Ngay trong hoạt động tố tụng hình sựm điều này đã được thể hiện rất rõ qua nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”.. Một số khái niệm cơ bản Trước khi
Trang 1Đề bài: Nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Bài làm
A ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân và vì nhân dân Chính vì vậy, tất cả mọi hoạt động của Nhà nước đều nhằm đảm bảo quyền lợi của người dân và chúng ta luôn đề cao lối sống thượng tôn pháp luật Ngay trong hoạt động tố tụng hình sựm điều này đã được thể hiện rất
rõ qua nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” Đây là một trong những nguyên tắc rất quan trọng và được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống pháp luật của nước ta Tuy nhiên, trên thực tế, nguyên tắc này vẫn chưa được thực hiện một cách “nghiêm túc” và chưa phát huy được hiệu quả
như mong muốn Bởi vậy, em xin chọn đề bài số 8 làm bài tập học kỳ “Nguyên tắc
“Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015”.
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề khái quát chung
1 Một số khái niệm cơ bản
Trước khi đi tìm hiểu cụ thể về nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chúng ta cần tìm hiểu sơ lược về một số khái niệm như “nguyên tắc”, “thẩm phán”, “hội thẩm”,
“xét xử”, “độc lập”, “tuân theo pháp luật”
Trang 2Hiểu một cách chung nhất, nguyên tắc là những nguyên lý, những tư tưởng chỉ đạo có tính chất then chốt, xuất phát điểm, làm cơ sở cho một vấn đề gì đó Theo đó, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởng chỉ đạo đối với hoạt động tố tụng hình sự; là những phương châm, những định hướng được ghi nhận trong các văn bản pháp luật chi phối quá trình xây dựng pháp luật, chi phối tất cả hoặc một số hoạt động tố tụng hình sự.1
Thẩm phán là người thực hiện quyền xét xử chính tại phiên tòa, là thành phần của hội đồng xét xử Hội thẩm hay còn lại là hội thẩm nhân dân, là những người được bầu hoặc cử theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử những vụ
án, thuộc thẩm quyền của Tòa án, và cũng là thành viên của hội đồng xét xử
Xét xử là hoạt động đặc trưng, nhiệm vụ của tòa án nhằm xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của một vụ việc để đứa ra phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc.2
Độc lập là một từ gốc Hán trong đó, độc có nghĩa là một, lập có nghĩa là đứng, độc lập được hiểu là đứng một mình, không phụ thuộc vào ai.3 Còn tuân theo pháp luật là một hình thức thực hiện phá luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành các hoạt động mà pháp luật cấm4
Như vậy, nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được hiểu là nguyên tắc của hoạt động tố tụng hình sự mà trong đó
1 Tham khảo giáo trình “Luật Tố tụng hình sự Việt Nam”, trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân, 2015, trang 45
2 https://nganhangphapluat.thukyluat.vn/tu-van-phap-luat/thu-tuc-to-tung/xet-xu-la-gi-119896
3 http://tratu.soha.vn/dict/vn_vn/%C4%90%E1%BB%99c_l%E1%BA%ADp
4 Giáo trình “Lý luận chung về nhà nước và pháp luật” trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân, 2016, trang 404
Trang 3những người có thẩm quyền xét xử sẽ xét xử một cách độc lập, không phục thuộc vào bất cứ ai, thực hiện đúng những gì mà pháp luật cho phép
2 Cơ sở pháp lý và cơ sở lý luận của nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
a Cơ sở pháp lý
Là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng của Luật tố tụng hình sự Việt Nam, nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” luôn đươc coi trọng và đã được ghi nhận ở văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao nhất là Hiến pháp qua các thời kỳ Hiện nay, nguyên tắc này đã được
ghi nhận rất cụ thể ở khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013 “Thẩm phán, Hội thẩm xét
xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm” Đặc biệt, Bộ luật tố tụng hình sự
2015 đã quy định rất chi tiết, rõ ràng về nguyên tắc này tại Điều 23:
“Điều 23 Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm
cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.”
