sinh lớp 2 làm đề tài

nghiệp vụ sư phạm Đề tài được triển khai theo hướng vừa học tập vừabước đầu nghiên cứu, qua đĩ chúng tơi cũng hi vọng sẽ gĩp được một phầnnhỏ trong việc giúp học sinh của mình học tập cĩ hiệu quả hơn qua giờ dạy

Trang 2

của giáo viên trên lớp Do trình độ còn có nhiều hạn chế và những điềukiện khách quan thiếu thốn cùng với thời gian ít ỏi, bài nghiệp vụ sưphạm này không tránh khỏi những thiếu sót, khuyết điểm Xin cám ơnnhững ý kiến đóng góp của quý thầy cô cho đề tài được hoàn thiện hơn.

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm tìm hiểu và khảo sát tình hình thực tế dạy Chính tả lớp

2, rút ra những nhận xét kết luận về vị trí, vai trị quan trọng của phân mơn.Trên cơ sở đĩ, đề tài sẽ đưa ra một số biện pháp sửa lỗi chính tả âm chínhcho học sinh lớp 2, gĩp phần giúp giáo viên thực hiện thành cơng vai trị,trách nhiệm của mình trong quá trình dạy học

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Phân tích cở sở lí luận và thực tiễn của phương pháp dạy học TiếngViệt nĩi chung cũng như dạy học Chính tả ở lớp 2 nĩi riêng

Xác định một số biện pháp sửa lỗi chính tả âm chính cho học sinhlớp 2

Xây dựng các bài soạn giáo án phân mơn Chính tả lớp 2, đồng thời

sẽ tiến hành dạy thực nghiệm để kiểm tra đánh giá kết quả nghiên cứu

Do thời gian cũng như năng lực cá nhân cĩ hạn nên đề tài chỉ mới đivào nghiên cứu các vấn đề trọng tâm nhất cĩ liên quan chứ chưa phát triểnlên ở cấp độ mang tính khái quát cao, chưa cĩ sự so sánh đối chiếu rộng vớicác hướng dạy học Chính tả khác trong lớp 2 và các khối lớp khác

3 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học và phương pháp dạphọc phân môn Chính tả ở lớp 2

3.2 Giới hạn nghiên cứu

Trang 3

Đề tài được thực hiện trên cơ sở tìm hiểu cơ sở lí luận, tìm hiểuthực trạng và sẽ làm thực nghiệm sư phạm ở Trường Tiểu học Ba TrinhIII xã Ba Trinh huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tơi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Đọc và phân tích những tài liệu lí luận về các cơ sở phương phápluận, tâm lí học, giáo dục học… cĩ liên quan đến đề tài, đồng thời chúngtơi tiến hành phân tích tài liệu Sách giáo khoa, Sách giáo viên Tiếng Việt 2

để thấy những ưu điểm và hạn chế của chương trình

4.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế dạy học

Qua những giờ dạy cho học sinh, giáo viên tìm hiểu những lỗi chính

tả mà học sinh thường mắc phải, từ đĩ giáo viên thống kê và đề xuất nhữngbiện pháp khắc phục cần thiết Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu,chúng tơi đã trao đổi trực tiếp với giáo viên giảng dạy khối lớp 2 ở cùngtrường và một số giáo viên khác ở các trường tiểu học trong địa phương và

từ thực tế giảng dạy của mình để rút ra những biện pháp nhằm nâng caochất lượng giảng dạy phân mơn Chính tả lớp 2

5 Cấu trúc của đề tài

Đề tài chia làm 3 phần chính Cấu trúc cụ thể như sau:

Phần mở đầu

Trang 4

Phần nội dung: Gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số đề xuất về nội dung và phương pháp dạy học

Chương 3: Thực nghiệm (kế hoạch dự kiến)

Phần kết luận

Ngoài ra còn có thư mục tài liệu tham khảo

Trang 5

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lí luận

1.1 Môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học

Tiếng Việt ở Tiểu học là một môn học độc lập Mỗi môn học trongnhà trường có đối tượng riêng, nội dung riêng và vì vậy cũng có nhữngnhiệm vụ riêng Môn Tiếng Việt theo tinh thần ấy cũng sẽ có đối tượngriêng, nội dung và nhiệm vụ riêng

Đối tượng của môn Tiếng Việt ở cấp Tiểu học chính là tiếng Việtnhư tên gọi của bộ môn đã nêu Tiếng Việt ở đây được xem là đối tượngdạy học, cần phải được học sinh nhận thức trong những giờ học tiếng Dotiếng Việt có nhiều phương diện khác nhau cho nên nó cũng cần được tìmhiểu từ nhiều góc nhìn khác nhau: từ góc nhìn của ngữ âm, của ngữ nghĩa,của ngữ pháp, của ngữ dung… Như vậy, tiếng Việt như một đối tượng họcsinh cần nhận thức sẽ được xem xét ở tất cả sự biểu hiện đa dạng của nótrong hệ thống cấu trúc cũng như trong việc thực hiện chức năng

Về nội dung dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, từ lâu chúng ta đã khẳngđịnh rằng không phải là lí thuyết ngôn ngữ mà là rèn luyện cho các emnăng lực sử dụng ngôn ngữ Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận vaitrò của lí thuyết ngôn ngữ trong việc hình thành năng lực ngôn ngữ Cóđiều, đối với học sinh Tiểu học, những lí thuyết ngôn ngữ các em cần nhậnđược thường là đơn giản, vì vậy những lí thuyết ấy sẽ được học sinh tựnhận thức thông qua hệ thống các bài tập rèn luyện giao tiếp có chủ địnhcủa nội dung dạy học Ở những lớp cuối cấp Tiểu học và bước vào cấpTrung học cơ sở, nội dung lí thuyết sẽ được tăng dần lên, để một mặt, nộidung chương trình vừa có thể cung cấp được cho các em các quy tắc ngônngữ, các lí thuyết ngôn ngữ, mặt khác vừa rèn được năng lực sử dụng ngônngữ trong hoạt động giao tiếp cho các em

