Ngô là cây lương thực quan trọng trên toàn thế giới bên cạnh lúa mì và lúa gạo. Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lương thực chính cho người với phương thức rất đa dạng theo vùng địa lí và tập quán từng nơi. Ở Việt Nam, ngô là cây thức ăn chăn nuôi quan trọng nhất hiện nay: 70% chất tinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là từ ngô; ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lí tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa.Gần đây cây ngô còn là cây thực phẩm; người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp vì nó sạch và có hàm lượng dinh dưỡng cao; ngô nếp, ngô đường (ngô ngọt) được dùng làm quả ăn tươi (luộc, nướng) hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu. Ngô còn là nguyên liệu của ngành công nghiệp lương thực - thực phẩm và công nghiệp nhẹ để sản xuất rượu, cồn, tinh bột, dầu, glucôzơ, bánh kẹo… Trong y dược ngô được dùng để trị áp huyết, râu ngô được dùng để làm thuốc. Việt Nam nằm trong vùng sinh thái nhiệt đới thấp; cây ngô đã được đưa vào sản xuất cách đây 300 năm. Những năm gần đây, nhờ có các chính sách khuyến khích của Nhà nước và nhiều tiến bộ kĩ thuật, đặc biệt là về giống, cây ngô đã có những những tăng trưởng đáng kể về diện tích, năng suất và sản lượng, đồng thời đã hình thành 8 vùng trồng ngô chính trong cả nước. + Vùng thứ nhất: vùng miền núi phía Bắc bao gồm các tỉnh biên giới phía Bắc và Đông Bắc như: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang và Phú Thọ. + Vùng 2: vùng miền núi Tây Bắc bao gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình + Vùng 3: Đồng bằng sông Hồng bao gồm các tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Tây, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, thành phố Hà Nội và thành phố Hải Phòng. + Vùng 4: vùng miền Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế + Vùng 5: vùng cao nguyên Trung Bộ bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Daklak và Lâm Đồng + Vùng 6: vùng duyên hải miền Trung bao gồm các tỉnh: Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định + Vùng 7: vùng Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh; Đồng Nai, Sông Bé, Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 1KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC NGÔ
I LỜI GIỚI THIỆU
Ngô là cây lương thực quan trọng trên toàn thế giới bên cạnh lúa mì và lúagạo Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làmlương thực chính cho người với phương thức rất đa dạng theo vùng địa lí và tậpquán từng nơi
Ở Việt Nam, ngô là cây thức ăn chăn nuôi quan trọng nhất hiện nay: 70% chấttinh trong thức ăn tổng hợp của gia súc là từ ngô; ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua
lí tưởng cho đại gia súc đặc biệt là bò sữa.Gần đây cây ngô còn là cây thực phẩm;người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp vì nó sạch và có hàm lượng dinhdưỡng cao; ngô nếp, ngô đường (ngô ngọt) được dùng làm quả ăn tươi (luộc,nướng) hoặc đóng hộp làm thực phẩm xuất khẩu Ngô còn là nguyên liệu củangành công nghiệp lương thực - thực phẩm và công nghiệp nhẹ để sản xuất rượu,cồn, tinh bột, dầu, glucôzơ, bánh kẹo… Trong y dược ngô được dùng để trị áphuyết, râu ngô được dùng để làm thuốc
