Theo quan điểm Macxit, triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, về thái độ của con ngời đối với thế giới, là khoa
Trang 1Mở đầu
Thuật ngữ triết học bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Philossophia” có nghĩa
là “Yêu thích sự thông thái”
Theo quan điểm Macxit, triết học là một hình thái ý thức xã hội, là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức, về thái độ của con ngời đối với thế giới, là khoa học về những qui luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và t duy
Xuất phát từ định nghĩa của triết học Mác-Lê thì nhiệm vụ cơ bản của triết học là đa ra một quan niệm chỉnh thể về thế giới, về các quá trình vật chất
và tinh thần cũng nh mối liên hệ tác động của các quá trình đó, về sự nhận thức thế giới và con đờng cải biến thế giới
Triết học đợc xem nh là khoa học của mọi khoa học do đó triết học có vai trò quan trọng trong việc định hớng sự phát triển của xã hội loài ngời ở bất kì một thời đại nào, dới bất kì một chế độ xã hội nào thì t tởng triết học luôn luôn chi phối mạnh mẽ đời sống kinh tế - xã hội của xã hội đó Chính vì vậy việc nghiên cứu lịch sử triết học hay nói đúng hơn là lịch sử t tởng loài
ng-ời có ý nghĩa rất quan trọng vì một mặt nó giúp ta hiểu đợc quá trình phát triển của xã hội loài ngời mặt khác nó giúp ta tiếp thu những tinh hoa, giá trị t tởng của thế hệ trớc và khắc phục những thiếu sót, hạn chế Chúng ta không thể sống mà không có quá khứ
Triết học là một hình thái ý thức xã hội vì vậy cùng với sự phát triển của xã hội nó cũng có lịch sử phát sinh, phát triển Một trong những chiếc nôi của
t duy triết học là Hy Lạp Triết học Hy Lạp cổ đại cùng với những thành tựu rực rỡ của nó đã cắm một mốc vàng chói lọi trong lịch sử văn hoá châu Âu và thế giới, đem lại vinh quang bất tận cho các nhà hiền triết đơng thời, làm rạng
rỡ cho đất nớc và con ngời Hy Lạp Triết học Hy Lạp cổ đại còn là một tiền đề quan trọng của triết học Mác-Lê
Nội dung Chơng I – Tìm hiểu chung về triết học Hy Lạp cổ đại Tìm hiểu chung về triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp ra đời vào thế kỉ VIII trớc công nguyên khi mà xã hội chiếm hữu nô lệ phát sinh và phát triển ở Hy Lạp Lúc này trong xã hội đã bắt
đầu phân chia giai cấp và diễn ra sự phân công lao động giữa trí óc và chân
Trang 2tay Sự phân công này dẫn đến hình thành một bộ phận các nhà trí thức chuyên nghiến cứu triết học Những tri thức về thiên văn, khí tợng, toán học, vật lí ở trạng thái thô sơ đợc trình bày trong hệ thống triết học Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên Bên cạnh những tri thức khoa học sơ khai triết học Hy Lạp cổ đại cũng đã đề cập đến những vấn đề của thế giới quan theo nghĩa hiện đại tuy còn ở trạng thái mầm mống
Nh vậy triết học Hy Lạp cổ đại ngay từ khi ra đời đã gắn liền với khoa học
Quá trình phát sinh và phát triển của triết học Hy Lạp cổ đại gắn liền với quá trình đấu tranh giữa tri thuức khoa học và tín ngỡng, giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm tôn giáo Đó là cuộc đấu tranh giai cấp trên lĩnh vực tinh thần, t tởng trong xã hội chiếm hữu nô lệ của Hy Lạp Cuộc đấu tranh gay gắt nhất trong lĩnh vực này là cuộc đấu tranh trờng kì giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Cuộc đấu tranh trong triết học này phản ánh cuộc
đấu tranh giữa tầng lớp chủ nô dân chủ tiến bộ (đại biểu cho xu hớng tiến bộ của lịch sử, ra sức xây dựng một chế độ dân chủ cộng hoà) với tầng lớp chủ nô quí tộc (đại biểu cho xu hớng phản tiến bộ, muốn duy trì, thiết lập chế độ độc tài chuyến chế trong xã hội) Tiêu biểu cho chủ nghĩa duy vật trong triết học
Hy Lạp cổ đại là Anxago, Ampêđôcơlơ, Đêmocrit, Epiquya… còn đại diện còn đại diện cho chủ nghĩa duy tâm là Xôcrat, Platon… còn đại diện
