1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giao trinh TTHCM 2018

119 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là bước tiến mới trong nhận thức của Đảng về khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh với những nội dung, nguồn gốc lý luận và giá trị được xác định cụ thể.Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần t

Trang 1

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM, BẢN CHẤT VÀ GIÁ TRỊ

CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

A MỤC TIÊU

+ Kiến thức: Giúp cho người học nắm chắc khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh theo

quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; hiểu rõ cơ sở hình thành, những đặc điểm cơbản, bản chất và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh

+ Kỹ năng: Giúp cho người học nắm được phương pháp khoa học nhận thức giá tư

tưởng Hồ Chí Minh trên phương diện giá trị văn hóa nói chung

+ Tư tưởng: Giúp cho người học nhận thức khoa học giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh

đối với cách mạng Việt Nam, từ đó xây dựng quan điểm đúng đắn trong việc duy trì, pháthuy tư tưởng Hồ Chí Minh và tự hoàn thiện bản thân đồng thời góp phần đấu tranh vớinhững quan điểm sai trái, xuyên tạc đối với tư tưởng Hồ Chí Minh

B NỘI DUNG1.1 KHÁI NIỆM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1.1.1 Quá trình nhận thức của Đảng ta về tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh hình thành và phát triển gắn liền với quá trình lịch sử cáchmạng nước Việt Nam và cách mạng thế giới trong thế kỷ XX Nhận thức của ĐảngCộng sản Việt Nam về khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh cũng được hoàn thiện từng bướctrong tiến trình lãnh đạo cách mạng ta

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, xây dựng và thực hiện đườnglối cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện qua các văn kiện được thông qua

ở Hội nghị thành lập Đảng và được hoàn thiện ở Hội BCHTƯ lần thứ 8 (1941) nên đãgiành được thắng lợi, bảo vệ thành công thành quả của cách mạng Tháng Tám và giànhđược những thắng lợi quan trọng trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp xâm lược Nhưng vì điều kiện khách quan và chủ quan, phải tới năm 1951, Đại

hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng mới bước đầu xác định: “Đường lối chính trị,

nền nếp làm việc và đạo đức cách mạng của Đảng ta hiện nay là đường lối, tác phong và đạo đức Hồ Chú tịch” Cũng từ Đại hội này, Đảng đã kêu gọi: “Toàn Đảng hãy ra sức học tập đường lối chính trị, tác phong và đạo đức cách mạng của Hồ Chủ tịch; sự học tập ấy

là điều kiện tiên quyết làm cho Đảng mạnh và làm cho cách mạng mau đi đến thắng lợi hoàn toàn”1

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986), trong Diễn văn khai mạc

Đại hội bắt đầu nói đến “tư tưởng và đạo đức” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chỉ rõ:

“Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ

nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí

Minh” 2

Thấy rõ giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tiến trình cách mạng ViệtNam, đặc biệt là với tiến trình đổi mới trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa,tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), lần đầu tiên Đảng nêu lên kháiniệm tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng Khái niệm tư tưởng

Hồ Chí Minh được Đảng ta xác định như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự

vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta và trong thực tế,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, H, 2001, tr 9

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tập 47, tr 459

1

Trang 2

tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và của dân tộc”1

Từ nhận thức mới đó của Đảng, giới nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước đã đisâu nghiên cứu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minhtheo hướng tiếp cận nghiên cứu của mình2

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (năm 2001), trong Báo cáochính trị được thông qua tại Đại hội này, khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được định nghĩagồm 9 vấn đề cơ bản3 Đây là bước tiến mới trong nhận thức của Đảng về khái niệm tư

tưởng Hồ Chí Minh với những nội dung, nguồn gốc lý luận và giá trị được xác định cụ thể.Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), trước những yêu cầu,

nhiệm vụ mới, với việc thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên

chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển), Đảng đã xác định khái niệm tư tưởng Hồ Chí

Minh một cách khái quát như sau:

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những

vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” 4

Có thể thấy, nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về khái niệm tư tưởng Hồ ChíMinh là một quá trình lâu dài, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến khái quát Hiện nay, chúng tacăn cứ vào những nội dung khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng trình bày tại Đạihội Đại biểu toàn quốc lần thứ Ĩ và XI của Đảng để nghiên cứu và học tập

1.1.2 Nội dung chủ yếu trong khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh

Mặc dù mức độ khái quát có khác nhau, nhưng khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh màĐảng đưa ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX và XI đều thể hiện rõ những nộidung cơ bản sau đây:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Nxb Sự thật, H,1991, tr 127.

2 Theo thống kê đã có hơn 60 định nghĩa khác nhau về tư tưởng Hồ Chí Minh Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi nghiên cứu đề tài “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”- thuộc Chương trình nghiên cứu cấp nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh” (KX-02)- đã đưa ra khái niệm như sau: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận về con đường cách mạng Việt Nam: Thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội không kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, góp phần vào cách mạng thế giới.

Đó là tư tưởng cách mạng không ngừng mà cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người.

Nói gọn lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là: độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; hay nói gọn hơn là: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”

(Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”, Nxb CTQG, H,

1997, tr 77-78.

3

“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng, cần kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H,

2001, tr 83-84

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr 88

2

Trang 3

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn

đề cơ bản cách mạng Việt Nam Đó là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với

nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp (xã hội), giải phóng con người.

Bởi vậy, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính trị thuộc hệ tư tưởng Mác Lênin, là sự thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo quan điểm phương pháp luận mác-xítvào điều kiện cụ thể của nước ta

-Nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm:

1) Kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào điềukiện cụ thể của nước ta;

2) Kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc;

3) Tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại

Những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam trong tư tưởng Hồ Chí Minh để thực

hiện những mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp), giải phóng con người

là hệ thống quan điểm: về đường lối cách mạng Việt Nam trong thời đại mới (độc lập dântộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội); về xây dựng các lực lượng cách mạng (Đảng, Mặt trậnthống nhất dân tộc, lực lượng vũ trang, các tổ chức chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng,đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại ); về tổ chức xây dựng

xã hội mới tiến lên chủ nghĩa xã hội (với các đặc trưng chính trị, kinh tế, quân sự, ngoạigiao, văn hóa, xã hội, về xây dựng con người XHCN toàn diện) và phương pháp và phongcách Hồ Chí Minh (xét trên mối quan hệ biện chứng với tư tưởng của Người)

Là tư tưởng cách mạng và khoa học để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp (xãhội), giải phóng con người Việt Nam, thúc đẩy sự tiến hóa của dân tộc và nhân loại, nên tư

tưởng Hồ Chí Minh có giá trị to lớn, lâu dài Đó “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý

giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”

Trong toàn bộ tiến trình cách mạng nước ta, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng lí luậnđịnh hướng cho Đảng Cộng sản Việt Nam trong xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn,

tổ chức lực lượng cách mạng mạnh mẽ và dẫn dắt nhân dân ta đi từ thắng lợi này đếnthắng lợi khác Đó là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dânchủ cộng hòa (1945); thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giải phóngmiền Bắc (1954) và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hoàn thành cáchmạng dân tộc dân chủ trong cả nước (1975), thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủnghĩa xã hội (1976) Trong sự nghiệp đổi mới, với việc xác định cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động củaĐảng và cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta giànhnhững thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đã đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận một dân tộc nô lệ thành một dân tộc độc lập,

tự do, tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ tiếp tục dẫn dắt Đảng và nhân dân ta trên con đường đổimới xây dựng thành công nước CHXHCN Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh

Do vậy, việc nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động

lý luận và thực tiễn là rất quan trọng Nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh là nắm vữngnhững vấn đề căn bản liên quan tới sự đúng đắn trong xây dựng đường lối, phương pháp,trong xây dựng lực lượng cách mạng và trong tổ chức thực hiện để hoàn thành thắng lợicác nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong hiện tại và tươnglai Đó chính là giá trị nền tảng và kim chỉ nam của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng vàcách mạng Việt Nam

1.2 CƠ SỞ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

3

Trang 4

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, từng bước hoàn thiện và phát triển dưới tácđộng của những điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể của dân tộc và nhân loại trong thời đạiNgười sống và hoạt động

Có thể nghiên cứu sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh với những nguồn gốc chủ yếusau đây:

1.2.1 Cơ sở lý luận

1.2.1.1 Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam

Hồ Chí Minh được sinh ra, lớn lên và trưởng thành trước hết dưới tác động từ nhữnggiá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam được thể hiện với các giá trị căn bản sau:

Chủ nghĩa yêu nước với ý chí bất khuất, tự lực, tự cường để dựng nước và giữ nước

được hun đúc qua hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam Dân tộc và nhà nước ở nước tahình thành sớm và không phải chỉ duy nhất từ sự phân hóa giai cấp sâu sắc mà chủ yếu là

do yêu cầu sản xuất của vị thế địa kinh tế (với môi trường thiên nhiên nghiệt ngã) và địachính trị (nhu cầu của cuộc đấu tranh chống ngoại xâm) mà tổ chức lại thành dân tộc, nhànước Trải qua hàng ngàn năm hun đúc, chủ nghĩa yêu nước với ý chí bất khuất, tự lực, tựcường là giá trị tinh thần cao nhất của dân tộc Việt Nam, nhưng có đặc điểm sâu sắc là nómang trong mình một giá trị kép: yêu nước - thương yêu con người, thương yêu con người

- yêu nước Giá trị kép đó gắn bó biện chứng với nhau Vì thế, vấn đề dân tộc bao giờ cũnggắn liền với vấn đề con người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam.Yêu nước gắn liền với ý thức sâu sắc về độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia và đãtrở thành ý chí bất khuất, tự lực, tự cường, tạo nên bản lĩnh của dân tộc Việt Nam, của conngười Việt Nam trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đồng thời, trong quá trình dựng nước, giữ nước, tinh thần đoàn kết và ý thức dân

chủ cũng xuất hiện, được nuôi dưỡng và trở thành những giá trị truyền thống tốt đẹp của

dân tộc Những giá trị này được duy trì bền vững và không ngừng được bổ sung, phát triểntrên cơ sở kinh tế là chế độ ruộng đất chung của làng xã (sau này là công điền); về chính trị

xã hội là vấn đề dân chủ và tự chủ trong tổ chức làng xã (cùng nhau xây dựng và thực hiệnhương ước); trong văn hóa là sự tôn vinh các giá trị anh hùng và trọng người hiền tài (thờphụng những người có công dựng nước, giữ nước, xây dựng làng xã, nghề nghiệp )

Tinh thần đoàn kết và ý thức dân chủ tốt đẹp đó làm cho mối quan hệ Cá nhân - Gia

đình - Làng - Nước ngày càng trở nên bền chặt và nương tựa vào nhau để sinh tồn và pháttriển Con người cá nhân có mối quan hệ bền chặt trong Gia đình và từ liên kết Gia đình đểgiữ Làng, liên kết Làng để giữ Nước Nước bị xâm chiếm thì dựa vào Làng để khôi phụcNước Lấy dân làm gốc, dựa vào dân để cứu nước, nên khi Tổ quốc được giải phóng thìnhà nước khoan thư sức dân Các mối quan hệ đó dựa trên nền tảng kinh tế và theo đó làvăn hóa, chính trị và đặc biệt là được thể chế hóa trong các chính sách của nhà nước, tronghương ước và các hình thức tổ chức của làng, xã Việt Nam

Con người cá nhân trong lịch sử Việt Nam quan hệ chặt chẽ với gia đình, với cộngđồng làng, xã, quê hương và dân tộc trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội một cách bền chặt và sâu sắc như vây lại được thử thách qua quá trình lâu dàihàng ngàn năm dựng nước, giữ nước, lưu truyền từ đời này qua đời khác đã nuôi dưỡng vàngày càng làm phát triển chủ nghĩa yêu nước - nhân văn, tinh thần đoàn kết cộng đồng trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước nước để sinh tồn và phát triển của dân tộc

ta

Một trong những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc là truyền thống dũng cảm,

cần cù, thông minh, sáng tạo trong lao động sản xuất, chiến đấu để sinh tồn và phát triển

trước thiên nhiên nghiệt ngã và kẻ thù xâm lược hung bạo Nhưng đồng thời, trong quátrình đó, dân tộc Việt Nam cũng luôn rộng mở đón nhận những giá trị ăn hóa, văn minh

4

Trang 5

của nhân loại để làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh, nhằm bảo tồn dân tộc và phát triển đấtnước Chọn lọc và thâu nhận những giá trị văn hóa, văn minh của nhân loại để tồn tại vàphát triển đã tạo ra tư duy mở và mềm dẻo của con người, dân tộc Việt Nam.

Một dân tộc sau một ngàn năm bị ngoại bang cưỡng bức, đồng hóa nhưng vẫn khôngkhuất phục, kiên nhẫn chịu đựng và nuôi dưỡng ý thức độc lập dân tộc để rồi lại đứng lêngiành lấy độc lập, xây dựng một quốc gia là sự thật lịch sử của dân tộc Việt Nam Sứcmạnh ấy có cội nguồn từ những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc

Sức mạnh truyền thống tốt đẹp đó với những giá trị căn bản trên đây được duy trì và

tồn tại trong cơ sở kinh tế, nó hiện thân vào tổ chức, văn hóa của làng, xã Việt Nam đã

vượt qua một ngàn năm nô lệ của thời kì Bắc thuộc để bảo tồn được dân tộc với một nềnvăn hóa riêng và đã thành công trong việc giành lại Tổ quốc, xây dựng nhà nước độc lậpvào thế kỉ thứ 10 cũng như bảo vệ được nền độc lập của mình trước các cuộc xâm lăng củacác thế lực phong kiến phương Bắc ở những thế kỉ sau đó

Chính chủ nghĩa yêu nước - nhân văn Việt Nam là cội nguồn, là điểm xuất phát, là

động lực lên đường cứu nước và là bộ lọc các học thuyết để Hồ Chí Minh lựa chọn và tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao của nó là chủ nghĩa Mác Lênin Đúng như

Hồ Chí Minh đã nói: “Lúc đầu chính chủ nghĩa yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộngsản đã đưa tôi theo Lê nin và Quốc tế thứ ba” Bởi vậy, chủ nghĩa yêu nước - nhân vănViệt Nam chính là một trong những nguồn gốc chủ yếu hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2.1.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại

Tinh hoa văn hóa phương Đông

Từ cội nguồn là truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình

thành trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại mà trước hết là tinh hoa văn hóa

Những tư tưởng căn bản của Phật giáo ảnh hưởng tích cực tới văn hóa Việt Nam là tưtưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân; nếp sống

có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; Vì vậy, Phật giáo đã ảnh hưởngrất lớn tới sự hình thành và phát triển của văn hóa, tư tưởng và lối sống Việt Nam

Nho giáo Trung Hoa vào Việt Nam do nhu cầu của sự thống trị, nhưng trong quátrình đó đã đã bắt gặp chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu cơ bản của tư tưởng Việt Namnên cũng được Việt hóa thành Nho giáo yêu nước Việt Nam thể hiện những giá trị về lòngyêu nước, thương dân, nhân văn, dung hòa con người cá nhân với cộng đồng, coi trọng lợiích cộng đồng trên lợi ích cá nhân, gắn lợi ích của cá nhân với lợi ích dân tộc Nho giáoViệt Nam lấy yêu nước - nhân văn Việt Nam là đạo lí làm người Trong quá trình lịch sửcủa dân tộc, Nho giáo yêu nước Việt Nam đã đáp ứng yêu cầu của dân tộc trong dựngnước, giữ nước, trong tổ chức xây dựng nhà nước cũng như trong xây dựng gia đình vàcon người

Nho giáo Trung hoa đặt mối quan hệ vua - tôi ở vị trí cao nhất Nho giáo Việt Namcũng nhấn mạnh vấn đề này nhưng đòi hỏi nhà vua trước hết là lòng trung thành với Tổquốc, nhân hậu với nhân dân, phải lấy tu thân làm gốc Ca ngợi vua hiền quan tâm đến dân

5

Trang 6

chúng và ủng hộ việc gạt bỏ những ông vua bất lực để lập nên những triều đại mới quantâm tới đất nước và nhân dân là nội dung tích cực của nho giáo Việt Nam.