Việt Nam nằm trong vùng sinh thái nhiệt đới thấp; cây ngô đã được đưa vàosản xuất cách đây 300 năm Những năm gần đây, nhờ có các chính sách khuyếnkhích của Nhà nước và nhiều tiến bộ kĩ thuật, đặc biệt là về giống, cây ngô đã cónhững những tăng trưởng đáng kể về diện tích, năng suất và sản lượng, đồng thời
đã hình thành 8 vùng trồng ngô chính trong cả nước
+ Vùng thứ nhất: vùng miền núi phía Bắc bao gồm các tỉnh biên giới phía Bắc
và Đông Bắc như: Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, LạngSơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang và Phú Thọ
+ Vùng 2: vùng miền núi Tây Bắc bao gồm các tỉnh Lai Châu, Sơn La và HoàBình
+ Vùng 3: Đồng bằng sông Hồng bao gồm các tỉnh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, HàTây, Hưng Yên, Hải Dương, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình, thành phố
Hà Nội và thành phố Hải Phòng
+ Vùng 4: vùng miền Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An,
Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế
+ Vùng 5: vùng cao nguyên Trung Bộ bao gồm các tỉnh Gia Lai, Kon Tum,Daklak và Lâm Đồng
+ Vùng 6: vùng duyên hải miền Trung bao gồm các tỉnh: Quảng Nam, ĐàNẵng, Bình Định
+ Vùng 7: vùng Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh; Đồng Nai, Sông Bé, TâyNinh và thành phố Hồ Chí Minh
+ Vùng 8: đồng bằng sông Cửu Long gồm các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 2Hiện nay, diện tích trồng ngô ở Việt Nam chiếm vị trí thứ hai chỉ sau cây lúanước Cây ngô có vị trí rất quan trọng trong cơ cấu cây lương thực ở các tỉnh trung
du miền núi, do ở đây nhiều dân tộc đã sử dụng ngô như một loại lương thực chính
Ở đồng bằng, ngô trồng nhiều trên các vùng đất bãi ven sông và chiếm tỷ trọng lớntrong cơ cấu cây trồng vụ đông trên đất hai vụ lúa của đồng bằng Bắc Bộ
II ĐẶC TÍNH THỰC VẬT HỌC
Ngô (tên khoa học: Zea mays L), thuộc họ hoà thảo Poacea và tộc Tripsaceae,
không giống những hoa hoàn chỉnh của hầu hết những loài hoà thảo, ngô có hoađực và hoa cái tách biệt trên cùng một cây Hoa đực ở đỉnh ngọn thường gọi là cờngô và hoa cái sinh ra ở bên trong những mầm phụ được gọi là bắp Cấu tạo đóđược coi là hoa đơn tính cùng gốc (hay đơn tính đồng chu)
1 Đặc điểm hình thái, cấu tạo các cơ quan sinh dưỡng và sinh sản của ngô
+ Rễ đốt: phát triển từ những đốt thấp nhất nằm dưới mặt đất 3 - 4 cm Rễđốt xuất hiện khi ngô được 3 - 4lá, sau đó phát triển rất nhanh và dần dần chiếm
ưu thế Đây là loại rễ làm nhiệm vụ cung cấp nước và thức ăn trong suốt đờisống của cây ngô
+ Rễ chân kiềng (rễ neo - rễ chống): là loại rễ đốt được mọc ở đốt gần sát trênmặt đất (thường mọc ở 2 hay 3 đốt cuối), rễ chân kiềng ngoài nhiệm vụ chống đổcho cây chúng còn hút nước và chất dinh dưỡng
1.2 Thân ngô:
+ Ngô thuộc họ hoà thảo song có thân khá chắc, có đường kính từ 2 - 4cm tuỳthuộc vào giống, điều kiện sinh thái và chăm sóc Thân ngô trưởng thành bao gồmnhiều lóng (dóng) nằm giữa các đốt và kết thúc bằng bông cờ Số lóng và chiều dàilóng là chỉ tiêu quan trọng trong việc phân loại các giống ngô, lóng mang bắp đượckéo dài thích hợp để bắp ngô có thể định vị và phát triển và có 1 rãnh dọc cho phép