Tóm lại triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Các học thuyết triết học thời kì này đã đặt ra hầu hết các vấn
đề triết học căn bản mà sau này trong lịch sử phát triển của triết học các học thuyết lần lợt đi giải quyết nó
Thành tựu quan trọng nhất mà triết học Hy Lạp cổ đại đạt đợc là thuyết nguên tử của Lơxip, Dêmôcrit, Epiquya và phép biện chứng chất phát cùng với logic học hình thức của Arixtốt
Chơng II – Tìm hiểu chung về triết học Hy Lạp cổ đại những quan điểm của chủ nghĩ duy vật
và phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại
1 Tìm hiểu chung về chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học
Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học là vật chất và ý thức cái nào
có trớc, cái nào có sau và cái nào quyết định cái nào đã dẫn đến việc hình thành 2 trào lu chính trong triết học, đó là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Chủ nghĩa duy vật khẳng định vật chất có trớc, ý thức có sau, vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và quyết định ý thức ý thức là sự phản
ánh thế giới khách quan vào bộ óc con ngời
Trang 3Chủ nghĩa duy tâm thừa nhận tinh thần, ý thức là cái có trớc, cái quyết
định, vật chất là cái có sau, cái bị quyết định
Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy vật là các lực lợng xã hội, các giai cấp tiến bộ, cách mạng và nguồn gốc nhận thức của nó là mối liên hệ với các khoa học
Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa duy tâm là mối liên hệ của nó với lực lợng xã hội, các giai cấp phản tiến bộ Còn nguồn gốc nhận thức của nó là sự tuyệt đối hoá một mặt của quá trình nhận thứac, tách nhận thức và ý thức ra khỏi thế giới khách quan
Quá trình xem xét thế giới và giải quyết hai vấn đề cơ bản của triết học diễ ra theo hai phơng pháp đối lập nhau dẫn đến việc hình thành phép biện chứng và phép siêu hình
Phép biện chứng xem xét sự vật trong mối liên hệ với các sự vật khác, trong sự vận động vĩnh viễn, biến đổi thờng xuyên và trong sự phát triển Phép biện chứng coi sự phát triển là cuộc đấu tramh giữa các mặt đối lập, thông qua
sự biến đổi về lợng dới hình thức nhảy vọt
Phép siêu hính thì xem xét sự vật một cách cô lập, tách biệt với sự vật khác, hoàn toàn tĩnh tại, ngng đọng, cố định không vận động, không biến đổi Phép siêu hình chỉ coi sự phát triển của sự vật chỉ là sự biến đổi về mặt lợng,
nó đi tìm nguồn gốc của sự phát triển ở bên ngoài sự vật Do vậy t duy siêu hình là t duy cứng nhắc
2 Những quan điểm của chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại
Chủ nghĩa duy vật trong triết học Hy Lạp cổ đại đã bớc đầu giải quyết hai vấn đề cơ bản của triết học Tuy rằng do những hạn chề khách quan nên các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại cha giải quyết đợc triệt để song đã đặt những nền móng đầu tiên cho chủ nghĩa duy vật trong lịch sử triết học
Về nguồn gốc vật chất của thế giới
Đa số các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đều cho rằng cơ sở đầu tiên của thế giứo là một dạng vật chất cụ thể
- Theo Talet, Nứoc là nguyên tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật chất trong thế giới Mọi vật đều sinh ra từ nớc và khi phân huỷ lại biến thành nớc Theo ông, vật chất (nớc) tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi vật biến đổi không ngừng mà nớc là nền tảng
Những quan điểm triết học duy vật cảu ông giải thích thế giới tự nhiên tuy còn thô sơ mộc mạc nhng mang ý nghĩa vô thần chống lại tôn giáo đơng thời
Trang 4- Theo Anaximăngđrơ thì cơ sở của sự hình thành vạn vật trong vũ trụ là
từ một dạng vật chất đơn nhất ở Talet, vật chất đầu tiên là nớc mang tính ít trừu tợng hơn sơ với ở Anaximăngđrơ là Apâyroon – một chất vô định hình
mà ngời ta không thể trực quan thấy đợc Lần đầu tiên trong lịch sử triết học
