Do các điều kiện tự nhiên, về con người, về xã hội, về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôngiáo, tâm linh, nền triết học Ấn Độ đã trải qua nhiều bước thăng trầm, tạo nên nét đặc sắc mang b
Trang 1Nội Dung soạn 52 câu hỏi môn Triết các bạn gửi lên đây !
Câu 4.2 Trình bày khái quát triết học Ấn Độ cổ đại; qua đó, chứng minh rằng nó là sản phẩm tinh thần của đời sống hiện thực xã hội đó (STT: 38)
Ấn Độ là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Triết học Ấn Độ là sự phản ánh xã hội
Ấn Độ cổ đại – xã hội rất coi trọng và đề cao tôn giáo, một xã hội rất mê triết lý với những đặc điểm sau:
Do chịu ảnh hưởng bởi tinhsadsfSA thần Vêđa mà Triết học Ấn độ Cổ Đại không thể phần chia rõràng thành chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, phép biện chứng và phép siêu hình, mà chủ yếu chiathành hệ thống chính thống và hệ thống không chính thống Trong các trường phái triết học cụ thể luôn
có sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phép biện chứng và phép siêu hình vớinhau, song xu hướng chung là biến đổi từ vô thần đến hữu thần, từ ít nhiều duy vật đến duy tâm hay nhịnguyên Các trường phái triết học thường kế tục mà không gạt bỏ trường phái triết học trước đó
Do chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng tôn giáo mà triết học Ấn Độ cổ đại thường là một bộ phận
lý luận quan trọng tạo nên nộ dung giáo lý của các tôn giáo lớn Tuy nhiên, tôn giáo của Ấn Độ có xu hướnghướng nội đi sâu tìm hiểu đời sống tâm linh, tinh thần để phát hiện ra sức mạnh của linh hồn cá nhân conngười Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ Trung đại mang nặng tính chất duy tâm chủ quan và thần bí
Triết học Ấn Độ Cổ Trung Đại đã đặt ra và giải quyết rất nhiều vấn đề Khi bàn đến vấn đề bản thểluận, các trường phái xoay quanh vấn đề “tính không”, đem đối lập “không” và “có”, quy cái “có” về cái
“không” thể hiện một trình độ tư duy trừu tượng cao Song, vấn đề quan tâm nhiều nhất lại là vấn đềthuộc về lĩnh vực nhân sinh (bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của con người) dưới góc
độ tôn giáo với xu hướng “hướng nội” nhằn tìm kiếm phương tiện, con đường, cách thức giải thoátchúng sinh ra khỏi điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khắc nghiệt
Triết học Ấn Độ vừa mang tính thống nhất, vừa mang tính đa dạng Thống nhất ở chỗ dù trực tiếp haygián tiếp nó đều bị chi phối bởi quan niệm đồng nhất thể của Upanishad; hầu hết các trường phái đều hướngđến giải thoát; một số nguyên lý chung có ở nhiều trường phái Đa dạng ở chỗ triết học Ấn Độ chia thànhnhiều khuynh hướng, nhiều nhánh nhỏ; trừ chủ nghĩa duy vật, mỗi trường phái là những con đường khácnhau để đi đến giải thoát; nhiều vấn đề khác nhau được đặt ra ở những trường phái khác nhau
Trong thời kỳ này toàn bộ hệ thống triết học Ấn Độ được chia thành 9 trường phái:
• Sáu trường phái “chính thống” là:
+Vedanta: xuất hiện vào thế kỷ II TCN đưa ra các kiến giải siêu hình và duy tâm về nguyên nhân hìnhthành thế giới (vũ trụ và vạn vật)
+ Samkhya: xuất hiện vào những năm 350250 TCN Lý luận cơ bản của phái này là học thuyết duyvật về bản nguyên của thế giới
+ Yoga: xuất hiện vào thế kỷ thứ II TCN Tư tưởng triết học cốt lõi của phái này là sự thừa nhậnnguyên lý hợp nhất của vũ trụ nơi mỗi cá thể và thông qua các phương pháp yoga mà mỗi cá thể có thểtập luyện để khai thác được sức mạnh của vũ trụ tiềm ẩn trong mình để làm chủ mình, tiến tới làm chủmôi trường, và sau cùng, vươn tới sự giải thoát
Trang 21
Trang 3+ Mimansa: xuất hiện vào thế kỷ thứ II TCN Mimansa đưa ra các ý kiến nhằm biện hộ, củng cố vàtuyên truyền cho các nghi thức được đề cập đến trong Vêđa nói chung, trong giáo lý đạo BàlamônHinđunói riêng
+ Vaisesika: xuất hiện vào thế kỷ II TCN Nội dung tư tưởng của phái này và phái Nyaya có nhiềuđiểm giống nhau Tư tưởng chủ đạo của phái này tập trung trong nguyên tử luận, logic học và nhận thứcluận
+ Nyaya: xuất hiện vào thế kỷ III TCN Lý luận cơ bản của phái này bao gồm 3 bộ phận là nguyên tửluận, logic học và nhận thức luận
• Ba trường phái “không chính thống” là:
+ Lokayata: trường phái triết học vô thần, duy vật, chủ trương khoái lạc duy nhất ở Ấn Độ
+ Jaina: xuất hiện vào khoảng thế kỷ V TCN Tư tưởng triết học cơ bản của phái này là thuyết về sựtương đối, cố dung hòa quan niệm về thực thể bất biến với quan niệm vô thường
+ Buddha (Phật giáo): xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ V TCN Kinh điển của Phạt giáo chia thànhTam tạng (Kinh, Luật, Luận) Tam tạng lại được chia làm 2 loại là Đại thừa và Tiểu thừa Tư tưởng triếthọc cơ bản của Phật giáo nguyên thủy chủ yếu nói về thế giới quan và nhân sinh quan của Phật thích catriết lý về cái khổ và con đường diệt khổ
Những đặc điểm cơ bản trên của triết học Ấn Độ là do điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Ấn Độ
cổ đại quy định Do các điều kiện tự nhiên, về con người, về xã hội, về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôngiáo, tâm linh, nền triết học Ấn Độ đã trải qua nhiều bước thăng trầm, tạo nên nét đặc sắc mang bản chấtrất Ấn Độ, rất phương Đông.Triết học Ấn Độ ra đời và phát cũng như các nền triết học khác đều dựa trênnhững cơ sở nhất định, nó là sản phẩm tinh thần của đời sống hiện thực xã hội:
