Đánh giá cao vai trò của văn hoá PL trong việc tạo dựng môi trường pháp lý cho sự phát triển nền KTTT, tác giả luận văn quyết định chọn đề tài: Mối quan hệ giữa văn hoá pháp luật và nền
Trang 1Bộ tư pháp bộ giáo dục và đào tạo
Trường đại học luật hà nội
Phạm Thị Mỹ Dung
Mối quan hệ giữa Văn hoá
pháp luật và nền kinh tế tri thức –
Trang 2Mục lục
Trang
Phần mở đầu 1
Chương 1: Khái quát về văn hoá pháp luật 5
1.2 Các chức năng cơ bản của văn hoá pháp luật 11
Chương 2: Khái quát về nền kinh tế tri thức 25
2.2 Đặc điểm chính của nền kinh tế tri thức 32
Chương 3: Sự tác động qua lại giữa văn hoá pháp luật
và nền kinh tế tri thức
37
3.1 Văn hoá pháp luật và nền kinh tế tri thức luôn gắn bó chặt
chẽ và tác động qua lại với nhau
Trang 3Nh÷ng ch÷ viÕt t¾t trong luËn v¨n
PL : ph¸p luËt KTTT : kinh tÕ tri thøc XHCN : x· héi chñ nghÜa
Trang 4Phần mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta thường gặp cách nói: Văn hoá nhân cách, văn hoá lao động, văn hoá chính trị, văn hoá PL, văn hoá gia đình, văn hoá ngôn ngữ, văn hoá giao tiếp, văn hoá dịch vụ, văn hoá quản lý Việc gắn liền “văn hoá” với một lĩnh vực, một mặt nào đó trong hoạt động của con người ngày càng được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ xã hội như một yêu cầu bức thiết đòi hỏi về chất lượng, về sự hoàn thiện, về tính nhân văn trong các lĩnh vực hoạt động của con người và ở ngay bản thân con người
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và lần thứ IX đã nhấn mạnh vai trò
đặc biệt của văn hoá nói chung, chỉ rõ tính xuyên suốt, thấm sâu của văn hoá trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và chỉ ra phương châm phải gắn kết những vấn đề văn hoá với những vấn đề kinh tế- xã hội Văn hoá cùng với kinh tế, chính trị tạo nên đời sống xã hội của một dân tộc Văn hoá gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và phản ánh trình độ văn minh của xã hội Có thể nói, văn hoá là một quá trình chọn lọc tinh hoa của dân tộc trong quá trình phát triển Văn hoá và kinh tế, văn hoá và phát triển gắn liền với nhau Nếu không có văn hoá thì không có điều kiện phát triển kinh tế và phát triển xã hội, ngược lại, đời sống kinh tế và tiến bộ xã hội bao giờ cũng là biểu hiện của văn hoá Dân tộc Việt Nam hướng tới Chủ nghĩa xã hội theo đúng quy luật và quan điểm về tính hợp lý, Đảng và Nhà nước phải làm hai việc với truyền thống văn hoá như Hồ Chí Minh đã nói: Tiếp thu các truyền thống văn hoá tốt đẹp, đảm bảo tính lịch sử liên tục đồng thời hấp thụ những cái mới để nâng nền văn hoá mới lên một tầm cao mới Văn hoá phải được xác lập trên các định chuẩn của cái đúng, tức là các quy luật khách quan cùng hành lang
PL sâu và một nền khoa học với công nghệ cao và sạch
Văn hoá PL là một trong những yếu tố của văn hoá, do vậy để xây dựng nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc, thì không thể bỏ qua việc xây
Trang 5dựng và phát triển văn hoá PL Xây dựng và phát triển văn hoá PL chính là nội lực để đảm bảo thực hiện đường lối của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nền KTTT đã hình thành và được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới
Đó cũng là xu thế tất yếu của quá trình phát triển sức sản xuất, là thành tựu quan trọng của loài người mà chủ nghĩa xã hội phải nắm lấy và vận dụng để phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Trong những năm vừa qua, khái niệm “Kinh tế tri thức” tuy mới xuất hiện ở Việt Nam nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của công chúng và các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách Đảng ta cũng đã chỉ rõ, trong thế kỷ XXI khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt, KTTT có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Quan
điểm của Đảng là: “Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn
và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học, từng bước phát triển KTTT” [9, tr.91]
Việt Nam đang bước vào nền KTTT với điểm xuất phát là nền kinh tế nông nghiệp, chúng ta cần phải thực hiện tốt phương châm “đi tắt, đón đầu” nhằm nắm bắt và làm chủ nhanh các tri thức mới nhất, tạo sự phát triển nhanh nhất cho đất nước Muốn đạt được điều đó, Nhà nước phải tạo được môi trường pháp lý cần thiết, thuận lợi cho khuyến khích đầu tư và phát triển KTTT Đánh giá cao vai trò của văn hoá PL trong việc tạo dựng môi trường pháp lý cho sự phát triển nền KTTT, tác giả luận văn quyết định chọn đề tài:
Mối quan hệ giữa văn hoá pháp luật và nền kinh tế tri thức - Một số vấn
Trang 62 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở của phép duy vật biện chứng Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp lôgíc - lịch sử được sử dụng thường xuyên và phương pháp dự báo được sử dụng khi đưa ra phỏng đoán về sự phát triển hoàn thiện của văn hoá PL, ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển nền KTTT ở Việt Nam
3 Mục đích của việc nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu về văn hoá PL, về nền KTTT và những tác động qua lại giữa văn hoá PL và sự phát triển nền KTTT, qua đó đưa ra một số ý kiến về xây dựng và hoàn thiện văn hoá PL Việt Nam hướng tới phát triển nền KTTT ở Việt Nam
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian vừa qua đã có nhiều tác giả nghiên cứu về văn hoá và văn hoá PL, về KTTT dưới những góc độ khác nhau: “Vấn đề văn hoá PL ở nước ta trong giai đoan hiện nay” của GS.TS Lê Minh Tâm, “Văn hoá pháp lý Việt Nam” của Luật sư Lê Đức Tiết, “Văn hoá tư pháp trong văn hoá dân tộc Việt Nam” của Luật gia Ngô Văn Thâu, “Bàn về văn hoá tư pháp Việt Nam” của TS Dương Thanh Mai, “ Mấy suy nghĩ về văn hoá PL ở nước ta” của TS