cổ đại, vật chất không bị đồng nhất với một dạng vật chất cụ thể Đó là bớc tiến mới về trình độ t duy của ngời Hy Lạp cổ đại
- Anaximen thì lại cho rằng không khí là nguồn gốc, là bản chất của mọi sự vật và là bản nguyên của thế giới vì nó giữ vai trò rất quan trọng trong
đời sống của tự nhiên và con ngời Không khí là cái vô định hình, mà bản thân Apâyrôn cũng chỉ là một tính chất của không khí Không khí sinh ra mọi cái bằng 2 cách loãng ra hoặc cô đặc lại Không khí loãng ra thì ttrở thành lửa,
đặt lại thì trở thành gió, thành mây; đặc nữa thì trở thành nớc, đặc nữa thì trở thành đất, đá
Tóm lại các nhà triết học trên tạo thành trờng phái triết học duy vật Milê Họ đã gắng công tìm ra một bản nguyên vật chất để giải thích thế giới
nh một chỉnh thể thống nhất của các sự vật muôn màu muôn vẻ Mặc dầu còn thô sơ mộc mạc, ngây thơ nhng những quan niệm của họ đã đặt nền móng cho phát triển của các t tởng duy vật trong triết học về sau
- Hêraclit cũng đứng trên lập trờng duy vật cổ đại để giải phóng vấn đề
“cơ sở đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể Song ông cho rằng Lửa là bản nguyên của thế giới, là cơ sở duy nhất và phổ biến của sự vật hiện tợng tự nhiên nhng lửa theo quan niệm của Hêraclit không phải theo nghĩa thông thờng mà lửa vũ trụ, sản sinh ra không chỉ các sự vật vật chất mà cả những hiện tợng tinh thần, kể cả linh hồn của con ngời
- Empêđôcơlơ cho rằng khởi nguyên của vũ trụ không phải là 4 yếu tố
nh trờng phái Milê quan niệm mà là 4 yếu tố vật chất: Đất, Nớc, Không khí và Lửa Ông gọi đây là 4 căn nguyên của mọi sự vật hiện tợng Các căn nguyên này tồn tại vĩnh viễn và bất biến Còn các sự vật hiện tợng muôn vẻ của thế giới đợc hình thành bằng con đờng hỗn hợp của 4 căn nguyên và bí mật đi bằng con đờng tách biệt của những căn nguyên ấy Do đó cái đợc gọi là sự sinh ra và bị mất đi (sinh và tử) của mọi sự vật hiện tợng chỉ là sự hợp của và phân của 4 căn nguyên: đất, nớc, lửa và không khí
- Anaxago quan niệm rằng các sự vật hiện tợng của thế giới có sự khác nhau về chất lợng, do đó chúng không thể cấu tạo từ một hay một số khởi nguyên đầu tiên nh đất , nớc, không khí và lửa Theo ông cơ sở đầu tiên của tất cả mọi sự vật hiện tợng là “những hạt giống”; Những hạt giống ấy phân biệt với nhau ở chất và lợng muôn màu muôn vẻ Mỗi vật chỉ có thể nảy sinh
từ các hạt giống (khởi nguyên) của mình Và do đó số lợng các hạt giống
=(khởi nguyên) là nhiều vô kể nh số lợng các sự vật Từ những hạt giống đó, phát sinh những vật thể đồng nhất với chúng, tức là mỗi loại hạt giống bảo tồn
Trang 5mọi tính chất của sự vật cùng loại Anaxagông coi “mọi cái đợc trộn lẫn trong mọi cái” vì mỗi sự vật đều chứa trong mình các hạt giống của những sự vật khác, nhng những tính chất của nó bị qui định bởi các đặc tính của những hạt giống mà nó có Tính hợp lí trong học thuyết cảu Anaxago là ở chỗ ông đã đi tìm bản nguyên cấu tạo nên sự vật ở chính sự vật, theo một phong diện độc
đáo của mình, góp phần làm phong phú chủ nghĩa duy vật Hy Lạp cổ đại
- Lơxip cho rằng khởi nguyên của vật chất không phải là vô số nguyên
tử, mọi sự vật đều đợc cấu thành từ những nguyên tử Đó là những hạt vật chất tuyệt đối không thể phân chia đợc, nó vô hạn về hình thức, nó vô cùng bé nhỏ, không thể thẩm thấu đợc, không có chất lợng, cácnguyên tử chỉ khác nhau về kích thớc, sở dĩ có những sự vật khác nhau là vì có hình thức sắp xếp khác nhau của các nguyên tử
- Đêmổcit phát triển thuyết nguyên tử lên một trình độ mới Ông cho rằng nguyên tử là cơ sở cấu tạo nên vạn vật, nguyên tử là hạt vật chất cnguyên tực nhỏ, không nhìn thấy đợc không phân đợc, không mùi vị, không âm thanh, không màu sắc, không khác nhau về chất mà chỉ khác nhau về hình thức, trật
tự và t thế Ông cho rằng mỗi nguyên tử có một hình thức nhất định, nguyên tử không những vô hạn về số lợng mà còn vô hạn về hình thức, mọi sự vật đều