Bên cạnh đó những yếu tố tích cực của Nho giáo như triết lí hành động, tư tưởngnhập thế, hành đạo giúp đời; tư tưởng về một xã hội bình trị, an ninh, hòa mục, thế giới đạiđồng; triết lí nhân sinh tu thân, dưỡng tính, cũng được Việt hóa thành các giá trị văn hóaViệt Nam, phù hợp với các giá trị gốc của dân tộc

Những tác động tích cực của Phật giáo và Nho giáo Việt Nam đã tác động tới Hồ ChíMinh ngay từ khi còn nhỏ ở trong môi trường giáo dục - văn hóa Việt của làng xã ViệtNam, dưới sự dạy bảo của gia đình với người cha, vừa là thầy - Cụ Phó bảng Nguyễn SinhSắc - và những nhà nho yêu nước khác

Sau này, khi trở thành người cộng sản, Hồ Chí Minh vẫn tiếp tục tìm hiểu về văn hóaphương Đông đặc biệt là những trào lưu tư tưởng mới ở Ấn Độ và Trung Hoa mà điểnhình là chủ nghĩa Găngđi và chủ nghĩa Tôn Dật Tiên Người đã tìm thấy trong “chủ nghĩaTôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta”1

Tinh hoa văn hóa phương Tây

Hồ Chí Minh đã được tiếp xúc với văn hóa phương Tây từ lúc còn ngồi trên ghế nhàtrường Khi học ở trường tiểu học Vinh và Huế, những tư tưởng tiến bộ của Đại cách mạngPháp về “tự do, bình đẳng, bác ái” đã bắt đầu ảnh hưởng mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và làmột trong những yếu tố tác động đến Người trong việc tìm hướng đi mới sang phương Tây

để tìm đường cứu nước, cứu dân

Ba mươi năm sống, lao động, học tập và hoạt động ở nước ngoài, đặc biệt là trongmôi trường văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã có điều kiện để tìm hiểu, nghiên cứu vàtrực tiếp trải nghiệm qua các hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội ở đây Người đã trực tiếptìm hiểu tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng (Vonte, Rutxô, Môngtétxkiơ ) qua các tácphẩm của họ Người đã tới Pháp, Mỹ, Anh và trực tiếp khảo sát mọi mặt tại những nơikhởi nguồn của ba cuộc cách mạng tư sản điển hình trên thế giới Tư tưởng cách mạng tiến

bộ của các cuộc cách mạng này đã tác động mạnh mẽ tới Hồ Chí Minh Đó là những tư

tưởng cơ bản của chủ nghĩa dân tộc và nhân văn trong cách mạng tư sản Mỹ và Pháp với

quyền dân tộc, quyền con người và tư tưởng dân chủ mà nội dung của nó là tự do, bìnhđẳng, bác ái Đây là những điểm mới về tư tưởng trong tinh hoa văn hóa phương Tây đãtác động mạnh mẽ tới suy nghĩ, hành động và tư tưởng của Hồ Chí Minh

Sống trong môi trường dân chủ tư sản và thông qua các hoạt động dân chủ trong làmviệc, sinh hoạt ở các tổ chức lao động, xã hội và chính trị ở phương Tây, Hồ Chí Minh đãhọc được các phương thức tổ chức xã hội dân chủ, cách làm việc dân chủ và hình thànhphong cách dân chủ ở Người Nhưng cũng trong quá trình này, Hồ Chí Minh cũng thấy

rõ những hạn chế về lý luận cũng như trong thực tế của cách mạng tư sản

Cần phải nói rõ rằng, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại của Hồ Chí Minh là trong sự

kế thừa có phê phán, tiếp thu có chọn lọc để mở rộng, nâng cao và làm giàu văn hóa ở tầm

1 Hồ Chí Minh truyện, bản Trung văn của Tôn Nhiệm Thức, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, 6-1949 (bản dịch tiếng Việt của Đặng Nghiêm Vạn, tr 41-42)

6

Trang 7

thế giới2 Với phạm vi rộng lớn và tầm cao văn hóa như vậy, Hồ Chí Minh đã dễ dàng tiếpthu chủ nghĩa Mác - Lênin

1.2.1.3 Chủ nghĩa Mác - Lênin

Với hành trang giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc là chủ nghĩa yêu nước

- nhân văn với những giá trị về giải phóng dân tộc và con người, để so sánh, đối chiếu,chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, và trên cơ sở đó, trên cơ sở năng lựctrí tuệ cao, Hồ Chí Minh đã có điều kiện thâu thái một cách tự nhiên, về cả lí trí và tìnhcảm, học thuyết giải phóng con người triệt để nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin Tiếp nhậnchủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã từ người yêu nước trở thành người cộng sản khitrở thành người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp

Đến với chủ nghĩa Mác-Lênin từ đòi hỏi của thực tiễn giải phóng dân tộc và conngười Việt Nam, từ nhu cầu chung của nhân loại về quyền dân tộc, quyền con người, HồChí Minh đã vận dụng thế giới quan và phương pháp luận cách mạng, khoa học của chủnghĩa Mác - Lênin để nghiên cứu thực tiễn Việt Nam và thế giới và tự tìm ra con đườngcủa cách mạng Việt Nam phù hợp với sự tiến hóa và thời đại mới Chính vì vậy, chủ nghĩaMác-Lênin là cơ sở lý luận làm cho Hồ Chí Minh vượt lên trước những nhà yêu nướcđương thời, khắc phục được sự khủng khoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam.Với thế giới quan và phương pháp luận mác-xít, Hồ Chí Minh có sự chuyển biến vềchất tư tưởng cách mạng của mình để có thể hấp thụ và chuyển hóa được những giá trị tíchcực và tiến bộ của truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhânloại, giúp cho Người nghiên cứu lý luận và thực tế, tổng kết thực tiễn, đúc rút lí luận vàhình thành nên một hệ thống những quan điểm cơ bản về cách mạng Việt Nam, hình thànhnên tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giai cấp) và giảiphóng con người Vì vậy, chủ nghĩa Mác - Lênin chính là một nguồn gốc lý luận, là cơ sởchủ yếu có vai trò quyết định trong việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh1 và tư tưởng HồChí Minh chính là sự vận dụng, phát triển sáng tạo và làm phong phú chủ nghĩa Mác -Lênin trong thời đại mới

Như vậy, các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc đã được nâng lên tầm thế giới

với việc thâu nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin đã hình thành và tạo ra bước phát triển mới phù hợp với tiến hóa của nhân loại trong thời đại mới của tư tưởng Hồ Chí Minh Trên ý nghĩa đó, tư tưởng Hồ Chí Minh có bước phát triển mới

và làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin

Có thể nói, về văn hóa, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kế thừa các giá trị tốt đẹp của

văn hóa dân tộc và nhân loại trên một trình độ mới về chất, phù hợp với thời đại mới

1.2.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.2.1 Thực tiễn Việt Nam

2 Trong cuốn Hồ Chí Minh truyện, Nxb Tam Liên, Thượng Hải, 6-1949 (bản dịch tiếng Việt của Đặng Nghiêm Vạn,

tr 41-42), tác giả Tôn Nhiệm Thức viết rằng Hồ Chí Minh đã nói:

“Học thuyết Khổng Tử có ưu điểm là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân

Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả.

Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng

Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta.

Khổng Tử, Giêxu, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng phải đã có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn “mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho xã hội” Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết.

Tôi cố gắng làm học trò nhỏ của các vị ấy”

1 Tổng kết kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Việt Nam, Người chỉ rõ: “Chúng tôi giành được thắng lợi là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng - mà không phải chỉ nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Lênin - chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin”

(Hồ Chí Minhh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011,tập 15, tr 590) Điều đó chứng tỏ vai trò quyết định của chủ nghĩa Mác- Lênin với sự hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh

7

Trang 8

Việt Nam có lịch sử và văn hiến lâu đời với truyền thống chống giặc ngoại xâm vôcùng oanh liệt Nhưng, đến thế kỷ XIX, cũng giống như các nước phong kiến phươngĐông khác, Việt Nam vẫn là một quốc gia lạc hâu, kém phát triển.

Đến giữa thế kỷ XIX, trước sự suy yếu của chế độ phong kiến nhà Nguyễn, đế quốcPháp bắt đầu tiến hành xâm lược Việt Nam Mặc dù triều đình nhà Nguyễn ươn hèn đãtừng bước đầu hàng thực dân Pháp, phản bội lợi ích dân tộc và phong trào đấu tranh chốngxâm lược của nhân dân, nhưng nhân dân ta đã liên tục anh dũng đứng lên chống xâm lượctrên cả nước Từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX, phong trào đấu tranh yêu nước dưới sự lãnhđạo của Trương Định, Nguyễn Trung Trực (Nam Bộ); Trần Tấn, Đặng Như Mai, NguyễnXuân Ôn, Phan Đình Phùng (Miền Trung); Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Quang Bích(Miền Bắc) đều thất bại Cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thámlãnh đạo trong tình thế bị bao vây nên đến tháng 12 - 1897 đã buộc phải đình chiến lần thứhai với kẻ thù1

Sau khi đã hoàn thành về căn bản công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự,thực dân Pháp bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam2 cũng như ở Lào và Campuchia

một cách quy mô và từng bước biến nước ta từ một nước phong kiến thành nước thuộc

địa, nửa phong kiến với những biến đổi căn bản về chính trị - kinh tế -văn hóa - xã hội Sự

biến đổi đó làm xuất hiện trong xã hội Việt Nam những giai tầng mới với sự ra đời của

giai cấp công nhân, giai cấp tư sản và tầng lớp tiểu tư sản Theo đó, bên cạnh mâu thuẫn cơbản trong xã hội phong kiến là giữa nông dân với địa chủ phong kiến, sự xuất hiện các giaitầng mới đã làm nảy sinh thêm các mâu thuẫn mới: giữa giai cấp công nhân Việt Nam vớigiai cấp tư sản, giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc Pháp

Trước các biến đổi trên, phong trào cách mạng Việt Nam cũng từng bước có nhữngphát triển mới đó là sự xuất hiện của phong trào yêu nước mới và phong trào công nhân ởnước ta

Đầu thế kỷ XX, trước ảnh hưởng của các cuộc vận động cải cách ở Trung Quốc củaKhang Hữu Vi và Lương Khải Siêu, gương Duy Tân của Nhật Bản, cách mạng Tân Hợi ở

Trung Quốc, phong trào yêu nước của nước ta chuyển sang xu hướng dân chủ tư sản với

sự dẫn dắt của các sĩ phu yêu nước có tinh thần cải cách như Phan Bội Châu và Phan ChâuTrinh Điển hình như các phong trào Đông Du3, phong trào Duy Tân4, phong trào Đôngkinh nghĩa thục5 Nhưng tất cả những cố gắng cứu nước của trào lưu mới này ở nước tađều bị thất bại bởi sự đàn áp của thực dân Pháp Trường Đông kinh nghĩa thục bị đóng cửa(12-1907), phong trào chống thuế ở Trung Kỳ bị đàn áp (1908); vụ Hà Thành đầu độc thấtbại (6-1908) Phong trào Đông Du bị tan rã, Phan Bội Châu và các đồng chí bị trục xuấtkhỏi nước Nhật (2-1909) Phong trào Duy Tân ở Trung Kỳ bị đàn áp, các thủ lĩnh nhưTrần Quý Cáp, Nguyễn Hằng Chi bị lên máy chém Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nghiêm Cẩn bị đày ra Côn Đảo Dù thất bại nhưng các phongtrào yêu nước này đã nối tiếp nhau duy trì ngọn lửa cứu nước tiếp tục cháy trong lòng dân

1 Thực dân Pháp tranh thủ thời gian hòa hoãn này để chuẩn bị mọi điều kiện tiêu diệt cuộc khởi nghĩa Hoàn Hoa Thám Đợt sóng cuối cùng của cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám là từ năm 1909 đến năm 1913.

2 Được tính bắt đầu từ năm 1897.

3 Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng (1905-1907) với mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập cho nước nhà.

4 Phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động năm 1906 đến năm 1908 thì kết thúc Phong trào này chủ trương bất bạo động để khôi phục đất nước bằng nâng cao dân trí, cải tổ xã hội về mọi mặt, mở trường dạy học hiện đại bằng chữ quốc ngữ và hướng tới nền chính trị dân chủ.

5 Phong trào do Lương văn Can, Nguyễn Quyền và một số nhân sĩ khác phát động (3/1907 đến 11/ 1907) Đây là một phong trào nhằm thực hiện cải cách xã hội Việt Nam dựa vào việc khai trí cho dân (mở những lớp dạy học không lấy tiền (đúng với tên là nghĩa thục) với việc du nhập những tư tưởng mới, phát triển văn hóa, thúc đẩy sử dụng chữ quốc ngữ thông qua các hoạt động giáo dục, báo chí, tuyên truyền, cổ động) và chủ trương chấn hưng thực nghiệp (mở tiệm buôn, phát triển công thương).

8

Trang 9

tộc Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ XX, cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước đã diễn rasâu sắc Tìm ra con đường cứu nước mới là yêu cầu nóng bỏng nhất của dân tộc Việt Nam.Cùng với phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân, sự ra đời và phong trào đấutranh của giai cấp mới là giai cấp công nhân Việt Nam sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất

đã làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta thêm những yếu tố mới Đặcbiệt, từ đầu những năm hai mươi của thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càngtrưởng thành về số lượng và chất lượng lại chịu tác động của phong trào cách mạng thếgiới đã làm phong trào đấu tranh mang đặc trưng riêng của giai cấp công nhân càng đượcthể hiện rõ nét Đây là nguồn gốc thực tiễn xã hội cực kỳ quan trọng cho sự ra đời của tưtưởng Hồ Chí Minh

Phong trào yêu nước và phong trào công nhân Việt nam là cơ sở thực tiễn trong nướccho sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh

1.2.2.2 Thực tiễn thế giới

Vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giaiđoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền - giai đoạn đế quốc chủ nghĩa - đãchuyển từ mở thị trường buôn bán sang việc các nước đế quốc tiến hành tranh giành, đẩymạnh xâm chiếm thuộc địa, nhằm khai thác nguyên liệu, bóc lột và nô dịch các dân tộc ởhầu hết các nước Á, Phi và Mỹ-latinh Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn cótrong lòng chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở cácnước tư bản chủ nghĩa và mâu thuẫn giữa các nước tư bản, đế quốc với nhau và làm nảysinh mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốcthực dân Mâu thuẫn này càng phát triển và trở thành một mâu thuẫn hết sức sâu sắc củathời đại Yêu cầu giải phóng, đem lại độc lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ là đòihỏi riêng của các dân tộc thuộc địa mà còn là yêu cầu chung của các dân tộc đã thúc đẩy sự

phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới

Các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, chủ yếu là do tranh giành thị trường giữa cácnước đế quốc, đã dẫn tới chiến tranh thế giới lần thứ nhất (8-1914 đến 11-1918) nhằm chialại các khu vực ảnh hưởng làm xuất hiện phong trào của nhân dân thế giới đầu tranh đòihòa bình, chấm dứt chiến tranh đế quốc và đó cũng là một trong những nguyên nhân bùng

nổ Cách mạng tháng Mười Nga Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đờicủa nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từchủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi quốc tế, đã cổ vũ và thúc đẩy sự pháttriển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc trên thế

giới

Thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười, sự ra đời của nhà nước Xô viết, phong tràocách mạng thế giới của giai cấp công nhân phát triển với sự ra đời và dẫn dắt của Quốc tếIII cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới là những nguồn gốc thực tiễn quốc

tế cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Trước đòi hỏi của dân tộc, nhân loại và thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện Sự

ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở thực tiễn của cách mạng trong nước và thế giới

là sự giải đáp và là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam và thế giới trong điều kiện

lịch sử mới, không phải là ý muốn chủ quan hay một sự áp đặt nào.

1.2.3 Phẩm chất Hồ Chí Minh

Đã có không ít người đi ra nước ngoài tìm đường cứu nước, nhưng tại sao chỉ có HồChí Minh mới nhận thức và tìm được con đường mới phù hợp với yêu cầu của dân tộc và

xu thế phát triển của thời đại?

Trước hết phải nói tới những phẩm chất, nhân cách của Hồ Chí Minh mà nổi bật

trước hết là ý chí quyết tâm của một con người thấm đậm sâu sắc chủ nghĩa yêu nước

-9

Trang 10

nhân văn Việt Nam, với tấm lòng yêu nước, thương dân và đồng loại khổ đau, có đạo đức

trong sáng, sẵn sàng hiến dâng cuộc đời cho dân tộc độc lập, cho tự do, hạnh phúc của con

người Việt Nam và nhân dân lao động trên thế giới Người nói: “Tôi chỉ có một ham

muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”1

Đó là tài năng trí tuệ cao mà bắt đầu từ sự kiên trì học tập đã thâu thái được vốn tri

thức phong phú trên các lĩnh vực của dân tộc và nhân loại; với thế giới quan và phươngpháp luận mác-xít, với tư duy độc lập, tự chủ trong tiếp thu, phê phán, chọn lọc các giá trịvăn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, trí tuệ của thời đại,

để trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã sáng tạo và phát triển thành những giá trị tư tưởng mới

vì mục tiêu độc lập dân tộc và giải phóng triệt để đối với con người

Đó là năng lực hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú của Hồ Chí Minh ở cả trong

nước và nước ngoài đã giúp Người, trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học

và cách mạng là chủ nghĩa Mác - Lênin, phân tích một cách khoa học và rút ra được nhiềukết luận chính xác từ thực tiễn lịch sử của phong trào cách mạng thế giới và trong nước.Trên cơ sở đó, với phẩm chất tư duy độc lập, sáng tạo, Người đã vạch ra con đường cáchmạng Việt Nam và tổ chức thực hiện đường lối đó thắng lợi

Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn thực tiễn, lý luận phong phú và được

hình thành từ sự kết hợp giữa các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóacủa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác -Lênin (nhân tố khách quan) thông qua phẩmchất cá nhân với năng lực hoạt động trí tuệ và thực tiễn cao của Người (chủ quan) Vì vậy,

tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là sản phẩm của thời đại lịch sử là độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội và vừa phản ánh lý tưởng, mục tiêu của thời đại là Độc lập-Tự do-Hạnh phúc chomọi dân tộc và con người trên hành tinh chúng ta

1.3 BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1.3.1 Bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội (giaicấp) và giải phóng con người, bởi vậy, về bản chất mang đậm tính khoa học, cách mạng

và nhân văn

Tính khoa học được biểu thị đặc trưng nhất là tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thànhkhông phải trên cơ sở chủ quan mà là sự kết tinh của những giá trị tuyền thống tốt đẹp củadân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và từ sự nghiên cứu, tổng kết thực tiễn Việt Nam, thếgiới và sự vận động của nhân loại trên con đường tiến hóa trong thời đại mới

Dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn rộng rãi, từ dân tộc đến nhân loại và biểu thịsâu sắc tính chất của thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh đã phản ánh những vấn đề cơ bản cótính quy luật của cách mạng Việt Nam và được thể hiện ở nội dung căn bản và sâu sắc nhất

là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Hệ thống quan điểm đó, từ cách mạng giảiphóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa, đã được thực chứng qua thực tiễn vớithắng lợi của cách mạng Việt Nam và của nhân loại trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độclập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội và ngày nay, hệ thống quan điểm có tính quy luật đóđang và sẽ tiếp tục thể hiện sự đúng đắn trong những điều kiện lịch sử mới Tính khoa học

đó của tư tưởng Hồ Chí Minh, vì vậy, có giá trị to lớn trong việc bổ sung, phát triển chủnghĩa Mác - Lênin và kho tàng tri thức phát triển của nhân loại

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng cách mạng vì nó hướng tới cải tạo xã hội, cải tạocon người theo hướng phát triển và tiến bộ bằng các cuộc cách mạng, từ cách mạng giảiphóng dân tộc đến cách mạng xã hội chủ nghĩa mà mục tiêu cụ thể là Độc lập cho dân tộc

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, tập 4, tr 187.