Sự phát triển của triết học Ấn Độ là sự đấu tranh giữa các trường phái và suy cho cùng nó phản ánhnhu cầu của đời sống xã hội trong đó tôn giáo là trung tâm điểm Mặt khác, sự phát triển của triết học Ấn
Độ chủ yếu đi theo hướng tuần tự thay đổi về lượng, tức những nguyên lý nền tảng đã được đặt ra từ thời
cổ xưa, về sau chỉ phát triển, bổ sung, hoàn thiện
Biện chứng trong triết học Ấn Độ mang tính chất ngây thơ, duy tâm; sự phát triển đi theo vòng tròn,tuần hoàn Điều này do công xã nông thôn biệt lập, khép kín ở Ấn Độ quy định Khác với triết học TrungQuốc, tư duy trong triết học Ấn Độ không trọng cái cụ thể, hữu hạn; họ muốn vượt cái này để đi đến cáituyệt đối Sự tồn tại dai dẳng của công xã nông thôn và chế độ quốc hữu hóa ruộng đất là hai đặc điểmlớn nhất, chi phối và ảnh hưởng tới toàn bộ các mặt lịch sử của Ấn Độ, nhất là ảnh hưởng đến sự phátcủa văn hóa và triết học Trên cơ sở “phương thức sản xuất châu Á”, xã hội Ấn Độ được kết cấuvới banhóm cơ bản: nhóm (thực chất là quan hệ gia đình, dòng họ), cộng đồng tự trị làng – xã và bang (tiểuquốc) với chế độ đẳng cấp ngặt nghèo Xét trong điều kiện tồn tại xã hội như vậy thì triết học của Ấn Độgắn chặt với vấn đề tôn giáo và tâm linh cũng là yếu tố khách quan
Quan hệ đẳng cấp ở Ấn Độ đã đã làm cho kết cấu xã hội giai cấp thêm phức tạp Theo kinh điểnBàlamôn và Bộ luật Manu của Ấn Độ, trong xã hội có bốn đặc cấp lớn: Tăng lữ; các đạo sỹ (Brahman); quýtộc; vương công, tướng sĩ, võ sư (Ksatriya); tự do: thương nhân, điền chủ, thường dân (Vaisya); nô lệ
Trang 42
Trang 5và tiện dân (Ksudra) Ngoài ra còn có hạng “cùng đinh” được coi là ngoài lề xã hội (Paria).Sự phân biệt
về đẳng cấp, chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hộinhưng bị kiềm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của nhà nước tôn giáo
Điều kiện địa lý của môi trường của Ấn Độ rất đa dạng, phức tạp như núi non hiểm trở, sa mạc khôcằn, thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, hạn hán liên miên; thêm vào đó, chiến tranh liên tục xảy ra đã làm chodân cư và các bộ tộc ở Ấn Độ bị phân hóa hết sức phức tạp Đây là những yếu tố tác động, ảnh hưởngtrực tiếp đến đời sống, tâm tư, tình cảm của người dân Ấn Độ; điều đó đã buộc họ phải tìm đến, cầu xincác lực lượng siêu nhiên, bên ngoài là Thượng đế cứu giúp Các vấn đề tôn giáo, tâm linh nảy sinh, tồntại và phát triển trên mảnh đất hiện thực này
Triết học Ấn Độ không chỉ nảy sinh từ những cơ sở nêu trên mà còn gắn với các thành tựu của khoahọc, kỹ thuật và văn hóa của Ấn Độ Các biến động lớn các điều kiện về tự nhiên, về con người, về xãhội, về kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo, tâm linh làm xuất hiện các trường phái trong hai hệ thốngtriết học nêu trên
Câu 23: Anh / Chị hãy giải thích câu nói của V.I.Lênin: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng làhọc thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép chứng, nhưngđiều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm” (STT: 14)
Trả lời:
PBC là hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù chuyển hóa lẫn nhau phản ánh mối liên hệ và sựvận động, phát triển của thế giới vật chất
* Nguyên lý là những luận điểm xuất phát, những tư tưởng chủ đạo của một học thuyết hay lý luận
mà tính chân lý của chúng là hiển nhiên, không thể hay không cần phải chứng minh nhưng không mâuthuẫn với thực tiễn và nhận thức về lĩnh vực mà học thuyết hay lý luận đó phản ánh
Với tính cách là một học thuyết triết học, PBCDV được xây dựng dựa trên 2 nguyên lý cơ bản: NL
về mối liên hệ phổ biến và NL về sự phát triển
NL về mối liên hệ phổ biến: Khi khái quát từ những biểu hiện cụ thể của MLH xảy ra trong các lĩnhvực khác nhau của thế giới, NL về mối liên hệ phổ biến có nội dung như sau:
+ Mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới đều tồn tại trong muôn vàn MLH ràngbuộc qua lại lẫn nhau
+ Trong muôn vàn MLH chi phối sự tồn tại của SV, HT, QT trong thế giới có MLH phổbiến MLH phổ biến tồn tại khách quan – phổ biến, nó chi phối một cách tổng quát sự VĐ và PT của mọi
SV, HT, QT trong thế giới
NL về sự phát triển: Khi khái quát từ những biểu hiện cụ thể của sự phát triển xảy ra trong các lĩnhvực khác nhau của thế giới, NL về sự phát triển có nội dung như sau:
+ Mọi SV, HT trong thế giới đều không ngừng VĐ và PT
+ PT mang tính khách quan – phổ biến, là khuynh hướng vận động tổng hợp tiến lên từ thấpđến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện của một hệ thống vật chất do việc giải quyết mâu thuẫn, thực hiện bước nhảy về chất gây ra và hướng theo xu thế phủ định của phủ định
Trang 63
Trang 7* Quy luật: là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, chung, lặp lại giữa các sự vật, hiện tượng và chi phối sự vận động, phát triển của chúng PBCDV gồm 3 quy luật cơ bản sau:
1 – QL thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập:
Mặt đối lập: SV là một tập hợp các yếu tố (thuộc tính) tương tác với nhau và với môi trường Kếtquả của sự tương tác này là các yếu tố tạo nên bản thân SV có một sự biến đổi nhất định, trong đó có mộtvài yếu tố biến đổi trái ngược nhau Những yếu tố trái ngược nhau (bên cạnh những yếu tố giống haykhác nhau) tạo nên cơ sở của các mặt đối lập trong SV MĐL tồn tại k.quan và phổ biến