sự bám và phát triển bình thường của bắp
Trang 3+ Trong điều kiện bình thường cây ngô cao 1,8 - 2,0 m có số lóng thay đổi tuỳthuộc vào giống:
- Giống ngô ngắn ngày, cây cao 1,2 - 1,5 m có 14 - 15 lóng
- Giống ngô trung ngày, cây cao 1,8 - 2,0 m có 18 - 22 lóng
- Giống ngô dài ngày, cây cao 2,0 - 2,5 m có 20 - 22 lóng
Chiều dài của các lóng trên thân không đều nhau Ở gần gốc lóng ngắn, lêncao lóng to và dài dần, phát triển nhât là những lóng mang bắp Các lóng về phíangọn lại ngắn và bé dần
Các bộ phận của lá gồm: bẹ lá, phiến lá, thìa lìa (hay tai lá)
+ Bẹ lá: bẹ lá hay cuống lá bao chặt vào thân, trên mặt bẹ lá có nhiều lông Bẹ
lá làm thân cứng thêm, khi còn non do các bẹ lá lồng gối vào nhau tạo thành thângiả bao phủ kín thân chính; khi vươn lóng từ 9 lá về sau lóng dài ra và to dần, bẹ lákhông có khả năng phủ kín thân để lộ thân chính Bẹ lá có tác dụng bảo vệ thân nonđồng thời bảo vệ mầm hoa cái ở những đốt mang bắp
+ Phiến lá (hay bản lá): thường rộng, dài, mép lá lượn sóng, ở một số giống lá
có nhiều lông tơ Lá ngô có gân song song Từ gốc thân lá có chiều dài tăng dần đạtchiều dài nhất ở lá mang bắp trên cùng, sau đó chiều dài của lá ngô giảm dần
Những lá ở giữa thân là những lá phát triển nhất, có tác dụng lớn trong việcvận chuyển chất dinh dưỡng vào bắp Diện tích lá tăng dần qua từng thời kỳ, đạt tối
đa vào khoảng từ trỗ cờ đến khi hạt ngậm sữa.Sau một thời gian do lá ở phần dướichết nên diện tích lá giảm xuống
+ Thìa lìa: được coi là sự phát triển tiếp tục của phiến lá, thìa lìe hẹp, mép bị
phân chia, mầu tối sẫm Mày của thìa lìa ép sát vào thân cây Cả thìa lìa và màybám khít vào thân làm cho nước từ phiến lá không vào thân ngô Thìa lìa còn có tácdụng làm cho phiến lá toả rộng ra ngoài thân tạo ra góc lớn giữa thân và phiến lá
Số lá, độ lớn của lá phụ thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và kỹ thuật canhtác trong đó giống và khí hậu gây sự biến động lớn nhất:
Trang 4- Giống ngô ngắn ngày thường có 15 - 16 lá
- Giống ngô trung bình thường có khoảng 18 - 20 lá
- Giống ngô dài ngày thường có trên 20 lá
1.4 Hoa ngô:
1.4.1 Hoa đực
a Cấu tạo hoa đực:
Hoa tự đực (bông cờ) bao gồm các hoa đực sắp xếp theo kiểu chùm bôngđược gọi là bông cờ: gồm 1 trục chính, trên trục chính phân làm nhiều nhánh vàtrên mỗi nhánh và cả trên trục chính có nhiều gié (hay bông nhỏ, bông chét, nhánhnhỏ) Các gié mọc đối diện nhau trên trục chính hay trên các nhánh, mỗi gié có 2chùm hoa (1 chùm cuống dài và 1 chùm cuống ngắn), mỗi chùm có 2 hoa
Mỗi bông cờ có từ 700 - 1.400 hoa, số hoa trên một bông cờ nhiều ít phụthuộc vào giống và điều kiện ngoại cảnh Ở nước ta trong điều kiện canh tác bìnhthường giống ngắn ngày có 500 - 700 hoa, giống trung ngày có khoảng 700 - 1.000hoa, giống dài ngày có trên 1.000 hoa
b Quá trình nở hoa tung phấn
+ Trên một bông cờ, hoa thường nở theo thứ tự từ trên xuống dưới, từ ngoàivào trong, những hoa đầu trục chính và nhánh nở trước
+ Thời gian phơi màu của 1 bông cờ trong mùa hè khoảng 5-6 ngày, mùađông khoảng 12 - 15 ngày (nhiệt độ cao thời gian phơi màu rút ngắn) Trong thờigian phơi màu hoa thường nở tập trung vào ngày thứ 3, thứ 4, thứ 5 sau khi bắt đầutung phấn (trong vụ thu, vụ đông thời gian này kéo dài hơn)