đ-ợc cấu tạo từ nguyên tử, sự kết hợp đó không phải là tuỳ tiện, ngẫu nhiên mà
là kết hợp theo những hình thức khác nhau, sắp xếp kế tiếp theo những trật tự khác nhau và đợc xoay đặt ở những t thế khác nhau
- Epiquyra đã có những đóng góp mới cho thuyết nguyên tử của
Đêmôcrit Ông cho rằng các nguyên tử có khác nhau về trọng lợng do đó chúng vận động theo chiều thẳng đứng từ trên xuống dới
- Arixtôt phê phán triết học duy tâm khách quan và nêu ra lý thuyết về
sự tồn tại Ông cho rằng tồn tại nói chung xuất phát từ bốn nguyên lý cơ bản:
(1) – Nguyên lý vật chất
(2) – Nguyên lý hình dạng
(3) – Nguyên lý vận động
(4) – Nguyên lý mục đích
Theo ông vật chất và hình thức là cái mà từ đó tạo thành sự vật Vật chất là “vật liệu” gia nhập vào thành phần của sự vật từ đó sự vật phát sinh Trong đó hình dạng là cơ bản nhất, là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự vật bởi chính nhờ hình dạng mà vật chất hiện thực hoá, biến thành các sự vật thực tế Nừu thiếu hình dạng thì vật chất chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng (khả năng), ở trạngthía mà ông gọi là “không tồn tại”, vô định hình
Về khả năng nhận thức thế giới của con ngời
Trang 6Hầu hếtcác triết gia duy vật Hy Lạp cổ đại đều đi vào tìm hiểu căn nguyên vật chất của thế giới song lí luận về khả năng nhận thức của con ngời thì không phải triết gia nào cũng đề cập đến Tuy nhiên một số triết gia đã đề cập đến vấn đề này, mặc dù ở mức độ thô sơ nhng đã đặt nên móng quan trọng
- Lý luận nhận thức của Hêracit mang tính duy vật và biện chứng sơ khai Nhng về cơ bản là đúng đắn Hêracrit cho rằng nhận thức bắt nguồn từ cảm giác, không có cảm giác thì không có bất c sự nhận thức nào Tuy ông coi trọng nhận thức cảm tính nhng ông không tuyệt đối hoá giai đoạn này mà ông cho rằng nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt tới nhận thức “Logos” của sự vật nghĩa là phải chỉ ra đợc cái bản chất, qui luật của sự vật Hêracrit còn nêu lên tính chất tơng đối của nhận thức tuỳ theo điều kiện hoàn cảnh mà mức độ nhận thức khác nhau
- Emipôđôcơlơ đã thấy đợc sự gắn bó chặt chẽ giữa nhận thức cảm tính
và nhận thức lí tính nhng không phân biệt đợc sự khác nhau về nguyên tắc giữa hai loại nhận thức đó và cho rằng t duy và cảm giác là một
- Đêmôrcit là ngời đã đa ra lí luận nhận thức duy vật lên một bớc mới
Đêmôcrit đã chia nhận thức ra thành hai dạng: dạng nhận thức mờ tối là dạng nhận thức cảm tính, do các giác quan đem lại; và dạng nhận thức chân lí là dạng nhận thức thông qua những phán đoán logic, đó là dạng nhận thức đợc bản chất của sự vật Hai dạng nhận thức này có liên quan chặt chẽ với nhau và
đều có vai trò quan trọng nhng dạng nhận thức chân lí đáng tin cậy hơn
- Lý luận nhận thức của Arixtôt là môtk bớc tiến quan trọng trong lịch
sử triết học Ông coi thế giới quan là đối tợng của nhận thức, là nguồn gốc của kinh nghiệm và cảm giác; tự nhiên là tính thứ nhất còn tri thức là tính thứ hai, tri thức bắt nguồn từ cảm giác về những sự vật đơn nhất Ông coi cảm giác là
điểm khởi đầu trên con đờng t duy khoa học, đó là: Cảm giác biểu tợng -kinh nghiệm – nghệ thuật – khoa học Thành tựu nổi bật nhất của ông là coi nhận thức là một áu trình đi từ cảm giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đến t duy trừ tợng;
từ khái niệm đến phạm trù qui luật
3- Phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại
- Những yếu tố biện chứng tự phát trong triết học Talet có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử triết học Ông cho rằng vật chất (nớc) thì tồn tại vĩnh viễn còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi Toàn
bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất trong đó mọi vật biến đổi không ngừng
mà nớc là nền tảng