Thống nhất của các mặt đối lập là các MĐL kg tách rời nhau tức MĐL này lấy MĐL kia làm điềukiện, tiền đề cho sự tồn tại của mình; là các MĐL đồng nhất nhau tức trong chúng chứa những yếu tốgiống nhau cho phép chúng đồng tồn tại trong SV; là các MĐL tác động ngang nhau, tức sự thay đổitrong MĐL này tất yếu sẽ kéo theo sự thay đổi trong MĐL kia, và ngược lại
Đấu tranh của các MĐL: Dù tồn tại trong sự thống nhất, song các MĐL luôn đấu tranh vớinhau, tức chúng luôn tác động qua lại theo xu hướng bài trừ, phủ định hay loại bỏ lẫn nhau Hình thức vàmức độ đấu tranh của các MĐL rất đa dạng, trong đó thủ tiêu lẫn nhau là một hình thức đặc biệt của cácMĐL
Mâu thuẫn BC, tức sự thống nhất và đấu tranh của các MĐL, tồn tại k.quan phổ biến và đadạng (MT bên trong – MT bên ngoài; MT cơ bản – MT kg cơ bản; MT chủ yếu – MT thứ yếu; MT trong
tự nhiên – MT trong xã hội – MT trong tư duy) Sự tác động lên bản thân sự vật là nguồn gốc, động lựccủa mọi sự vận động, phát triển xảy ra trong thế giới
Chuyển hóa của các MĐL (giải quyết MTBC): sự thống nhất mang tính tương đối gắn liềnvới sự ổn định của SV; sự đấu tranh mang tính tuyệt đối gắn liền với sự VĐ, thay đổi của SV MTBCphát triển tương ứng với quá trình thống nhất các MĐL chuyển từ mức độ trừu tượng sang cụ thể; còn sựđấu tranh các MĐL chuyển từ mức bình lặng sang quyết liệt từ đó làm xuất hiện các khả năng chuyểnhóa của các MĐL Khi đk k.quan hội đủ, một trong khả năng đó biến thành hiện thực, các MĐL tự thựchiện quá trình chuyển hóa MTBC sẽ được giải quyết khi các MĐL tự phủ định chính mình để biến thànhcái khác Với hai phương thức chuyển hóa như sau: MĐL này chuyển hóa thành MĐL kia ở trình độ mới
và cả hai MĐL cùng chuyển hóa thành một cái thứ 3 nào đó
Nd quy luật: Các MTBC khác nhau tác động kg giống nhau đến quá trình vận động vàphát triển của sự vật Mỗi MTBC đều trải qua các giai đoạn từ sinh thành (sự xuất hiện của các MĐL)sanh hiện hữu (sự thống nhất và đấu tranh của các MĐL), rồi giải quyết (sự chuyển hóa của các MĐL).MTBC được giải quyết, cái cũ mất đi cái mới ra đời với những MTBC mới hay thay đổi vai trò tác độngcủa MTBC cũ MTBC là nguồn gốc của mọi sự vận động và phát triển Do đó, VĐ và PT trong thế giớivật chất là tự bản thân nó
> Phép biện chứng đòi hỏi xem xét sự thống nhất của các mặt đối lập một cách cụ thể, xem xét nhữngmối quan hệ cụ thể Đây cũng là bản chất của sự đồng nhất mang tính biện chứng, sự đồng nhất có chứađựng các yếu tố khác biệt
Trang 84
Trang 9> Nhấn mạnh tính chất quan trọng của sự thống nhất của các mặt đối lập, V.I.Lênin đưa ramột định nghĩa nữa về phép biện chứng: “Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sựthống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòihỏi phải có những sự giải thích và một sự phát triển thêm” Phép biện chứng là sự phát triển của nó, cácmặt đối lập và mâu thuẫn hạt nhân của phép biện chứng.
2 – QL chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại: Mọi SVđều được đặc trưng bằng sự thống nhất giữa lượng và chất SV bắt đầu bằng sự thay đổi về lượng mộtcách liên tục hay tiệm tiến); nếu lượng chỉ thay đổi trong độ; chưa vượt quá điểm nút thì chất kg thay đổicăn bản; khi lượng thay đổi vượt qua độ, quá điểm nút thì chất sẽ thay đổi căn bản, bước nhảy nhất định
sẽ xảy ra Bước nhảy làm cho chất thay một cách gián đoạn hay đột biến; chất cũ mất đi chất mới ra đời.Chất mới gây ra sự thay đổi về lượng Sự thay đổi về lượng gây ra sự thay đổi về chất và sự thay đổi vềchất gây ra sự thay đổi về lượng là phương thức VĐ, PT của SV trong thế giới
3 – QL phủ định của phủ định: Mọi SV đều liên hệ lẫn nhau và luôn vận động phát triển Phát triển làmột chuỗi các lần phủ định BC có gắn liền với việc giải quyết mâu thuẫn và thực hiện bước nhảy về chấtxảy ra bên trong SV PĐBC man tính k.quan – nội tại, kế thừa – tiến lên Qua một số lần PĐBC xuất hiện
PĐ của PĐ, xác lập cái cũ ở một trình độ cao hơn PĐ của PĐ vạch ra khuynh hướng phát triển xoắn ốctiến lên của mọi SV trong thế giới
* Ngoài những nguyên lý và QL, PBC còn có sáu cặp phạm trù: cái riêng và các chung, nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực
Tóm lại, PBC DV là hệ thống các quan điểm của con người về thế giới, là hệ thống cácphương pháp nhận thức và cải tạo thế giới, là hệ thống các giá trị để con người đánh giá và điều chỉnhcác hành vi trong hoạt động của mình
37 Định nghĩa về giai cấp của Lênin và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa (STT: 16)
C Mác đã từng xác nhận, tình trạng phân chia xã hội thành các giai cấp không phải do ông phát hiện
mà do nhiều nhà sử học tư sản như Chie, Ghidô, Minhê phát hiện ra Hai phát minh của C Mác: Chủnghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư là cơ sở lý luận khoa học, làm sáng tỏ bản chấtcủa quan hệ giai cấp
Năm 1919, trong tác phẩm sáng kiến vĩ đại, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa về giai cấp: “Người ta gọigiai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xãhội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được phápluật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội,
và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà
Trang 105
Trang 11họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.