b Cơ sở lý luận
Nguyên tắc này được xác định là một trong những nguyên tắc chính của Luật
tố tụng hình sự Việt Nam bởi nó xuất phát từ chính nguyên tắc cơ bản trong tổ
Trang 4chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay là nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Chính vì vậy, hoạt động của Tòa mà cụ thể là hoạt động xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm cũng dựa trên nguyên tắc này
Bên cạnh đó thì Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và quyết định bị cáo có tội hay không có tội, vì thế quyết định của Tòa phải là quyết định khách quan, chính xác và độc lập xét xử phải là một nguyên tắc hoạt động của Tòa án Tòa án với tư cách là cơ quan tư pháp- hoạt động nhân danh công lý và dựa vào công lý thì hội đồng xét xử phải trung lập, không phụ thuộc vào bất cứ bên nào, bất
cứ ai, chỉ tuân theo pháp luật Có như vậy tòa án mới tồn tại đúng với bản chất của mình- một cơ quan bảo vệ công lý
II. Nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
1 Nội dung nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”
Trước hết, về nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập ở đây chúng ta cần nghiên cứu trên 2 khía cạnh Thứ nhất là sự độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm với các yếu tố bên ngoài và thứ hai là sự độc lập với nhau trong xét xử của chính Thẩm phán và Hội thẩm
Thứ nhất, trong xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập với các yếu tố bên ngoài ở đây được hiểu là sự độc lập với Viện kiểm sát, với Tòa án các cấp khác, với các cơ quan nhà nước, với các tổ chức và cá nhân khác như Chánh án, Luật sư, đương sự, với báo chí và thậm chí là cả với dư luận xã hội Khi xét xử, các thành viên của hội đồng xét xử phải căn cứ vào các tình tiết của vụ án, chứng cứ đã được
Trang 5thẩm tra tại tòa một cách công khai để xác định tội phạm, hình phạt Các thành viên của hội đồng xét xử không để cho bất cứ ai vì bất cứ lí do gì chi phối
Sự độc lập ấy thể hiện ngay ở quá trình chuẩn bị xét xử, khi Thẩm phán và Hội thẩm tự mình nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án mà không được dựa vào kết luận, quyết định của cơ quan điều tra hay viện kiểm sát, đây là sự thể hiện độc lập với các tài liệu đã có Những tài liệu, chỉ là cơ sở để xem xét, tham khảo, còn quyết định chính vẫn phải do chính Thẩm phán, Hội thẩm đưa ra
Tiếp đến giai đoạn tiến hành xét xử, các thành viên của hội đồng xét xử dựa vào hồ sơ mà mình đã nghiên cứu kỹ lưỡng kế hợp với những chứng cứ mới thu được tại phiên tòa để có thể tự mình đưa ra những kết luận riêng về từng vấn đề một Trong quá trình xét xử ấy, các cơ quan quản lý không được can thiệp vào việc xét xử của Tòa án Đồng thời, Tòa án cũng không lệ thuộc vào ý kiến của cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát Nếu qua phiên tòa, Tòa án thấy cần thiết xử lý khác với
ý kiến của các cơ quan trên thì căn cứ vào pháp luật và xử lý chính xác Ví dụ như khi xét xử, thẩm phán chủ tọa phiên tòa có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự coi là tội phạm thì thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung.5 Như vậy, trong trường hợp mà hội đồng xét xử phát hiện ra một tội phạm khác của bị cáo mà Viện kiểm sát không truy tố thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoàn toàn có thể trả hồ sơ để điều tra bổ sung chứ không nhất thiết cứ phải xét xử chỉ tội danh mà Viện kiểm sát truy tố
Khi xét xử, Tòa án cấp trên có thể áp dụng Tòa án cấp dưới về áp dụng thống nhất pháp luật, đường lối xét xử nhưng không quyết định trước về chủ trương xét
xử cụ thể một vụ án buộc tòa án cấp dưới phải theo, đây cũng là một biểu hiện của
5 Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nhà xuất bản Lao động
Trang 6nguyên tắc xét xử độc lập Ngoài ra, trên thực tế chúng ta thấy, thông qua các công tác tổ chức xét xử, Chánh án có thể có những tác động nhất định đến hoạt động xét
xử, nhưng vẫn phải đảm bảo không chi phối việc đưa ra ý kiến riêng của từng thành viên trong hội đồng xét xử
Không chỉ độc lập với các cơ quan nhà nước, mà trong xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm còn phải độc lập với bị cáo, với người bào chữa và những người tham gia
tố tụng Thẩm phán cũng như Hội thẩm không thể vì yêu cầu của những người tham gia tố tụng mà bị ảnh hưởng đến sự độc lập của mình Ví dụ như trong phiên tòa xét xử vụ án sà lan tông sập cầu Ghềnh, Luật sư đề nghị hoãn xử nhưng hội đồng xét xử đã hội ý và xét thấy không cần thiết nên không chấp nhận yêu cầu.6