Lê Thanh Thập, “Bàn về hành vi giao tiếp pháp lý” của TS Nguyễn Minh
Đoan, “Văn hoá PL ở công sở trong điều kiện cải cách hành chính và cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay” - Luận văn Th.S luật học của tác giả Nguyễn Thị
Lê Thu, “Văn hoá và đời sống xã hội” của tác giả Thanh Lê, “Văn hoá với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa” do GS Lê Quang Thiêm chủ biên, “Những vấn đề cần trao đổi về cách nhìn nhận nền KTTT” của TS Trần Cao Sơn, “KTTT và vấn đề lựa chọn mô hình phát triển ở Việt Nam” của TS Trần Đình Thiện, “KTTT và vai trò của PL lao động trong việc đào tạo nguồn nhân lực hướng tới nền KTTT ở Việt Nam” của TS Phạm
Trang 7Công Trứ, “Định hướng tiếp cận nền KTTT ở Việt Nam” của tác giả Trần Đức Hiệp, “Nền KTTT, nhận thức và hành động, kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển” của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW
Các công trình nghiên cứu trên đã tạo cơ sở lý luận và thực tiễn bước đầu rất quan trọng cho tác giả khi nghiên cứu về văn hoá PL với sự phát triển nền KTTT, góp phần nâng cao và hoàn thiện văn hoá PL trên phạm vi toàn xã hội
đáp ứng mục tiêu “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương với 9 mục
Trang 8Chương 1 khái quát về văn hoá pháp luật
1.1 Khái niệm văn hoá pháp luật
Nghiên cứu về văn hoá PL đòi hỏi phải tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về văn hoá như khái niệm văn hoá, chức năng của văn hoá cũng như vai trò của nó trong đời sống kinh tế xã hội
Văn hoá là khái niệm có nội hàm rộng lớn, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà nghiên cứu thường đưa ra những cách định nghĩa khác nhau về văn hoá nhằm phục vụ cho những mục tiêu nghiên cứu cụ thể của họ Cho đến tận hôm nay, những định nghĩa đang được sử dụng, trên thực
tế vẫn chỉ là những định nghĩa có tính chất quy ước nhằm đi tới một khái niệm
để tiện sử dụng Ngay từ giữa thế kỷ XX, hai nhà văn hoá học Hoa Kỳ A.Kroeber và C.Kluckhln đã thống kê được khoảng 150 định nghĩa khác nhau
về văn hoá Ngày nay, số lượng các định nghĩa về văn hoá đã tăng lên rất nhiều, hiện nay có học giả còn cho là đã có trên 300 định nghĩa văn hoá Có thể phân thành các loại định nghĩa miêu tả, định nghĩa lịch sử, định nghĩa chuẩn mực, định nghĩa nguồn gốc….[35, tr.7-17,T1]
Chẳng hạn, Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ năm 1942, đã đưa ra một định
nghĩa về văn hoá: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người
mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, PL, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn,
ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[40, tr.431] Có thể coi đây là một định nghĩa
khá toàn diện về văn hoá, không quá rộng cũng không quá hẹp mà hoàn toàn thích hợp với con người ở những trình độ phát triển khác nhau, ở những xã hội
Trang 9chưa có điều kiện phát triển cao, cũng như xã hội đã có cuộc sống cao Hay
GS Trần Quốc Vượng thì cho rằng: “Văn hoá là thế ứng xử, năng động của
một cộng đồng (ứng xử tập thể) hay một cá nhân đứng trước thiên nhiên, xã hội và đứng trước chính mình Văn hoá là lối sống, là nếp sống tập thể và cá nhân” [89, tr.87]
Gần đây UNESCO đã đưa ra một định nghĩa chính thức về văn hoá khi đặt
nó trong mối quan hệ với phát triển: “Văn hoá phản ánh và thể hiện một cách
tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và các cộng đồng)
đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế
kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình”
[80, tr.23] Theo cách hiểu này thì văn hoá trong một lĩnh vực hoạt động xã hội
cụ thể của mỗi dân tộc được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi sau:
+ Các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố về ý thức)
+ Những giá trị vật chất, kỹ thuật do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực đó + Năng lực, cách thức sử dụng các dạng vật chất đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người cả về vật chất và tinh thần
Tựu trung lại văn hoá được hiểu là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được hình thành và sáng tạo trong hoạt động của con người, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác thành truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc, bên cạnh những giá trị chung của nhân loại, văn hoá gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người và phản
ánh trình độ văn minh của xã hội Theo nghĩa hẹp, văn hoá phản ánh hệ thống các giá trị và quy tắc ứng xử được xã hội chấp nhận Văn hoá hướng con người tới chân - thiện - mỹ Bởi vì, nói đến văn hoá là nói đến con người, văn hoá là một thuộc tính biểu hiện bản chất xã hội của con người
Có thể nói văn hoá là môi trường thứ hai để con người trở thành chính bản thân mình Văn hoá là ánh sáng dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới những giá trị cao cả Do đó, làm lành mạnh môi trường văn hoá, tạo điều kiện cho
Trang 10văn hoá phát triển cũng có ý nghĩa tích cực đối với sự phát triển tiến bộ xã hội
và hoàn thiện nhân cách mỗi cá nhân con người Trong những năm gần đây, chúng ta đã từng bước chú ý đến sự phát triển của xã hội trong khía cạnh văn hoá đầy tinh tế của nó Những nấc thang khác nhau của văn hoá có thể coi là những giai đoạn của sự phát triển kế tiếp nhau, mà trong đó, mỗi giai đoạn
đều là sản phẩm của quá khứ, đồng thời lại đóng vai trò đặc biệt đối với sự hình thành tương lai Nhìn ở một khía cạnh nào đó thì sự khác biệt về văn hoá, những điều nan giải trong sự đối thoại giữa các nền văn hoá, theo các nhà lý luận thật ra còn “cơ bản hơn” cả những khác biệt về ý thức hệ hoặc về chế độ chính trị ở các quốc gia, kể cả các quốc gia có nền kinh tế phát triển và đại đa