Từ định nghĩa giai cấp của V.I Lênin có thể rút ra những đặc trưng cơ bản về quan hệ giai cấp:Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhấtđịnh Giai cấp không phải là phạm trù xã hội thông thường mà là phạm trù kinh tế xã hội có tính lịch sử.Giai cấp không phải là sản phẩm của sản xuất nói chung mà là sản phẩm của những hệ thống sản xuất xãhội nhất định trong lịch sử Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bảnchất là thể thống nhất của các mặt đối lập Do đó không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thểnếu không đặt nó trong hệ thống, tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó Nói đến giai cấp lànói đến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế xã hội nhất định.Trong hệ thống kinh tế xã hội đó, tập đoàn người này là tập đoàn thống trị, tập đoàn người kia là tậpđoàn bị trị Đó là các giai cấp Đây là đặc trưng chung nhất
Các giai cấp có quan hệ khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất
Đây là sự khác nhau cơ bản nhất và cũng là đặc trưng cơ bản nhất Giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến,
tư bản là những tập đoàn giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu, do các tậpđoàn này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội để chi phối lao động của các tập đoàn người khác, không có
tư liệu hoặc có ít tư liệu sản xuất Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất: nô lệ, nông nô, vô sảnbuộc phải phụ thuộc vào các tập đoàn thống trị
Các giai cấp khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, tổ chức quản lý sản xuất
Tập đoàn người nào (giai cấp) chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sản xuất và lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế
Các giai cấp khác nhau về phương thức và qui mô thu nhập của cải xã hội
Giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức và lãnh đạo sản xuất, tập đoàn đó có đủ điều kiện để thựchiện mục đích là chiếm đoạt lao động thặng dư của các giai cấp lao động Trong xã hội nô lệ, giai cấp nô lệphải sống như súc vật Trong xã hội phong kiến giai cấp nông nô chỉ được hưởng 20% của cải do mình làm
ra 80% phải cống nộp cho địa chủ và nhà nước phong kiến Trong xã hội tư bản giai cấp công nhân và tầnglớp trí thức làm thuê nhận được một phần sản phẩm lao động của mình dưới hình thức tiền lương
Trang 126
Trang 13Đó là tiền bán sức lao động Ngày nay đã có nhà tư bản sở hữu tài sản với giá trị trên 50 tỷ USD, và sẽ
100 tỷ và nhiều trăm tỷ USD Nghĩa là sự bất bình đẳng trong xã hội tư bản tiếp tục gia tăng
Trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng ngoài hai giai cấp cơ bản đối kháng còn có những giai cấp, tầng lớp xã hội trung gian
Trong cơ cấu giai cấp xã hội ở nước ta hiện nay, ngoài các giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp tríthức và các tầng lớp nhân dân lao động còn có tầng lớp tư sản; tầng lớp này có điều kiện phát triển trongnền kinh tế thị trường Vì kinh tế tư bản tư nhân là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nhiềuthành phần, tầng lớp tư sản có vai trò tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Đương nhiên có mâu thuẫn về lợi ích giữa những người lao động làm thuê với tầng lớp tư sản Trongđiều kiện của thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay, các loại mâu thuẫn trên được coi là mâu thuẫn trong nội
bộ nhân dân
Ý nghĩa phương pháp luận:
Lý luận về giai cấp của chủ nghĩa MácLênin có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận Sự ra đời củagiai cấp làm cho sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng trở nên rõ ràng, các giai cấp nhận thức rõ bản chấtcủa mình (giai cấp thống trị giai cấp bị trị; quan hệ bóc lột bị bóc lột; 2 giai cấp luôn đối lập nhau về lợiích), từ đó mâu thuẫn giai cấp ngày càng lớn, không thể có sự bình đẳng về địa vị và quyền lực cho cácgiai cấp Trong điều kiện xã hội có sự phân hóa giai cấp thì sự vận động của các mâu thuẫn trong phươngthức sản xuất biểu hiện ra là mâu thuẫn giữa các giai cấp trong đời sống chính trị xã hội Sự phân biệtgiai cấp là tiền đề cho đấu tranh giai cấp trong xã hội Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp cơ bản quyếtđịnh xu thế, tính chất của sự vận động xã hội
46 Tại sao trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chúng ta tất yếu phải xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội, những nội dung cơ bản của nền tảng tinh thần đó là gì?
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội: Vì nó được thấm nhuần trong mỗi con người và trong
cả cộng đồng, được truyền lại, nối tiếp và phát huy qua các thế hệ, được vật chất hóa và khẳng định vững chắc trong cấu trúc chính trị xã hội của dân tộc
Trang 147
Trang 15Từ khi Đảng ta ra đời và trong suốt lịch sử lãnh đạo cách mạng nước ta, Đảng ta luôn coi văn hóa là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng Quan điểm này được đề cập trong Cương lĩnh,
đường lối, chiến lược của Đảng và đã được Nghị quyết Hội nghị TW 5 Khóa VIII khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đầy sự phát triển KTXH
Khái niệm, bản chất của văn hóa :
Thuật ngữ “văn hóa” xuất hiện từ lâu đời trong ngôn ngữ nhân loại và cho đến nay văn hóa là
một trong những khái niệm phức tạp và khó xác định Song, có thể định nghĩa văn hóa như sau: văn hóa là hoạt động tinh thần nhằm phát huy những năng lực bẩm sinh và bản chất của con người
để sáng tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần dựa trên các chuẩn mực : chân, thiện, mỹ nhằm duy trì sự tồn tài và phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội Văn hóa cũng là hoạt động nhằm tạo ra những giá trị những chuẩn mực xã hội, là môi trường thứ 2, cái nôi nuôi dưỡng sự hình thành nhân cách con người.Theo định nghĩa của Tổng thư ký UNESCO thì văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và các cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên hệ thống các giá trị, các
truyền thống và thị hiếu những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc.
Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần nhằm giáodục con người khát vọng hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ và khả năng sáng tạo ra chân, thiện,
mỹ trong đời sống Với ý nghĩa đó thì văn hóa có mặt trong tất cả các hoạt động của con người, dù
đó là hoạt động sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần, hay trong quan hệ giao tiếp, ứng xử xã hộitrong thái độ ứng xử với thiên nhiên
Văn hóa có 7 thuộc tính : một là văn hóa mang tính lịch sử, hai là văn hóa mang tính truyền thống do
những giá trị văn hóa được lưu giữ, phát triển và truyền bá qua các giai đoạn lịch sử từ thế hệ này sang
thế hệ khác, ba là văn hóa mang tính dân tộc thể hiện rõ ở bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa nói lên đặc điểm của một dân tộc, biểu hiện bản lĩnh, tâm hồn, cốt cách của 1 dân tộc, bốn là văn hóa mang tính giá trị (vật thể, phi vật thể, vật chất hoặc tinh thần), năm là văn hóa bao giờ mang tính nhân sinh, chỉ có con người mới sáng tạo văn hóa và hoàn thiện mình thông qua môi trường văn hóa, sáu là văn hóa mang tính phát sinh và bảy làtrong xã hội có giai cấp, văn hóa bao giờ cũng mang tính giai cấp.
Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển:Văn hóa khơi dậy và phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của con người Trong thời đại ngày nay, việc phát huy tiềm năng sáng tạo của con người có tầm quan trọng đặt biệt, tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa là trong sự hiểu biết, tâm hồn, đạo
lý, lối sống, thị hiếu, trình độ thẫm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng Hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người ngày càng cao thì khả năng phát triển
Trang 168
Trang 17kinh tế xã hội càng lớn Do vậy, đối với một nền kinh tế, muốn phát triển bền vững thì động lực khôngthể thiếu là phát triển văn hóa.
Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức sống mãnh liệt, giúp cộngđồng dân tộc Việt Nam vượt qua sóng gió và thác ghềnh để tồn tại và không ngừng phát triển Vì vậy,chúng ta chủ trương làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội để các giá trị vănhóa trở thành nến tảng tinh thần bền vững của xã hội, trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội
+ Nguồn lực nội sinh của sự phát triển của một dân tộc thấm sâu trong văn hóa Sự phát triển của mộtdân tộc phải vươn tới cái mới, tiếp nhận cái mới, tạo ra cái mới, nhưng lại không thể tách rời cội nguồn.Phát triển phải dựa trên cội nguồn, bằng cách phát huy cội nguồn Cội nguồn đó của mỗi quốc gia, dântộc là văn hóa
+ Kinh nghiệm đổi mới ở nước ta cũng chứng tỏ rằng, ngay bản thân sự phát triển kinh tế cũng khôngchỉ do các nhân tố kinh tế thuần túy tạo ra, mà nó còn do các giá trị văn hóa đang được phát huy
+ Ngày nay, trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sựtăng trưởng kinh tế là trí tuệ Vì vậy, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiều hay ít tàinguyên và lao động mà trước hết là có khả năng phát huy đến mức cao nhất tiếm năng sáng tạo củanguồn lực con người hay không Tiềm năm sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa
+ Trong nề kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào tiêu chuẩn của cái đúng, cái tốt, cái đẹp đểhướng dẫn và thúc đẩy người lao động Mặt khác văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống,của đạo lý dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái lợi ích vật chất, sùng bái tiền tệ…
+ Trong vấn đề bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững, văn hóa giúp hạn chế lối sống chạy theoham muốn quá mức của đời sống “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễmmôi trường
Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển:Văn hóa thể hiện trình dộ phát triển về ý thức, trí tuệ, năng lực sán tạo của con người Với sự phát triển của văn hóa, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân và cả cộng đồng được bồi dưỡng và phát huy, trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực của toàn xã hội.
+ Mục tiêu xây dựng một xã hội Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” chính là mục tiêu văn hóa.
+ Thực tế cho thấy, mối quan hệ giữa văn hóa và phát triển là vấn đề bức xúc của mỗi quốc gia Nhất là các nước vốn trước đây là thuộc địa thì việc giải quyết vấn đề này lai có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, trong nhân thức và hành động, mục tiêu kinh tế thường lấn át mục tiêu văn hóa và được đặt ở vị trí ưu tiên trong các kế hoạch, chương trình, chính sách phát triển.
Văn hóa có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người và xây dựng
xã hội mới.
Trang 189
Trang 19Việc phát triển kinh tế xã hội cần đến những nguồn lực khác nhau: tài nguyên thiên nhiện, vốn,… nhưngcác tài nguyên thiên nhiên này đều có hạn và có thể bị khai thác cạn kiệt Chỉ có tri thức con người mới
là nguồn lực vô hạn, có khả năng tái sinh và tự sinh không bao giờ cãn kiệt các nguồn lực khác sẽ được
sử dụng có hiệu quả khi nguồn lực co người có chất lượng cao
Câu 41: PHÂN TÍCH NHỮNG DẤU HIỆU NHẬN BIẾT CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VỚI TƯ CÁCH LÀ GIÁ TRỊ PHỔ BIẾN (STT 54)
I/ Khái niệm nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước đặc biệt mà ở đó có sự ngự trị cao nhấtcủa pháp luật, với nội dung thực hiện quyền lực của nhân dân
II/ Dấu hiệu nhận biết cơ bản của nhà nước pháp quyền.
1 Nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó có sự ngự trị tối cao của pháp luật.
Với hình thức tổ chức xã hội theo mô hình nhà nước pháp quyền thì pháp luật phải trở thành tiêuchuẩn và căn cứ căn bản nhất, cao nhất trong mọi hoạt động của bản thân nhà nước, các tổ chức xã hội
và mỗi công dân
Đây là dấu hiệu biểu nhất về phương diện pháp lý để xác định một nhà nước nào đó có phải là nhànước pháp quyền hay không và là nhà nước pháp quyền ở trình độ nào
Tính pháp quyền của hình thức tổ chức nhà nước pháp quyền phải là cao nhất ngay cả đối với chủ thểquyền lực mặc dù chủ thể quyền lực đặt ra pháp luật
2 Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó quyền lực nhà nước thể hiện được lợi ích và ý chí của đại đa số nhân dân.
Dấu hiệu này cho thấy mỗi cá nhân trong xã hội được tổ chức theo hình thức nhà nước pháp quyềnđều có tư cách công dân và tư cách là cá nhân tự do Với tư cách công dân, mỗi cá nhân buộc phải cónghĩa vụ và quyền lợi theo quy định của luật pháp; với tư cách cá nhân tự do, mỗi cá nhân có quyền làmbất cứ điều gì mà pháp luật không cấm Pháp luật chỉ cấm những hành vi cá nhân và các tổ chức chínhtrị, xã hội nào xâm hại tới lợi ích của các cá nhân và các tổ chức khác cũng như lợi ích của xã hội Nhưvậy, nó mở rộng phạm vi hoạt động tự do sáng tạo của mỗi cá nhân, và mỗi tổ chức trong xã hội
Trang 2010
Trang 213 Nhà nước pháp quyền là hình thức tổ chức nhà nước mà ở đó có sự đảm bảo thực tế mối quan
hệ hữu cơ về quyền và trách nhiệm giữa nhà nước và công dân.
Quyền của công dân thuộc về trách nhiệm của nhà nước và ngược lại, quyền của nhà nước thuộc vềtrách nhiệm của công dân Nhà nước phải chịu trách nhiệm trước mọi công dân về những vi phạm phápluật của mình, làm phương hại đến lợi ích của công dân, của các tổ chức trong xã hội Ngược lại, côngdân và các tổ chức trong xã hội phải thực hiện các nghĩa vụ và chịu trách nhiệm về những hành vi củamình theo quy định của pháp luật
44 Phân tích mối quan hệ giữa tâm lý xã hội và hệ tư tưởng, tại sao tâm lý xã hội và hệ tư tưởng là hai giai đoạn thấp và cao của ý thức xã hội nhưng tâm lý xã hội lại không trực tiếp sinh
ra hệ tư tưởng? (STT:16)
Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tình cảm, ước muốn, thói quen, tập quán của con người, của một
bộ phận xã hội hoặc toàn bộ xã hội hình thành dưới ảnh hưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày
của họ và phản ánh đời sống đó.
Tâm lý xã hội có đặc điểm: phản ánh trực tiếp tồn tại xã hội, nhưng đó là trình độ phản ánh thấp, phản ánh tự phát tồn tại xã hội Tâm lý xã hội ghi lại những mặt bề ngoài của xã hội nên nó không vạch ra đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc bản chất các mối quan hệ xã hội Những quan niệm của con người ở trình độ tâm lý xã hội mang tính chất kinh nghiệm, yếu tố trí tuệ đan xen với yếu tố tình cảm chưa thể hiện về mặt lý luận Nó có vai trò quan trọng trong việc phát triển ý thức xã hội.
Hệ tư tưởng là trình độ cao của ý thức xã hội, hình thành khi con người nhận thức sâu sắc hơn về những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất sự vật, vào các mối quan hệ xã hội.