Trang 6

Nhiệm vụ chủ yếu của bộ môn Tiếng Việt ở Tiểu học là cung cấpcho học sinh những hiểu biết sơ giản về Tiếng Việt để trên cơ sở đó, các

em có khả năng sử dụng một cách hiệu quả Tiếng Việt trong hoạt động họctập và sinh hoạt, đồng thời giúp các em rèn luyện và phát triển tư duy Haynói cách khác, qua việc học Tiếng Việt, các em học sinh Tiểu học một mặtvừa lĩnh hội được kiến thức về ngôn ngữ ở mức độ sơ giản, hình thànhđược năng lục và biết cách tổ chức giao tiếp bằng Tiếng Việt, mặt khácgiúp các em hình thành được năng lực tư duy, hình thành được nhân cáchcủa mình Các em biết tiếp nhận lời người khác, biết tạo ra lời nói riêng củamình vừa đúng với quy tắc ngôn ngữ, phù hợp với quy luật của tư duy, vừaphù hợp với hoàn cảnh, đáp ứng được nhu cầu giao tiếp Đó là cơ sở để các

em không chỉ học tốt môn Tiếng Việt mà còn học tốt tất cả các môn họckhác trong nhà trường Nhờ học Tiếng Việt mà tư duy của các em pháttriển, các em sẽ có được những nhận thức từ đơn giản đến phức tạp, từ hìnhthức sang bản chất… và từ đó, những vấn đề về thế giới quan, nhân sinhquan của các em cũng dần dần được hình thành

Hiện nay, một trong những quan điểm mới của việc biên soạnchương trình và Sách giáo khoa Tiếng Việt là quan điểm tích hợp Vì vậy,bên cạnh những nhiệm vụ chính nêu trên, môn Tiếng Việt còn giúp các emhiểu được đời sống xã hội, hiểu được phong tục tập quán cũng như lối sốngcủa người Việt Nam, hiểu được truyền thống của cha ông, biết tôn sư trọngđạo, biết bảo vệ môi trường sống… qua những bài tập đọc, qua những bàilàm văn hoặc qua những câu chữ dẫn ra như một ngữ liệu trong những bàitìm hiểu về Tiếng Việt Tuy không phải là nhiệm vụ chính, nhưng theo tinhthần tích hợp thì điều này là không thể không chú ý cả trong biên soạnchương trình, Sách giáo khoa lẫn trong việc lựa chọn nội dung dạy học trênlớp

Trước đây, có một thời kì, môn Tiếng Việt ở Tiểu học được chiathành hai phần: phần Tiếng Việt và phần Văn Theo đó, nhiệm vụ của môn

Trang 7

Tiếng Việt - hiểu theo nghĩa rộng - vừa là dạy tiếng vừa là dạy văn Nhiệm

vụ của phần văn được xác định là cung cấp cho các em một số những kiếnthức bước đầu về văn học, hỗ trợ cho việc học Tiếng Việt, trau dồi cho các

em khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp của văn chương và từ đó giáo dụccho các em lòng yêu văn chương, yêu tiếng mẹ đẻ, xây dựng cái gốc chonhững tình yêu lớn: yêu Tổ quốc, yêu đồng bào Chính vì việc xác địnhnhiệm vụ dạy Tiếng Việt ở Tiểu học bao gồm cả nội dung văn học như vậy,cho nên ở nhiều bài học trong chương trình và Sách giáo khoa cũ, việc rèn

kĩ năng văn phần nào đó đã lấn át việc rèn kĩ năng Tiếng Việt

Hiện nay, dù chương trình và Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu họcđược biên soạn theo nguyên tắc tích hợp nào thì nhiệm vụ chủ yếu cũng làrèn luyện kĩ năng sử dụng Tiếng Việt trong hoạt động giao tiếp Nếu họcsinh có thêm được những hiểu biết nào đó về tự nhiên, về xã hội, về conngười trong giờ học tiếng thì đó cũng là hệ quả kéo theo một cách tất yếucủa việc biên soạn chương trình và Sách giáo khoa theo quan điểm tích hợpnhư vừa nêu trên

1.2 Vị trí, nhiệm vụ và mục tiêu của phân môn Chính tả ở Tiểu học 1.2.1 Thuật ngữ Chính tả

Thuật ngữ “Chính tả” hiểu theo nghĩa gốc là “phép viết đúng” hoặc

“lối viết hợp với chuẩn” Cụ thể, chính tả là hệ thống các quy tắc về cáchviết thống nhất cho các từ của một ngôn ngữ, cách viết hoa tên riêng, cáchphiên âm tên riêng nước ngoài… Nói cách khác, chính tả là những quy ướccủa xã hội trong ngôn ngữ, đảm bảo cho người viết và người đọc đều hiểuthống nhất nội dung văn bản Chính tả trước hết là sự quy định có tính chất

xã hội, nó không cho phép vận dụng quy tắc một cách linh hoạt có tínhsáng tạo cá nhân

1.2.2 Vị trí của phân môn Chính tả

Phân môn Chính tả trong nhà trường giúp học sinh hình thành nănglực và thói quen viết đúng chính tả, nói rộng hơn là năng lực và thói quen

Trang 8

viết đúng Tiếng Việt văn hóa, Tiếng Việt chuẩn mực… Vì vậy, phân mônChính tả có vị trí quan trọng trong cơ cấu chương trình môn Tiếng Việt nóiriêng, các môn học ở nhà trường phổ thông nói chung.