+ Trong 1 ngày tuỳ thuộc thời tiết, hoa nở rộ sớm hay muộn khác nhau, mùa
hè hoa bắt đầu nở vào 6 -7 giờ, nở rộ lúc 7 - 10 giờ (vụ đông và vụ đông xuân thờigian bắt đầu nở và nở rộ muộn hơn, thậm chí chuyển sang buổi chiều)
Hạt phấn rất nhậy cảm với nhiệt độ và độ ẩm, thích hợp nhất cho phấn ngô làtrời mát mẻ, nhiệt độ không khí khoảng 18 - 220C, trời lặng gió, độ ẩm không khíkhoảng 80%
- Nhiệt độ cao thời gian tung phấn rút ngắn, nếu t0 > 350C, độ ẩm không khíthấp dưới 50%, hạt phấn ngô dễ dàng bị chết
- Gặp mưa hoặc độ ẩm không khí quá cao, hạt phấn dễ bị bết lại và cũng dễ chết
1.4.2 Hoa cái
a Cấu tạo hoa cái:
Hoa tự cái (hay bắp ngô) được sinh ra từ nách lá phần giữa thân Bắp ngô gồmcác bộ phận chính như cuống bắp và lõi bắp:
+ Cuống bắp: gồm nhiều đốt rất ngắn (có trường hợp cuống dài), mỗi đốt trêncuống có 1 lá bi bao bọc nhằm bảo vệ bắp, lá bi thường không có phiến
Trang 5+ Lõi bắp - trục chính của hoa tự cái, hoa cái cũng mọc thành từng đôi (chùmhoa), mỗi chùm có 2 hoa nhưng hoa thứ hai thoái hoá nên chỉ 1 hoa tạo thành hạt.Đặc điểm của đôi chùm hoa là mỗi chùm hoa chỉ tạo thành 1 hạt, 1 đôi chùm hoacho hai hạt nên số hàng hạt trên bắp ngô thường là 1 số chẵn (số hàng hạt, số hạtnhiều hay ít trên bắp ngô tuỳ giống, điều kiện ngoại cảnh, trung bình 1 bắp có từ
12 - 16 hàng, thấp nhất là 10 - 12 hàng, cao nhất là 18 - 20 hàng)
b Bắp phun râu:
Thời gian bắp phun râu sau cờ tung phấn từ 3 - 5 ngày hoặc 1 - 2 tuần tuỳ theogiống và điều kiện ngoại cảnh Trong điều kiện nhiệt độ thấp sự phun râu chậm vàkéo dài; nhiệt dộ cao, đủ ẩm phun râu nhanh và tập trung Ở miền Bắc nước ta ngô
hè thu phun râu 5 - 8 ngày, ngô đông phun râu 10 - 15ngày
Trên một cây, bắp trên phun râu trước, bắp dưới phun râu sau, cách nhaukhoảng 2-3 ngày Trong 1 bắp các hoa cái phun râu từ dưới lên trên
c Vị trí đóng bắp và số bắp
+ Đối với giống ngô 14 - 15 lá, bắp thường đóng ở đốt thứ 7 - 8, vị trí khoảng
từ 35 - 45% chiều cao cây
+ Đối với giống có 18 - 22 lá, bắp thường đóng ở đốt thứ 10 - 14, vị trí khoảng
45 - 60% chiều cao cây
Bắp đóng cao quá làm cây dễ đổ, còn thấp quá gây khó khăn cho quá trìnhthụ phấn Ngoài ảnh hưởng của giống, chiều cao đóng bắp còn chịu ảnh hưởng củađiều kiện khí hậu Trong điều kiện nhiệt độ cao, dinh dưỡng đầy đủ, cây sinhtrưởng tốt, bắp thường đóng cao hơn bình thường
Bắp ngô phát sinh từ mầm nách lá trên thân, số mầm nách nhiều nhưng chỉ có
từ 1 - 3 mầm nách trên cùng phát triển thành bắp Tỷ lệ cây 2 - 3 bắp phụ thuộcnhiều vào giống, vùng sinh thai, mật độ và phân bón
1.4.3 Đặc điểm quá trình thụ phấn, thụ tinh
a Quá trình thụ phấn, thụ tinh
+ Ngô là loại cây có hoa đơn tính cùng gốc, đây là điểm khác biệt của ngô vớicác cây trong họ hoà thảo (như lúa nước, lúa mì, kê…) là những cây tự thụ Ngô làcây giao phấn điển hình, sự giao phấn này được thực hiện chủ yếu nhờ gió và côntrùng
+ Sau khi thụ phấn, hạt phấn rơi trên râu ngô 5 - 6 giờ thì bắt đầu nảy mầm,ống phấn mọc dài và đi dọc theo chiều dài của râu ngô đến tận túi phôi, tế bào phátsinh trong hạt phấn phân chia nguyên nhiễm sinh ra 2 tinh trùng di chuyển ra phíađầu ống phấn, khi noãn đầu ống phấn vỡ ra, phóng 2 tinh trùng vào trong noãn Ởđây quá trình thụ tinh diễn ra:
Trang 6- Một tinh trùng đơn bội sẽ kết hợp với noãn cầu đơn bội thành hợp tử lưỡngbội (2n)
- Tinh trùng đơn bội thứ 2 kết hợp với nhân thứ cấp lưỡng bội thành tế bàotam bội (3n) là tế bào khởi đầu của phôi nhũ
Toàn bộ quá trình thụ tinh từ khi hạt phấn nảy mầm đến khi thụ tinh xongkhoảng 24 giờ
+ Lớp alơron nằm sau tầng vỏ bao bọc lấy phôi nhũ và phôi
+ Phôi nhũ là bộ phận chính của hạt chủ yếu chứa tinh bột và các chất có giátrị dinh dưỡng cao
+ Phôi gồm có ngù (phần ngăn cách giữa phôi nhũ và phôi), phần chính củaphôi gồm: lá mầm, trụ dưới lá mầm, rễ mầm và chôi mầm Phôi ngô lớn chiếmkhoảng 8 - 15% trong lượng hạt, bao quanh phôi còn có lớp tế bào xốp giúp choviệc vận chuyển hơi nước từ ngoài vào trong hạt (và ngược lại) được nhanh chóng.Ngô là loại hạt kép có nhiều tinh bột, phôi nhũ chứa 70 - 78% trọng lượng hạtvới giá trị dinh dưỡng khá cao so với gạo
2 Phân loại ngô
Từ loài Zea mays L, dựa vào cấu trúc nội nhũ của hạt được phân thành các
loài phụ Những loài phụ chính bao gồm:
Trang 7+ Ngô đá: (Zea mays L subsp indurata Sturt) có dạng hạt khá tròn, đỉnh hạt
tròn và nhẵn, màu hạt rất đa dạng: màu hạt vàng, trắng, xanh, đỏ, tía… phần lớn làvàng và trắng Ngô đá có tỷ lệ nội nhũ sừng cao, có chất lượng dinh dưỡng tốt
+ Ngô răng ngựa: (Zea mays L subsp indentata Sturt) có dạng hạt khá dài,
dẹt, đỉnh hạt lõm, nhăn tạo thành hình răng ngựa, hạt có nhiều màu khác nhau:vàng, trắng, tím Ngô răng ngựa có tiềm năng năng suất cao, hạt có tỷ lệ nội nhũbột cao, chủ yếu dùng làm thức ăn chăn nuôi
+ Ngô nếp: (Zea mays L subsp ceratina Kalesh) có dạng hạt tròn và nhẵn, có
màu hạt vàng, trắng đục hoặc tím Ngô nếp có tính dẻo và thơm, sử dụng chính ởdạng luộc, nướng…., tiềm năng năng suất thấp
+ Ngô đường: (Zea mays L subsp saccharata Sturt) có dạng hạt dẹt, nhăn,
đỉnh hạt lõm, màu hạt đa dạng từ trắng đến tím Ngô đường chỉ sử dụng ăn tươidưới dạng luộc hoặc đóng hộp cho nấu súp hoặc chao dầu
+ Ngô nổ: (Zea mays L subsp everta Sturt) có hạt nhỏ, tròn hoặc nhọn đầu, có
màu hạt trắng, vàng, tím, tím đỏ Ngô nổ có năng suất rất thấp song có chất lượngdinh dưỡng cao, thường dùng để rang, làm bỏng hoặc làm bột dinh dưỡng
+ Ngô bột: (Zea mays L subsp amylacea Sturt) có hạt to, dẹt, màu trắng đục,
vàng nhạt, được gieo trồng ở vùng nhiệt đới cao Trung Mỹ, hiện tại ở Việt Namkhông có ngô bột
+ Ngô bọc: (Zea mays L subsp tunecata Sturt) có hạt được bọc bởi mày phát
triển như lá bi, không có ý nghĩa về kinh tế, chỉ có ý nghĩa về mặt tiến hoá và ditruyền
3 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây ngô
Thời gian sinh trưởng của cây ngô từ khi gieo đến khi chín trung bình từ 90
-160 ngày (thời gian sinh trưởng dài, ngắn khác nhau phụ thuộc vào giống và điềukiện ngoại cảnh)
Cây ngô trong cả đời sống qua các giai đoạn sinh trưởng khác nhau, mỗi giaiđoạn có những đặc điểm và yêu cầu ngoại cảnh khác nhau Chia thành 5 giai đoạnnhư sau:
* Giai đoạn nảy mầm (từ trồng đến 3 lá):