10

Trang 11

và Tự do, Hạnh phúc Mục tiêu cách mạng này không chỉ giành cho dân tộc và con ngườiViệt Nam mà cho cả các dân tộc khác trên hành tinh của chúng ta

Với nội dung tư tưởng căn bản và xuyên suốt đó, từ cuộc cách mạng giải phóng dântộc đến cách mạng giải phóng xã hội (giai cấp) và xây dựng xã hội mới nhằm giải phóngtriệt để đối với con người, tư tưởng Hồ Chí Minh biểu thị tư tưởng cách mạng khôngngừng và thể hiện rõ mối quan hệ biện chứng trong sự phát triển của cách mạng Việt Namtrong tiến trình vận động và phát triển Chính từ những vấn đề này, tư tưởng cách mạngcủa Hồ Chí Minh chứa đựng sự sáng tạo cách mạng trên tất cả các phương diện cơ bảnnhất về đường lối cách mạng, xây dựng lực lượng cách mạng; thiết kế xã hội mới vàphương thức để thực hiện thành công những nội dung căn bản đó xuất phát từ thực tiễnViệt Nam và thế giới trong sự vận động, phát triển không ngừng

Tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng cách mạng biểu thị tính nhân văn sâu sắc ở mụctiêu Độc lập- Tự do-Hạnh phúc, từ giải phóng con người về chính trị khỏi sự áp bức dântộc, tới giải phóng con người về xã hội khỏi sự thống trị giai cấp đến giải phóng toàn diện

và triệt để đối với con người của chủ nghĩa cộng sản Những mục tiêu trên đều vì conngười, giành cho con người nhưng đều do con người thực hiện, bởi vậy, tư tưởng Hồ ChíMinh cũng bắt đầu từ việc phát huy chủ thể của cách mạng, từ sự giáo dục và cải tạo đốivới con người, để giác ngộ con người tự giác đứng lên giải phóng cho mình Chính vì vậy,tính nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ còn biểu thị trong mục tiêu của cáccuộc cách mạng mà còn ở phương thức thực hiện: lấy thống nhất thay cho loại trừ, đoànkết thay vì chia rẽ giữa con người với con người, lấy hòa bình và hữu nghị giữa các dântộc thay cho xung đột, chia rẽ vì những mục tiêu lợi ích chung của dân tộc Việt Nam vàtoàn nhân loại

Bởi vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm khoa học, cách mạng về giảiphóng con người một cách triệt để nhất

1.3.2 Đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh

Từ nguồn gốc hình thành và nội dung khái quát trên cho thấy tính khoa học, cáchmạng, nhân văn đồng thời cũng khắc họa đặc điểm của tư tưởng Hồ Chí Minh gồm nhữngnét chủ yếu sau đây:

1.3.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh có quá trình phát triển lâu dài và là hệ thống mở

Là dòng tư tưởng mácxít nhưng về nguồn gốc, trước hết, tư tưởng Hồ Chí Minh là

kết quả của sự thâu thái, kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,tinh hoa văn hóa nhân loại và của thời đại Trên nền tảng văn hóa phong phú, vững chắc và

ở tầm cao nhân loại để khi tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin với nội dung căn bản là thếgiới quan và phương pháp luận khoa học và cách mạng, nên tư tưởng Hồ Chí Minh khôngchỉ bao hàm những giá trị văn hóa, văn minh chung của dân tộc - nhân loại, thời đại màcòn phản ánh sự tính độc lập, tư chủ và sáng tạo Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh cóquá trình phát triển lâu dài, không có giáo điều, thiên kiến mà là một hệ thống mở và trântrọng với các giá trị văn hóa của dân tộc mình, của các dân tộc khác và của cả nhân loại từtrong lịch sử đến hiện tại và là tư tưởng của sự đổi mới, phản ánh tính độc lập, tự chủ vàsáng tạo

Vì vậy, xét về nguồn gốc, nét đặc biệt của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự thấmđẫm giá trị văn hóa, trong đó kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với quốc tế, truyền thống vớihiện đại và phù hợp với sự tiến hóa của loài người Có thể nói, từ trong nguồn gốc, tưtưởng Hồ Chí Minh đã bao hàm đầy đủ các yếu tố chủ quan và khách quan cho sự thắnglợi và là sự thống nhất hữu cơ của các đặc tính khoa học, cách mạng và nhân văn

1.3.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh nổi bật là tư tưởng chính trị

11

Trang 12

Với nội dung cơ bản, chủ đạo là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nên đặc điểm nổi bật nhất của nội dung

tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính trị

Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm giải phóng dân tộc và xâydựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa- hướng tới sự giải phóng triệt để và phát triểntoàn diện con người theo tiêu chí Độc lập cho dân tộc, Tự do - Hạnh phúc cho con ngườiViệt Nam Bởi vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính trị nhằm cải biến xã hội,thuận lòng dân, đúng quy luật và đó là tư tưởng chính trị phù hợp với sự tiến hóa của nhânloại và xu thế phát triển của thời đại

Là tư tưởng cải biến xã hội vì con người, thuận lòng dân, đúng quy luật, phù hợp với

sự tiến hóa của nhân loại và xu thế phát triển của thời đại, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minhthể hiện sâu sắc tính khoa học, cách mạng và nhân văn, đồng thời lại được đảm bảo thắnglợi bằng sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và quốc tế

Do vậy, nếu nói nét nổi bật, cốt lõi của tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh là tư tưởng vềđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, là giải phóng triệt để và phát triển đối vớicon người, thì trong đó cũng nổi bật lên tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết - đoàn kếttrong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế - để tập hợp lực lượng vĩ đại thực hiệnnhiệm vụ giải phóng dân tộc và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa- vì sự giảiphóng triệt để đối với con người

Chính vì vậy, trong xây dựng đường lối và xây dựng, tổ chức lực lượng cũng như xácđịnh phương pháp trong cách mạng giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng, bảo vệ

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh luôn hướng tới tiêu chí đảm bảo đoàn kết trongĐảng, đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế Nếu như trong xây dựng đường lối là đểthống nhất tư tưởng nhằm đại đoàn kết, thì trong phương pháp cách mạng, Hồ Chí Minhcũng lấy sự thống nhất thay cho loại trừ Vì vậy, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh ở tầm caovăn hóa thấm đậm sâu sắc chủ nghĩa nhân văn

Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh được thể hiện trong toàn bộ hoạt động thực tiễn củaNgười với mục tiêu nhất quán vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

1.3.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất biện chứng với phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh

Sự thống nhất giữa tư tưởng với phương pháp và trở thành phong cách Hồ Chí Minh

là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời phản ánh sự thống nhấtgiữa những thuộc tính bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng và nhânvăn

Trong nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi quan điểm của Người đồng thời cũngmang ý nghĩa chỉ dẫn về phương pháp Phương pháp Hồ Chí Minh không chỉ là cách thức,biện pháp, cách làm, bước đi trong giải quyết các vấn đề chiến lược, sách lược hoặc đểhoàn thành những nhiệm vụ cách mạng cụ thể ở mỗi thời đoạn mà còn hướng tới nâng caonhận thức tư tưởng, rèn luyện và bồi dưỡng toàn diện để hoàn thiện con người và pháttriển xã hội Hồ Chí Minh đã phát động các phong trào dân chủ để thực hiện các mục tiêucách mạng và xây dựng xã hội dân chủ mới trên cơ sở giác ngộ và nâng cao tri thức củanhân dân Người đã lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi tới mục tiêu Độc lập cho dântộc, Tự do, Hạnh phúc cho con người Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, lý luận và thựchành Sự thống nhất đó trở thành phong cách Hồ Chí Minh hướng tới các hoạt động mangđến hiệu quả cao, không hình thức, lãng phí, đơn giản mà thiết thực vì mục tiêu mang lạilợi ích cho con người, tránh lãng phí, thiệt hại cho nhân dân Bởi vậy, phong cách tư duy,phong cách làm việc, phong cách sống của Người hết sức giản dị nhưng khoa học và

12

Trang 13

hiệu quả, rất trong sáng, thật gần gũi với nhân dân và luôn vì ích quốc, lợi dân mà Ngườixem đó là chân lý1 Tư tưởng của Hồ Chí Minh là:

“Học để làm việc,

làm người,

làm cán bộ

Học để phụng sự Đoàn thể,

phụng sự giai cấp và nhân dân,

phụng sự Tổ quốc và nhân loại

Muốn đạt mục đích, thì phải

cần, kiệm, liêm, chính,

chí công, vô tư”2

Hoạt động sống và làm việc của Người là tấm gương của một cuộc đời suốt đời vìĐảng, vì nước, vì dân, vì nhân loại và cũng là tấm gương cần, kiệm, liêm, chính, chí công,

vô tư Người đề cao đạo đức và cũng là tấm gương thực hành đạo đức cách mạng Đó cũng

là những biểu hiện của sự thống nhất biện chứng giữa tư tưởng, phương pháp và phongcách của Hồ Chí Minh

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống mở, gắn với thực tiễn và được phát triển từquá trình hoạt động thực tiễn Điều này được thể hiện ở quá trình hình thành, hoàn thiện vàphát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam và thế giới trongtoàn bộ cuộc đời và sự nghiệp của Người

Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn đáp ứng trước sự vận động của tình hình

và được biểu hiện một cách giản dị dễ hiểu, thấm sâu vào quần chúng

1.4 GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Từ những căn cứ được trình bày khái quát trên đây, tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị

lý luận và thực tiễn sâu sắc không chỉ được khẳng định trong thế kỷ XX mà còn được thểhiện trong hiện tại và tương lai với vai trò cùng với chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam,

“mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi” 3 Có thể

nhìn nhận những giá trị này trên hai mức độ sau đây:

1.4.1 Giá trị dân tộc

Giá trị dân tộc của tư tưởng Hồ Chí Minh được khẳng định thông qua thực tiễn lịch

sử đã dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến những thắng lợi quyết định sự tồn tại và phát triểncủa dân tộc ta trong thế kỷ XX: giải phóng dan tộc, thống nhất Tổ quốc và đia vào sựnghiệp đổi mới đưa dân tộc ta từng bước tiến kịp sự phát triển chung của nhân loại và ngàycảng khẳng định vị thế của mình trên thế giới

Ngày nay, trong tiến trình đổi mới của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hộichủ nghĩa ở nước ta, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục dẫn dắt Đảng Cộng sản Vietj Nam,nhân dân Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới vĩ đại đó Sự ghi nhận đó được thể hiệntrong Cương lĩnh được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng:

“Đảng lấy chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉnam cho hành động”

Trên thực tế, đường lối đúng đắn và sự nghiệp đổi mới thành công chính là nhờ nhậnthức và hành động đúng đắn của Đảng và nhân dân ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh trongđiều kiện lịch sử mới của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội xã hội chủ nghĩa.Giá trị nền tảng và kim chỉ nam của tư tưởng Hồ Chí Minh càng được sáng tỏ cho dù có sự

1 Hồ Chí Minh nói: “Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân

dân tức là không phải chân lý” (Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQH, H, 2011, tập 10, tr 378

2 Hồ Chí Minh toàn tập, đã dẫn, tập 6, tr 208

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr 88

13

Trang 14

vận động với những biến đổi khó lường của quan hệ quốc tế đang đặt các trước các dân tộcnhỏ và toàn nhân loại tiến bộ

1.4.2 Giá trị nhân loại

Kết tinh và mang trong nội dung những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc nhân loại

và nhằm cải biến thực tiễn của xã hội Việt Nam và của nhân loại, tư tưởng Hồ Chí minh từtrong nguồn gốc của nó đã thấm đậm giá trị chung của nhân loại Mặt khác, tư tưởng HồChí Minh nhằm vào mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội để giải phóng triệt đểđối với con người, xây dựng một thế giới hòa bình trong đó là sự bình đẳng và hữu nghịgiữa các dân tộc, do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh có vai trò tác động mạnh mẽ theo xu thếtiến hóa, phát triển của nhân loại và xu thế chung của thời đại ngày nay Bởi vậy, tư tưởng

Hồ Chí Minh có giá trị thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại theo hướng tiến bộ, văn minh.Điều đó khẳng định giá trị nhân loại của tư tưởng Hồ Chí Minh Và cũng chính điều nàylàm sáng tỏ và khẳng định tầm vóc vĩ nhân của Hồ Chí Minh đối với lịch sử Việt Nam vànhân loại về cả tư tưởng và hoạt động thực tiễn

Tư tưởng Hồ Chí Minh, với thực chứng là những thắng lợi trong công cuộc giảiphóng dân tộc và giải phóng xã hội bằng sự nghiệp xây dựng xã hội mới, tiến bộ và vănminh ở Việt Nam có giá trị thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh

vì hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội, thúc đẩy phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa thựcdân xâm lược, chống chiến tranh và sự bất bình đẳng dân tộc, xã hội trên thế giới Dưới tácđộng và sự cổ vũ của tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân loại, đặc biệt là các dân tộc bị áp bức,trong thế kỷ XX đã quyết tâm biến thế kỷ này trở thành thế kỷ phi thực dân hóa với việccác nước thuộc địa đã giành được độc lập và trở thành đất nước tự do bằng cách loại bỏhòn đá cản trở con đường tiến hóa của nhân loại là chủ nghĩa thực dân Chính vì vậy, Nghịquyết 24C/18.6.5 về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng địnhNgười đã “để lại dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại” và là một biểu tượng xuấtsắc về sự tự khẳng định dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dântộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòabình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”1

Cho dù thế giới, trong các mối quan hệ của nó, có những diễn biến phức tạp, nhưngchiều hướng chung của nhân loại vẫn phát triển theo mục tiêu giải phóng con người Chính

vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn cổ vũ nhân loại trong đấu tranh cho mục tiêu nhân

văn đó và mãi có tác động to lớn đối với lịch sử tiến hóa của nhân loại

Kết luận: Với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và con người được

thiết kế trên cơ sở những giá trị văn hóa và yêu cầu chung của dân tộc và nhân loại, phùhợp với sự vận động và tiến hóa của loài người, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nền tảng tưtưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, mãi mãi là ngọn cờthắng lợi của cách mạng nước ta

C CÂU HỎI THẢO LUẬN

- Phân tích khái niệm Tư tưởng Hồ Chí Minh?

- Phân tích vai trò nguồn gốc lý luận và thực tiễn đối với sự hình thành tư tưởng HồChí Minh?

- Tại sao nói nét nổi bật của tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chính trị?

D CÂU HỎI ÔN TẬP

- Từ việc phân tích nội dung khái niệm, nguồn gốc hình thành, đồng chí hãy làm rõnhững đặc điểm, bản chất và giá trị cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh?

1 UNESC0 với sự kiện tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh húng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất Nxb CTQG.H 1990, tr 102-103

14

Trang 15

TÀI LIỆU Tài liệu bắt buộc

- Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê nin- Hồ Chí Minh toàn tập tập 12, Nxb

CTQG, H, 2011, tr 561-563

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầ thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam- NxbCTQG, H, 2011-tr 88-90

- Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học

Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh NxbCTQG,

Tài liệu đọc thêm

- Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học

Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam,

NxbCTQG, Hà nội

- Trường Chinh (1992) Chủ tịch Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam, Nxb Thông

tin lý luận Hà nội

- Phạm Văn Đồng (1998) Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà nội

- Phạm Văn Đồng (1976) - Hồ Chủ tịch, tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời

đại, Nxb Sự thật

- Đặng Xuân Kỳ (1990) Chủ tịch Hồ Chí Minh, chiến sĩ cộng sản kiên cường của

phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Nxb Thông tin lý luận Hà Nội

- Học viện Chính trị Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, (2006) Hồ Chí Minh - Biên

niên tiểu sử tập I, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà nội.

- Furuta Motoo (1997) Hồ Chí Minh giải phóng dân tộc và đổi mới, Nxb Chính trị

quốc gia Hà nội;

15

Trang 16

+ Về tư tưởng:

Khẳng định ý nghĩa và giá trị thời đại sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về cáchmạng giải phóng dân tộc; củng cố và nâng cao niềm tin vào con đường cách mạng mà HồChí Minh và Đảng ta đã lựa chọn

B NỘI DUNG2.1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

2.1.1 Vấn đề dân tộc

Khi nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, phải hiểu được khái niệm

Dân tộc gắn liền với phạm trù lịch sử và góc độ tiếp cận khác nhau của mỗi ngành khoa

học Ví dụ các ngành khoa học nghiên cứu về Nhân chủng học, Dân tộc học, Văn hóa học,

Sử học có nội dung khái niệm dân tộc không giống nhau Khái niệm dân tộc được đề cập trong Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, là khái niệm dân tộc quốc gia (Nation), trong đó chủ yếu nói về vấn đề dân tộc thuộc địa.