Ở bậc Tiểu học, phân môn Chính tả càng có vị trí quan trọng Bởi vì,giai đoạn Tiểu học là giai đoạn then chốt trong quá trình hình thành kĩ năngchính tả cho học sinh Không phải ngẫu nhiên mà ở Tiểu học, Chính tảđược bố trí thành một phân môn độc lập trong môn Tiếng Việt có tiết dạyriêng Trong khi đó, ở Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, Chính tảchỉ được dạy xen kẽ trong các tiết thực hành ở phân môn Tập làm văn, chứkhông tồn tại với tư cách là phân môn độc lập như ở Tiểu học

1.2.3 Nhiệm vụ của phân môn Chính tả

Nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng của phân môn Chính tả là cung cấpcho học sinh những quy tắc chính tả của Tiếng Việt và rèn luyện cho các

em hình thành kĩ năng viết đúng chính tả trong các bài viết của mình Bêncạnh đó, việc dạy học Chính tả còn có nhiệm vụ rèn luyện và hình thànhcho các em những thói quen tốt như: tính kỉ luật, tính cẩn thận, óc thẩmmĩ…, đồng thời bồi dưỡng cho các em ý thức tôn trọng người khác và tựtôn trọng mình mỗi khi đặt bút viết bất cứ bài viết nào

Qua việc viết chính tả, giáo viên cũng cho các em hiểu rằng việcviết đúng chính tả, viết đẹp, viết rõ ràng một bài viết chính tả là những biểuhiện của một thái độ đúng đắn, một hành động tích cực trong việc bảo vệ

và giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt

1.2.4 Mục tiêu của phân môn Chính tả

Mục tiêu của việc dạy học Chính tả ở Tiểu học được xác định là:Giúp học sinh nắm một số quy tắc chính tả; cach viết hoa tên người,tên địa lí Việt Nam và nước ngoài

Giúp cho học sinh viết đúng chính tả đoạn văn, đoạn thơ theo cáchình thức như nghe - viết, nhớ - viết (chú trọng các từ ngữ dễ viết sai doảnh hưởng của ách phát âm địa phương)

Trang 9

Sửa lỗi chính tả trong các bài viết cho học sinh.

Hướng dẫn học sinh lập được sổ tay chính tả

1.3 Cơ sở khoa học của việc dạy Chính tả

1.3.1 Cơ sở tâm lí học

Các nhà tâm lí học đã chỉ ra rằng để hình thành một kĩ năng, kĩ xảonào đó (trong đó có kĩ năng, kĩ xảo chính tả) thì cần phải rèn luyện thôngqua hoạt động Kĩ năng, kĩ xảo là cái không thể dạy được mà chỉ có thể rènluyện được thông qua hoạt động Thực tế của việc dạy học Chính tả chochúng ta thấy hoạt động này có thể được tiến hành theo hai cách: cách hoạtđộng hữu thức và cách hoạt động vô thức

Theo cách vô thức, việc thành thạo một hoạt động nào đó chủ yếu là

sự lặp lại một cách tự nhiên, máy móc hành động ấy mà không cần quantâm đến phương thức thực hiện hành động Bằng cách lặp đi lặp lại nhiềulần một hành động, con người sẽ hình thành được những kĩ năng, kĩ xảotương ứng với hoạt động đã rèn luyện Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảochính tả hoàn toàn có thể được hình thành bằng con đường này Học sinhrèn mãi, luyện mãi, và kết quả là các em vẫn có thể viết đúng chính tả vàhình thành được kĩ năng, kĩ xảo cần thiết mà nhà trường đòi hỏi

Tuy nhiên, việc hình thành cho các em học sinh Tiểu học kĩ năng, kĩxảo chính tả theo cách này thường mất nhiều thời gian, đòi hỏi tới mức tối

đa sự ghi nhớ máy móc của học sinh và vì thế các em thường tốn nhiều sứclực, dẫn đến chỗ chóng mệt mỏi Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính tảtrong trường hợp này phụ thuộc nhiều vào khả năng ghi nhớ máy móc cỉahọc sinh Khi viết chính tả, quên chữ nào, các em thường viết sai chữ đó,nhớ chữ nào sẽ viết đúng chữ đó Ở đây, vai trò của ý thức đã bị gạt bỏ.Với việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo theo cách này, việc viết đúng chính tảthường được quan niệm đơn giản là phải viết đúng mẫu, chép đúng mẫu, và

cơ bản không cần có sự tham gia của ý thức Học sinh muốn biết mình viếtđúng hay sai chính tả chỉ cần xem lại mẫu, đối chiếu với mẫu chữ đã viết

Trang 10

hoặc tra cứu từ điển mà không hề cần phải nắm vững bất kì một quy tắcchính tả nào.