+ Giai đoạn này có đặc điểm là phụ thuộc vào lượng các chất dự trữ trong hạt.Trước khi nảy mầm hạt hút nước và trương lên do vậy nước luôn có sẵn cho hạthấp thu Ở giai đoạn này bên trong hạt quá trình oxy hoá các chất dự trữ diễn ramạnh qua quá trình sinh hoá phức tạp, những chất hữu cơ phức tạp sẽ chuyển thànhcác chất đơn giản dễ hoà tan (xảy ra nhờ hoạt động của các loại men với điều kiện
có đủ ẩm, nhiệt độ và thoáng khí)
+ Sau quá trình hút nước là sự nẩy mầm và sinh trưởng cây con
Trang 8Yêu cầu ngoại cảnh ở giai đoạn này là nước, nhiệt độ và không khí:
- Nước: lượng nước cần thiết cho hạt ngô nảy mầm khoảng 45% trọng lượngkhô tuyệt đối của hạt Để đảm bảo đủ nước cho hạt nảy mầm, độ ẩm đất thích hợptrong khoảng 60-70% độ ẩm tương đối
- Nhiệt độ: ngô nẩy mầm thích hợp ở nhiệt độ: 25 - 300C, tối thấp 10-120C, tốicao từ 40-450C
- Không khí: lúc hạt nảy mầm tiếp tục cho đến khi ngô được 3 lá, hạt ngô hôhấp mạnh nên đất gieo hạt cần phải thoáng
* Giai đoạn cây con (từ lúc ngô 3 lá đến phân hoá hoa):
Bắt đầu từ khi ngô đạt 3 - 4 lá đến 7 - 9 lá (vào khoảng 10 - 40 ngày sau khigieo đối với giống ngô 4 tháng) Giai đoạn này cây chuyển từ trạng thái sống nhờchất dự trữ trong hạt sang trạng thái hút chất dinh dưỡng của đất và quang hợp của
bộ lá Tuy nhiên giai đoạn này thân lá trên mặt đất phát triển chậm, lóng thân bắtđầu được phân hoá, các lớp rễ đốt bắt đầu được hình thành và phát triển mạnh hơnthân lá Bông cờ bắt đầu phân hoá Đây là giai đoạn làm đốt, hình thành các lớp rễđốt và bắt đầu hình thành cơ quan sinh sản đực
Điều kiện ngoại cảnh thích hợp cho giai đoạn này:
- Nhiệt độ: thích hợp là 200 - 300C (tối thích 25 - 280C) Giai đoạn này câychịu rét khoẻ hơn, vì thế tác hại của nhiệt độ thấp giảm hơn giai đoạn trước Nhiệt
độ cao ở giai đoạn này cây sinh trưởng nhanh, cây yếu; nhiệt độ giảm rễ ăn nông, ít
rễ con, cây còi cọc, quá trình phân hoá đốt bị ảnh hưởng
- Độ ẩm đất: đây là giai đoạn cây ngô có khả năng chịu hạn tốt hơn trong suốtchu kỳ sinh trưởng Độ ẩm thích hợp khoảng 60 - 65%
- Đất đai và chất dinh dưỡng: Yêu cầu đất tơi xốp và thông thoáng, đảm bảocung cấp đủ oxy cho rễ phát triển
* Giai đoạn vươn cao và phân hoá cơ quan sinh sản
- Giai đoạn này cây ngô sinh trưởng thân lá nhanh, bộ rễ phát triển mạnh ănsâu, toả rộng
- Cơ quan sinh sản bao gồm bông cờ và bắp phân hoá mạnh (từ bước 4 -8 củabông cờ, bước 1-6 của bắp) Giai đoạn này kết thúc khi nhị cái xuất hiện Đây làgiai đoạn quyết định số hoa đực và hoa cái và có mối liên hệ chặt chẽ đến năngsuất
Điều kiện tốt trong giai đoạn này: đầy đủ chất dinh dưỡng, nước tưới, độ ẩm70-75%, nhiệt độ thích hợp khoảng 24-250C, nhiệt độ cao hay thấp đều ảnh hưởngxấu đến quá trình sinh trưởng và phân hoá cơ quan sinh sản
Trang 9* Thời kỳ nở hoa (trỗ cờ, tung phấn, phun râu, thụ tinh)
Giai đoạn này diễn ra trong khoảng thời gian không dài, trung bình 10-15ngày, tuy nhiên đây là giai đoạn quyết định năng suất Cuối giai đoạn này cây ngôgần như ngừng phát triển thân lá, nhưng vẫn tiếp tục hút các chất dinh dưỡng từđất Các chất dinh dưỡng và các chất hữu cơ bắt đầu tập trung mạnh vào các bộphận sinh sản Trong điều kiện tốt đặc biệt là thời tiết thuận lợi quá trình thụ tinhtiến hành tốt bắp mới cho nhiều hạt