Hệ tư tưởng là nhận thức lý luận về tồn tại xã hội, là hệ thống những quan điểm tư tưởng (chính trị, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo) là kết quả của sự khái quát hoá những kinh nghiệm
xã hội Hệ tư tưởng được hình thành một cách tự giác, nghĩa là nó được hình thành tự giác bởi các nhà khoa học và được truyền bá trong xã hội.
Trang 2211
Trang 23Khi nghiên cứu về hệ tư tưởng cần có sự phân biệt hệ tư tưởng khoa học và hệ tư tưởng không khoa học Hệ tư tưởng khoa học phản ánh chính xác, khách quan các mối quan hệ vật chất của xã hội Còn hệ tư tưởng không khoa học tuy cũng phản ánh các mối quan hệ vật chất xã hội nhưng dưới một hình thức sai lầm, hư ảo, xuyên tạc khách quan.
Là một bộ phận của ý thức xã hội, hệ tư tưởng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của khoa học Lịch sử các khoa học tự nhiên đã cho thấy tác động rất quan trọng của hệ tư tưởng, đặc biệt là vai trò của tư tưởng triết học trong quá trình khái quát tài liệu.
Mối quan hệ giữa hệ tư tưởng và tâm lý xã hội.
Hệ tư tưởng và tâm lý xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phản ánh khác nhau của ý thức
xã hội, nhưng chúng có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Cả hai đều có nguồn gốc tự tồn tại
xã hội và phản ánh tồn tại xã hội Nhưng trong đó, tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây trở ngại cho sự hình thành, sự truyền bá, sự tiếp thu của con người đối với một hệ tư tưởng nhất định (tâm lý, tình cảm giai cấp là điều kiện thuận lợi cho các thành viên giai cấp tiếp thu hệ tư tưởng của giai cấp) Mối liên hệ giữa hệ tư tưởng (đặc biệt là tư tưởng khoa học, tiến bộ) với tâm
lý xã hội, với sự sinh động phong phú của đời sống thực tiễn sẽ giúp cho hệ tư tưởng bớt xơ cứng, giảm sai lầm.
Ngược lại, hệ tư tưởng, lý luận xã hội sẽ làm gia tăng yếu tố trí tuệ cho tâm lý xã hội Hệ tư tưởng khoa học sẽ thúc đẩy tâm lý xã hội phát triển theo hướng đúng đắn, lành mạnh Hệ tư tưởng phản khoa học sẽ kích thích những yếu tố tiêu cực của tâm lý xã hội phát triển.
Hệ tư tưởng không ra đời trực tiếp từ tâm lý xã hội, không là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội.
Bất kỳ tư tưởng nào khi phản ánh các mối quan hệ đương thời thì đồng thời cũng thừa kế các học thuyết xã hội, những tư tưởng và quan điểm đã tồn tại trước đó Thí dụ, tư tưởng tôn giáo ở thời
kỳ phong kiến thể hiện lợi ích của giai cấp phong kiến nhưng lại được bắt nguồn trực tiếp từ những tư tưởng duy tâm thời cổ đại và những tư tưởng đạo Cơ đốc thời kỳ đầu công nguyên Sự
ra đời phát triển của tư tưởng triết học Mác, cũng không trực tiếp ra đời từ tâm lý xã hội của giai cấp công nhân lúc đó, mà là sự khái quát lý luận từ kinh nghiệm của cuộc đấu tranh của giai cấp
Trang 2412
Trang 25công nhân, phản ánh điều kiện kinh tế xã hội lúc đó, khái quát các tri thức của nhân loại, kế thừa trực tiếp từ các học thuyết triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học ở thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX…
Rõ ràng, hệ tư tưởng xã hội liên kết hữu cơ với tâm lý xã hội, nhưng nó không đơn giản là sự “cô đặc” tâm lý xã hội.
CÂU 48: Định nghĩa vể bản chất con người của C.Mác dùng để chỉ bản chất riêng từng cá nhân con người hay dùng để chỉ chung bản chất của cả giống loài người, tại sao?
Định nghĩa vể bản chất con người của C.Mác dùng để dùng để chỉ chung bản chất của cả giống loàingười
Quan điểm của Mác Lênin về bản chất con người:con người là một thực thể thống nhất giữa hai mặtsinh vật và xã hội Theo quan điểm duy vật, lịch sử tồn tại và phát triển của con người luôn chịu sự chiphối tác động bởi 3 loại qui luật sau: quy luật sinh học, quy luật tâm lý ý thức, quy luật xã hội
Trong “ Luận cương về Phơbách”, Mác đã khẳng định về bản chất con người: “Bản chất con ngườikhông phải là cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt , trong tính hiện thực của nó, bản chất conngười tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Với định nghĩa này, Mác đã đưa ra phạm trù “con người thựctiễn” không phải là cái nhìn trừu tượng mà là cụ thể cảm tính, được đặt vào trong hoạt động sản xuấtthực tiễn, xem xét trong mối quan hệ không tách rời với tự nhiên, xã hội Con người là một sinh vật,cũng có nghĩa con người là một bộ phận của tự nhiên, gắn bó với quá trình hình thành và phát triển của
tự nhiên Song đó là một thực thể tự nhiên luôn hoạt động và chứa đựng trong mình những khả năng tolớn về sự phát triển Bản chất con người không phải là cái bất biến mà nó luôn được phát triển theo sựtiến bộ của lịch sử Vì vậy, mỗi thời đại khác nhau sẽ có những mẫu người khác nhau
Theo Mác thì con người là kết quả của lịch sử phát triển vật chất – giới tự nhiên Trong “Bản thảokinh tế triết học” – 19844 C.Mác viết: “Con người là một sinh vật có “tính loài” giới tự nhiên là thân thể
vô cơ của con người… Vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên” Con người muốn phát triển vàtham gia vào các hoạt động xã hội, trước hết phải tồn tại, phải được thỏa mãn các tiền đề về tự nhiên nhưmột cá thể sinh vật – xã hội
Trang 2613
Trang 2737.Định nghĩa về giai cấp của Lênin và ý nghĩa phương pháp luận của định nghĩa (STT:16 )
C Mác đã từng xác nhận, tình trạng phân chia xã hội thành các giai cấp không phải do ông phát hiện
mà do nhiều nhà sử học tư sản như Chie, Ghidô, Minhê phát hiện ra Hai phát minh của C Mác: Chủnghĩa duy vật lịch sử và học thuyết về giá trị thặng dư là cơ sở lý luận khoa học, làm sáng tỏ bản chấtcủa quan hệ giai cấp
Năm 1919, trong tác phẩm sáng kiến vĩ đại, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa về giai cấp: “Người tagọi giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sảnxuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ nàyđược pháp luật quy định và thừa nhận), đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chứclao động xã hội, và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều
mà họ được hưởng Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động củatập đoàn khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”
Từ định nghĩa giai cấp của V.I Lênin có thể rút ra những đặc trưng cơ bản về quan hệ giai cấp:Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất xã hội nhấtđịnh
Giai cấp không phải là phạm trù xã hội thông thường mà là phạm trù kinh tế xã hội có tính lịch sử Giaicấp không phải là sản phẩm của sản xuất nói chung màlà sản phẩm của những hệ thống sản xuất xã hộinhất định trong lịch sử Mỗi hệ thống giai cấp tương ứng với một hệ thống sản xuất xã hội, về bản chất làthể thống nhất của các mặt đối lập Do đó không thể hiểu được đặc trưng của từng giai cấp cụ thể nếukhông đặt nó trong hệ thống, tức là trong mối quan hệ với giai cấp đối lập với nó Nói đến giai cấp là nóiđến sự khác nhau giữa các tập đoàn người về địa vị trong một hệ thống kinh tế xã hội nhất định Trong
hệ thống kinh tế xã hội đó, tập đoàn người này là tập đoàn thống trị, tập đoàn người kia là tập đoàn bị trị
Đó là các giai cấp Đây là đặc trưng chung nhất
Các giai cấp có quan hệ khác nhau về quan hệ đối với tư liệu sản xuất
Đây là sự khác nhau cơ bản nhất và cũng là đặc trưng cơ bản nhất Giai cấp chủ nô, địa chủ phong kiến, tưbản là những tập đoàn giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu, do các tập đoànnày chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội để chi phối lao động của các tập đoàn người khác, không có tư liệu
Trang 2814
Trang 29hoặc có ít tư liệu sản xuất Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất: nô lệ, nông nô, vô sản buộc phải phụ thuộc vào các tập đoàn thống trị.