Theo cách hữu thức, việc viết chính tả sẽ không được tiến hành nhưvậy Các em không phải nhớ mẫu hay thuộc mẫu chữ một cách máy móc.Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo cho học sinh có thể đẩy nhanh hơn và cóhiệu quả hơn bằng cách các em được giải thích trước về quy tắc chính tả,hiểu được phương thức hành động trước khi hành động hoặc lặp đi lặp lạimột hành động đó

Các nhà tâm lí học cũng đã chỉ ra rằng kĩ xảo là các thành tố đã được

tự động hóa của hoạt động có ý thức trong quá trình thực hiện hoạt động

đó Vì vậy, chúng ta thấy rằng việc dạy cho học sinh viết đúng chính tả cầnphải được tiến hành theo cách có ý thức, tức là để hình thành kĩ năng, kĩxảo, dạy học Chính tả cần được bắt đầu từ việc giúp các em nắm vững cácquy tắc, các mẹo luật chính tả Trẻ không thể nhớ hết được cách viết đúngchính tả đối với từng từ riêng lẻ, khi mà số lượng các từ đạt tới con số màtrí tuệ các em không thể nhớ nổi và chúng ta cũng không cần thiết buộc các

em nhớ hết tất cả nếu như các em nắm được những quy tắc cơ bản nhất củachính tả Thực tế cho thấy rằng, nếu chúng ta không dạy học sinh các quytắc chính tả thì tự bản thân các em cũng tự rút ra cho mình những “quy tắc”theo nhận thức riêng của từng em do việc tập viết, tập chép và ghi nhớ Tấtnhiên những “quy tắc” này nhiều khi dẫn các em tới chỗ sai lầm, bởi nó đichệch khỏi những quy tắc chính tả chung Tuy vậy, điều này cũng giúpchúng ta đi đến một sự khẳng định: Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo chính

tả cho học sinh Tiểu học - dù có là những học sinh còn nhỏ tuổi - vẫn cầnphải theo cách có ý thức

1.3.2 Cơ sở ngôn ngữ học

Về cơ bản, chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm, tức là mỗi âm vịđược ghi bằng một con chữ Nói cách khác, giữa cách đọc và cách viếtthống nhất với nhau Đọc như thế nào sẽ viết như thế đó Trong giờ Chính

Trang 11

tả, học sinh sẽ xác định được cách viết đúng bằng việc tiếp nhận chính xác

âm thanh của lời nói (ví dụ: hình thức chính tả nghe - viết) Cơ chế củacách viết đúng là xác lập được mối liên hệ giữa âm thanh và chữ viết

Giữa đọc và viết, giữa Tập đọc và Chính tả có mối quan hệ mật thiếtvới nhau, nhưng lại có quy trình hoạt động trái ngược nhau Nếu Tập đọc là

sự chuyển hóa văn bản viết thành âm thanh thì Chính tả là sự chuyển hóavăn bản dưới dạng âm thanh thành văn bản viết Tập đọc có cơ sở chuẩnmực là chính âm, còn Tập viết (viết chính tả) có cơ sở là chính tự (chính tự

là sự biểu hiện của quy tắc chính tả ở một đơn vị (từ…) Một từ xét về mặtchính tả được gọi là một chính tự).)

Nói rằng chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học, giữa cách đọc

và cách viết thống nhất với nhau là nói về nguyên tắc chung, còn trong thực

tế, sự biểu hiện của mối quan hệ giữa đọc (phát âm) và viết (viết chính tả)khá phong phú, đa dạng Cụ thể, chính tả Tiếng Việt không dựa hoàn toànvào cách phát âm thực tế của một phương ngữ nhất định nào Cách phát âmthực tế của các phương ngữ đều có những sai lệch so với chính âm, cho nênkhông thể thực hiện phương châm “nghe như thế nào, viết như thế ấy”được Chẳng hạn, không thể viết “bở ngở”, “phai lang”, “đi dề” trong cáchphát âm của người dân ở Nam bộ (phải viết “bỡ ngỡ”, “khoai lang”, “đivề”)

Chính tả Tiếng Việt là chính tả ngữ âm học nhưng trong thực tế,muốn viết đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng Hiểu nghĩacủa từ là một trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả Ví dụ,nếu giáo viên đọc một từ có hình thức ngữ âm là “za” thì học sinh có thểlúng túng trong việc xác định hình thức chữ viết của từ này Nhưng nếu đọc

“gia đình” hoặc “da thịt’ hay “ra vào” (đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với mộtnghĩa xác định) thì học sinh dễ dàng viết đúng chính tả Vì vậy, có thể hiểurằng chính tả Tiếng Việt còn là loại chính tả ngữ nghĩa Đây là một đặc

Trang 12

trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính tả Tiếng Việt mà khidạy giáo viên cần hết sức chú ý.

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Vài nét về Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học

Đổi mới giáo dục phổ thông là một quá trình đổi mới về nhiều lĩnhvực của giáo dục mà tâm điểm của quá trình này là đổi mới chương trìnhgiáo dục nói chung, trong đó có giáo dục Tiểu học Từ tháng 12 năm 2003,

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hoàn thiện chương trình giáo dục phổthông Sau nhiều lần điều chỉnh, hoàn thiện và thẩm định, chương trìnhSách giáo khoa giáo dục phổ thông nói chung và môn Tiếng Việt ở bậcTiểu học nói riêng đã hoàn thành và được ban hành vào năm 2006

* Chương trình Sách giáo khoa môn Tiếng Việt bậc Tiểu học đượcbiên soạn dựa trên các nguyên tắc sau:

- Dạy học Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp

- Tận dụng những kinh nghiệm sử dụng Tiếng Việt của học sinh

- Vận dụng quan điểm tích hợp trong việc dạy học

* Các tiêu chuẩn của Sách giáo khoa Tiếng Việt Tiểu học:

- Trình bày các kiến thức lí thuyết cơ bản về Tiếng Việt, những quytắc và các định nghĩa đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống, dễ hiểu đối vớihọc sinh

- Góp phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng cho học sinh thế giới quanduy vật biện chứng, phát triển ở các em tư duy logic và lòng yêu mến sựgiàu đẹp của Tiếng Việt