Yêu cầu ngoại cảnh trong giai đoạn này rất khắt khe: nhiệt độ thích hợp củacây ngô khoảng 22 -250C Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến quá trình tung phấn, phunrâu, thụ tinh Nhiệt độ trên 350C hạt phấn dễ bị chết Ở giai đoạn này cây ngô cầnnhiều nước, độ ẩm 75-80% độ ẩm tối đa đồng ruộng, trời lặng, gió nhẹ, ít mưa,nắng nhẹ (mưa to làm hạt phấn bị trôi)
* Thời kỳ chín (bao gồm từ thụ tinh đến chín)
Giai đoạn này kéo dài 35-40 ngày từ khi thụ phấn thụ tinh Chất dinh dưỡng từthân lá tập trung mạnh về hạt và trải qua những quá trình biến đổi sinh lý phức tạp,trọng lượng hạt tăng nhanh, phôi phát triển hoàn toàn, trong giai đoạn chín dựa vàomàu sắc và cấu tạo nên trong của hạt người ta chia làm 3 giai đoạn:
+ Giai đoạn chín sữa
+ Giai đoạn chín sáp
+ Giai đoạn chín hoàn toàn
Yêu cầu độ ẩm trong thời kỳ này khoảng 60-70% độ ẩm tối đa đồng ruộng,nhiệt độ trong khoảng 20-220C
Trang 10III VAI TRÒ CỦA CÁC CHẤT DINH DƯỠNG CHÍNH
1 Vai trò của các nguyên tố đa lượng
1.1 Vai trò của đạm
+ Đạm đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống cây ngô Đạm xúc tiến mạnhphát triển rễ, thân, lá, chất khô, tạo khả năng quang hợp tối đa và tích luỹ nhiều vàohạt Bón phân đạm làm cho cây ngô sinh trưởng phát triển mạnh, lá xanh, cây mập,
có nhiều bắp, bắp to, nhiều hạt, tạo ra năng suất sinh học và hạt cao
+ Đạm còn làm tăng tỷ lệ protit trong hạt, tăng giá trị dinh dưỡng của hạt ngôCây ngô hút đạm trong suốt quá trình sống, nhưng tập trung nhiều nhất vàogiai đoạn ngô con gái đến sau khi đậu hạt Giai đoạn này cây ngô hút 86% tổnglượng đạm cần thiết để tạo thân, lá, phát triển bộ rễ, các bộ phân của bông cờ vàbắp ngô Thời gian đầu (25 ngày sau trồng) và giai đoạn cuối (25 ngày sau thâmrâu) ngô hút đạm ít hơn khoảng 14%
* Khi bị thiếu đạm cây ngô có các biểu hiện sau:
- Ở thời kỳ cây con: ngô chậm lớn, lá có màu xanh hơi vàng
- Ở thời kỳ phát triển mạnh: các lá chân vàng đi ở chóp lá và lan dần dọc theogân lá chính Hiện tượng này chuyển dần lên các lá trên, các lá chân chết sớm, câysinh trưởng phát triển chậm, còi cọc
- Ở giai đoạn làm hạt: bắp nhỏ, hạt nhỏ, hạt đầu bắp lép
* Khi cây ngô thừa đạm:
- Kéo dài thời gian sinh trưởng
- Cây vươn cao, lá xanh thẫm song khả năng chống chịu kém
- Chín sinh lý, đủ tiêu chuẩn thu hoạch nhưng lá bi và râu ngô vẫn xanh
1.2 Vai trò của lân
Lân có tác dụng xúc tiến hệ rễ phát triển mạnh, ảnh hưởng tốt đến quá trìnhtạo các cơ quan sinh trưởng, tăng khả năng chống chịu với nhiệt độ thấp và hạn,đồng thời tạo khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt hơn cho cây ngô Lân còn cóảnh hưởng tốt đến bông cờ, hoa, bắp, làm tăng chất lượng hạt và sức sống của hạt,thúc đẩy nhanh quá trình chín
Cũng như đạm, cây ngô hút lân trong suốt quá trình sống nhưng tập trungchính vào giai đoạn từ thời kỳ con gái đến thâm râu (hút đến 88% tổng lượng lân).Các giai đoạn còn lại chỉ còn hút 12%
* Cây ngô thiếu lân biểu hiện khá rõ, đặc biệt ở thời kỳ cây con, cản trở việchình thành các sắc tố nên làm các lá già và thân có màu đỏ tím (huyết dụ), nhất làcác lá non, cây mọc yếu, hệ thống rễ phát triển kém, phân bố hẹp và nông Ở các
Trang 11giai đoạn sau thể hiện: bông cờ bé, ít hoa, bắp ngô nhỏ, méo mó, hạt nhỏ, nhiều hạtlép, chín muộn.