- Theo Anaximăngđrơ thì Apâyrôn là nguồn gốc sinh ra vạn vật đồng thời là cơ sở vận động của vạn vật Nhờ Apâyrôn nảy ra những mặt đối lập nhau nh nóng-lạnh, khô-ớt, sinh ra và chết đi… còn đại diện Ông cũng là ngời đỗu tiên nêu
ra và giải quyết mối quan hệ giữa cái toàn thể và cái bộ phận Theo ông cái bộ
Trang 7phận luôn biến đổi còn cái toàn thể là cái bất biến, nghĩa là tổng thể vật chất thì không biến đổi còn các dạng vật chất cụ thể thì thờng xuyên biến đổi, chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác
- Phép biện chứng của Hêracrit đợc trình bày dới dạng hệ thống các luận điểm khoa học:
+ Ông quan niệm vận động của vật chất là vĩnh viễn; không có sự vật, hiện tợng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả đều trong trạng thía biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và nguực lại Theo ông nguồn gốc của mọi sự thay đổi là lửa
+ Ông đã nêu lên t tởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật hiện tợng
+ Theo Hêracrit thì sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới
là do qui luật khách quan (mà ông gọi là logos) qui định logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con ngời Logos khách quan phải phù hợp với logos chủ quan nhng nó biểu hiện ở từng ngời khác nhau
- Theo Empêđôclơ thì mọi sự vật đều có quá trình đợc sinh ra và bị mất
đi (sinh tử) đó chính là sự hợp và phân của 4 căn nguyên: đất, nớc, không khí
và lửa Nguồn gốc của sự vận động đó là do sự tác động của hai lực đối lập là tình yêu và căm thù Tình yêu làm cho các căn nguyên kết hợp lại với nhau còn căm thù thì là cho chúng tách rời nhau Đây là một bớc thụt lùi
- Anannago, dới hình thức sơ khai, đã nêu lên t tởng biện chứng về mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật Ông cho rằng sự biến hoá về chất giữa các sự vật là do sự thay thế phần lớn trong nó các hạt giống của sự vật Và ông giải thích sự vận động của những “phần tử đồng nhất” bằng một lực ở bên ngoài
mà ông gọi là lực Nusơ
- Lơxip thì cho rằng vận động chỉ là sự di chuyển vật thể trong không gian Tuy nhiện ông đã đề cập đến tính nhân quả tất yeué trên quan điểm quyết định luận duy vật, chống lại mục đích luận của chủ nghĩa duy tâm Ông khẳng định “Không một sự vật nào phát sinh một cách vô cớ mà tất cả đều phát sinh trên một căn cứ nào đấy và do quá tính tất nhiên”
- Đêmổcit kế thừa quan điểm của Hêracrit cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng Quan điềm của ông về vận động của nguyên tử là vĩnh viễn và nguyên nhân là ở bản thân nguyên tử, ở động lực tự thận, tự nó Đồng thời ông thừa nhận sự ràng buộc theo qui luật nhân quả, tính tất nhiên và tính khác quan cảu các hiện tợng tự nhiên
- Arixtôt thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại ở bên ngoài sự vật, hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các
sự vật khác Ông cho rằng vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật, hiện tợng của thế giới tự nhiên Ông cũng đã khẳng định vận động là không thể bị tiêu diệt, đã có vận động và mãi mãi có vận động
Trang 8Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nghiên cứu phép biện chứng cốt chỉ
để nâng cao nghệ thuật tranh luận, nghệ thuật hùng biện để bảo vệ những luận
điểm triết học của mình và để tìm ra chân lí Kết quả của quá trình nghiên cứu này, nhiều nhà triết học đã nhận thức đợc và phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng nh mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tợng, sự vận động vĩnh viễn của vật chất; tính thống nhất của những mặt đối lập của sự vật, tính nhân quả của sự phát sinh, phát triển và diệt vong của sự vật Những yếu tố biện chứng đó là những phỏng đoán thiên tài về những nguyên lí và qui luật của
phép biện chứng mà Mác, Ăng-ghen gọi là phép biện chứng tự phát, ngây thơ.