- Đưa vào số lượng vừa đủ bài tập sao cho chúng vừa phong phú, đadạng, vừa có hiệu quả thiết thực và sắp xếp một cách hợp lí

- Sách hay về nội dung, hấp dẫn về hình thức, nhiều bài đọc mangtính truyện để tăng tính hấp dẫn, làm cho học sinh ham học Chú trọng vaitrò của kênh hình (tranh ảnh, màu sắc)

* Cấu trúc nội dung chương trình:

Trang 13

- Các bộ phận của chương trình:

Chương trình Tiếng Việt Tiểu học gồm những bộ phận sau:

+ Kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói)

+ Tri thức Tiếng Việt (một số hiểu biết cơ sở, tối thiểu về ngữ âm,chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp…)

+ Tri thức về văn học, về tự nhiên và xã hội (một số hiểu biết tối thiểu

về văn học và cách tiếp cận chúng; về con người; về đời sống tinh thần vàvật chất; về đất nước và dân tộc Việt Nam…)

- Cấu trúc hai giai đoạn của chương trình:

+ Giai đoạn 1 (các lớp 1, 2, 3):

Nội dung dạy học giai đoạn này có nhiệm vụ: Hình thành những cơ sởban đầu cho việc học đọc, học viết; định hướng cho việc học nghe, học nóitrên cơ sở vốn Tiếng Việt mà trẻ em đã có

Yêu cầu cơ bản với học sinh ở giai đoạn này là: Đọc thông thạo vàhiểu đúng một văn bản ngắn; viết rõ ràng, đúng chính tả; nghe chủ động;nói chủ động, rành mạch

Những bài học ở giai đoạn này chủ yếu là bài học thực hành đọc, viết,nghe, nói Tri thức Tiếng Việt không được dạy thành bài riêng mà được rút

ra từ những bài thực hành, được thấm vào học sinh một cách tự nhiên quahoạt động thực hành Ví dụ, học âm e, sau đó viết con chữ e Những trithức về âm - chữ cái, về tiếng (âm tiết) - chữ, về thanh điệu - dấu ghi thanhđều được học qua những bài dạy chữ Những tri thức về câu trong hội thoại(câu hỏi, đáp và dấu câu) cũng không được dạy qua bài lí thuyết mà họcsinh được hình dung cụ thể trong một văn bản cụ thể Trình độ nắm tri thứccủa học sinh ở giai đoạn này cũng chỉ dừng ở mức: các em nhận diện được

và sử dụng được các đơn vị của Tiếng Việt, các quy tắc sử dụng Tiếng Việttrong lúc đọc, viết, nghe, nói Phần tri thức có trong nội dung chương trìnhcủa các lớp 1, 2, 3 chỉ có ý nghĩa xác định những tri thức học sinh cần làmquen

Trang 14

+ Giai đoạn 2 (các lớp 4, 5):

Nội dung chương trình giai đoạn này nhằm phát triển các kĩ năng đọc,viết, nghe, nói lên một mức độ cao hơn, hoàn thiện hơn, trong đó yêu cầuviết hoàn chỉnh một số văn bản, yêu cầu đọc - hiểu được đặc biệt coi trọng.Học sinh ở giai đoạn này đã được cung cấp những khái niệm cơ bản

về một số đơn vị ngôn ngữ và quy tắc sử dụng Tiếng Việt làm nền móngcho việc phát triển kĩ năng Bên cạnh những bài học thực hành (ở giai đoạntrước), các em được học các bài về tri thức Tiếng Việt (từ vựng, ngữ pháp,văn bản, phong cách…) Những bài học này cũng không phải là lí thuyếtđơn thuần, được tiếp nhận hoàn toàn bằng con đường tư duy trừu tượng,

mà chủ yếu vẫn bằng con đường nhận diện, phát hiện trên những ngữ liệu

đã đọc, viết, nghe, nói; rồi sau đó mới khái quát thành những khái niệm

2.2 Chương trình Sách giáo khoa Tiếng Việt 2 và phân môn Chính tả

Chương trình Sách giáo khoa môn Tiếng Việt lớp 2 có hai tập, được

học trong 35 tuần và được phân bố theo 15 chủ điểm: Em là học sinh; Bạn bè; Trường học; Thầy cô; Ông bà; Cha mẹ; Anh em; Bạn trong nhà; Bốn mùa; Chim chóc, Muông thú; Sông biển; Cây cối; Bác Hồ; Nhân dân.

Theo Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học (2006) vàHướng dẫn thực hiện chương trình các môn học ban hành kèm theo côngvăn số 9832/BGD&ĐT - GDTH ngày 01 tháng 9 năm 2006, chương trìnhChính tả lớp 2 được quy định như sau:

Số bài, thời lượng học : 62 bài, 62 tiết

- Học kỳ I: 2 tiết/ tuần, tổng số tiết 32 tiết (16 tuần) trong đó có 14tiết chính tả tập chép và 18 tiết chính tả nghe viết

- Học kỳ II: 2 tiết/ tuần, tổng số 30 tiết (15 tuần) trong đó có 7 tiếtchính tả tập chép và 23 tiết chính tả nghe viết

Về nội dung chương trình:

Trang 15

- Viết chính tả đoạn văn xuôi, đoạn thơ theo các hình thức nhìn - viết(chú trọng viết các chữ có vần khó, các từ dễ viết sai do ảnh hưởng củacách phát âm địa phương).