Hay như trong vụ án gần đây nhất về ông Đinh La Thăng Thời điểm xét xử, ông Đinh La Thăng có yêu cầu xin được tại ngoại về quên ăn tết với gia đình lần cuối, cũng như với lý do bố bị cáo cấp cứu nằm viện ốm nặng Tuy nhiên, Hội đồng xét
xử xử đã rất độc lập khi xét xử, không vì yêu cầu của bị cáo như vậy mà cho phép
bị cáo được tại ngoại 7
Một yếu tố nữa mà Thẩm phán và Hội thẩm cũng cần phải độc lập khi xét xử
đó chính là báo chí và dư luận xã hội Thành viên hội đồng xét xử không thể vì những luồng dư luận xã hội, vì những thông tin báo chí đăng tải mà lung lay ý chí, làm trái với pháp luật Bởi lẽ dư luận xã hội và báo chí, đối khi là những quan điểm của các nhân hoặc một nhóm cá nhân, sẽ không thể là sự tác động đến hoạt động xét xử của Tòa án được Chúng ta có thể thấy điều này ngay trong vụ án diễn
ra gần đây nhất là vụ án xét xử ông Đinh La Thăng, dư luận xã hội có nhiều
6 https://thoibao.today/paper/vu-sa-lan-tong-sap-cau-ghenh-luat-su-de-nghi-hoan-xu-hdxx-khong-chap-thuan-2569170
7 http://www.tinmoi.vn/vi-sao-ong-dinh-la-thang-khong-duoc-tai-ngoai-ve-que-an-tet-011473800.html
Trang 7“thương cảm” dành cho bị cáo, tuy nhiên Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội khi xét xử đã không căn cứ vào luồng dư luận này mà xét xử minh bạch.8
Khía cạnh thứ hai của sự độc lập trong nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm xét
xử độc lập mà Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 đề cập đến chính là sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm với nhau trong quá trình xét xử Điều này thể hiện ngay từ chính hoạt động nghiên cứu hồ sơ vụ án ở giai đoạn chuẩn bị xét xử Tất cả thành viên hội đồng xét xử đều phải tự mình nghiên cứu hồ sơ vụ án Ở đây, giữa Hội thẩm và Thẩm phán có thể có sự hỗ trợ nhau nhưng không được áp đặt ý chí mà vẫn phải có sự độc lập khi nghiên cứu, đưa ra những đánh giá, kiểm tra tài liệu chứng cứ
Đến giai đoạn xét hỏi tại phiên tòa, thì cả Thẩm phán và Hội thẩm đều có quyền hỏi, chủ tọa phiên tòa hỏi trước, sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện việc hỏi theo thứ tự Ở đây, cả Thẩm phán và Hội thẩm đều độc lập trong việc hỏi, Hội thẩm có thể hỏi các vấn đề mà mình thấy là cần thiết đẻ giải quyết vụ
án mà không phụ thuộc vào Thẩm phán Mặc dù Thẩm phán có thể hỏi những câu hỏi mang tính chất chuyên môn nghiệp vụ,
Đặc biệt, sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm trong xét xử được thể hiện
rõ nhất ở giai đoạn nghị án Trong Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định rất cụ thể về việc xét hỏi Trong đó, khi biểu quyết thì Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng Quy định nhằm đảm bảo sự khách quan, vô tư của Hội thẩm khi đưa ra quyết định của mình mà không phụ thuộc vào ý chí của Thẩm phán, đảm bảo Thẩm phán không lấy ý kiến của mình áp đặt lên Hội thẩm Đồng thời, luật cũng quy định các thành viên hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đêg của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số từng vấn đề
8 http://xahoivn.net/xet-xu-ong-dinh-la-thang-khong-the-can-cu-du-luan-thuong-cam.html
Trang 8b Khi xét xử Thẩm phám, Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật
Không chỉ xét xử độc lập mà hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm và pháp luật phải luôn có mối quan hệ thống nhất với nhau, không thể tách rời nhau Khi xét xử, dù độc lập nhưng hội đồng xét xử cần phải tuân theo pháp luật, chứ không thể xét xử tùy tiện, cảm tính Không thể vì quá căm phẫn bị cáo mà Hội đồng xét
xử áp dụng điều khoản tăng nặng cho bị cáo một cách vô căn cứ được Ngay từ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Thẩm phán cũng như Hội thẩm nhân dân phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để đối chiếu với các tình tiết, và xem xét trên thực tế có tội phạm xảy ra hay không Tiếp đó, trong khi xét xử, hội đồng xét xử lúc này dựa vào những cứ mới thu được, cùng kết quả nghiên cứu của mình và chỉ căn cứ vào các quy định của pháp luật mà xác định tội danh, xác định hình phạt cho bị cáo; cũng như xác định trình tự, thủ tục hoạt động của mình Thẩm phán, Hội thẩm sẽ căn cứ vào Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành đang còn hiệu lực