số các quốc gia đang trên đường phát triển đều buộc phải định hướng xây dựng cho mình một xã hội “mang những nét đặc thù về văn hoá” tới mức nào
đó để khỏi bị đứt đoạn với quá khứ và không bị hẫng hụt trước tương lai Bằng văn hóa, dựa vào văn hoá và thông qua văn hoá là con đường tự nhiên và tất yếu mà loài người dù muốn hay không cũng đều phải thực hiện để tiến tới văn minh Tất cả những gì mà con người sáng tạo ra, xét trên bình diện ý nghĩa của chúng đối với hiện tại và tương lai đều là văn hóa Thông qua hệ thống giá trị văn hoá quy định và điều chỉnh hành vi của con người, văn hoá tham gia vào việc kiến tạo nên bộ mặt của tương lai [53,tr.46-48]
Như vậy, chúng ta có thể thấy văn hoá là hiện tượng bao trùm lên tất thảy các mặt của đời sống con người, văn hoá có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra, khiến bất kỳ định nghĩa nào đưa ra đều khó có thể
bao quát hết nội dung của nó Văn hoá là tất cả các giá trị do con người sáng
tạo trong quá trình sống, nhằm thoả mãn nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của mình Cùng với sự vận động của xã hội, những gì còn lại, tồn tại
cùng năm tháng và thời gian, khẳng định được giá trị của nó, đó là các giá trị văn hoá
Trong thời đại ngày nay, văn hoá có một vai trò đặc biệt quan trọng, nó
“xuyên suốt cơ thể xã hội” và “thấm sâu vào tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của
Trang 11con người” Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII về việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã khẳng định: “Văn hoá là nền tảng
tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” [8, tr.5]
Là một trong những loại hình của văn hoá, văn hoá PL góp phần xây dựng nên “nền tảng tinh thần của xã hội”, góp phần “thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” Văn hoá PL là kết quả và quá trình hoạt động sáng tạo của con người trong lĩnh vực PL Trên thế giới vào những năm 90 của thế kỷ trước, văn hoá PL (có người gọi là văn hoá pháp lý) đã trở thành thuật ngữ được quan tâm nhiều nhất trong các nghiên cứu khoa học pháp lý hiện đại Lý do có sự quan tâm đặc biệt đó là vì đã có sự thay đổi nhanh chóng trong văn hoá PL ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Đông Âu và các nước trung tâm Châu Âu Sự thay đổi này đã đặt ra yêu cầu cần thiết phải nhận dạng nền văn hoá PL ở mỗi quốc gia Tại Việt Nam, văn hoá PL chỉ mới được các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học quan tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây
ở Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm và những cách tiếp cận khác nhau về văn hoá PL Theo quan điểm của GS.TS Lê Minh Tâm thì
văn hoá PL là: “Tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần mà con người đã
sáng tạo ra trong lĩnh vực PL bao gồm hệ thống quy phạm PL được ban hành trong các thời kỳ lịch sử, những tư tưởng, quan điểm, luận điểm, nguyên lý, nguyên tắc, những tác phẩm văn hoá PL, những kinh nghiệm và thói quen tích luỹ được trong quá trình xây dựng và thực thi PL”[55, tr.18] Theo quan điểm
của PGS.TS Hoàng Thị Kim Quế thì: “Văn hoá pháp lý là hệ thống các yếu tố
vật chất và tinh thần thuộc lĩnh vực tác động của PL được thể hiện trong ý thức và hành vi của con người…Văn hoá pháp lý thể hiện trình độ cao của sự tôn trọng PL, trình độ tri thức PL của nhân dân; thực trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện PL; các phương thức hoạt động PL đặc thù
Trang 12như của các cơ quan PL, kiểm tra hiến pháp v.v.; kết quả của hoạt động PL dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp và hành pháp” [50, tr.7] TS Lê Thanh Thập
lại cho rằng: “Văn hoá PL là những giá trị nhân đạo, tiến bộ, tích cực của một
hệ thống PL trong xã hội được thể hiện trong các bộ luật, đạo luật và thiết chế xã hội nhằm bảo đảm thực hiện nó Đồng thời, các giá trị đó còn được thẩm thấu vào nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, biến thành nhu cầu thường trực trong ứng xử của họ”[71, tr.49] Ngoài ra còn một số quan điểm
khác nữa về văn hoá PL
Như đã lý giải về văn hoá, thì văn hoá nói chung và văn hoá PL nói riêng cùng có chung mục đích là dẫn dắt đời sống nhân loại đi tới những giá trị cao cả để đạt được những giá trị chân - thiện - mỹ Trong lĩnh vực PL văn hoá có khả năng hiện thực hoá những năng lực nhân tính, phát huy vai trò và tăng cường hiệu quả của PL trong xã hội Ngược lại, hiệu quả của PL trong xã hội là chỉ số, là thước đo trình độ phát triển văn hoá PL Yếu tố văn hoá trong lĩnh vực PL là sự thống nhất hữu cơ giữa quá trình hoạt động sống của con người trong quan hệ PL, và hiệu quả hiện thực hoá năng lực của con người trong lĩnh vực đó Do vậy, phát triển yếu tố văn hoá trong lĩnh vực PL không những góp phần nâng cao hiệu quả PL, mà còn bảo đảm cho sự phát triển nhân cách của con người Trong lĩnh vực PL, văn hoá được thể hiện như là một phương thức quản lý xã hội vì con người, đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho con người, và đồng thời nó cũng thể hiện như là kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong việc xây dựng và thực thi PL hướng tới chân - thiện -
mỹ Những chuẩn mực quy phạm PL chỉ có giá trị khi nó bảo vệ những lý tưởng xã hội tốt đẹp, hướng con người tới các giá trị cao đẹp của văn hoá Khi
PL bảo vệ và dung túng cho cái sai, cái ác, cái thiếu chân thực, thấp hèn ti tiện… thì nó sẽ không có giá trị về mặt văn hoá Tính nhân đạo, tiến bộ và hướng thiện của PL không chỉ phản ánh mức độ tiến bộ của giai cấp thống trị,