Các giai cấp khác nhau về vai trò trong tổ chức lao động xã hội, tổ chức quản lý sản xuất
Tập đoàn người nào (giai cấp) chiếm hữu tư liệu sản xuất đương nhiên giữ vai trò lãnh đạo, chỉ huy hoạt động sản xuất và lưu thông trên quy mô toàn xã hội cũng như từng đơn vị kinh tế
Các giai cấp khác nhau về phương thức và qui mô thu nhập của cải xã hội
Giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất, tổ chức và lãnh đạo sản xuất, tập đoàn đó có đủ điều kiện để thựchiện mục đích là chiếm đoạt lao động thặng dư của các giai cấp lao động Trong xã hội nô lệ, giai cấp nô lệphải sống như súc vật Trong xã hội phong kiến giai cấp nông nô chỉ được hưởng 20% của cải do mình làm
ra 80% phải cống nộp cho địa chủ và nhà nước phong kiến Trong xã hội tư bản giai cấp công nhân và tầnglớp trí thức làm thuê nhận được một phần sản phẩm lao động của mình dưới hình thức tiền lương Đó là tiềnbán sức lao động Ngày nay đã có nhà tư bản sở hữu tài sản với giá trị trên 50 tỷ USD, và sẽ 100 tỷ và nhiềutrăm tỷ USD Nghĩa là sự bất bình đẳng trong xã hội tư bản tiếp tục gia tăng
Trong các chế độ xã hội có giai cấp đối kháng ngoài hai giai cấp cơ bản đối kháng còn có những giaicấp, tầng lớp xã hội trung gian
Trong cơ cấu giai cấp xã hội ở nước ta hiện nay, ngoài các giai cấp công nhân, nông dân, tầng lớp tríthức và các tầng lớp nhân dân lao động còn có tầng lớp tư sản; tầng lớp này có điều kiện phát triển trongnền kinh tế thị trường Vì kinh tế tư bản tư nhân là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế nhiềuthành phần, tầng lớp tư sản có vai trò tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.Đương nhiên có mâu thuẫn về lợi ích giữa những người lao động làm thuê với tầng lớp tư sản Trongđiều kiện của thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay, các loại mâu thuẫn trên được coi làmâu thuẫn trong nội
bộ nhân dân
Ý nghĩa phương pháp luận:
Lý luận về giai cấp của chủ nghĩa MácLênin có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận Sự ra đời của giaicấp làm cho sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng trở nên rõ ràng, các giai cấp nhận thức rõ bản chất củamình (giai cấp thống trị giai cấp bị trị; quan hệ bóc lột bị bóc lột; 2 giai cấp luôn đối lập nhau về lợi ích), từ
đó mâu thuẫn giai cấp ngày càng lớn, không thể có sự bình đẳng về địa vị và quyền lực cho các
Trang 3015
Trang 31giai cấp.Trong điều kiện xã hội có sự phân hóa giai cấp thì sự vận động của các mâu thuẫn trong phươngthức sản xuất biểu hiện ra là mâu thuẫn giữa các giai cấp trong đời sống chính trị xã hội Sự phân biệt giaicấp là tiền đề cho đấu tranh giai cấp trong xã hội Cuộc đấu tranh giữa các giai cấp cơ bản quyết định xuthế, tính chất của sự vận động xã hội.
Câu 20: Phân tích cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống
(/phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể; /phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích) Việc tuânthủ nguyên tắc này sẽ khắc phục được những hạn chế gì trong hoạt động nhận thức khoa học? Lấy một
ví dụ minh họa việc vận dụng phương pháp này trong hoạt động nghiên cứu khoa học.(Quỳnh: STT 51)
1 Cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp hệ thống:
+ Cơ sở lý luận:
Mọi khách thể (sự vật, hiện tượng, quá trình) tồn tại trong thế giới đều được coi như những hệ thống;mỗi khách thể hệ thống là một tập hợp gồm nhiều yếu tố có mối liên hệ với nhau và với môi trườngxung quanh tạo nên một trật tự tổ chức nhất định, có cấu trúc ổn định và luôn thực hiện những chứcnăng xác định nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của chính mình; sự tác động qua lại giữa các yếu tốcủa hệ thống tạo nên những thuộc tính tổng hợp tính chỉnh thể đặc trưng cho hệ thống; trong hệ thốngchỉnh thể, cái toàn thể bao giờ cũng lớn hơn tổng số học các bộ phận hay các yếu tố hợp thành
Bản thân mỗi khách thể hệ thống vừa là một hệ thống vừa là một yếu tố hay bộ phận của một hệ thốngkhác lớn hơn; trong thế giới tồn tại tính xếp cấp của hệ thống; khách thể là hệ thống hay là yếu tố chỉmang tính tương đối
Khi khách thể là hệ thống đã được xác định, sự tác động qua lại giữa các yếu tố với nhau hay với môitrường là nguyên nhân của mọi sự biến dạng, thay đổi của khách thể hệ thống theo một xu hướng nhấtđịnh tính hướng đích của hệ thống; tính hướng đích của hệ thống làm cho trật tự tổ chức của hệ thốngkhông ngừng được đổi mới; khách thể hệ thống vì vậy không ngừng phát triển
+ Những yêu cầu cơ bản của phương pháp hệ thống: Trong nhận thức khoa học phải:
Phân chia khách thể hệ thống (đối tượng mà hoạt động nhận thức hay thực tiển tác động đến) ra thànhcác yếu tố, xác định môi trường mà khách thể tồn tại;
Phát hiện được những mối quan hệ, liên hệ tất yếu, ổn định giữa các yếu tố; xác định cấu trúc, vạch rõchức năng, làm sáng tỏ trật tự tổ chức của khách thể
Xác định các thuộc tính tổng hợp; phát hiện ra tính chỉnh thể của hệ thống; vạch rõ các mối liên hệ,tương tác giữa hệ thống và môi trường
Phát hiện ra tính hướng đích của hệ thống và xu hướng phát triển của khách thể hệ thống
Trang 3216
Trang 33Mặc dù mọi khách thể tồn tại trong thế giới đều được coi như những hệ thống nhưng phương pháp hệ thống chỉ áp dụng có hiệu quả để nghiên cứu những khách thể thể hiện rõ tính hệ thống.