Trong tiÕng Anh (Nation) cã nguån gèc tõ tiÕng La tinh (Natio) cã nghÜa lµ: Sù sinh

në Khái niệm Dân tộc theo quan điểm của Mác - Lênin: Dân tộc là sản phẩm của quá

trình phát triển lâu dài của lịch sử, (trước dân tộc là những hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, tộc người- Ethnie) Sự ra đời và hình thành dân tộc quốc gia

(Nation) gắn liền với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản và sự ra đời của các nhànước

Khái niệm: Vấn đề dân tộc thuộc địa chỉ có từ khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai

đoạn tự do cạnh tranh, sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Để đáp ứng yêu cầu mở rộng thịtrường và sự phát triển của nền kinh tế, sản xuất hàng hóa, các nước đế quốc cấu kết vớinhau xâm lược, cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhược tiểu Vấn đề dân tộc trở nên gay gắt

(bởi sự áp bức dân tộc), từ đó xuất hiện khái niệm: Vấn đề dân tộc thuộc địa

Sau Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917), đặc biệt là từ sau khi trênthế giới hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa (1945), nhờ có sự ủng hộ, giúp đỡtích cực của phong trào cách mạng thế giới đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa đấutranh đòi độc lập, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, làm tan rã hệ thốngthuộc địa của chủ nghĩa thực dân (kiểu cũ) Cho đến cuối thập kỷ 60 (thế kỷ XX), hầu hếtcác nước thuộc địa trên thế giới đã giành được thắng lợi và trở thành các quốc gia dân tộcđộc lập

Khi bàn về sự phát triển của vấn đề dân tộc, V.I Lênin đã đề cập đến hai xu hướngphát triển của vấn đề dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản Xu hướng thứ nhất là

sự thức tỉnh của ý thức dân tộc, của phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc sẽ dẫn tới

16

Trang 17

việc thành lập các quốc gia dân tộc độc lập Xu hướng thứ hai là với việc tăng cường vàphát triển các mối quan hệ giữa các dân tộc sẽ dẫn tới việc phá vỡ sự ngăn cách dân tộc,thiết lập sự thống nhất quốc tế của chủ nghĩa tư bản, của đời sống kinh tế, chính trị, khoahọc1 vv.

Xu hướng thứ nhất chiếm ưu thế trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản mới phát triển, còn

xu hướng thứ hai là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản già cỗi sắp chuyển sang xã hội xã hội

chủ nghĩa; cả hai xu hướng đều phát triển trong điều kiện mâu thuẫn đối kháng giai cấpgay gắt Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa dân tộc tư sản không thể giải quyếtđược vấn đề dân tộc, mà chỉ làm cho sự xung đột dân tộc ngày càng tăng lên Chỉ có cáchmạng vô sản và chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở thủ tiêu ách áp bức giai cấp và áp bức dân tộc,mới tạo điều kiện để thực hiện sự bình đẳng dân tộc và xây dựng tình hữu nghị giữa cácdân tộc, làm cho các dân tộc ngày càng xích lại gần nhau Từ đó, V.I Lênin yêu cầu các

Đảng Cộng sản phải kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản

và chủ nghĩa sô vanh, giành thắng lợi cho chủ nghĩa quốc tế vô sản 2

Ở Việt Nam, đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã cơ bản hoàn tất công cuộc xâmlược và bình định nước ta, biến Việt Nam từ một quốc gia độc lập trở thành một nướcthuộc địa của Pháp Trước cảnh nước mất, nhà tan, nhân dân lầm than trong vòng nô lệ,người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành từ giã quê hương, ra đi tìm đường cứunước Trải qua hành trình gian khổ, Người đã đến nhiều nước thuộc địa, nghiên cứu cácchâu lục, nghiên cứu về đời sống nhân dân thuộc địa, về chính sách đàn áp, bóc lột thuộcđịa của chủ nghĩa thực dân; nghiên cứu về các cuộc cách mạng tư sản Nguyễn Tất Thành

đã trở thành lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận đấu tranhgiải phóng dân tộc

Khái niệm dân tộc mà Hồ Chí Minh đề cập có nội hàm: Dân tộc quốc gia, có khi Người dùng khái niệm: Đồng bào Việt Nam (cùng một dòng giống, theo sự tích Lạc Long

Quân và Âu Cơ) để nói rằng, các dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có chung một nguồncội: “Con Rồng, cháu Tiên; con Lạc cháu Hồng”, đều là anh em một nhà, con cháu của cácVua Hùng

2.1.2.Vấn đề dân tộc thuộc địa

Vấn đề dân tộc thuộc địa trong tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là vấn đề đấu tranh

giải phóng của các dân tộc thuộc địa, nhằm thủ tiêu sự thống trị của nước ngoài, giành độclập dân tộc, xóa bỏ ách áp bức, bóc lột thực dân, thực hiện quyền dân tộc tự quyết, thànhlập nhà nước dân tộc độc lập

Trong thời đại chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, cách mạng giảiphóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, việc nhận thức và giảiquyết vấn đề dân tộc như thế nào có quan hệ đến toàn bộ đường lối, chiến lược, sách lược

của cách mạng giải phóng dân tộc Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc trong thời đại

cách mạng vô sản, được thể hiện trong mấy luận điểm cơ bản sau đây:

2.1.2.1 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc

Đối với mỗi một người dân mất nước, cái quý nhất là độc lập của Tổ quốc, tự do của

bản thân và của dân tộc Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Cái mà tôi cần nhất

trên đời là: Tổ quốc tôi được độc lập, đồng bào tôi được tự do, Trên đường tìm đường cứu

nước, Hồ Chí Minh đã đến nước Mỹ, tìm hiểu tinh thần bất hủ của bản Tuyên ngôn độc

lập 1776 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; Người đã sống và làm việc ở Pari - Thủ đô của

nước Pháp, trung tâm văn hóa của châu Âu, tiếp cận với những giá trị nhân văn của Tuyên

1 Xem: V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1980, t 24, tr 158.

2 Xem: Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh NXB.CTQG.H 2003 tr.

17

Trang 18

ngụn Nhõn quyền và Dõn quyền 1791 và tinh thần tiến bộ của cỏch mạng Phỏp: Tự do

-Bỡnh đẳng - Bỏc ỏi Sau này, tinh thần đú được Người đó khỏi quỏt nờn chõn lý bất hủ vềquyền cơ bản của cỏc dõn tộc trong Tuyờn ngụn độc lập của nước Việt Nam Dõn chủ Cộng

hũa: Tất cả cỏc dõn tộc trờn thế giới đều sinh ra bỡnh đẳng, dõn tộc nào cũng cú quyền

sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Năm 1919, tại Hội nghị Vộcsai (Versailles), cỏc nước đồng minh thắng trận trong

chiến tranh thế giới lần thứ nhất đó thừa nhận quyền dõn tộc tự quyết Đại diện cho Hội

những người Việt Nam yờu nước tại Phỏp, ký tờn Nguyễn Ái Quốc, Người gửi đến Hội

nghị bản Yờu sỏch 8 điểm, đũi cỏc quyền tự do, dõn chủ cho nhõn dõn Việt Nam.

Bản Yờu sỏch yờu cầu chớnh quyền thực dõn ở Đụng Dương phải giải quyết quyền tự

do, bỡnh đẳng tối thiểu cho nhõn dõn Việt Nam

Một là đũi quyền bỡnh đẳng về chớnh trị phỏp lý: Yờu cầu chớnh quyền thực dõn phải

đối xử với người bản xứ Đụng Dương như đối với người chõu Âu, tức là phải xúa bỏ cỏctũa ỏn đặc biệt dựng làm cụng cụ khủng bố, đàn ỏp bộ phận trung thực nhất trong nhõn dõn

(tức những người yờu nước); phải bói bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh (một cỏch độc tài) và thay thế bằng chế độ ra cỏc đạo luật.

Hai là đũi cỏc quyền tự do dõn chủ tối thiểu cho nhõn dõn, đú là cỏc quyền tự do

ngụn luận, bỏo chớ, tự do lập hội, hội họp, tự do cư trỳ…

Tuy nhiờn, Bản yờu sỏch đó khụng được những người đứng đầu cỏc quốc gia đồng minh xem xột, từ thực tiễn đú Nguyễn Ái Quốc rỳt ra kết luận: Muốn được giải phúng cỏc

dõn tộc chỉ cú thể trụng cậy vào mỡnh, trụng cậy vào lực lượng của bản thõn mỡnh… 1.Theo Người, nền độc lập dõn tộc chỉ cú thể giành được bằng một cuộc cỏch mạng, ở ViệtNam trờn những điều kiện lịch sử cụ thể, cuộc cỏch mạng chỉ cú thể giành thắng lợi bằngcon đường cỏch mạng vụ sản, do Đảng cộng sản lónh đạo Sau khi đó chuẩn bị kỹ càng vềchớnh trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của một chớnh đảng mỏc xớt, Nguyễn Ái Quốc

chủ trỡ Hội nghị hợp nhất cỏc tổ chức cộng sản trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt

Nam (2/1930)

Trong Chỏnh cương vắn tắt cũng như trong Lời kờu gọi sau khi thành lập Đảng do

lónh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp khởi thảo, đó xỏc định mục tiờu chớnh trị của Đảng là:Đỏnh đổ đế quốc chủ nghĩa Phỏp và bọn phong kiến tay sai, giành độc lập dõn tộc và tiếnlờn xó hội cộng sản

Thỏng 5-1941, Người chủ trỡ Hội nghị Trung ương 8 của Đảng, viết thư Kớnh cỏo

đồng bào, Người chỉ rừ: "Trong lỳc này quyền lợi dõn tộc giải phúng cao hơn hết thảy" 2

Với việc quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh),

ra bỏo Việt Nam độc lập, thảo Mười chớnh sỏch của Việt Minh, trong đú mục tiờu đầu tiờn

là: "Cờ treo độc lập, nền xõy bỡnh quyền", Hồ Chớ Minh đó đỳc kết ý chớ đấu tranh cho độclập, tự do của nhõn dõn ta trong một cõu núi bất hủ: "Dự cú phải đốt chỏy cả dóy TrườngSơn cũng phải kiờn quyết giành cho được độc lập!"3

Cỏch mạng Thỏng Tỏm thành cụng, Người thay mặt Chớnh phủ lõm thời đọc bản

Tuyờn ngụn độc lập, long trọng khẳng định trước quốc dõn đồng bào và trước thế giới:

"Nước Việt Nam cú quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật dó thành một được tự do độclập Toàn thể dõn tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tớnh mạng và củacải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy"4

Trong cỏc bức thư và điện văn gửi tới Liờn hợp quốc và Chớnh phủ cỏc nước vào thời

gian đú, Người đó trịnh trọng tuyờn bố rằng "nhõn dõn chỳng tụi thành thật mong muốn

1 Xem: Trần Dõn Tiờn: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb Văn học, Hà Nội, 1970, tr 30.

2 Hồ Chớ Minh: Toàn tập, Sđd, tập 3, tr 198.

3 Vừ Nguyờn Giỏp: Những chặng đờng lịch sử NXB.CTQG H 1994, trang 196.

4 Hồ Chớ Minh: Toàn tập, Sđd, t 4, tr 4.

18

Trang 19

hòa bình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ nhữngquyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đát nước"1.

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ thể hiện quyết tâm bảo vệ độc lập và chủ quyền dântộc, Người ra lời kêu gọi: "Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịumất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"2

Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại đưa ra

một khẩu hiệu mang tinh thần bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" 3 Được sự cổ vũcủa tinh thần đó, nhân dân ta ở hai miền Nam Bắc đã kiên cường chiến đấu, hy sinh, buộc

Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, phải chấpnhận điều 1 của chương I nói về các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam: "Hoa

Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước

Việt Nam như Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về Việt Nam đã công nhận"

"Không có gì quý hơn độc lập, tự do" không chỉ là khẩu hiệu, không chỉ là tư tưởng

sống mà còn là lẽ sống, là học thuyết cách mạng của Hồ Chí Minh Đó là lý do chiến đấu,

là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng của sự nghiệp đấu tranh vì độc lập, tự do của ViệtNam, đồng thời cũng là nguồn động viên đối tượng các dân tộc bị áp bức trên toàn thếgiới Vì vậy, Người không chỉ được tôn vinh là "Anh hùng giải phóng dân tộc" của ViệtNam, mà còn được thừa nhận là người khởi xướng cuộc đấu tranh giải phóng của các dântộc thuộc địa trong thế kỷ XX

2.1.2.2 Về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mối quan hệ dân tộc và giai cấp là mối quan hệ chặtchẽ, hữu cơ với nhau Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; Giải phóng dân tộc

là tiền đề để giải phóng giai cấp; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội Giữ vữngđộc lập dân tộc mình, đồng thời cũng góp phần giữ vững sự ổn định chính trị và nền hòabình trên thế giới, tôn trọng các dân tộc khác

Nhìn lại phong trào yêu nước, chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đều đượcdẫn dắt bởi ý thức hệ phong kiến hoặc dân chủ tư sản, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam vẫnchủ yếu dừng lại ở chủ nghĩa yêu nước truyền thống Đến Hồ Chí Minh, vấn đề dân tộc vàgiải phóng dân tộc được tiến hành dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, giành độc lậpdân tộc để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp đượcđặt ra và giải quyết một cách phù hợp, nhuần nhuyễn, biện chứng Đây là một vấn đề lýluận quan trọng, có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong thời đại cách mạng vô sản

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, khi đề cập đến mối quan hệ giai cấp và dân

tộc C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản nhằm lật đổ áchthống trị của giai cấp tư sản, ở giai đoạn đầu của nó là mang tính chất dân tộc, vì: "Phongtrào vô sản là phong trào độc lập của khối đại đa số, mưu lợi ích cho khối đại đa số"4 Vìvậy, "Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung,không phải là một cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu mang hình thức đấu tranh dântộc"2 Từ đó, Mác kêu gọi: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chínhquyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàntoàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu"5

Theo Mác - Ăngghen, trong thời đại ngày nay, chỉ có giai cấp vô sản mới thống nhấtđược lợi ích của giai cấp mình với lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Do đó,

có thể xóa bỏ triệt để tình trạng bóc lột và áp bức giai cấp, đó là điều kiện xóa bỏ ách áp

Trang 20

bức dân tộc, đem lại độc lập thật sự cho dân tộc mình và cho các dân tộc khác Chỉ có giaicấp vô sản với bản chất cách mạng và sứ mệnh lịch sử của mình, mới có thể thực hiệnđược điều này Chỉ có cuộc cách mạng do chính đảng của giai cấp vô sản lãnh đạo mớithực hiện được sự thống nhất giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóngcon người.

Tuy nhiên, ở thời đại Mác - Ăngghen, các ông không đi sâu giải quyết vấn đề dân tộc

vì về cơ bản, vấn đề dân tộc ở Tây Âu đã được giải quyết trong cách mạng tư sản; nhất là

các ông chưa có điều kiện bàn nhiều về vấn đề dân tộc thuộc địa Đúng như Lênin đã từng

nhận xét, đối với Mác, so với vấn đề giai cấp vô sản thì vấn đề dân tộc chỉ là một vấn đềthứ yếu thôi

Bước sang thời đại Lênin, chủ nghĩa đế quốc đã trở thành một hệ thống thế giới, cáchmạng giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản, Lênin mới có cơ

sở thực tiễn để phát triển vấn đề dân tộc thuộc địa thành một hệ thống lý luận, được coi làhọc thuyết về cách mạng thuộc địa Theo V.I.Lênin, cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản ởchính quốc sẽ không thể giành được thắng lợi nếu nó không biết liên minh với cuộc đấutranh của các dân tộc bị áp bức ở thuộc địa Từ đó, Lênin đã bổ sung khẩu hiệu của Mácthành: "Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!" Đánh giá về quanđiểm mới của V.I.Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: "Lênin đã đặt tiền đề cho mộtthời đại mới, thật sự cách mạng trong các nước thuộc địa"1

Tóm lại, Mác, Ăngghen, Lênin đã nêu ra những quan điểm cơ bản về mối quan hệ

biện chứng giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, tạo cơ sở lý luận và phương pháp luậncho việc xác định chiến lược, sách lược của các Đảng Cộng sản về vấn đề dân tộc và thuộcđịa Tuy nhiên, xuất phát từ yêu cầu và mục tiêu của cách mạng vô sản ở châu Âu, các ông

vẫn tập trung vào giải quyết vấn đề giai cấp; vẫn "đặt lên hàng đầu và bảo vệ những lợi ích

không phụ thuộc vào dân tộc và chung cho toàn thể giai cấp vô sản"2 Điều đó hoàn toànđúng với đòi hỏi của thực tiễn cách mạng vô sản Tây Âu đang đặt ra lúc bấy giờ, nhưngsau này không còn mấy phù hợp, đặc biệt là đối với phong trào cách mạng giải phóng dântộc ở các nước thuộc địa, bởi điều kiện thực tiễn lịch sử đã đổi thay Có một người đã sớmnhận ra điều đó và đưa ra những vấn đề lý luận, thực tiễn mới, hết sức quan trọng bổ sungcho lý luận về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc,

đó là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh từ một người yêu nước, trên hành trình tìm đường cứu nước đến vớichủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình, đi theocon đường của cách mạng Tháng Mười Nga, theo quỹ đạo của cách mạng vô sản Hồ ChíMinh viết: "Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thếgiới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó… thì

đó càng là thắng lợi cho cả người An Nam"3, tức là Hồ Chí Minh đã gắn cách mạng ViệtNam với cách mạng thế giới, là một bộ phận của cách mạng thế giới

Nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trongcách mạng giải phóng dân tộc trong thời đại mới, trước những thay đổi của tình hình cáchmạng thế giới, Hồ Chí Minh khẳng định rằng, nhiệm vụ đặt ra cho các nước thuộc địakhông phải là làm ngay một cuộc cách mạng vô sản, mà trước hết là phải đấu tranh giànhlại độc lập cho dân tộc; có độc lập dân tộc rồi, mới có điều kiện để tiến lên làm cách mạng

xã hội chủ nghĩa Hơn nữa, yêu cầu bức thiết của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộckhông cho phép ỷ lại, ngồi chờ thắng lợi của cách mạng vô sản ở châu Âu để được trả lạinền độc lập cho các dân tộc thuộc địa

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 2, tr 136.