1.3 Vai trò của kali
Kali có vai trò trong duy trì các chức năng sinh lý, thúc đẩy quá trình hút cácchất dinh dưỡng khác, sinh trưởng phát triển, quang hợp, vận chuyển tích luỹ chấtkhô vào hạt của cây ngô Đồng thời có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng nước,kìm hãm sự thoát hơi nước, tăng khả năng chống chịu sương giá, nhiệt độ thấp vàsâu bệnh hại, làm bộ rễ phát triển mạnh và ăn sâu xuống đất
Cây ngô hút kali chủ yếu vào các giai đoạn đầu đến trỗ cờ, phun râu Thời kỳcây con (25 ngày đầu) cây ngô hút 9% kali, thời kỳ con gái 44%, phun râu 31%, tạohạt 14% và chín 2%
* Khi thiếu kali:
- Bộ rễ của cây ngô kém phát triển và phát triển theo chiều ngang, cây dễ đổ
và kém chịu hạn
- Chóp và mép lá có màu vàng nâu lan dần vào gân lá và các lá trên, các ládưới bị cháy khô
- Khi bổ dọc thân cây, bên trong các đốt có màu nâu đậm, đốt thân cây ngắn
- Thiếu kali ít ảnh hưởng đến kích thước bắp ngô song hạt nhỏ, lép ở đầu bắphoặc đầu bắp không có hạt, hạt dễ bong khỏi lõi
* Thừa kali gây hiện tượng thiếu Ca và cản trở việc hấp thụ Mg, B, Zn và cảđạm amôn ở cây
2 Vai trò của các nguyên tố trung và vi lượng
+ Canxi: canxi tăng cường sự vững chắc của màng tế bào, tạo lập lông hút của
rễ và sự lưu thông tinh bột Canxi còn đóng vai trò trong trao đổi chất hydratcacbon và protit Canxi là nguyên tố đối kháng với sắt, hạn chế tính độc của sắt dưthừa, ổn định quá trình dinh dưỡng cây ngô
+ Magiê: magiê tham gia vào thành phần diệp lục và một số coenzym Magiê
có vai trò trong quá trình hoá khử của cây cũng như quá trình đồng hoá và vậnchuyển photpho Thiếu magie có thể thấy trên đất chua, đất xói mòn rửa trôi mạnhvới biểu hiện là xuất hiện ở những lá dưới các sọc trắng dọc theo gân lá và mép lá
có màu đỏ tím
+ Lưu huỳnh: lưu huỳnh tham gia vào một số chất protit và một số phức hợp
este Lưu huỳnh tham gia vào quá trình oxi hoá khử, là một nguyên tố kích hoạt sựhình thành diệp lục
+ Sắt: sắt có vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất Sắt tham gia vào
việc tạo lập diệp lục và quá trình oxy hoá khử Trong điều kiện đất thiếu canxi, lân
và kali, sắt tác động bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô Trong
Trang 12trường hợp này, một lượng lớn sắt tích tụ ở các đốt thân, cản trở việc vận chuyểncác chất dinh dưỡng khác.
+ Kẽm: thiếu kẽm ở đất có vôi, đất có kết cấu kém, nghèo chất hữu cơ và đất
giàu lân dễ tiêu, cây ngô thiếu Zn xuất hiện các sọc màu vàng úa song song với gâncác lá non, lóng ngắn và cây kém phát triển
+ Molipden: Việc thiếu molipden được xem là nguyên nhân của hiện tượng
sinh trưởng không đều, cháy lá và chết cây con ở cây ngô
+ Bo: Thiếu B thường thấy trong điều kiện trồng dày và cây ngô được bón
phân đầy đủ nhưng vẫn thấy cằn cỗi hay hạt lép