mà còn phản ánh xu hướng phát triển của các quan hệ xã hội ngày càng hoàn thiện hơn những giá trị nhân bản
Trang 13Do vậy, theo chúng tôi thì văn hoá PL là những giá trị vật chất và tinh
thần mà con người sáng tạo ra trong lĩnh vực luật pháp, cấu thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống và lối sống của một quốc gia, một dân tộc Văn hoá
PL thể hiện trình độ cao của sự tôn trọng PL, trình độ tri thức PL của công dân, thực trạng có chất lượng của quá trình xây dựng và thực hiện PL
Văn hoá PL của bất kỳ xã hội nào cũng được hình thành trong sự tác
động, ảnh hưởng của các yếu tố văn hoá truyền thống và hiện đại Văn hoá PL của một dân tộc phải thể hiện được những giá trị truyền thống của bản sắc văn hoá dân tộc bên cạnh việc tiếp thu các giá trị của văn hoá PL quốc tế Tính dân tộc của văn hoá PL chính là những phong tục tập quán, truyền thống tốt
đẹp, những thói quen trong đời sống PL đã được hình thành lưu giữ và kế tục qua nhiều thế hệ của cộng đồng người Sự khác nhau giữa các nền văn hoá PL chính là do tính dân tộc quy định, và nhờ sự khác biệt này mà văn hoá PL mới phát triển
Văn hoá PL luôn biểu hiện sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội (nhân loại) trong các chuẩn mực quy phạm PL PL ra đời, tồn tại gắn liền với xã hội có giai cấp và luôn mang tính giai cấp nên văn hoá PL cũng thể hiện tính giai cấp Tính giai cấp của văn hoá PL là những yếu tố phản ánh quyền lực và lợi ích của giai cấp thống trị được thể chế hoá thành luật, được
đưa vào đời sống PL, khi những yếu tố đó phù hợp với lợi ích dân tộc, sự phát triển và tiến bộ xã hội Nền văn hoá PL không chỉ có tính giai cấp đơn thuần
mà tính giai cấp còn gắn liền với tính nhân loại Tính xã hội (nhân loại) của văn hoá PL thể hiện ở một nền luật pháp có sự bảo đảm các quyền cơ bản của con người như quyền tự do, bình đẳng, công bằng trước PL, quyền tự bảo vệ, quyền được đảm bảo các lợi ích cơ bản phù hợp với sự tiến bộ xã hội Khi giai cấp thống trị đang là và còn là giai cấp cách mạng, đóng vai trò tích cực trong xã hội thì nhu cầu và lợi ích của họ và của nhân dân có sự nhất trí cao Giai cấp thống trị ban hành một số chuẩn mực tiến bộ trong hiến pháp và PL nhằm
đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, khi đó có sự thống nhất giữa tính giai cấp và
Trang 14tính nhân loại trong hệ thống PL Những chuẩn mực PL chỉ có giá trị văn hoá khi nó bảo vệ những lý tưởng xã hội tiến bộ, tốt đẹp, hướng con người tới những giá trị chân, thiện, mỹ Khi đó chúng ta nói rằng hệ thống PL thể hiện các giá trị văn hoá
Theo quan điểm Mác Lênin thì kinh tế là nền tảng của xã hội, là cơ sở hạ tầng còn chính trị, PL, văn hoá… thuộc kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên cơ sở hạ tầng Trong mối quan hệ này, văn hoá PL chịu sự quyết
định của điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, đồng thời nó ảnh hưởng lại
đời sống vật chất của xã hội và góp phần không nhỏ vào việc cải tạo xã hội Một câu hỏi đặt ra là: vai trò của văn hoá được biểu hiện như thế nào trong việc cải tạo xã hội hay đối với sự phát triển xã hội? Câu trả lời là: văn hoá thể hiện vai trò của mình thông qua sự tác động của các nhân tố mà nó biểu đạt, bởi theo cách hiểu trên thì văn hoá có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra
Việc chú ý tới văn hoá và đánh giá cao vai trò của văn hoá trong sự phát triển của xã hội hiện đại không phải là một trò chơi thời thượng, cũng không phải là sự bịa đặt hoang tưởng của những đầu óc chủ quan mà có cơ sở khách quan và khoa học của nó Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII đã
xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội”[8, tr.5] Đây có thể coi là cột
mốc đánh dấu quá trình nhận thức của chúng ta về vai trò của văn hoá đối với
sự phát triển của kinh tế xã hội
1.2 Các chức năng cơ bản của văn hoá pháp luật
Có thể nói, văn hoá PL là một bộ phận quan trọng của đời sống tinh thần xã hội Sự phát triển của văn hoá PL đánh dấu sự tiến bộ mang tính chất nhân văn trong đời sống của một cộng đồng, một thời đại Nếu nói rằng: Tự nhiên là môi trường thứ nhất nuôi dưỡng con người lớn lên về thể xác, còn văn hoá là môi trường thứ hai nuôi dưỡng con người lớn lên về mặt tinh thần, trí tuệ và nhân cách, thì văn hoá PL đã và đang góp phần tạo môi trường pháp lý
Trang 15lành mạnh, mang tính nhân văn, nhân đạo để các thế hệ dựa trên công lý mà vươn tới hạnh phúc, vươn tới một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Dựa trên cơ sở củng cố và xác lập một hệ thống giá trị PL cho xã hội với các khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực hành vi của con người phù hợp với PL, văn hoá PL có tác dụng định hướng cho các thành viên trong xã hội tiếp thu, vận dụng các giá trị đó và sáng tạo nên những giá trị mới, tiến bộ cho hệ thống PL tiên tiến phù hợp với quy luật vận động và phát triển thực tiễn của các quan hệ xã hội
Văn hoá PL là một bộ phận của văn hoá nên nó cũng có chức năng giống như văn hoá Văn hoá PL có sự tác động đến đời sống xã hội và con người hay còn gọi đó là những chức năng xã hội đặc biệt của văn hoá PL