2 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 4, tr 614.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t 1, tr 469.

20

Trang 21

Tại diễn đàn của Đại hội V Quốc tế cộng sản (1924) ở Mátxcơva (Liên Xô), Nguyễn

Ái Quốc đã tiến hành đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái của một số Đảng Cộng sảnTây Âu trong cách nhìn nhận, đánh giá về vai trò, vị trí, cũng như tương lai của cách mạngthuộc địa Người cho rằng, nhân dân các dân tộc thuộc địa có thể tiến hành cách mạng giảiphóng dân tộc và giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở các nước chính quốc; phải dựavào sức của chính mình, đồng thời biết tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của giai cấp vô sản

và nhân dân lao động thế giới để trước hết phải đấu tranh giành lại độc lập cho dân tộc,

rồi từ thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa,đóng góp thiết thực vào sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới Những quan điểm của HồChí Minh khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Người trong về lý luận và thực tiễn cáchmạng, về giải quyết mối quan hệ dân tộc với giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩaquốc tế, độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội

2.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC 2.2.1.Mục tiêu và tính chất của cách mạng giải phóng dân tộc

Về mục tiêu: Cách mạng giải phóng dân tộc là cuộc cách mạng do nhân dân các nước

thuộc địa, (hoặc các nước bị nô dịch) tiến hành, nhằm lật đổ ách thống trị của chủ nghĩa đếquốc, khôi phục độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia, xây dựng chính quyền, xây dựng

nhà nước thuộc về lực lượng dân tộc Do đó, mục tiêu cơ bản và chủ yếu của cách mạng

giải phóng dân tộc là lật đổ ách áp bức, nô dịch của chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành

độc lập dân tộc, khôi phục chủ quyền quốc gia

Về tính chất của cách mạng giải phóng dân tộc: Đây là cuộc đấu tranh giữa những

người bị áp bức chống kẻ áp bức; giữa nhân dân thuộc địa-những người bị xâm lược chống

kẻ xâm lược- chủ nghĩa thực dân; là cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn dân tộc với đếquốc

Về nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc là tiến hành vận động cách mạng,

khởi nghĩa đánh đổ ách thống trị của thực dân đế quốc, giành độc lập dân tộc, giành chínhquyền về tay nhân dân Sau khi giành chính quyền, tổ chức xây dựng xã hội mới do nhândân làm chủ

Để thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ của cuộc cách mạng giải phóng dân tộctrong thời đại mới, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, cần phải tiến hành các nội dung sauđây

Trong bối cảnh năm 1917, Cách mạng Tháng 10 Nga thắng lợi, mở ra thời đại mới:

Thời đại từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, tất cả các loại hình cách mạng

khác (kể cả loại hình cách mạng Dân chủ tư sản, do giai cấp tư sản lãnh đạo), đều khôngphù hợp với thực tiễn thời đại Chính vì thế, muốn làm cách mạng giải phóng dân tộcthắng lợi, giai cấp vô sản trên thế cũng phải đoàn kết lại, đặt dưới sự chỉ huy thống nhấtcủa bộ tham mưu của phong trào cách mạng thế giới: Quốc tế cộng sản Hồ Chí Minh kếtluận, cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, do đó khi tiến hànhcông cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời góp phần thúc đẩy phong trào cáchmạng thế giới phát triển

21

Trang 22

Hồ Chí Minh dành nhiều công sức nghiên cứu về các cuộc cách mạng tư sản Anh,Pháp, Mỹ, đặc biệt là cuộc cách mạng tháng Mười Nga do V.I.Lênin lãnh đạo Kết luậnquan trọng của Hồ Chí Minh rằng: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mạng Nga là thànhcông đến nơi Cách mạng Nga dạy cho chúng ta rằng, muốn cách mệnh thành công thìphải dân chúng làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống

nhất” Năm điểm phải làm rút ra từ bài học Cách mạng tháng Mười Nga chính là những

luận điểm thể hiện bước chuyển biến quyết định trong tư duy chính trị của Hồ Chí Minh về

hướng đi của con đường cứu nước, giải phóng dân tộc Người khẳng định: “Muốn cứu

nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”,

tức là theo chủ nghĩa Mác-Lênin, theo con đường cách mạng Tháng Mười Nga

Việc lựa chọn và quyết định đi theo con đường cách mạng vô sản, theo con đườngcủa Cách mạng tháng Mười Nga, theo chủ nghĩa Mác-Lênin là một quyết định đánh dấu sựtrưởng thành vượt bậc về mặt nhận thức tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc,

đồng thời mang tính bước ngoặt căn bản đối với cách mạng Việt Nam.

Nhiệm vụ lãnh đạo của Đảng cộng sản: Xác định mục tiêu của cách mạng, xây dựng

đường lối cách mạng giải phóng dân tộc; Thông qua cương lĩnh, đường lối của mình, Đảng

tổ chức vận động, tập hợp các lực lượng cách mạng, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất,(mà nòng cốt là liên minh công nông), thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ: chống đế quốc và

chống phong kiến, giành độc lập dân tộc, đem lại tự do và hạnh phúc cho nhân dân Để

đáp ứng được với những yêu cầu nhiệm vụ đó, Đảng cộng sản phải được xây dựng theocác nguyên tắc Đảng kiểu mới của Lênin, được vũ trang bằng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin

2.2.4 Về lực lượng thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc

Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết toàn dân, trên cơ sở liên minh công nông làm nòng cốt

Trước Hồ Chí Minh, quan điểm về lực lượng cách mạng của các nhà cách mạng kinhđiển như C.Mác Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quầnchúng”, tuy nhiên chủ yếu do giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân tiếnhành Hồ Chí Minh tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thời đưa ra nhữngquan điểm mang tính sáng tạo, phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể

Cách mạng giải phóng dân tộc như Nguyễn Ái Quốc viết "là việc chung cả dân chúngchứ không phải việc một hai người"2, vì vậy phải đoàn kết toàn dân, "sĩ, nông, công,thương đều nhất trí chống lại cường quyền" Nhưng trong sự tập hợp rộng rãi đó, Người

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, NXB.CTQG H 2010, tr 267.

2, 2 Sđd, tr 262, 266.

22

Trang 23

nhắc nhở không được quên cái cốt của nó là công - nông Phải nhớ: "Công nông là ngườichủ cách mệnh… Công nông là gốc cách mệnh"2.

Nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh thực thực tiễn của các nước thuộc địa, trong đó cóViệt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, với dân số hơn 95% là nông dân, Hồ ChíMinh nhận định: “Trong tất cả các thuộc địa của Pháp, nạn nghèo đói đều gia tăng, sựphẫn uất ngày càng lên cao Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín muồi”1 Bởi vì nôngdân là những người chịu nhiều tầng áp bức, bị bần cùng hóa, cho nên họ luôn có ý thứcphản kháng, sẵn sàng tham gia cách mạng Do đó, cách mạng giải phóng dân tộc phải có

sự tham gia của giai cấp nông dân, và là sự nghiệp của toàn dân.

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: bộ phận trung tâm trong lực lượng cách mạng giải phóng

dân tộc là công nhân, nông dân và khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo Đây là một phát hiện của Hồ Chí Minh về vai trò, sứ mệnh và khả năng thực thi

nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc của giai cấp nông dân ở các nước thuộc địa nóichung và giai cấp nông dân Việt Nam nói riêng Người sớm nhìn thấy giai cấp nông dânViệt Nam là lực lượng cách mạng tiềm tàng, có những khả năng rất to lớn, nếu: “Khéo tổchức, khéo lãnh đạo thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân vàphong kiến cũng sẽ bị lực lượng to lớn ấy đánh tan”

Đánh giá cao vai trò, sứ mệnh của giai cấp nông dân, nhưng trước sau Hồ Chí Minhvẫn luôn khẳng định rằng, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng, Đảng phảilãnh đạo xây dựng khối liên minh công nông làm nòng cốt cho mặt trận dân tộc thốngnhất

Cùng với việc xây dựng liên minh công nông, xác định: “Công nông là người chủcách mệnh Công nông là gốc cách mệnh”2, Hồ Chí Minh chủ trương vận động, tập hợprộng rãi các tầng lớp nhân dân Việt Nam, những người dân mất nước, đang bị làm nô lệ,vào một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, nhằm huy động sức mạnh của toàn dân tộcvào cuộc đấu tranh giành độc lập tự do Người viết: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tưsản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, vv , để kéo họ đi vào phe vô sản giaicấp”3

Trong khi chủ trương đoàn kết, tập hợp rộng rãi các lực lượng dân tộc chống đế quốc,

Hồ Chí Minh vẫn luôn quán triệt quan điểm giai cấp: “Công nông là gốc của cách mệnh;còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ cũng bị tư sản áp bức, song không cực khổ bằng côngnông; ba hạng người ấy chỉ là bầu bạn cách mệnh của công nông thôi”4 Trong việc tậphợp, liên kết với các giai tầng trong xã hội, Người căn dặn phải thực hiện theo đúngnguyên tắc: “Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng

bộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thỏa hiệp”5

Việc vận dụng sáng tạo và bổ sung phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin

về lực lượng cách mạng trong cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh, có ý nghĩahết sức quan trọng trong việc tổ chức, tập hợp xây dựng lực lượng, tiến hành cách mạnggiải phóng dân tộc giành thắng lợi ở Việt Nam

2.2.5 Về mối quan hệ giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa

và cách mạng vô sản ở các nước chính quốc

Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.

Trang 24

Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, nhất là thời kỳ trước khi nổ ra Cáchmạng tháng Mười Nga, luôn tồn tại quan điểm cho rằng, thắng lợi của cách mạng ở cácnước thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản ở chính quốc.Năm 1919, khi Quốc tế cộng sản được thành lập, trong Tuyên ngôn Quốc tế III vẫncòn khẳng định rằng: “Công nhân và nông dân không những ở An Nam, Angiê ri, Bengan

mà cả Ba Tư hay Ácmênia chỉ có thể giành được độc lập khi mà công nhân các nước Anh

và Pháp lật đổ được Lôiit Gioócgiơ và Clêmăngxô, giành chính quyền nhà nước về taymình” Quan điểm này còn tồn tại đến tận Đại hội VI Quốc tế cộng sản (1928) Trong

Những luận cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, được

thông qua tại Đại hội ngày 1-9-1928, có viết: “Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộcgiải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiêntiến”1

Căn cứ vào thực tiễn tình hình cách mạng Việt Nam và sự phát triển của phong tràocách mạng thế giới, Hồ Chí Minh không đồng tình với chủ trương của nhiều đại biểu phátbiểu tại Đại hội Quốc V Quốc tế cộng sản Tại diễn đàn Đại hội V (1924), Hồ Chí Minh đãphát biểu thẳng thắn quan điểm của mình: “Hiện nay nọc độc và sức sống của bọn rắn độc

tư bản chủ nghĩa đang tập trung ở các thuộc địa hơn là ở chính quốc”2 Người khẳng định:Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc

mà có thể giành thắng lợi trước

Hồ Chí Minh khẳng định, thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ởthuộc địa, không chỉ giải phóng nhân dân khỏi ách áp bức của chủ nghĩa thực dân, mà còntạo điều kiện cho cho cuộc cách mạng vô sản ở chính quốc Người nói: “Trong khi thủ tiêumột trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thểgiúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn”3.Đây là một luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớnđối với phong trào cách mạng thế giới và là sự bổ sung kịp thời vào kho tàng lý luận củachủ nghĩa Mác-Lênin Đặc biệt, đối với cách mạng Việt Nam, luận điểm cách mạng của

Hồ Chí Minh đã được vận dụng một cách chủ động, sáng tạo trong tiến trình vận độngcách mạng giải phóng dân tộc Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở ViệtNam, là một minh chứng khẳng định luận điểm của Hồ Chí Minh hoàn toàn đúng đắn

2.2.6 Về phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc

Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị của quần chúng với đấu tranh vũ trang; khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn.

Căn cứ vào thực tiễn tình hình cách mạng thế gới và thực tiễn Việt Nam; nghiên cứuquan điểm lý luận về cách mạng vô sản, Hồ Chí Minh khẳng định, để cứu nước, giảiphóng dân tộc, cách mạng Việt Nam phải tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực:Kết hợp khởi nghĩa vũ trang với đấu tranh chính trị của quần chúng

Nghiên cứu về phong trào đấu tranh yêu nước, cách mạng ở Việt Nam những nămcuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, phương pháp đấu tranh bằng con đường cải lương (do PhanChu Trinh khởi xướng), với phương châm: “Pháp Việt đề huề”, chủ trương dựa vào Pháp

để tăng tiềm lực đất nước; chủ yếu sử dụng hình thức đấu tranh hợp pháp, đấu tranh bằngphương pháp hòa bình để giành độc lập dân tộc ở Việt Nam Nhưng đó chỉ là phương phápmang tính ảo tưởng, thiếu thực tế và đã thất bại Vì bản chất của thực dân, đế quốc là xâm

1 Những luận cương về Nghị quyết Đại hội VI Quốc tế cộng sản Dẫn theo: Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh,

NXB.CTQG H 2003 (Hội đồng TW chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia ), tr 78.

2 Sdd, tr.274.

3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, tr36

24

Trang 25

lược, nô dịch và lợi nhuận, nên nó sẽ không dễ dàng từ bỏ thị trường, thuộc địa mà chúngđang bóc lột, thu lợi.

Phương pháp vũ trang bạo động, nhờ sự giúp đỡ của bên ngoài (phong trào Quangphục hội, Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo), hoặc bằng phương pháp vũ trang ám sáttheo khuynh hướng dân chủ tư sản, ( tiêu biểu là đường lối của Quốc Dân Đảng doNguyễn Thái Học khởi xướng), cũng đều thất bại

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn cách mạng Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh chỉ ra

rằng, để cuộc cuộc khởi nghĩa vũ trang có thể giành thắng lợi, phải sử dụng cách mạng

bạo lực, kết hợp khởi nghĩa vũ trang với lực lượng chính trị của quần chúng, coi đó là

điểm tựa để phát triển lực lượng vũ trang, tổ chức các hình thức đấu tranh vũ trang từ thấpđến cao, từ nhỏ đến lớn, phù hợp với từng nơi, từng thời kỳ cụ thể

Tháng 5-1941, tại Hội nghị Trung ương lần thứ Tám, sau khi phân tích, đánh giá tình

hình trong nước và thế giới, Hồ Chí Minh đã đưa ra nhận định: Cuộc cách mạng Đông

Dương kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang, mở đầu có thể là bằng một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương mà mở đầu cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ Tám, Hồ Chí Minh chỉ đạo tích cực xây dựnglực lượng, chờ thời cơ, tiến tới khởi nghĩa vũ trang Trước hết là chỉ đạo xây dựng các căn

cứ địa, đồng thời mở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ, xây dựng các tổ chức chính trịcủa quần chúng: hàng loạt các Hội Cứu quốc: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc vv

ra đời Các đơn vị vũ trang cũng được xúc tiến thành lập: Cứu quốc quân I và Cứu quốcquân II, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, các đội du kích lần lượt ra đời Với

sự chủ động, tích cực đón chờ thời cơ khởi nghĩa, tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến,

có lệnh Tổng khởi nghĩa, chỉ trong thời gian ngắn chưa đầy nửa tháng, cả nước đã đứnglên giành chính quyền về tay nhân dân

Quan điểm Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường bạo

lực, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ tranh; tiến hành khởi nghĩa từng phần

tiến tới tổng khởi nghĩa, đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành chính quyền về taynhân dân đã được Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện rất linh hoạt và hiệu quả Trong đó nổilên vấn đề quan trọng là xây dựng lực lượng, nhưng vấn đề chọn thời cơ khởi nghĩa cũng

là vấn đề mang tính quyết định, đem đến thắng lợi

Tóm lại: Hồ Chí Minh đã vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết của Lênin về

cách mạng thuộc địa, hình thành một hệ thống luận điểm khá hoàn chỉnh, bao gồm cảđường lối chiến lược, sách lược và phương pháp tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ởthuộc địa

Đặt chiến lược của cách mạng Việt Nam trong quỹ đạo cách mạng vô sản thế giới,khẳng định cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, Hồ Chí Minh đãlựa chọn con đường cách mạng giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, đó

là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với lịch sử đất nước và thời đại Khẩn trương xúc tiến

việc chuẩn bị mọi điều kiện cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam; soạn thảo Chánh

cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh đã xác định nhiệm vụ chiến

lược cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là chống đế quốc và chống phong kiến.Hai nhiệm vụ đó không tách rời nhau, cho nên, Đảng ta phải chỉ đạo giải quyết đặt ra hàngloạt vấn đề: về sắp xếp lực lượng cách mạng, về xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất, vềliên minh công nông, về phương pháp tiến hành cách mạng, về khởi nghĩa vũ trang, về thời

cơ khởi nghĩa vv

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ đã cho thấy tính khoa học, tính đúng đắn, sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh về cáchmạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam

25

Trang 26

2.3 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

2.3.1 Tình hình mới và những yêu cầu, nhiệm vụ mới

Hiện nay tình hình trong nước và trên thế giới hiện nay đang có nhiều diễn biếnphức tạp, có nhiều thuận lợi, đan xen những thách thức Nguy cơ các thế lực phản động

trong và ngoài nước đe dọa đến nền độc lập vẫn còn Trên thế giới đã có những thay đổi

căn bản, chủ nghĩa thực dân cũ đã bị diệt vong, nhưng chủ nghĩa thực dân mới vẫn đanghiện hữu, các nước đế quốc đang cố thích ứng và tiếp tục mưu đồ về khu vực ảnh hưởng,

về thị trường lợi nhuận Trong quá trình vận động, hội nhập toàn cầu hóa, phải luôn nhớtới nguyên tắc quyền lợi của dân tộc, giai cấp và không bao giờ được ảo tưởng trong quan

hệ hợp tác với các nước khác Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng ta đã khẳngđịnh: Những thành tựu đạt được sau hơn hai mươi nhăm năm đổi mới là to lớn và rất quantrọng, làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều Đồng thời, Đại hội cũng chỉ rõ:

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cũng đang đứng trước những thời cơ và thách thức

to lớn mà chúng ta phải chủ động đón lấy để vượt qua thách thức, nắm lấy thời cơ Trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, chúng ta cần nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ ChíMinh về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội nhằm tạo ra những nguồn lực mới, đưa sự nghiệp đổi mới vững bước tiến lênnhững thắng lợi mới Phải khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc,tạo điều kiện và phát huy mọi nguồn lực để xây dựng và bảo vệ đất nước (cả nguồn lực

bên trong và nguồn lực bên ngoài; dân tộc và quốc tế)

Trước hết phải xác định rõ các nguồn lực và nhấn mạnh phải phát huy tối đa cácnguồn nội lực Nội lực, hiểu một cách toàn diện, bao gồm con người, trí tuệ, truyền thốngdân tộc, truyền thống cách mạng, đất đai, tài nguyên, vốn liếng… nhưng tựu trung lại, yếu

tố quan trọng nhất, quyết định nhất vẫn là nguồn lực con người với tất cả sức mạnh thểchất và tinh thần của nó Chủ nghĩa yêu nước là nguồn lực mạnh mẽ nhất, trong hai cuộckháng chiến thần thánh của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh,tinh thần yêu nước ấy đã được phát huy cao độ, biến thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng

vô song, đưa đến mọi thắng lợi của dân tộc ta Trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc hiện nay, truyền thống quý báu ấy cần được tiếp tục khơi dậy mạnh mẽ, biến

nó thành một nguồn nội lực vô tận để đưa đất nước vượt qua mọi nguy cơ, thử thách, vữngbước tiến lên

2.3.2 Những nội dung, nhiệm vụ chủ yếu nhằm bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trong điều kiện hiện nay

Một là: Kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH Trong bất kỳ điều

kiện, hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững được nền độc lập hoàn toàn, độc lập thực sự củađất nước

Hai là: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đáp ứng với yêu cầu

nhiệm vụ trong thời kỳ lịch sử mới Trước hết là mỗi đảng viên tự nâng cao trình độ nhậnthức chính trị và chuyên môn, trau dồi, rèn luyện đạo đức để xứng đáng là người lãnh đạo,người đầy tớ trung thành của nhân dân

Ba là: Tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công

nông trí, trên cơ sở phát huy tinh thần tự lực tự cường, “đem tài dân, sức dân để làm lợicho dân”

Bốn là: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại Vừa

đấu tranh, vừa xây dựng lực lượng, biết giành thắng lợi từng bước, tạo thời, lập thế, tiếnlên giành thắng lợi hoàn toàn Công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng của Việt Namtrong bối cảnh toàn cầu hóa, đã và đang phát triển thuận lợi, thu được những thành tựu to

26

Trang 27

lớn, đồng thời phải giải quyết những thách thức, khó khăn và sự chống phá của các thế lựcthù địch Đánh giá khách quan về những thành tựu đã đạt được, có thể khẳng định rằng, doĐảng ta đã vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giảiphóng dân tộc trong bối cảnh và tình hình mới Trước hết là về xây dựng khối đoàn kếttoàn dân tộc, trên cơ sở củng cố khối liên minh công nông trí, nhằm phát huy sức mạnhtoàn dân tộc; tăng cường vận động, hội nhập quốc tế, nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc vớisức mạnh thời đại Chính vì thế, chúng ta đã phát huy được tiềm năng trí tuệ của đông đảocác tầng lớp nhân dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trong quá trình xâydựng và bảo vệ tổ quốc, phải luôn sáng tạo để tìm bước đi và cách làm phù hợp

Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc được hìnhthành và phát triển trong tiến trình cách mạng Việt Nam Đó là sự sáng tạo của Hồ ChíMinh, mang tinh thần cách mạng và khoa học, được kiểm chứng trong thực tiễn cách mạngViệt Nam và phong trào cách mạng thế giới Tuyệt nhiên đó không phải là sự vay mượn,chắp vá hay “nhập khẩu cách mạng” Những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề dântộc và cách mạng giải phóng dân tộc thấm đượm khát vọng của nhân dân Việt Nam về độclập, tự do, công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc Đó là đòi hỏi chính đáng của tất cả cácdân tộc trên thế giới, trong đó có dân tộc Việt Nam Những cống hiến sáng tạo của Hồ ChíMinh, (cả lý luận và thực tiễn) đã bổ sung cho kho tàng lý luận cách mạng của chủ nghĩaMác-Lênin, mãi mãi là niềm tự hào và định hướng cho dân tộc ta tiếp tục tiến lên

C CÂU HỎI THẢO LUẬN

Những sáng tạo về lý luận và phương pháp trong tư tưởng Hồ Chí Minh về cáchmạng giải phóng dân tộc?

D CÂU HỎI ÔN TẬP

1/Phân tích để làm rõ sự bổ sung lý luận và sáng tạo của Hồ Chí Minh trong cáchmạng giải phóng dân tộc

2/Quan điểm của Hồ Chí Minh trong việc xây dựng lực lượng cách mạng giải phóngdân tộc

3/Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc trong sự nghiệpđổi mới

E TÀI LIỆU Tài liệu bắt buộc

4/Hội đồng trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học

Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh NXB.CTQG.H.

2003

5/Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Tập bài giảng (Phần lý luận

chính trị, khối thứ nhất: Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nền tảng tư tưởngcủa Đảng ta) NXB Chính trị Hành chính.H 2009 Tr 577-598

6.Trịnh Nhu -Vũ Dương Ninh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và cách mạng giải

phóng dân tộc NXB.CTQG.H (6- 68)

Tài liệu đọc thêm

6/ Phùng Hữu Phú (chủ biên) (1995): Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội

27

Trang 28

7/ Trịnh Nhu (1993), Phát huy sức mạnh dân tộc, một yếu tố quan trọng của tư tưởng

Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc, Tạp chí Lịch sử Đảng,

(2), tr 27-29

8/ Triệu Quang Tiến (1994), “Tìm hiểu chiến lược tranh thủ đồng minh của Hồ Chí

Minh trong thời kỳ vận động giải phóng dân tộc”, Tạp chí Lịch sử Đảng, (5), tr 40-44.

9/ Song Thành (1993), “Vấn đề dân tộc và giải phóng dân tộc từ Các Mác đến Hồ

Trang 29

CHƯƠNG 3

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

VÀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

A MỤC TIÊU

+ Về kiến thức: Trang bị cho học viên một cách hệ thống những quan điểm cơ bản,sáng tạo của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.+ Về phương pháp, kỹ năng: Giúp học viên hiểu được sự vận dụng các quan điểmcủa Hồ Chí Minh vào xây dựng, hoàn thiện mô hình cấu trúc xã hội xã hội chủ nghĩa vàxác định nội dung, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

+ Về tư tưởng : Củng cố niềm tin của học viên vào sự tất thắng, tính ưu việt của chế

độ xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh đã lựa chọn, Đảng và nhân dân ta xây dựng

B NỘI DUNG3.1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

3.1.1 Tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội

- Chủ nghĩa xã hội - Con đường phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người

Vận dụng và quán triệt quan điểm duy vật về lịch sử của học thuyết mácxít, Hồ ChíMinh quan niệm lịch sử xã hội loài người là một quá trình tự nhiên của sự thay thế lần lượtcác phương thức sản xuất Quy luật phổ quát, tiến hóa chung này là một “tất yếu thép”được quyết định bởi sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội Tinh thầncủa học thuyết mácxít về hình thái kinh tế - xã hội được Hồ Chí Minh diễn giải một cáchgiản lược, hết sức dễ hiểu Theo Người: “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biếnđổi mãi, do đó mà tư tưởng của người, chế độ xã hội, v.v., cũng phát triển và biến đổi.Chúng ta đều biết từ đời xưa đến đời nay, cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá pháttriển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sảnnguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngàynay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủnghĩa

Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”(1)

Xã hội loài người phát triển theo xu hướng đi lên, các xã hội trước tạo tiền đề để xãhội sau bước lên một hình thái cao hơn về chất lượng Nếu chế độ TBCN tất yếu ra đời từchế độ phong kiến thì chính CNTB cũng sẽ xác lập các tiền đề khách quan để tự phủ địnhchính nó Theo Hồ Chí Minh, lôgíc phát triển xã hội cho thấy đã đến lúc CNTB mở đườngcho sự ra đời một chế độ xã hội mới - chế độ XNCN Tiến lên CNXH là quy luật vận độngkhách quan của lịch sử trên phạm vi toàn thế giới Kết luận này của Hồ Chí Minh hoàntoàn tuân thủ các nguyên lý phổ biến của học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế - xãhội

Hồ Chí Minh - một người xuất thân từ nước thuộc địa - đã tiếp nhận ánh sáng củachủ nghĩa Mác - Lênin, coi đó là “chiếc cẩm nang thần kỳ” vạch đường chỉ lối cho cáchmạng Việt Nam Nhưng khi so sánh hai con đường phát triển CSCN - con đường phươngTây và con đường phương Đông - quán triệt tinh thần phép biện chứng của chủ nghĩa Mác,Người đã đi đến một nhận định khái quát “Chế độ cộng sản có áp dụng được ở châu Á nóichung và ở Đông Dương nói riêng hay không? Đấy là vấn đề mà chúng ta đang quan tâmhiện nay Bây giờ hãy xét những lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhậpvào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu”1

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập Nxb CTQG, H 2001, T.11, tr 600-601.

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, T.1, tr.45, 47.

29

Trang 30

Theo chúng tôi, chiều sâu khoa học của kết luận này được dựa các “lý do lịch sử” mà

Hồ Chí Minh am hiểu một cách tường tận và chi tiết: truyền thống tư tưởng, văn hóaphương Đông; phương thức sản xuất châu Á, đặc biệt là sự tàn bạo, lỗi thời của CNTB màhình thức xấu xa, tồi tệ nhất của nó là chủ nghĩa thực dân

Trong bài báo “Đông Dương” đăng trong Tạp chí cộng sản Pháp số 14 năm 1921,

sau khi đã chỉ ra những hình thức bóc lột, đàn áp dã man tàn bạo của bọn thực dân đối vớingười bản xứ, khẳng định tinh thần cách mạng âm ỉ, mãnh liệt, quật cường của nhân dâncác nước Đông Dương, Hồ Chí Minh đã đi đến một kết luận: “Sự tàn bạo của chủ nghĩa tưbản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống củacông cuộc giải phóng nữa thôi”1

Đây là một luận điểm lý luận hết sức quan trọng, mà từ trước tới nay khi nghiên cứu

tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được chú trọng đúng mức, nhưng nó lại gợi mở nhiều vấn đềgiúp khẳng định tính hợp lý, hợp quy luật của con đường XHCN ở Việt Nam Trong luậnđiểm trên Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải trên cơ sở phân tích sự chín muồi của cơ sởkinh tế làm xuất hiện CNXH như là một phương thức cần thiết để giải quyết những mâuthuẫn của chủ nghĩa tư bản, mà Người chú ý đến một phương diện khác không kém phầnquan trọng; chủ nghĩa xã hội ra đời chính từ sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản Trong điềukiện một nước thuộc địa, những hình thức bóc lột, nô dịch của bọn thực dân không thể giếtchết hay kìm hãm sự bùng nổ cách mạng trong nhận thức, tư tưởng của quần chúng nhândân, làm bộc lộ những khuyết tật bẩm sinh phi nhân tính không thể khắc phục được củachủ nghĩa tư bản, tạo cơ sở để người lao động ý thức, giác ngộ sứ mạng lịch sử của mìnhtrước vận mệnh quốc gia dân tộc, chờ thời cơ để vùng dậy thủ tiêu xiềng xích thực dân,thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng chính họ thoát khỏi bất kỳ một hìnhthức áp bức, bóc lột xã hội nào Xã hội thuộc địa phong kiến luôn nảy mầm và nuôi dưỡng

ý thức giác ngộ dân tộc, ý thức giác ngộ giai cấp và CNXH, CNCS với tư cách là một chế

độ xã hội có khả năng xóa bỏ hoàn toàn mọi xiềng xích, nô dịch tồn tại từ trước tới nay tấtyếu ra đời từ hành động tự giác đó của quần chúng cách mạng

Đó là những lí do lịch sử chủ yếu, mà dựa vào đó, Hồ Chí Minh đã mạnh dạn sosánh: CNCS thích ứng với các nước châu Á dễ hơn với các nước châu Âu Nó hoàn toànchính xác cả về mặt lịch sử và lôgíc, là chìa khóa để khám phá con đường đi lên CNXH ởViệt Nam

- Chủ nghĩa xã hội - Kết quả tất yếu của quy luật vận động nội tại của cách mạng Việt Nam

Theo Hồ Chí Minh, CNXH là sự phát triển tất yếu không chỉ đối với các nước đã quaCNTB mà cả đối với Việt Nam Tính tất yếu của CNXH của Việt Nam được luận chứng trênnhiều góc độ khác nhau, trước hết là từ góc độ khát vọng giải phóng dân tộc

Về phương diện lý luận, Hồ Chí Minh tìm thấy nhiều câu trả lời cho tình thế cáchmạng Việt Nam trong lý luận của V.I.Lênin, đặc biệt là những vấn đề về dân tộc và thuộcđịa, về khả năng và triển vọng tương lai của các dân tộc Phương Đông Trong những điềukiện lịch sử mới, V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng cách mạng không ngừng của C.Mác,Ph.Ăngghen, luận chứng một cách toàn diện khả năng đi tới CNXH, bỏ qua giai đoạn pháttriển TBCN của các dân tộc thuộc địa, có nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển Trên nền lýluận chung đó, Hồ Chí Minh đã lĩnh hội những vấn đề mấu chốt, cần thiết nhất cho nhândân mình, dân tộc mình

Về phương diện thực tiễn - lịch sử, khẳng định của Hồ Chí Minh về con đường đi lênCNXH của cách mạng Việt Nam được đặt trên một cái nền hiểu biết sâu rộng lịch sử các

cuộc cách mạng đã từng diễn ra trên thế giới Trong tác phẩm “Đường cách mệnh”, Người

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, T.1, tr.40.

30

Trang 31

chia các cuộc cách mạng đó (mà Hồ Chí Minh gọi là “dân chúng cách mệnh”) thành baloại:

A Tư bản cách mệnh, như cách mệnh Pháp 1789

B Dân tộc cách mệnh, như cách mệnh Ý 1859

C Giai cấp cách mệnh, như cách mệnh Nga 19171

Để đánh giá vị trí lịch sử và chức năng xã hội của các cuộc cách mạng dân chủ tưsản, đặc biệt là cách mạng Pháp 1789 và cách mạng Mỹ 1776, Hồ Chí Minh nhìn thấy vàphát hiện ra rằng: Các cuộc cách mạng đó đều là cách mạng tư sản và là những cuộc cáchmạng không triệt để, chẳng hạn “Mỹ tuy rằng cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay,nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”2 Hoặc như cáchmạng Pháp 1789 mặc dầu được xem là một cuộc cách mạng tư sản điển hình, nhưng “Cáchmệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đếnnơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó ápbức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cáchmệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức”3

Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, cơ sở hàng đầu để đánh giá tính triệt để của mộtcuộc cách mạng không phải là những lý tưởng, khẩu hiệu được nêu ra, mà là qui mô giảiphóng quần chúng lao động bị áp bức Cách mạng dân chủ tư sản, do bản chất của nó, chỉ

là sự thay thế một hình thức áp bức, bóc lột này bằng một hình thức áp bức, bóc lột khác,đại bộ phận người lao động vẫn sống kiếp ngựa trâu Lôgíc phát triển khách quan của lịch

sử tất yếu dẫn đến một cuộc cách mạng khác nhằm xóa bỏ sự thống trị của giai cấp tư sản,được quần chúng lao động từ địa vị làm thuê thành người chủ chân chính thật sự của xãhội Do những nhu cầu nội tại khách quan, cách mạng Việt Nam không và sẽ không thể lặplại những vết lăn của cách mạng Mỹ 1776 và cách mạng Pháp 1789

Chỉ có cách mạng Nga 1917 chỉ rõ con đường đi tới của cách mạng Việt nam Dướicon mắt Hồ Chí Minh, cách mạng tháng Mười Nga là một cuộc cách mạng giai cấp, nằmtrong dòng chảy liên tục của quá trình giải phóng con người Xét về bản chất, cách mạngtháng Mười như là một sự nổi trội, vượt xa và khác hẳn các cuộc cách mạng xã hội từngdiễn ra trong lịch sử trước đó Đúng như nhận định của Hồ Chí Minh: “Trong thế giới bâygiờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi2), nghĩa là dân chúngđược hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dốinhư đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được vua,

tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa3)làm cách mệnh để đập đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới”(1) Tính chấttriệt để và nội dung nhân đạo của cách mạng tháng Mười sau này còn được Bác khẳngđịnh lại Nhờ cuộc cách mạng đó mà nhân dân lao động đã làm chủ nước nhà, những dântộc nhỏ yếu giành được độc lập, ruộng đất trở về tay người cày

Từ trong nội dung, cách mạng tháng Mười đồng thời giải quyết hàng loạt các mâuthuẫn và thực hiện cùng một lúc sự nghiệp giải phóng giai cấp và dân tộc, giải phóng laođộng và con người - biến người nô lệ thành người tự do Nền dân chủ Xô Viết với nhữngthiết chế của mình đã vĩnh viễn xóa bỏ những cơ sở kinh tế, đẻ ra tình trạng áp bức, bấtcông, bất bình đẳng xã hội, thủ tiêu chế độ người bóc lột người Từ đây con người đượchoàn toàn khẳng định với tư cách là chủ thể sáng tạo thực sự của lịch sử, các nhu cầu, lợiích của nó được thỏa mãn, phẩm giá được tôn trọng Lý tưởng nhân đạo “Vì con người,

Trang 32

cho con người, do con người” được cách mạng tháng Mười thực hiện một cách trọn vẹntrong đời sống thực tế và nâng lên một trình độ mới: chủ nghĩa nhân đạo hiện thực CSCN.