Ở đây, Hội đồng xét xử xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật không có nghĩa là tách rời đường lối chính sách của Đảng, cũng như không có sự kiểm tra, giám sát nào Đảng không chỉ đạo xét xử từng vụ việc cụ thể nhưng Đảng chỉ đạo đường lối xét xử trong từng giai đoạn cách mạng đối với từng loại án Sự giám sát
ở đây là sự kiểm soát và giám sát từ Viện kiểm sáy và Tòa án cấp trên Tòa án cấp trên có quyền thẩm tra những bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới và hủy bỏ chúng trong trường hợp trái pháp luật hoặc không có căn cứ
2 Bảo đảm thực hiện nguyên tắc
Để nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” được thực hiện tốt thì Nhà nước phải có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh Bởi
hệ thống pháp luật hoàn chỉnh là điều kiện để đảm bảo cho Tòa án có chỗ dựa vững chắc trong công tác xét xử Đồng thời, Thẩm phán và Hội thẩm phải là những
Trang 9người có trình độ chuyên môn nhất định, phẩm chất chính trị và tinh thần đấu tranh bảo vệ pháp luật, thượng tôn pháp luật
3 Mối quan hệ giữa xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân
Giữa yếu tố xét xử “độc lập” và “chỉ tuân theo pháp luật” của nguyên tắc này
có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau Độc lập là điều kiện cần thiết để Hội đồng xét xử khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật Ngược lại, tuân pheo pháp luật là
cơ sở không thể thiếu để Thẩm phán cũng như Hội thẩm độc lập khi xét xử Mối quan hệ này có sự ràng buộc lẫn nhau Nếu như khi xét xử chỉ tuân theo pháp luật thì rất dễ xảy ra tình trạng các cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp quá sâu vào hoạt động xét xử, làm mất đặc tính, bản chất của Tòa Còn nếu như khi xét xử chỉ có yếu tố độc lập thì sẽ dẫn đế tình trạng chủ quan, duy ý chí, cảm tính, độc đoán, tùy tiện khi xét xử
4 Ý nghĩa của nguyên tắc
Xét trên mặt chính tri, xã hội nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” đảm bảo cho Tòa án thực hiện tốt chức năng, nhiệm
vụ của mình theo quy định của pháp luật, đồng thời cũng đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong hội đồng xét xử; khẳng định vị trí, vai trò của Tòa án Xét về
ý nghĩa sâu xa, nguyên tắc này cũng nhằm đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo quyền công dân, quyền con người cũng như tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh Nguyên tắc này làm tăng lòng tin trong nhân dân vào hệ thống Tư pháp, do đó nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, xây dựng nhà nước pháp quyền, thể hiện rõ bản chất nhà nước của dân, do dân, vì dân Không chỉ vậy, với nguyên tắc xét xử này, chúng ta đã đẩy lùi được tệ nạn tham nhũng trong một bộ phận lớn cán bộ, công chức, viên chức hiện nay
Trang 10Về ý nghĩa pháp lý, nguyên tắc trở thành cơ sở pháp lý cho việc thực hiện xét
xử của Tòa án đúng pháp luật, việc chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật Không chỉ vậy, xét trên thực tế, việc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật cũng có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng luật
III. Thực tế thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật”
Về cơ bản, việc thực hiện nguyên tắc “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật” đã được thực hiện trong quá trình xét xử của Tòa án, nhìn chung, các vụ án hình sự đều đã được xét xử, áp dụng đúng pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế, bên cạnh những gì đã đạt đạt, việc nguyên tắc này chưa thực sự được đảm bảo, vẫn còn có nhiều khó khăn
Thứ nhất là về tính độc lập khi xét xử, về nguyên tắc thì cả Thẩm phán và Hội thẩm vừa phải độc lập với các yếu tố bên ngoài, vừa phải độc lập với chính nội bộ thành viên của hội đồng xét xử của mình.Thế nhưng, trên thực tế, tình trạng
“nghiên cứu hồ sơ” vụ án một cách độc lập trong nhiều vụ án dường như là “hình thức”, các thành viên hội đồng xét xử dựa vào kết quả của cơ quan điều tram viện kiểm sát làm căn cứ, thậm chí không quan tâm đến những chứ cứ mới cuất hiện ở Tòa mà đã có sẵn quyết định dành cho bị cáo Minh chứng thực tế chính là phiên tòa phúc thẩm vụ án của ông Đoàn Văn Vươn, các luật sư bào chữa cho hay những luận cứ của Luật sư không được phía viện kiểm sát tranh luận và hội đồng xext xử cũng không lắng nghe để đưa ra bản án phù hợp.9 Như vậy trên thực tế thì Hội đồng xét xử chỉ làm một công việc là đọc những gì đã được “định sẵn” mà không
hề có sự độc lập, đây là sự không độc lập với các cơ quan, chủ thể tiến hành tố tụng
9 https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/how-vn-cpc-tamper-w-trial-procedures-av-08032013114214.html