- Nghe - viết chính tả một đoạn văn, đoạn thơ hoặc bài thơ ngắn

- Rèn kĩ năng viết chính tả, kĩ năng nghe cho học sinh qua các hìnhthức: Chính tả đoạn, bài; Chính tả âm, vần: luyện tập về các từ có âm, vần

dễ viết sai do không nắm vững quy tắc của chữ quốc ngữ hoặc do ảnhhưởng của cách phát âm địa phương

- Các dạng bài tập chính tả được phân định rõ: bài tập bắt buộc (ápdụng chung cho toàn quốc) và bài tập lựa chọn (dành cho các vùng phươngngữ khác nhau: Bắc - Trung - Nam)

Yêu cầu cầu đạt của chương trình (chuẩn kiến thức và kĩ năng):

- Biết quy tắc viết hoa chữ đầu câu và viết hoa tên riêng Việt Nam

- Viết đúng các chữ mở đầu bằng c/k, g/gh, ng/ngh; viết được một sốchữ ghi tiếng có vần khó (uynh, ươ, uyu, oay, oăm…)

- Viết đúng một số cặp từ dễ lẫn âm đầu (l/n, s/x, d/gi/r…), vần(an/ang, at/ac, iu/iêu, ưu/ươu,…), thanh (hỏi/ngã…) do ảnh hưởng của cáchphát âm địa phương

- Biết viết hoa chữ cái mở đầu câu, viết hoa tên người, tên địa lí ViệtNam

- Nhìn - viết, nghe - viết bài chính tả có độ dài khoảng 50 chữ, tốc độ

50 chữ/ 15 phút, trình bày sạch sẽ, đúng qui định, mắc không quá 5 lỗi

Có thể nói, chương trình và Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 nóichung cũng như phần Chính tả nói riêng đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợicho việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh Nhiệm vụ chính củagiáo viên là sử dụng những phương pháp, biện pháp phù hợp để rèn luyệncho học sinh những kĩ năng ngôn ngữ cần thiết theo định hướng đổi mới -định hướng giao tiếp

Trang 16

từ, các câu hoặc đoạn văn, đoạn thơ trong sách hoặc trên bảng theo sự xácđịnh của giáo viên Mọi chữ chép lại của học sinh có sự khác biệt so vớivăn bản mẫu đều bị coi là lỗi chính tả.

Có thể chia việc tập chép thành hai loại:

Loại đơn giản: Đây là loại tập chép dùng thị giác để quan sát mẫu(từ, ngữ, câu, đoạn văn, đoạn thơ…) cần chép rồi sau đó học sinh viết đúngvào vở theo yêu cầu mà giáo viên đã đặt ra

Loại phức tạp: Loại này không yêu cầu học sinh chép tất cả các từ,các chữ từ một mẫu cho sẵn mà là việc phải biết lựa chọn những từ, nhữngchữ cần thiết để chép theo sự định hướng của các câu hỏi cho trước Họcsinh dựa theo câu hỏi đưa ra để tìm trong văn bản mẫu (thực chăt là cácdòng chữ mẫu) phần trả lời phù hợp và chép chính xác vào vở Trong khichép lại, học sinh có thể “mở rộng” câu trả lời ra ngoài văn bản mẫu nhưngvẫn được chấp nhận Bởi lẽ, mục đích chính cần quan tâm trong hoạt độngnày của học sinh là kĩ năng, kĩ xảo chính tả chứ không phải là việc tìm hiểunội dung bài

2.3.1.2 Chính tả

Đây là hình thức phổ biến trong việc dạy học Chính tả hiện nay ởcấp Tiểu học Ở hình thức này, dựa vào đặc điểm hoạt động của học sinhkhi viết chính tả, có thể chia chính tả ra thành một số dạng chính như sau:

Chính tả nghe - viết: Trong loại bài tập chính tả này, giáo viên đọcchậm rãi, rõ ràng từng từ, từng câu và học sinh chăm chú lắng nghe, sau đódựa theo câu chữ giáo viên đọc để ghi chính xác vào vở

Trang 17

Chính tả nhớ - viết: Đây là loại chính tả học sinh được đọc văn bảntrước, rồi sau đó dựa vào trí nhớ của mình, học sinh viết lại từng phần hoặctoàn bộ văn bản theo yêu cầu giáo viên đặt ra Chính tả nhớ - viết còn đượcgọi là chính tả thuộc lòng (ghi nhớ).

2.3.2 Các kiểu bài tập Chính tả

Nhằm mục đích rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả cho học sinh,chương trình Chính tả ở Tiểu học hiện nay đã đưa ra hai kiểu bài chính tảnhư sau:

Kiểu bài chính tả âm - vần: Ở loại bài này, nội dung viết là luyện các

âm, vần Đây là những âm, vần khó, dễ viết sai chính tả Cái khó này là dobản thân các âm, vần này khó phát âm, hoặc có cấu tạo phức tạp… đối vớinhận thức của học sinh, hoặc vần đó dễ lẫn do ảnh hưởng của cách phát âmđịa phương; còn hình thức luyện tập ở kiểu bài này là: điền chữ cái, dấuthanh hoặc tiếng vào chỗ trống, tìm từ dựa theo nghĩa đã cho…

Kiểu bài chính tả đoạn - bài: Ở loại bài này, nội dung viết là cácđoạn và bài có nội dung phù hợp với chủ điểm của từng đơn vị học hoặctóm tắt lại nội dung bài Tập đọc đã học hoặc đoạn văn bản mới, còn hìnhthức viết có thể là nhìn - viết (tập chép), nghe - viết hoặc nhớ - viết