Sự so sánh về mặt lý luận và kinh nghiệm kiểm chứng lịch sử của nhiều chế độ xãhội đương đại đã tạo cho sự lựa chọn con đường phát triển cách mạng Việt Nam của HồChí Minh có sức nặng thuyết phục, dễ đi vào lòng người Chính sự so sánh này đã dẫnNgười đến một nhận thức không thể khác được: cách mạng Việt Nam muốn thực hiện mộtcách triệt để không có con đường nào khác con đường Cách mạng tháng Mười Chủ trương

“làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”(2), là cảmột quá trình nhận thức về lý luận và thực tiễn, suy ngẫm và so sánh để rồi cuối cùng cómột quyết định lựa chọn dứt khoát có ảnh hưởng đến vận mệnh và tương lai của dân tộc.Mọi lập luận cho rằng sự lựa chọn con đường XHCN ở Hồ Chí Minh được thực hiện trên

cơ sở không hiểu biết gì về chủ nghĩa Mác và CNCS, một cách tùy hứng, ngẫu nhiên, bộtphát là hoàn toàn thiếu căn cứ, cố ý vu khống và xuyên tạc Như trên đã phân tích, nhữngđiều kiện lịch sử, ý chí, nguyện vọng và lợi ích của các lực lượng tham gia cách mạng, xuthế vận động của quá trình cách mạng Việt Nam không cho phép lựa chọn con đường kiểucách mạng Pháp và cách mạng Mỹ, bởi vì ngay từ trong thắng lợi, các cuộc cách mạng này

đã bộc lộ những đối kháng xã hội đòi hỏi phải tiếp tục giải quyết Đối với Việt Nam,

"Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cáchmạng vô sản”, con đường Cách mạng Tháng Mười

Đường lối thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH là mộtcống hiến lý luận quan trọng của Hồ Chí Minh vào kho tàng trí tuệ của nhân loại Nó đãđược thực tế lịch sử Việt Nam kiểm chứng và thực hiện từng bước: Cách mạng tháng Támđánh đổ đế quốc thực dân, phong kiến, dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, khángchiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, bắt đầu xâydựng CNXH, làm hậu phương lớn của miền Nam đánh Mỹ, cuộc kháng chiến chống Mỹtoàn thắng, cả nước bắt tay vào “xây dựng nền dân chủ mới” và công cuộc đổi mới thànhcông hiện nay - tất cả những sự kiện đó khẳng định và xác nhận sức sống mãnh liệt con đườngcách mạng của Hồ Chí Minh: con đường độc lập, tự do, kết hợp độc lập dân tộc với chủ nghĩa

xã hội

Con đường đó phản ánh sự phát triển liên tục, thông qua nhiều giai đoạn của quátrình cách mạng Việt Nam Mỗi giai đoạn giải quyết những nhiệm vụ đặc thù, đạt nhữngmục tiêu cụ thể, nhưng đều thể hiện những cấp độ, nấc thang khác nhau của quá trình giảiphóng dân tộc và giai cấp, xã hội và con người Ở đây thể hiện hai mặt đan xen, lồng kếtvào nhau: Giai đoạn trước và giai đoạn sau không có sự gián tiếp, đứt đoạn, giai đoạntrước làm tiền đề cho giai đoạn sau Mối quan hệ biện chứng và sự thống nhất đó của quátrình cách mạng Việt Nam được Hồ Chí Minh xem xét trên nhiều góc độ và thực hiện hếtsức thành công bằng phương châm chỉ đạo xuyên suốt: độc lập dân tộc gắn liền vớiCNXH Chính vì vậy, ngay từ đầu, Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ mối quan hệ giữa vấn

đề giai cấp và dân tộc, đặt cách mạng giải phóng dân tộc vào quĩ đạo và thuộc phạm trùcách mạng vô sản Với phương diện này không thể nói rằng quá trình cách mạng Việt Namphải trải qua hai cuộc cách mạng xã hội về phương diện chính trị: cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng dân tộc (độc lập dân tộc) và chủnghĩa xã hội, xét về thực chất, trên mọi phương diện, là hai nội dung, hai cấp độ của cáchmạng vô sản

Đặt cách mạng giải phóng dân tộc nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, gắn độc lậpdân tộc với CNXH tạo cho quan điểm giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh tính toàn diện

và triệt để Dưới góc độ giải phóng, độc lập dân tộc mới chỉ là cấp độ đầu tiên - giải phóng(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.1.

32

Trang 33

về mặt chính trị, tự bản thân nó chưa phải là một công cuộc giải phóng hoàn toàn, hay nóicách khác, trong điều kiện Việt Nam, độc lập dân tộc là tiền đề đầu tiên để tiến lên CNXH,

đi tới cuộc sống ấm no, tự do - hạnh phúc Lôgíc lịch sử tự nhiên của sự vận động phongtrào dân tộc tất yếu dẫn đến CNXH, do bản chất cách mạng triệt để của mình, độc lập dântộc không phải là mục tiêu cuối cùng của giai cấp công nhân Nếu như vai trò lãnh đạocách mạng Việt Nam được lịch sử đặt vào tay giai cấp công nhân, thì xu thế đi lên CNXHcũng là một sự “hẹn gặp lịch sử” tất yếu, không thể đảo ngược

- Hồ Chí Minh đã có những sáng tạo đặc sắc trong cách tiếp cận về chủ nghĩa xã hội nói chung.

Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội theo quan điểm Mác - Lênin từ lập trường củamột người yêu nước đi tìm con đường giải phóng dân tộc để xây dựng một xã hội mới tốtđẹp Người tiếp thu quan điểm của những nhà sáng lập chủ nghĩa xã hội khoa học đồngthời có sự bổ sung cách tiếp cận mới về chủ nghĩa xã hội

+ Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học của học thuyết Mác Lênin trước hết là từ khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam Người tìm thấy trong lý luận

-Mác - Lênin sự thống nhất biện chứng của các sự giải phóng: giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp, giải phóng con người Đó cũng là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa cộngsản theo đúng bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin

+ Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội ở một phương diện nữa là đạo đức, hướng tới giá trị nhân đạo, nhân văn mácxít, giải quyết tốt quan hệ giữa cá nhân với xã hội theo

quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mà hai ông

công bố tháng 2-1848: Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự docủa tất cả mọi người

Cùng với cách tiếp cận CNXH từ khát vọng giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh còntiếp cận CNXH từ văn hóa, nhân danh các giá trị văn hóa và nhân văn để hướng tới mụctiêu của chiến lược - phát triển Điều đó không có gì trái với chủ nghĩa Mác - Lênin, màthực chất là bổ sung cho học thuyết của Mác bằng cách đưa văn hóa thâm nhập vào bêntrong của chính trị và kinh tế, tạo nên một sự thống nhất biện chứng giữa văn hóa và chínhtrị, kinh tế, giữa các mục tiêu phát triển xã hội Chính Hồ Chí Minh đã từng nói: “Văn hóa,nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác không thể đứng ngoài mà phải ở trong kinh tế vàchính trị” Điều này cho thấy, ở Hồ Chí Minh, CNXH, xét trong chiều sâu bản chất của nó,chính là một hình thái phát triển của văn hóa, một đỉnh cao của nền văn minh nhân loại

Do đó, quá trình hình thành và phát triển của CNXH lại càng phải gắn với văn hóa, và chỉ

có đứng trên đỉnh cao của văn hóa, CNXH mới có thể phát triển như quy luật phát triểnbình thường phù hợp với tiến trình phát triển chung của nhân loại

Khi đề cao vị trí trung tâm và vai trò điều tiết xã hội của văn hóa, Hồ Chí Minhkhông hề hạ thấp vị trí của nhân tố kinh tế trong phát triển của CHXH Người chỉ muốnđưa văn hóa vào bên trong kinh tế và chính trị nhằm tạo nên động lực phát triển cho kinh

tế và chính trị vì mục tiêu phát triển con người toàn diện, con người được phát triển hếtkhả năng của mình CNXH là văn hóa, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ xuất phát từ góc độ

và triết lý phát triển đó(1)

+ Bao trùm lên tất cả là Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ văn hóa Văn hóa

trong chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có quan hệ biện chứng với chính trị, kinh tế Quá trìnhxây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng là quá trình xây dựng một nền văn hóa

mà trong đó kết tinh, kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng

(1) Xem: Thành Duy Về một triết lý phát triển phù hợp với Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tạp chí Cộng sản, số

10 (5/1999), tr 12-13.

33

Trang 34

ngàn năm của dân tộc Việt Nam, tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, kết hợp truyền thốngvới hiện đại, dân tộc và quốc tế

Trong các lãnh tụ cộng sản, Hồ Chí Minh là người bàn nhiều đến đạo đức Ngườithường nhấn mạnh: đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng Cùngvới đạo đức của người cán bộ cách mạng, Hồ Chí Minh còn xét đến vai trò của đạo đứccông dân, trong tất cả mọi hoạt động của con người và theo ba cấp độ: đối với mình, đốivới người và đối với việc

Từ một quan niệm toàn diện về đạo đức, Hồ Chí Minh gắn nó với quan niệm chung

về CNXH, làm phong phú các cách thức tiếp cận về CNXH bằng tiếp cận CHXH từphương diện đạo đức Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, đây là chiều sâu trong tưduy biện chứng, trong nhãn quan văn hóa, đạo đức Hồ Chí Minh Người nhận thấy, trongbản chất của mình, trên cơ sở kinh tế, xã hội riêng có, CNXH đối lập, xa lạ với chủ nghĩa

cá nhân, nhưng không hề phủ nhận cá nhân, trái lại, đề cao, tôn trọng con người cá nhân,các giá trị và con người cá nhân, phát triển mọi năng lực cá nhân vì phát triển xã hội vàhạnh phúc con người Từ phương diện lợi ích cá nhân, Hồ Chí Minh cho rằng: “Không cóchế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảmcho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”(1) CNXH tạomọi điều kiện cho sự phát triển nhân cách trong quan hệ hài hòa giữa cá nhân và xã hội

Xã hội tôn trọng mọi cá nhân, đồng thời cá nhân biết đề cao lợi ích xã hội, có thể hy sinhlợi ích cá nhân vì lợi ích xã hội Đây là trình độ phát triển cao của CNXH Bản chất đóthuộc về CNXH Nhìn nhận bản chất quan trọng này, Hồ Chí Minh đưa ra một quan niệm,CNXH là trong đó mình vì mọi người và mọi người vì mình Do đó, một trong những nétnổi bật của con người XHCN là phải phát triển cao về đạo đức, về nhân cách, đủ sức chiếnthắng chủ nghĩa cá nhân Bởi vì, tư tưởng xã hội chủ nghĩa là chống tư tưởng cá nhân chủnghĩa

Như vậy, tiếp tục truyền thống Mácxít, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến vai trò cácnhân tố kinh tế trong quá trình phát sinh, hình thành, phát triển và quyết định bản chất củaCNXH Thế nhưng, xuất phát từ đặc điểm truyền thống văn hóa lịch sử dân tộc châu Á,nắm bắt thần thái linh hồn phép biện chứng duy vật, từ khát vọng giải phóng dân tộc, HồChí Minh còn xuất phát từ phương diện văn hóa, đạo đức để nhận diện tính tất yếu và bảnchất của CNXH, tạo nên sự thống nhất biện chứng giữa các nhân tố kinh tế, chính trị, xãhội, văn hóa, đạo đức Trong sự thống nhất đó, CNXH được xem xét dưới nhiều góc độ,nhiều mặt bản chất, từ hình thức bề ngoài đến cấu trúc bề sâu, từ đơn diện đến kết cấu tổnghợp v.v Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã làm phong phú cách tiếp cận về CNXH, có nhữngcống hiến xuất sắc vào việc phát triển lý luận Mác - Lênin

3.1.2 Quan niệm của Hồ Chí Minh về đặc trưng bản chất của chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh bày tỏ quan niệm của mình về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không hẳnchỉ trong một bài viết hay trong một cuộc nói chuyện nào đó mà tùy từng lúc, từng nơi, tùytừng đối tượng người đọc, người nghe mà Người diễn đạt quan niệm của mình Vẫn là theocác nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, nhưng với cách diễnđạt ngôn ngữ nói và viết của Hồ Chí Minh thì những vấn đề đầy chất lý luận chính trịphong phú, phức tạp được biểu đạt bằng ngôn ngữ của cuộc sống của nhân dân Việt Nam,rất mộc mạc, dung dị, dễ hiểu

- Hồ Chí Minh có quan niệm tổng quát khi coi chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội

như là một chế độ xã hội bao gồm các mặt rất phong phú, hoàn chỉnh, trong đó con người

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, T.11, tr.610

34

Trang 35

đợc phát triển toàn diện, tự do Trong một xã hội như thế, mọi thiết chế, cơ cấu xã hội đềunhằm tới mục tiêu giải phóng con người.

- Hồ Chí Minh diễn đạt quan niệm của mình về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trênmột số mặt nào đó của nó, như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Với cách diễn đạt nhưthế của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, chúng ta không nên tuyệt đối hóa từng mặt,hoặc tách riêng rẽ từng mặt của nó mà cần đặt trong một tổng thể chung Chẳng hạn, khi

nói chuyện tại Lớp hướng dẫn giáo viên cấp 2, cấp 3 và Hội nghị sư phạm, tháng 7 năm

1956, Hồ Chí Minh cho rằng: " chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng, v.v.,làm của chung Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tấtnhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con"(1) Khi nhấn mạnh mặt kinh tế, Hồ ChíMinh nêu chế độ sở hữu công cộng của chủ nghĩa xã hội và phân phối theo nguyên tắc củachủ nghĩa Mác - Lênin là làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có phúc lợi xã hội Vềmặt chính trị, Hồ Chí Minh nêu chế độ dân chủ, mọi ngời được phát triển toàn diện vớitinh thần làm chủ

- Hồ Chí Minh quan niệm về chủ nghĩa xã hội ở nước ta bằng cách nhấn mạnh mụctiêu vì lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, là "làm sao cho dân giàu nước mạnh"(2), là "làmcho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng", "là nhằm nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân", là làm cho mọi người được ăn no, mặc ấm, được sung sướng, tự

do, là "nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng cócơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" như "ham muốn tột bậc" mà Người đã trả lời cácnhà báo, tháng 1 năm 1946

- Hồ Chí Minh nêu chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong ý thức, động lực của toàn dândưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Xây dựng một xã hội như thế là tráchnhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi, động lực của toàn dân tộc Cho nên, với động lực xây dựngchủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sức mạnh tổng hợp được sử dụng và phát huy, đó là sứcmạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại

Hồ Chí Minh xác định những đặc trưng chủ yếu của chủ nghĩa xã hội, gắn với điềukiện thực tế của Việt Nam

Đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo Hồ Chí Minh, cũng trên

cơ sở của lý luận Mác - Lênin, nghĩa là trên những mặt về chính trị, kinh tế, văn hóa - xãhội Còn về cụ thể, chúng ta thấy Hồ Chí Minh nhấn mạnh chủ yếu trên những điểm sauđây:

- Đó là một chế độ chính trị do nhân dân là chủ và làm chủ;

Chủ nghĩa xã hội có chế độ chính trị dân chủ, nhân dân lao động là chủ và nhân dânlao động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, dựa trên khối đại đoàn kết toàndân mà nòng cốt là liên minh công - nông - lao động trí óc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo.Mọi quyền lực trong xã hội đều tập trung trong tay nhân dân Nhân dân đoàn kếtthành một khối thống nhất để làm chủ nước nhà Nhân dân là người quyết định vận mệnhcũng như sự phát triển của đất nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Hồ Chí Minh coi nhândân có vị trí tối thượng trong mọi cấu tạo quyền lực Chủ nghĩa xã hội chính là sự nghiệpcủa chính bản thân nhân dân, dựa vào sức mạnh của toàn dân để đưa lại quyền lợi chonhân dân

- Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sựphát triển của khoa học - kỹ thuật;

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 10, tr 390.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t 10, tr 390.