- Chức năng nhận thức là chức năng đầu tiên của văn hoá PL, nó gắn liền với hoạt động sáng tạo PL, thực hiện và áp dụng PL của các chủ thể PL Văn hoá PL đóng vai trò là cuốn sách về đời sống PL, nó bổ sung, cung cấp kinh nghiệm PL, kiến thức PL, thông tin pháp lý…cho con người Thiếu chức năng nhận thức thì không thể nói đến bất kỳ chức năng nào khác Một sản phẩm văn hóa PL (luật, bộ luật, các văn bản dưới lụât…) trước khi đi vào cuộc sống, phát huy vai trò và hiệu lực của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội thì nó phải được mọi người nhận thức đúng, hiểu đúng về nó Khi nhận thức một cách sâu sắc các quy luật của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội các nhà làm luật mới đưa ra được các chuẩn mực, quy phạm PL để điều chỉnh các quan hệ xã hội Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá nói chung và văn hoá PL nói riêng đều khát vọng hướng tới chân - thiện - mỹ
- Chức năng hình thành các chuẩn mực và hệ giá trị: Các chuẩn mực của văn hoá PL có vai trò định hướng các xúc cảm, các tư tưởng, cách ứng xử Tất cả những cái chúng ta đang thực hiện trong hành vi của mình, trong suy nghĩ của mình, trong ứng xử của mình đều do những chuẩn mực, các hệ thống giá trị mà văn hoá PL (nói rộng ra là các chuẩn mực văn hoá) chi phối Các tập quán, phong tục, điều nên làm hay không nên làm luôn gắn chặt với các chuẩn mực văn hoá PL, chuẩn mực đạo đức Vai trò của văn hoá PL với tư cách là một hệ thống giá trị thể hiện ở chỗ nó có thể đề xuất những điều tốt đẹp chưa
Trang 16thật phổ biến trong đời sống, nhân chúng lên thành các hiện tượng PL phổ biến, kêu gọi mọi người sống theo nó Chuẩn mực pháp lý được bảo đảm thực hiện bằng nhà nước, còn chuẩn mực của thói quen (phong tục tập quán) được thực hiện bằng cách khích lệ và sử dụng áp lực của dư luận xã hội Định hướng giá trị văn hoá PL là xu hướng của con người muốn vươn lên chiếm lĩnh hoặc tiếp cận với các giá trị văn hoá cao đẹp của PL, nhờ đó mà dần dần hình thành nhân cách của mình
- Chức năng giáo dục: Chức năng giáo dục của văn hoá PL thể hiện trong việc định hướng xã hội, hướng lý tưởng và hành vi của con người theo
đúng chuẩn mực của xã hội Văn hoá PL như một hệ thống hoạt động, khi nhận thức, phản ánh, đánh giá, xét đoán các giá trị…nó gây ấn tượng cho con người ấn tượng đó lại tác động đến tình cảm, tư tưởng rồi từ đó định hướng hành vi của con người ý nghĩa giáo dục từ định hướng văn hoá cho hành vi
PL là ở chỗ giáo dục cách xử sự tích cực đối với PL dựa trên ý thức PL, tình cảm PL đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực và hệ giá trị Mỗi cá nhân, theo quy luật hướng thiện, không muốn thực hiện hành vi vi phạm PL hay phá vỡ các yêu cầu của chuẩn mực PL Do đó, chức năng giáo dục của văn hoá PL sẽ
hỗ trợ cho con người bên cạnh ý thức tự giác của họ Thông qua các hoạt
động, văn hoá PL nâng cao trình độ hiểu biết, ý thức tôn trọng PL trong các tầng lớp nhân dân đồng thời giáo dục đạo đức, nhân cách và giáo dục lối sống
có văn hoá phù hợp với quy định PL
- Chức năng thực tiễn: sự vận dụng và phát huy các kết quả nghiên cứu văn hóa PL vào hoạt động thực tiễn của việc hoạch định và xây dựng chính sách PL của Nhà nước chính là văn hoá PL thực hiện chức năng thực tiễn Dưới tác động của văn hoá PL, việc hoạch định và xây dựng chính sách PL
đúng đắn là định hướng quan trọng cho công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống PL Trong chức năng thực tiễn còn có vấn đề dự báo tình hình và xu hướng phát triển PL Dựa trên cơ sở nhận thức sâu sắc các quy luật phát triển của đời sống kinh tế xã hội, văn hoá PL đưa ra khả năng dự liệu các quy phạm
để điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ phát sinh
Trang 171.3 Cơ cấu của văn hoá pháp luật
Theo khái niệm (đã phân tích ở phần trên) thì văn hoá trong một lĩnh vực hoạt động xã hội cụ thể của mỗi dân tộc được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi: yếu tố ý thức (các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ); sự vật chất hoá yếu
tố ý thức (những giá trị vật chất, kỹ thuật do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực đó); và yếu tố ứng xử (năng lực, cách thức sử dụng các dạng vật chất đã sáng tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu của đời sống con người cả về vật chất và tinh thần) Các yếu tố này kết hợp thành một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, được lưu truyền qua nhiều thế hệ tạo thành truyền thống mang bản sắc riêng của mỗi dân tộc Văn hoá PL là một dạng, một bộ phận hợp thành của nền văn hoá dân tộc, văn hoá PL cũng được nhận diện đầy đủ bởi ba yếu tố là ý thức PL, hệ thống PL và kỹ năng, hành vi thực hiện, áp dụng
PL Trong đó, ý thức PL là những tư tưởng, quan điểm, nhận thức và tâm lý, tình cảm về PL của con người Hệ thống PL được thể hiện với ý nghĩa là các sản phẩm vật chất của ý thức PL Kỹ năng và hành vi thực hiện áp dụng PL là kết quả tất yếu của của quá trình nhận thức, chắt lọc kiến thức PL và là yếu tố không thể thiếu của văn hoá PL
1.3.1 ý thức pháp luật
ý thức PL là yếu tố quan trọng của văn hoá PL Là một hình thái của ý thức xã hội, ý thức PL là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với PL hiện hành, PL đã qua và PL cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức xã hội
ý thức PL được hình thành và phát triển từ những điều kiện kinh tế, điều kiện vật chất của xã hội Toàn bộ những điều kiện khách quan về địa lý tự nhiên, phong tục tập quán, truyền thống đạo đức dân tộc…những điều kiện kinh tế- xã hội bên ngoài mỗi quốc gia, xu thế vận động quốc tế ở mỗi thời kỳ
đều có tác động chi phối đến ý thức PL ở đây, tồn tại xã hội cần phải được
Trang 18hiểu theo nghĩa rộng hơn không chỉ giới hạn trong khuôn khổ những quan hệ sản xuất thuần tuý mà còn bao hàm cả các quan hệ phi kinh tế đang tồn tại và
có sức mạnh chi phối ýthức PL của con người Chính vì vậy mà ý thức PL vừa chịu sự quy định của tồn tại xã hội, thường lạc hậu so với tồn tại xã hội, song