2 Cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể:
+ Cơ sở lý luận:
Cái cụ thể là phạm trù dùng để chỉ sự tồn tại trong tính da đạng; nó bao gồm cái cụ thể khách quan
(sự tồn tại của sự vật trong những mối quan hệ, liên hệ với những sự vật khác trong hiện thực) và cái cụthể chủ quan (sự phản ánh cái cụ thể khách quan vào trong quá trình nhận thức)
Cái trừu tượng làphạm trù dùng để chỉ kết quả của sự trừu tượng hóa tách một mặt, một mối liên hệ,
…nào đó ra khỏi sự vật như cái tổng thể phong phú đa dạng; nó là sự phản ánh một bộ phận, một mặtcủa cái cụ thể khách quan Từ những cái trừu tượng này tư duy tổng hợp chúng lại thành cái cụ thể trong
tư duy
Nhận thức xét đến cùng đều phản ánh cái cụ thể khách quan,nhưng lại xuất phát từ những cái cụ thể cảm tính tiến đến xây dựng những cái trừu tượng, đặc biệt là những cái trừu tượng khoa học Nhận thức khoa học bắt đầu từ việc xây dựng những cái trừu tượng khoa học (mỗi khái niệm, mỗi tiền đề, mỗi định lý, mỗi định
luật, mỗi luận điểm,…) phản ánh một khía cạnh bản chất của sự vật Đẩy mạnh nhận thức khoa học thôngqua việc tiếp tục đào sâu những cái trừu tượng để xây dựng thêm những cái trừu tượng mới; sau cùng tổng
hợp tất cả những cái trừu tượng khoa học đã xây dựng thành cái cụ thể trong tư duy, cái cụ thể phản ảnh
được cái bản chất sâu sắc và đầy đủ của hiện tượng – đối tượng đang nghiên cứu
Cái cụ thể lý tính không phải là tổng số tri thức về những mặt, tính chất của sự vật, mà là tri thức sâu
sắc, tương đối đầy đủ về đối tượng đang nghiên cứu như một chỉnh thể có những yếu tố, những mặt,
những mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau Do đó, phải tổng hợp nhiều cái trừu tượng để có được cái
cụ thể trong tư duy phản ánh sự thống nhất trong tính đa dạng của đối tượng tồn tại trong hiện thực có
vô số mối liên hệ, quan hệ với những sự vật khác và đồng thời có muôn vàn mối liên hệ, quan hệ bên
trong của nó, với những tính chất khác nhau, luôn vận động phát triển Vì vậy C.Mac viết: “Cái cụ thể
sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều sự quy định, như vậy, nó là sự thống nhất của nhiều mặtkhác nhau Cho nên trong tư duy, cái cụ thể biểu hiện là quá trình tổng hợp, là kết quả chứ không phải làđiểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cùng là điểm xuất phát của trực quan vàcủa biểu tượng”
Quá trình nhận thức khoa học dựa trên cái cụ thể cảm tính xây dựng những cái trừu tượng lý tính;và từ những cái trừu tượng lý tính tổng hợp thành cái cụ thể trong tư duy.Quá trình vận động, phát triển của nhận
thức khoa học dường như quay về với ban đầu, về với cái cụ thể, nhưng không phải là quay về với
Trang 3417
Trang 35cái biểu tượng của cái toàn thể cảm tính mà là quay về với cái tổng hòa nhiều cái quy định, nhiều mối quan hệ của tư duy.
+ Những yêu cầu cơ bản của phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể:
Nhận thức khoa học phải thống nhất hai quá trình nhận thức vận động đối lập: từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượngvà từ trừu tượngđến cụ thể(trong tư duy).
Từ cụ thể (cảm tính) đến trừu tượng đòi hỏi phải dựa vào những tài liệu cảm tính thông qua phân
tích xây dựng các khái niệm, những định nghĩa, định lý, định luật, ….đơn giản, trừu tượng phản ánhtừng mặt, từng thuộc tính của đối tượng đang nghiên cứu Từ những cái trừu tượng ban đầu xây dựngnhững cái trừu tượng tiếp theo…
Từ trừu tượng đến cụ thể (trong tư duy) đòi hỏi phải dựa trên những khái niệm, những định nghĩa,
…đơn giản, trừu tượng thông qua tổng hợp biện chứng xây dựng cái cụ thể (trong tư duy) – lý thuyết(hệ thống những hiểu biết sâu sắc về đối tượng đang nghiên cứu)
3 Cơ sở lý luận và những yêu cầu phương pháp luận của phương pháp thống nhất cái lịch sử và cái lôgích:
Phương pháp lịch sử đòi hỏi phải tái hiện lại trong tư duy quá trình lịch sử cụ thể với những chi tiết
của nó, nghĩa là phải nắm lấy sự vận động, phát triển lịch sử của sự vật trong toàn bộ tính phong phúcủa nó Phương pháp lịch sử có giá trị to lớn và quan trọng trong các khoa học lịch sử Không cóphương pháp lịch sử sẽ không có khoa học lịch sử Tuy nhiên, không phải với mọi đối tượng việc ápdụng phương pháp lịch sử đều mang lại hiệu quả
Phương pháp lôgích đòi hỏi phải vạch ra bản chất, tính tất nhiên quy luật của quá trình vận động, phát
triển của sự vật dưới hình thức trừu tượng và khái quát của nó, nghĩa là phải loại bỏ cái ngẫu nhiên, vụn vặt
ra khỏi tiến trình nhận thức sự vận động, phát triển của sự vật Phương pháp lôgích đòi hỏi phải tái hiện lạicái lôgích khách quan trong sự phát triển của sự vật; đòi hỏi quá trình tư duy phải bắt đầu từ khởi điểm củalịch sử nhưng tập trung nghiên cứu sự vật dưới hình thức phát triển tương đối hoàn thiện của