35

Trang 36

Đó là xã hội có một nền kinh tế phát triển dựa trên cơ sở năng suất lao động xã hộicao, sức sản xuất luôn luôn phát triển với nền tảng phát triển khoa học - kỹ thuật, ứng dụng

có hiệu quả những thành tựu khoa học - kỹ thuật của nhân loại

- Chủ nghĩa xã hội là chế độ không còn người bóc lột người;

Đây là một vấn đề được hiểu như là một chế độ hoàn chỉnh, đạt đến độ chín muồi.Trong chủ nghĩa xã hội không còn bóc lột, áp bức bất công, thực hiện chế độ sở hữu xã hội

về tư liệu sản xuất và thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động Đó là một xã hội đượcxây dựng trên nguyên tắc công bằng, hợp lý

- Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức;

Đó là một xã hội có hệ thống quan hệ xã hội lành mạnh, công bằng, bình đẳng,không còn áp bức, bóc lột, bất công, không còn sự đối lập giữa lao động chân tay và laođộng trí óc, giữa thành thị và nông thôn, con ngời được giải phóng, có điều kiện phát triểntoàn diện, có sự hài hòa trong phát triển của xã hội và tự nhiên

- Các dân tộc trong nước đoàn kết, bình đẳng và cùng giúp nhau cùng tiến bộ;

- Chủ nghĩa xã hội có quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với nhân dân lao động cácnước trên thế giới

Các đặc trưng nêu trên là hình thức thể hiện một hệ thống giá trị vừa kế thừa các disản của quá khứ, vừa được sáng tạo mới trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội Chủnghĩa xã hội là hiện thân đỉnh cao của tiến trình tiến hóa lịch sử nhân loại Hồ Chí Minhquan niệm chủ nghĩa xã hội là sự tổng hợp quyện chặt ngay trong cấu trúc nội tại của nó,một hệ thống giá trị làm nền tảng điều chỉnh các quan hệ xã hội, đó là độc lập, tự do, bìnhđẳng, công bằng, dân chủ, bảo đảm quyền con người, bác ái, đoàn kết, hữu nghị …Trong

đó có những giá trị tạo tiền đề, có giá trị hạt nhân Tất cả những giá trị cơ bản này là mụctiêu chủ yếu của chủ nghĩa xã hội Một khi tất cả các giá trị đó đã đạt được thì loài người

sẽ vươn tới lý tưởng cao nhất chủ nghĩa xã hội, đó là "liên hợp tự do của những người laođộng" mà C.Mác, Ph.Ăngghen đã dự báo Ở đó, cá tính của con người được phát triển đầy

đủ, năng lực con người được phát huy cao nhất, giá trị con người được thực hiện toàn diện.Nhưng theo Hồ Chí Minh, đó là một quá trình phấn đấu khó khăn, gian khổ, lâu dài, dầndần và không thể nôn nóng

3.1.3 Quan niệm Hồ Chí Minh về mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội

- Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Hồ Chí Minh ý thức được rõ ràng giá trị của chủ nghĩa xã hội về mặt lý luận là quantrọng, nhưng vấn đề quan trọng hơn là tìm ra con đường để thực hiện những giá trị này.Điểm then chốt, có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng của Hồ Chí Minh là đề ra cácmục tiêu chung và mục tiêu cụ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội trong mỗi giai đoạn cáchmạng khác nhau ở nước ta Chính thông qua quá trình đề ra các mục tiêu đó, chủ nghĩa xãhội được biểu hiện với việc thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích thiết yếu của người lao động,theo các nấc thang từ thấp đến cao, tạo ra tính hấp dẫn, năng động của chế độ xã hội mới

Ở Hồ Chí Minh, mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và mục tiêu phấn đấu của ười là một, đó là độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; đó là là làm sao chonước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm

Ng-ăn, áo mặc, ai cũng được học hành

Từ cách đặt vấn đề này, theo Hồ Chí Minh, hiểu mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, nghĩa

là nắm bắt nội dung cốt lõi con đường lưa chọn và bản chất thực tế xã hội mà chúng taphấn đấu xây dựng Tiếp cận chủ nghĩa xã hội về phương diện mục tiêu là một nét thườnggặp, thể hiện phong cách và năng lực tư duy lý luận khái quát của Hồ Chí Minh Hồ ChíMinh có nhiều cách đề cập mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Có khi Người trả lời một cáchtrực tiếp: "Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là:

36

Trang 37

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân

lao động"(1) Hoặc: "Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sốngcủa nhân dân"(2) Có khi Người diễn giải mục tiêu tổng quát này thành các tiêu chí cụ thể:

"Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấyđược đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tậpquán không tốt dần dần được xóa bỏ Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càngtăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội"(3) Có khi Người nói một cách giántiếp, không nhắc đến chủ nghĩa xã hội, nhưng xét về bản chất, đó cũng chính là mục tiêu

của chủ nghĩa xã hội theo quan niệm của Người Kết thúc bản Di chúc, Hồ Chí Minh viết:

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấnđấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, vàgóp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới

Hồ Chí Minh quan niệm mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là nâng cao đời sốngnhân dân Đó là sự tin tưởng cao độ vào lý tưởng vì dân Theo Người, muốn nâng cao đờisống nhân dân, phải tiến lên chủ nghĩa xã hội Mục tiêu nâng cao đời sống toàn dân đó làtiêu chí tổng quát để khẳng định và kiểm nghiệm tính chất xã hội chủ nghĩa của các lý luậnchủ nghĩa xã hội và chính sách thực tiễn Trượt ra khỏi quỹ đạo đó thì hoặc là chủ nghĩa xãhội giả hiệu hoặc không có gì tương thích với chủ nghĩa xã hội

Chỉ rõ và nêu bật mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định tính ưuviệt của chủ nghĩa xã hội so với chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử, chỉ ra nhiệm vụ giảiphóng con người một cách toàn diện, theo các cấp độ: Từ giải phóng dân tộc, giải phónggiai cấp, xã hội đến giải phóng từng cá nhân con người, hình thành các nhân cách pháttriển tự do

Như vậy, Hồ Chí Minh đã xác định các mục tiêu cụ thể của chủ nghĩa xã hội trên tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

+ Mục tiêu chính trị: Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội, chế độ chính trị phải là do nhân dân lao động làm chủ, Nhà nước là của dân, do dân

và vì dân Nhà nước có hai chức năng: Dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ thù củanhân dân Hai chức năng đó không tách rời nhau, mà luôn luôn đi đôi với nhau Một mặt,

Hồ Chí Minh nhấn mạnh phải phát huy quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của nhân dân;mặt khác lại yêu cầu phải chuyên chính với thiểu số phản động chống lại lợi ích của nhândân, chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa

Để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh chỉ rõ con đường và biệnpháp thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp, nâng cao năng lực hoạt động của các tổchức chính trị - xã hội của quần chúng; củng cố các hình thức dân chủ đại diện, tăng cườnghiệu lực và hiệu quả quản lý của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, xử lý vàphân định rõ chức năng của chúng

+ Mục tiêu kinh tế: Theo Hồ Chí Minh, chế độ chính trị của chủ nghĩa xã hội chỉ

đ-ược bảo đảm và đứng vững trên cơ sở một nền kinh tế vững mạnh Nền kinh tế mà chúng

ta xây dựng là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công - nông nghiệp hiện đại, khoa học - kỹthuật tiên tiến, cách bóc lột theo chủ nghĩa tư bản đợc bỏ dần, đời sống vật chất của nhândân ngày càng được cải thiện

Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phát triển toàn diện các ngành mà nhữngngành chủ yếu là công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, trong đó "công nghiệp vànông nghiệp là hai chân của nền kinh tế nước nhà"

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.30.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr 604.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr 438

37

Trang 38

Kết hợp các loại lợi ích kinh tế là vấn đề rất được Hồ Chí Minh quan tâm Người đặcbiệt nhấn mạnh chế độ khoán là một trong những hình thức của sự kết hợp lợi ích kinh tế.

+ Mục tiêu văn hóa - xã hội: Theo Hồ Chí Minh, văn hóa là một mục tiêu cơ bản của

cách mạng xã hội chủ nghĩa Văn hóa thể hiện trong mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, đó

là xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, xây dựng phát triển vănhóa nghệ thuật, thực hiện nếp sống mới, thực hành vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh,bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong tục tập quán lạc hậu…

Về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Người khẳng định: "phải xãhội chủ nghĩa về nội dung"; để có một nền văn hóa như thế ta phải phát huy vốn cũ quýbáu của dân tộc, đồng thời học tập văn hóa tiên tiến của thế giới Phương châm xây dựngnền văn hóa mới là: Dân tộc, khoa học, đại chúng Hồ Chí Minh nhắc nhở phải làm chophong trào văn hóa có bề rộng, đồng thời phải có bề sâu Trong khi đáp ứng mặt giải trí thìkhông được xem nhẹ nâng cao tri thức của quần chúng, đồng thời Người luôn luôn nhắcnhở phải làm cho văn hóa gắn liền với lao động sản xuất

Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa là đào tạocon người Bởi lẽ, mục tiêu cao nhất, động lực quyết định nhất công cuộc xây dựng chính

là con người Trong lý luận xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, Hồ Chí Minh quan tâmtrớc hết mặt tư tưởng Người cho rằng: "Muốn có con người xã hội chủ nghĩa, phải có tư t-ưởng xã hội chủ nghĩa", tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở mỗi con người là kết quả của việc họctập, vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xãhội

Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến trau dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng; đồngthời, Người cũng rất quan tâm đến mặt tài năng, luôn tạo điều kiện để mỗi người rèn luyệntài năng, đem tài năng cống hiến cho xã hội Tuy vậy, Hồ Chí Minh luôn gắn tài năng vớiđạo đức Theo Người, "có tài mà không có đức là hỏng"; dĩ nhiên, đức phải đi đôi với tài,nếu không có tài thì không thể làm việc được Cũng như vậy, Người luôn gắn phẩm chấtchính trị với trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ trong đó "chính trị là linh hồn,chuyên môn là cái xác" Hai mặt đó gắn bó thống nhất trong một con người Do vậy, tất cảmọi người đều phải luôn luôn trau dồi đạo đức và tài năng; vừa có đức, vừa có tài; vừa

"hồng", vừa "chuyên"

- Các động lực của chủ nghĩa xã hội

Để thực hiện những mục tiêu đó, cần phát hiện những động lực và những điều kiệnbảo đảm cho động lực đó thực sự trở thành sức mạnh thúc đẩy công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, nhất là những động lực bên trong, nguồn nội lực của chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, những động lực đó biểu hiện ở các phơng diện: Vật chất và tinhthần; nội sinh và ngoại sinh Người khẳng định, động lực quan trọng và quyết định nhất làcon người, là nhân dân lao động, nòng cốt là công - nông - trí thức Hồ Chí Minh thườngxuyên quan tâm đến lợi ích chính đáng, thiết thân của họ; đồng thời chăm lo bồi dưỡng sứcdân Đó là lợi ích của nhân dân và từng cá nhân

Nói con người là động lực của chủ nghĩa xã hội, hơn nữa là động lực quan trọng nhất,

Hồ Chí Minh đã nhận thấy ở động lực này có sự kết hợp giữa cá nhân (sức mạnh cá thể)với xã hội (sức mạnh cộng đồng) Người cho rằng, không có chế độ xã hội nào coi trọnglợi ích chính đáng của cá nhân con người bằng chế độ xã hội chủ nghĩa Truyền thống yêunước của dân tộc, sự đoàn kết cộng đồng, sức lao động sáng tạo của nhân dân, đó là sứcmạnh tổng hợp tạo nên động lực quan trọng của chủ nghĩa xã hội

Nhà nước đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân dới sự lãnh đạo của Đảng,thực hiện chức năng quản lý xã hội, đa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội đến thắng lợi.Người đặc biệt quan tâm đến hiệu lực của tổ chức, bộ máy, tính nghiêm minh của kỷ luật,

38

Trang 39

pháp luật, sự trong sạch, liêm khiết của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ươngtới địa phương.

Hồ Chí Minh rất coi trọng động lực kinh tế, phát triển kinh tế, sản xuất, kinh doanh,giải phóng mọi năng lực sản xuất, làm cho mọi người, mọi nhà trở nên giàu có, gắn liềnkinh tế với kỹ thuật, kinh tế với xã hội

Cùng với động lực kinh tế, Hồ Chí Minh cũng quan tâm tới văn hóa, khoa học, giáodục, coi đó là động lực tinh thần không thể thiếu của chủ nghĩa xã hội

Tất cả những nhân tố động lực nêu trên là những nguồn lực tiềm tàng của sự pháttriển Làm thế nào để những khả năng, năng lực tiềm tàng đó trở thành sức mạnh và khôngngừng phát triển Hồ Chí Minh nhận thấy sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng có ý nghĩa quyếtđịnh đối với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội Đây là hạt nhân trong hệ động lực của chủnghĩa xã hội

Ngoài các động lực bên trong, theo Hồ Chí Minh, phải kết hợp được với sức mạnhthời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước phải gắn liền với chủ nghĩaquốc tế của giai cấp công nhân, phải sử dụng tốt những thành quả khoa học - kỹ thuật thếgiới …

Nét độc đáo trong phong cách tư duy biện chứng Hồ Chí Minh là ở chỗ bên cạnh chỉ

ra các nguồn động lực phát triển của chủ nghĩa xã hội, Người còn lưu ý, cảnh báo và ngănngừa các yếu tố kìm hãm, triệt tiêu nguồn năng lượng vốn có của chủ nghĩa xã hội, làmcho chủ nghĩa xã hội trở nên trì trệ, xơ cứng, không có sức hấp dẫn, đó là tham ô, lãng phí,quan liêu mà Người gọi đó là "giặc nội xâm"

Giữa nội lực và ngoại lực, Hồ Chí Minh xác định rất rõ nội lực là quyết định nhất,ngoại lực là rất quan trọng Chính vì thế, Người hay nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tựlực cánh sinh là chính, nhưng luôn luôn chú trọng tranh thủ sự giúp đỡ, hợp tác quốc tế,kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế tạo thành sức mạnh tổng hợp để xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội trên cơ sở bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam,không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, chung sống hòa bình và phát triển

3.2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

3.2.1 Quan niệm của Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ và đặc điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta

- Quan niệm về thời kỳ quá độ

C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đều khẳng định tính tất yếu khách quan của thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội và chỉ rõ vị trí lịch sử, nhiệm vụ đặc thù của nó trong quá trìnhvận động, phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa

Theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có hai phươngthức quá độ lên chủ nghĩa xã hội Phương thưc thứ nhất là quá độ trực tiếp lên chủ nghĩa

xã hội từ những nước tư bản phát triển ở trình độ cao Phương thức thứ hai là quá độ giántiếp lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chủ nghĩa tư bản phát triển còn thấp, hoặc nhưV.I.Lênin cho rằng, những nước có nền kinh tế lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ phát triển củachủ nghĩa tư bản, cũng có thể đi lên chủ nghĩa xã hội được trong điều kiện cụ thể nào đó,nhất là trong điều kiện Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản nắm quyền lãnh đạo (trở thànhĐảng cầm quyền), và được một hay nhiều nước tiên tiến giúp đỡ

Trên cơ sở vận dụng lý luận về cách mạng không ngừng, về thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin và xuất phát từ đặc điểm tình hình thực tế Việt

Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành giải phóng

dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, quan niệm Hồ Chí Minh về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là

39

Trang 40

quan niệm về một hình thái quá độ gián tiếp cụ thể - quá độ từ một xã hội thuộc địa, nửaphong kiến, nông nghiệp lạc hậu sau khi giành được độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xãhội Chính ở nội dung cụ thể này, Hồ Chí Minh đã cụ thể và làm phong phú thêm lý luậnMác - Lênin về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

- Đặc điểm của thời kỳ quá độ

Theo Hồ Chí Minh, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nước ta có đặcđiểm lớn nhất là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội không phảikinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Đặc điểm này chi phối các đặc điểm khác,thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và làm cơ sở nẩy sinh nhiều mâuthuẫn Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý đến mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ, đó

là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển cao của đất nước theo xu hướng tiến bộ và thực trạngkinh tế - xã hội quá thấp kém của nước ta

- Nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Theo Hồ Chí Minh, thực chất thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quátrình cải biến nền sản xuất lạc hậu thành nền sản xuất tiên tiến, hiện đại Thực chất quátrình cải tạo, phát triển nền kinh tế quốc dân cũng là cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phứctạp trong điều kiện mới, khi mà nhân dân ta hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ,

so sánh lực lượng trong nước và quốc tế đã có những biến đổi Điều này đòi hỏi phải ápdụng toàn diện các hình thức đấu tranh về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm chốnglại các thế lực đi ngược lại con đường xã hội chủ nghĩa

Theo Hồ Chí Minh, do những đặc điểm và tính chất quy định, quá độ lên chủ nghĩa

xã hội ở Việt Nam là một quá trình dần dần, khó khăn, phức tạp và lâu dài Nhiệm vụ lịch

sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bao gồm hai nội dung lớn:

+ Xây dựng nền tảng vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội, xây dựng các tiền đề vềkinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng cho chủ nghĩa xã hội

+ Cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo và xây dựng, trong đó lấyxây dựng làm trọng tâm, làm nội dung cốt yếu nhất, chủ chốt, lâu dài

Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến tính chất tuần tự, dần dần của thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội Tính chất phức tạp và khó khăn của nó được Hồ Chí Minh lý giải trên cácđiểm sau:

Thứ nhất, đây thực sự là một cuộc cách mạng làm đảo lộn mọi mặt đời sống xã hội,

cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cả cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng Nó

đặt ra và đòi hỏi đồng thời giải quyết hàng loạt mâu thuẫn khác nhau Như trong Di chúc,

Hồ Chí Minh đã coi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc chiến đấu khổng lồcủa cả toàn Đảng, toàn dân Việt Nam

Thứ hai, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta

cha có kinh nghiệm, nhất là trên lĩnh vực kinh tế Đây là công việc hết sức mới mẻ đối vớiĐảng ta, nên phải vừa làm, vừa học và có thể có vấp váp và thiếu sót Xây dựng xã hộimới bao giờ cũng khó khăn, phức tạp hơn đánh đổ xã hội cũ đã lỗi thời

Thứ ba, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta luôn luôn bị các thế lực phản

động trong và ngoài nước tìm cách chống phá

Từ việc chỉ rõ tính chất của thời kỳ quá độ, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ,đảng viên trong xây dựng chủ nghĩa xã hội phải thận trọng, tránh nôn nóng, chủ quan, đốtcháy giai đoạn Vấn đề cơ bản là phải xác định đúng bước đi và hình thức phù hợp vớitrình độ của lực lượng sản xuất, biết kết hợp các khâu trung gian, quá độ, tuần tự từng b-ước, từ thấp đến cao Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một năng lực lãnh đạomang tính khoa học, vừa hiểu biết các quy luật vận động xã hội, lại phải có nghệ thuậtkhôn khéo cho thật sát với tình hình thực tế

40

Ngày đăng: 24/10/2018, 17:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w