đôi khi nó cũng có tính tiên phong, sự phát triển vượt trước đối với tồn tại xã hội Tuỳ thuộc vào sự tiến bộ hay lạc hậu của ý thức PL mà sự tác động của nó
có thể là thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của tồn tại xã hội và các yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc ý thức PL thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội, có nghĩa là khi tồn tại xã hội đã thay đổi nhưng ý thức PL phản ánh tồn tại xã hội
đó vẫn còn, nhất là yếu tố tâm lý, tập quán trong ý thức PL vẫn tồn tại dai dẳng một thời gian dài Ví dụ, ở nước ta hiện nay, có một bộ phận dân cư (không nhỏ) vẫn còn biểu hiện của tâm lý PL phong kiến như thờ ơ đối với
PL, không có thói quen xử sự theo PL, mang nặng tâm lý “phép Vua thua lệ làng”; những tư tưởng, quan niệm của thời kỳ quản lý tập trung quan liêu bao cấp vẫn chưa bị xoá bỏ hết mà biểu hiện của nó vẫn tồn tại trong lối sống, lối suy nghĩ, trong nhận thức, trong cách giải quyết công việc của người dân và trong chính những cán bộ nhà nước Sự lạc hậu của ý thức PL còn biểu hiện trong việc chậm trễ tiếp cận với tư duy pháp lý mới của thế giới
Thế nhưng trong một số trường hợp nhất định, ý thức PL có thể vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội Đó là trường hợp những hệ tư tưởng PL khoa học, tiên tiến thể hiện ra thành PL tiến bộ thúc đẩy sự phát triển xã hội Giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng này sẽ góp phần giáo dục và nâng cao
ý thức PL của toàn xã hội Cần phải biết phát huy mặt tích cực trong những biểu hiện của tính độc lập tương đối của ý thức PL, và hạn chế tới mức thấp nhất mặt tiêu cực của những biểu hiện đó ý thức PL mặc dù phản ánh tồn tại xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó, đồng thời nó cũng tiếp thu và kế thừa những yếu tố của ý thức PL của giai đoạn lịch sử trước đó, nhất
là những giá trị văn hoá PL
ý thức PL cũng có sự tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác Các hình thái ý thức xã hội đều phản ánh và đánh giá các hiện tượng xã
Trang 19hội và qua đó các hình thái ý thức xã hội tác động lẫn nhau nhằm xác định mục đích, tiêu chuẩn của hành vi phù hợp với hình thái ý thức của mình, từ đó hình thành ở các chủ thể hành vi phù hợp
Trong xã hội luôn luôn tồn tại nhiều học thuyết, tư tưởng, quan điểm khác nhau về PL, bởi chúng được quy định bởi những điều kiện sinh hoạt của các tầng lớp, giai cấp khác nhau Có ý thức PL của giai cấp bị trị, ý thức PL của giai cấp thống trị, ý thức PL của các tầng lớp trung gian…Song chỉ có ý thức PL của giai cấp thống trị mới được phản ánh đầy đủ vào trong PL ý thức
PL của các tầng lớp, giai cấp xã hội khác chủ yếu được thể hiện thông qua quan điểm, thái độ, hành vi của họ đối với PL hiện hành và phản ứng của họ trước việc duy trì và quản lý xã hội của nhà nước để bảo vệ quyền lợi cho mình Để duy trì địa vị thống trị của mình, giai cấp thống trị phải tìm cách hợp thức hoá ý chí của giai cấp mình thành PL thông qua con đường nhà nước Như vậy có thể nói ý thức PL luôn mang tính giai cấp ý thức PL trong xã hội
ta hiện nay là ý thức PL xã hội chủ nghĩa Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, ý thức PL có tính thống nhất cao bởi vì lợi ích của giai cấp công nhân, nông dân
và các tầng lớp lao động khác về cơ bản được thống nhất lâu dài với nhau
ý thức PL thể hiện ở những cấp độ khác nhau, tuỳ thuộc vào những điều kiện khách quan và năng lực nhận thức chủ quan của chủ thể nhận thức Bao gồm: ý thức PL thông thường, ý thức PL lý luận ý thức PL thông thường là thể hiện ở mức thấp nhất của sự nhận thức, các hiện tượng PL được phản ánh trực tiếp, giản đơn, mới chỉ là sự hiểu biết thông thường chứ chưa toàn diện và sâu sắc ý thức PL thông thường được hình thành dưới sự tác động trực tiếp của điều kiện khách quan và kinh nghiệm cuộc sống cá nhân ý thức PL ở mức độ này mới chỉ biểu hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu và xử sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó ý thức PL thông thường mới chỉ phản ánh được mối liên
hệ bên ngoài, có tính cục bộ của hiện tượng PL chưa có khả năng đi sâu vào bản chất của PL ý thức PL lý luận thể hiện ở mức độ cao hơn của sự nhận thức Bản chất của PL và các hiện tượng PL được nhận thức có căn cứ khoa
Trang 20học nhờ quá trình học tập nghiên cứu một cách có hệ thống và được kiểm nghiệm trong thực tiễn ý thức PL lý luận là cơ sở cho hoạt động sáng tạo PL, truyền bá những tư tưởng, quan điểm pháp lý và hoạt động thực tiễn PL ý
thức PL lý luận phản ánh mối liên hệ bên trong, bản chất của PL
Hai bộ phận cấu thành ý thức PL là hệ tư tưởng PL và tâm lý PL Hệ tư tưởng PL là toàn bộ những tư tưởng, quan điểm và học thuyết có tính chất lý luận về PL Tư tưởng PL phản ánh trình độ nhận thức cao và có tính hệ thống
về các vấn đề có tính chất bản chất của PL và các hiện tượng PL Hạt nhân cốt lõi của tư tưởng PL là tri thức khoa học về PL Còn tâm lý PL là sự phản ánh những tâm trạng, cảm xúc, thái độ, cách đánh giá đối với PL và các hiện tượng pháp lý cụ thể Tâm lý PL biểu hiện cấp độ nhận thức thông thường dựa trên cơ sở kinh nghiệm sống, tập quán và tâm lý xã hội Nói cách khác, tâm lý PL
được hình thành một cách tự phát, thiếu tính hệ thống và cơ sở khách quan khoa học Sự thống nhất hài hoà giữa tư tưởng PL và tâm lý PL trong ý thức
PL thể hiện mối quan hệ của con người đối với PL, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội
Là yếu tố quan trọng trong văn hoá PL, ý thức PL tiến bộ, tích cực là tiền đề tư tưởng của việc xây dựng PL, là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện và áp dụng PL
đúng đắn, chính xác, có hiệu quả
1.3.2 Hệ thống pháp luật
PL là một phạm trù của văn hoá và PL mang bản chất giai cấp sâu sắc Song không phải biểu hiện cụ thể nào của PL cũng được coi là có giá trị văn hoá, mà chỉ những quy phạm có tính chất tiến bộ và tiêu biểu trong điều kiện kinh tế xã hội cùng thời, phù hợp với định hướng mà con người muốn vươn tới chân - thiện - mỹ mới được coi là có giá trị văn hoá
Hệ thống PL là yếu tố quan trọng cấu thành văn hoá PL Hệ thống PL
có vai trò quyết định đối với quá trình hình thành và phát triển của văn hoá
PL Bản thân PL là hình thái của văn hoá, văn hoá là chiều sâu, là nội dung
Trang 21của PL Thông qua hệ thống PL, con người có thể có được các thông tin cơ bản nhất về tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội của một đất nước trong từng thời
kỳ Các yếu tố của văn hoá được đưa vào nội dung các điều luật, vào quá trình xây dựng PL và áp dụng PL
Khi nói đến văn hoá PL của một dân tộc, một quốc gia thì không thể không nói đến hệ thống PL của dân tộc, quốc gia đó Hệ thống PL chính là kết quả đạt được từ năng lực hoạt động luật pháp của con người Hệ thống PL là tổng thể các quy phạm PL có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định PL, các ngành luật và được thể hiện trong các nguồn luật mà chủ yếu là trong các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định Hệ thống PL được xem xét ở hai giác độ là giác độ cấu trúc bên trong và giác độ biểu hiện bên ngoài
Dưới giác độ cấu trúc thì hệ thống PL là tổng thể các quy phạm PL có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định luật và các ngành luật Thành tố nhỏ nhất trong cấu trúc của hệ thống PL là các quy phạm PL Quy phạm PL là sự biểu hiện đầy đủ, chính xác nhất của PL trong phạm vi hẹp nhất Nó là quy tắc xử sự chung, là hình mẫu và chuẩn mực
để điều chỉnh quan hệ xã hội Một số quy phạm có những đặc điểm chung giống nhau nhằm điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội tương ứng hợp thành chế định PL Mỗi chế định PL dù mang những nét riêng, nhưng vẫn chịu sự
ảnh hưởng và tác động của các chế định khác trong hệ thống PL Khi xác định
rõ giới hạn và nội dung của chế định PL sẽ xây dựng được một ngành luật hoàn chỉnh Ngành luật bao gồm hệ thống quy phạm PL có đặc tính chung để
điều chỉnh các quan hệ cùng loại trong một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội Tính chất, nội dung và phạm vi của mỗi ngành luật phụ thuộc vào đối tượng điều chỉnh (quan hệ xã hội) và phương pháp điều chỉnh (cách thức tác
động vào quan hệ xã hội) của ngành luật đó Bởi vậy, việc phân định ranh giới giữa các ngành luật chỉ mang tính tương đối và hệ thống PL theo đó cũng luôn biến động
Trang 22Dưới giác độ biểu hiện bên ngoài, hệ thống pháp luật được thể hiện thông qua các nguồn luật mà chủ yếu là văn bản quy phạm pháp luật Các văn bản quy phạm PL có mối liên hệ mật thiết với nhau tạo thành một hệ thống văn bản PL Văn bản PL phải phù hợp với hệ thống cấu trúc của PL và phù hợp với thẩm quyền của cơ quan ban hành chúng (tính thứ bậc).Ví dụ: Hiến pháp là văn bản PL nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản và quan trọng nhất gắn liền với việc xác định chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ đồng thời nó là đạo luật cơ bản có giá trị pháp
lý cao nhất do cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ban hành
Tuy nhiên một hệ thống PL tốt không phải chỉ là số cộng đơn giản của các quy phạm PL tốt đơn lẻ Một hệ thống PL hoàn thiện cần đảm bảo những tiêu chuẩn cơ bản là tính phù hợp, tính toàn diện, tính đồng bộ, và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống PL
+ Tính phù hợp của hệ thống PL thể hiện sự tương quan giữa trình độ của
hệ thống PL và trình độ phát triển kinh tế xã hội Trong mối quan hệ với kinh
tế, PL phụ thuộc vào kinh tế nhưng PL cũng có sự tác động trở lại một cách mạnh mẽ đối với kinh tế Nội dung của PL là do các quan hệ kinh tế quyết
định hay chế độ kinh tế là cơ sở của PL Hệ thống PL cần phản ánh đúng trình
độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hay thấp hơn trình độ
đó Sự phù hợp của các văn bản quy phạm PL mà đặc biệt là của các đạo luật với các quy luật khách quan của sự phát triển kinh tế-xã hội là điều kiện vô cùng quan trọng bảo đảm cho hiệu quả của PL Một yếu tố quan trọng khác
mà PL phải phù hợp là chính trị PL luôn phản ánh đường lối chính sách của
Đảng, là sự thể chế hoá đường lối chính sách đó thành những quy định của PL
và là hình thức hiện thực hoá đường lối chính sách của Đảng Mục đích của
Đảng luôn phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân, của nhà nước cho nên PL cũng phù hợp với ý chí và lợi ích của nhân dân Ngoài ra PL còn phải phù hợp với đạo đức, văn hoá, phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với điều ước và thông lệ quốc tế Những quy phạm, văn
Trang 23bản PL lạc hậu không còn phù hợp cũng như những quy phạm, văn bản PL
được ban hành do sai lầm, vay mượn, xa lạ và quá cao so với trình độ phát triển kinh tế trong thời điểm chúng đang tồn tại cần được loại bỏ để thay thế bằng những quy phạm, văn bản phù hợp
+ Sự hoàn thiện của hệ thống PL còn thể hiện ở sự toàn diện và đồng bộ của nó, đáp ứng nhu cầu điều chỉnh của PL trên các lĩnh vực quan trọng của
đời sống xã hội Hệ thống PL phải có đủ các ngành luật theo cơ cấu nội dung lôgic và thể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm PL tương ứng,
đồng thời mỗi ngành luật phải có đầy đủ các chế định PL và các quy phạm