Ngoài hai kiểu bài này, sách còn đưa ra những kiểu bài chính tả khácnhư: Kiểu bài chính tả về trật tự bảng chữ cái, kiểu bài chính tả về quy tắcviết hoa, kiểu bài chính tả về cách viết các dòng thơ, cách trình bày bàithơ… Tuy vậy, tất cả các kiểu bài này cũng chỉ là những kiểu bài nhằm đadạng hóa kiểu bài chính tả và bổ sung hình thức luyện tập chính tả cho haikiểu bài chính đã nêu trên

2.4 Thực trạng dạy học Chính tả lớp 2 ở địa phương

Thông qua việc trao đổi trực tiếp với các giáo viên giảng dạy chươngtrình Chính tả lớp 2, chúng tôi đã thu nhận được nhiều ý kiến phản ánh củagiáo viên như sau:

Trang 18

2.4.1 Về quy trình dạy học

Đa đa số các giáo viên đều dạy Chính tả theo quy trình sau:

A Kiểm tra bài cũ

B Dạy bài mới

1 Giới thiệu bài

2 Hướng dẫn chính tả

- Giáo viên đọc mẫu

- Tập viết chữ ghi khó hoặc dễ lẫn

(Đây là bước rất quan trọng giúp học sinh không mắc lỗi chính tả,giáo viên cần lưu ý)

3 Học sinh viết bài

4 Hướng dẫn chấm, chữa

(Đây cũng là bước quan trọng giúp học sinh tìm ra lỗi sai của mình

để học sinh không mắc vào lỗi sai đó nữa)

2.3.4.2 Về đồ dùng dạy học

Đồ dùng dạy học nói chung còn ít và thiếu đồng bộ Đồ dùng trựcquan đã ít, bên cạnh đó giáo viên còn phải phân bố thời gian cho việcchuẩn bị nhiều môn học khác nên cũng chưa có nhiều thời gian chuẩn bị đồdùng dạy học phục vụ tốt cho việc dạy học Chính tả nói riêng và TiếngViệt nói chung Đặc biệt, đối với địa bàn vùng sâu thì ngoài việc sử dụng

Trang 19

đồ dùng dạy học có sẵn, giáo viên tự thiết kế đồ dùng dạy học là vô cùnghạn chế

2.4.3 Về phương pháp dạy học

Nói chung, đa số giáo viên dựa vào sự hướng dẫn của Sách giáo viên

là chính Chúng tôi cho rằng quy trình dạy trong sách giáo viên là hợp lí,song khi vận dụng giáo viên phải có sự linh hoạt, sáng tạo, nếu không lớphọc sẽ dễ rơi vào đơn điệu, không sôi nổi Chúng tôi đã trực tiếp dự một sốtiết Chính tả ở trường và cảm thấy tiết học diễn ra khá đơn điệu, nhiều emthực hiện sai so với yêu cầu Như vậy rõ ràng ở đây vấn đề phương phápdạy học sao cho phù hợp nhất đóng vai trò hết sức quan trọng

Sau nhiều lần chỉnh lí, có thể nói chương trình Sách giáo khoa Tiểuhọc cũng như riêng phân môn Chính tả ở lớp 2 là rất hay Tuy vậy đó đâyvẫn có sự chênh lệch nhau quá lớn về chất lượng dạy học, việc học sinhviết sai chính tả là khá phổ biến Trong nhiều nguyên nhân của vấn đề nàythì việc dạy học của giáo viên vẫn là nguyên nhân cơ bản Đây là một vấn

đề rộng nên trong giới hạn của mình chúng tôi không thể lí giải cụ thể hếtđược Chúng tôi chỉ mới đưa ra một số kinh nghiệm nhằm sửa lỗi chính tả

âm chính cho học sinh lớp 2

Trang 20

Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI CHÍNH TẢ ÂM CHÍNH CHO HỌC SINH

1 Một số đề xuất chung

Như chúng ta đã biết, Tiếng việt của chúng ta rất đa dạng vàphong phú Hơn nữa, cùng trên một lãnh thổ nhưng giọng nói của từngvùng từng miền lại có âm sắc, đặc trưng riêng Khi nghe giọng nói thìchúng ta xác định được người đó ở miền nào Nước Việt Nam có bamiền chính yếu: Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam Vì thế, TiếngViệt cũng có ít nhất là ba vùng phương ngữ lớn Đó là phương ngữ BắcBộ, Trung Bộ và Nam Bộ Trường chúng tôi dạy trong địa bàn dân cưkhá đa dạng, ngoài học sinh địa phương, số học sinh di cư từ miền Bắcvà miền Trung cũng khá nhiều Có trường hợp giọng nói của cô giáo lạikhác hẳn với giọng nói của các em, điều đó cũng gây không ít khó khăncho các em khi nghe và viết chính tả

Để viết đúng chính tả, ngoài giờ học ở lớp, khi ở nhà, các em cầnphải đọc sách báo lành mạnh để trau dồi thêm môn Tiếng Việt nóichung và phân môn chính tả nói riêng Nhưng thực tế thì khi rảnh rỗi các

em lại say mê trò chơi điện tử, xem phim hoạt hình hơn là xem sáchbáo, truyện lành mạnh

Những nguyên nhân trên ảnh hưởng đến trình độ nhận thức vềTiếng Việt của học sinh Nếu như các em chưa có cảm nhận được sựphong phú của tiếng Việt nói chung, thì các em không thể học tốt phânmôn chính tả mà cụ thể là viết đúng chính tả

Trang 21

Trên đây là những nguyên nhân chung dẫn đến việc học sinh viếtsai lỗi chính tả Đối với lớp tôi phụ trách thì việc học sinh viết sai lỗichính tả do những nguyên nhân cụ thể sau:

Học sinh viết sai chính tả âm chính cĩ thể là do cách phát âm lẫn lộntrong phương ngữ Nam Bộ đối với các âm trong hầu hết các vần trên Cũng

cĩ thể là do sự phức tạp của chữ quốc ngữ: Nguyên âm /ă/ lại được ghi bằng chữ a trong các vần ay, au, các nguyên âm đơi /ie, ươ, uơ/ lại được ghi bằng các dạng iê, yê, ia, ya; ươ, ưa; uơ, ua (bia - khuya, biên - tuyến, lửa - lương, mua - muơn)…

Do chưa nắm vững quy tắc chính tả cũng như chưa nhớ mặt chữ (vìtrong lớp còn một vài em đọc bài chậm) nên dễ dẫn đế việc ghép âmmột số tiếng tùy tiện hoặc do không nắm vững luật chính tả

Do cách phát âm chưa chuẩn và do có tính cẩu thả, nghe khôngchính xác vẫn cứ viết bừa không chú ý đến nghĩa từ vựng hay cấu trúccủa câu Bên cạnh đó yếu tố tâm lí ảnh hưởng không nhỏ, biết mình viếtsai cũng không dám hỏi giáo viên

Đôi khi chính giáo viên cũng không chú ý để sửa ngay những lỗichính tả mà học sinh mắc phải qua các bài kiểm tra như Toán, Tập làmvăn, Tự nhiên xã hội… Nhiều học sinh khi lên các lớp trên vẫn còn viếtsai chính tả Không thẻâ để tình trạng này kéo dài mãi Chúng tôi nghĩ, làgiáo viên tiểu học chúng ta hãy cố gắng rèn cho các em viết đúng chínhtả

Học sinh ở trường chúng tơi hay mắc lỗi âm chính khi viết các vầnsau:

ăm/âm: con tầm, sưu tằm, bụi bậm…

im/iêm/êm/em: tim thuốc, lúa chim, cái kềm…

ip/iêp/êp/ep: số kíp, liên típ, thệp cưới…

Trang 22

ui/uôi: chín mùi, đầu đui, tủi tác…

um/uôm: nhụm áo, ao chum…

ưi /ươi: trái bửi…

ưu/ ươu: ốc bưu, con khứu…

ay/ây: đi cầy, dậy học…

au/âu: mầu đỏ…

iu/êu/iêu: chìu chuộng, lim khiết, cây niu…

oi/ôi/ơi: nôi gương, xoi nếp…

ăp/âp: gập gỡ, trùng lấp…

Trên cơ sở tiếp thu các tài liệu hướng dẫn về phương pháp dạy họcChính tả cũng như từ kinh nghiệm thực tế dạy học, chúng tôi đưa ra một sốbiện pháp dạy học Chính tả cho học sinh lớp 2 như sau:

Rèn luyện theo mẫu: Thực hiện biện pháp này, giáo viên cần đọc mẫucác từ mà học sinh dễ mắc lỗi, học sinh nghe và phát âm lại cho đúng các

từ đó Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh phân tích tiếng mắc lỗi thànhcác phần âm đầu, vần và thanh điệu, từ đó học sinh nhớ cách ghi các bộphận của tiếng để viết đúng trước khi viết bài chính tả, học sinh viết từ này

ra bảng con Một biện pháp cần thực hiện để dạy học chính tả theo mẫu là

tổ chức cho các nhóm học sinh lập sổ tay chính tả của nhóm Giáo viênhướng dẫn học sinh ghi các lỗi chính tả mà học sinh trong nhóm mắc trongcác bài viết và cách viết đúng các từ đó Sau khi ghi các từ mắc lỗi và cáchsửa, học sinh cần ghi thêm các từ em biết có các âm đầu, vần, thanh, các từ

là tên riêng tương tự như các từ mà em đã mắc lỗi để giúp các em biết cáchviết đúng nhiều từ

Thực hành giao tiếp: Thực hành giao tiếp trong dạy học chính tả làchủ yếu thực hành giao tiếp bằng chữ viết ghi lại các đơn vị có nghĩa.Muốn cho học sinh học tập theo biện pháp này, giáo viên cần cho học sinhbiết nghĩa của các đơn vị giao tiếp (từ, câu…), chuẩn chữ viết của các đơn

Ngày đăng: 14/11/2018, 15:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A - Đỗ Xuân Thảo, Giáo trình Tiếng Việt 1, NXB Đại học Sư phạm, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt 1
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
2. Phan Phương Dung - Đặng Kim Nga, Hoạt động giao tiếp với dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học, NXB Đại học Sư phạm, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động giao tiếp với dạyhọc Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
3. Đỗ Đình Hoan, Một số vấn đề cơ bản của chương trình Tiểu học mới, Bộ GD & ĐT, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản của chương trình Tiểu học mới
4. Lê phương Nga - Nguyễn Thị Hạnh, Nghiệp vụ sư phạm, Dự án Việt - Bỉ hỗ trợ học từ xa, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ sư phạm
5. Lê phương Nga (chủ biên), Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học1, NXB Đại học Sư Phạm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học1
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm 2010
6. Lê Phương Nga, Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 2, NXB Đại học Sư Phạm 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học 2
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm 2010
8. Đỗ Xuân Thảo - Lê Hữu Tỉnh, Giáo trình Tiếng Việt 2, NXB Đại học Sư phạm, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tiếng Việt 2
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
9. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), SGK Tiếng Việt 2 (tập 1- 2), NXB Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Tiếng Việt 2 (tập 1- 2)
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), SGV Tiếng Việt 2 ( tập 1 - 2), NXB Giáo dục, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Tiếng Việt 2 ( tập 1 - 2)
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Hoàng Phê, Từ điển chính tả Tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1998 Khác
w