Nó cha đợc chứng minh một cách khoa học và cũng cha đợc nghiên cứu một cách tự giác, có ý đồ, có mục đích từ đầu Đó là hình thức đầu tiên, hình thức
cổ đại của phép biện chứng
4 Các đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại
- Trong triết học Hy Lạp cổ đại luôn luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa các trờng phái triết học nh cuộc đấu tranh giữa trờng phái duy vật và trờng phái duy tâm, cuộc đấu tranh giữa quan điểm biện chứng và quan điểm siêu hình Đại diện cho triết học duy vật có Talet, Anaximăngđrơ, Anaximen, Hêraclit, Đêmôcrit, Êpiquya, Arixtôt…còn đại diện cho triết học duy tâm là Pitago, Xôcrat, Platon Đây là cuộc đấu tranh không khoan nhợng giữa các nhà triết học nhằm bảo vệ luận điểm của mình về nguồn gốc thế giới và về khả năng nhận thức của con ngời Chính ví thế mà khi phê phán chủ nghĩa duy tâm nhà triết học duy vật Arixtôt đã có một câu nói rất nổi tiêng đó là: “Tôi rất yêu thày giáo tôi nhng cái mà tôi yêu nhất là chân lí”, chính vì thế mà ông đã bác
bỏ nhiều quan điểm, nhiều học thuyết duy tâm của Platôn – ngời thày mà
ông rất yêu quí Cuộc đấu tranh giữa hai quan điểm biện chứng và siêu hình cũng diễn ra rất gay gắt Đây cũng chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy triết học Hy Lạp cổ đại phát triển
- Các hệ thống triết học Hy Lạp cổ đại đều tập trung giải quyết những vấn đề cơ bản về bản thể luận và nhận thức luận đặc biệt là vấn đề về bản nguyên thế giới Các học thuyết triết học đều cố gắng đa ra một giải thích về nguồn gốc của thế giới khách quan
- Các t tởng duy vật, duy tâm; các quan điểm biện chứng và siêu hình tồn tại đan xen với nhau Đây là nét nổi bật của triết học Hy Lạp, nguyên nhân chủ yếu là do khoa học tự nhiên cha phát triển nên hạn chế tầm nhìn của các nhà triết học và các quan điểm học duy vật và biện chứng đều rơi vào tình trạng bế tắc khi chứng minh các luận điểm của mình Tuy nhiên nhìn chung triết học Hy Lạp cổ đại đều đề cao vai trò của con ngời và khẳng định con
ng-ời là tinh hoa cao quí nhất của nhân loại
- T tởng triết học Hy Lạp cổ đại đều dừng lại ở trình độ trực quan chất phác đặc biệt là t tởng triêts học biện chứng và duy vật Do đó khi giải quyết
Trang 9vấn đề cơ sở đầu tiên của thế giới thì các nhà triết học duy vật đều đa về một dạng vật chất cụ thể nh: đất, nớc, lửa, không khí,…Sau này ở mức độ trừu t-ợng, khái quát hơn thì cho rằng đó là nguyên tử song vẫn không giải quyết triệt để đợc
- T tởng triết học Hy Lạp cổ đại bao gồm nhiều trờng phái ra đời cùng một lúc và chịu ảnh hởng mạnh mẽ của triết học phơng Đông cổ đại Do đó tạo nên sự phong phú, đa dạng, muôn màu muôn vẻ trong triết học Hy Lạp cổ
đại
Kết luận
Triết học Hy Lạp cổ đại cũng giống nh triết học cổ đại của các nớc
ph-ơng Đông, đã ra đời trong chế độ chiếm hữu nô lệ, khi xuất hiện sự phân công lao động mới giữa lao động trí óc và lao động chân tay Với hệ thống triết học
đa dạng, với các nhà triết học đã đạt tới đỉnh cao trí tuệ của loài ngời thời cổ
đại, Hy Lạp đã trở thành cái nôi của triết học châu Âu
Nền văn hoá Hy Lạp cổ đại nói chung cũng nh triết học Hy Lạp cổ đại nói riêng đã đợc lịch sử t tởng loài ngời coi là đỉnh cao rực rỡ của nền văn minh thế giới cổ đại Những thành tựu nói trên của triết học Hy Lạp cỏ đại đã
đợc ghi vào lịch sử t tởng của loài ngời với những dòng vàng chói lọi Đó lá kết quả tất yếu của quá trình phát triển trong lịch sử Mác đã viết: “Không có cơ sở văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có châu Âu hiện đại đ-ợc”