PL Hệ thống PL phải luôn thống nhất Tính thứ bậc của các văn bản PL có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo ra tính thống nhất của toàn bộ hệ thống văn bản PL, là điều kiện quan trọng biểu đạt hệ thống cơ cấu của PL, thoả mãn tính toàn diện, tính phù hợp, tính chính xác của hệ thống PL Tính đồng bộ của hệ thống PL thể hiện ở sự thống nhất không mâu thuẫn, không trùng lặp giữa các ngành luật với nhau, cũng như trong mỗi ngành luật thì giữa các chế
định và giữa các quy phạm PL với nhau
+ Hệ thống PL hoàn thiện thì phải được xây dựng ở trình độ kỹ thuật pháp
lý cao Điều đó thể hiện ở những nguyên tắc khoa học được vạch ra khi xây dựng PL; ở việc xác định chính xác cơ cấu PL và được biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý giản đơn dễ hiểu nhưng chặt chẽ, chính xác để mọi công dân, tổ chức
đều có thể hiểu và thi hành một cách chuẩn xác Kỹ thuật pháp lý được sử dụng như thế nào luôn để lại dấu ấn trong hệ thống PL Vì vậy nó là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống PL và góp phần làm nên những khía cạnh của văn hoá PL
Hệ thống PL hoàn thiện sẽ đảm bảo duy trì, phát triển ổn định, bền vững và phát huy cao độ giá trị của chính nó và của ý thức PL, hành vi lối sống theo
PL Hệ thống PL chính là một yếu tố đóng góp những giá trị làm nên sắc thái, diện mạo của một nền văn hoá PL Một hệ thống PL hoàn thiện đạt được các tiêu chí như đã phân tích ở trên là một biểu hiện sinh động của một nền văn hoá PL cao
Trang 241.3.3 Kỹ năng và hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật
Thực hiện PL là hành vi của con người phù hợp với các quy định của
PL Đó chính là nội dung thứ ba của văn hoá PL Nó thể hiện cách thức, khả năng, trình độ sử dụng PL và các công cụ PL của cá nhân, của cộng đồng, của Nhà nước trong quá trình đấu tranh vì công lý, vì sự bình đẳng và công bằng xã hội theo hướng chân - thiện - mỹ Đối với cá nhân, cộng đồng thì văn hoá
PL thể hiện ở kỹ năng thực hiện pháp luật, ở hành vi, thói quen, lối sống theo
PL Còn với cơ quan nhà nước thì văn hoá PL thể hiện ở kỹ năng, hành vi, cách thức, trình độ áp dụng PL để duy trì trật tự xã hội
Trình độ xây dựng PL tốt để đảm bảo có hệ thống PL hoàn thiện mới chỉ
là bước khởi đầu, cần phải có những con người có đủ năng lực, phẩm chất đạo
đức, có văn hoá pháp luật để đưa PL vào cuộc sống PL được Nhà nước ban hành
và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích Nhà nước, lợi ích xã hội Song điều đó phụ thuộc vào hoạt động đưa PL trên giấy vào thực tiễn đời sống xã hội, hay nói cách khác là phụ thuộc vào trình độ, năng lực của chủ thể thực hiện các hành vi phù hợp với mục đích yêu cầu của PL Thực tiễn PL cho thấy, người dân hiểu về PL, thể hiện thái độ tình cảm của mình
đối với PL thông qua cái mà họ nhìn thấy, cảm thấy ở hoạt động thực hiện và áp dụng PL của các cơ quan nhà nước, các cán bộ công chức trong tình huống cụ thể liên quan trực tiếp đến quyền lợi của bản thân Đồng thời việc sử dụng PL để thực hiện quyền và nghĩa vụ của cá nhân công dân được quy định trong PL phụ thuộc rất lớn vào trình độ, năng lực của chủ thể
Hành vi thực hiện, áp dụng PL được hiểu là hành động của con người và
tổ chức của con người diễn ra trong môi trường điều chỉnh của PL Hành vi thực hiện, áp dụng PL mang ý nghĩa tích cực và được coi là hành vi hợp pháp hay hành vi xử sự tích cực đối với PL và các hiện tượng PL, dựa trên những tri thức PL và tình cảm PL đúng đắn, phù hợp với xã hội Hành vi hợp pháp mang
ý nghĩa xã hội và văn hoá to lớn: một mặt nó nói lên động cơ hành vi của chủ thể, mặt khác nó phản ánh nhu cầu tiến bộ của xã hội, sự hài hoà giữa các lợi ích trong xã hội, sự hài hoà giữa nhu cầu của Nhà nước và nhu cầu của công
Trang 25dân Hành vi hợp pháp được xã hội tôn trọng và thể hiện trình độ cao của văn hoá PL Xét ở góc độ văn hoá, hành vi PL tích cực được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là hành vi xử sự ủng hộ PL tiến bộ, đấu tranh, xây dựng và bảo vệ nó;
đồng thời đấu tranh xoá bỏ hệ tư tưởng và tâm lý PL lạc hậu, lỗi thời, phản
động góp phần xây dựng chế độ xã hội ngày càng tiến bộ, văn minh
áp dụng PL là một hình thức đặc thù của thực hiện PL, khi áp dụng PL
đòi hỏi các nhà chức trách phải có ý thức PL cao, có trí thức tổng hợp, có kinh nghiệm phong phú, có đạo đức cách mạng và có kỹ năng sử dụng PL Có những phẩm chất trên thì người áp dụng PL mới có thể độc lập, công tâm, có trách niệm cao khi tiến hành các hoạt động áp dụng PL Từ việc xác định đúng tình tiết vụ việc đến việc lựa chọn các quy định của PL để ra văn bản áp dụng
đều thể hiện kỹ năng, trình độ PL của người áp dụng và đó cũng là cơ sở đánh giá trình độ văn hoá PL của người đó
Hành vi thực hiện, áp dụng PL sẽ kéo theo lối sống theo PL Phương thức hành động của một cộng đồng như thế nào thì sẽ tạo ra lối sống như thế
ấy Lối sống theo PL là lối sống dựa trên nền tảng ý thức PL tiên tiến, là biểu hiện của lối sống có văn hoá Lối sống theo PL vừa có tác dụng đóng góp vào quá trình sáng tạo văn hoá PL, vừa là quá trình tiếp nhận và phát huy các giá trị văn hoá PL trong thực tiễn
Giá trị mà văn hoá PL đem lại trong hoạt động thực hiện PL là biến tính bắt buộc của PL thành tính tự giác, tự nguyện tuân thủ PL của mọi người Bằng sự hiểu biết đạt đến trình độ nhất định, những người thực hiện PL sẽ làm cho những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhận ra được đâu là lợi ích hợp pháp, giới hạn nào là vượt quá khuôn khổ quy định của PL Với cùng một sự việc xảy ra, với cùng quy định của PL, nhưng trình độ và kỹ năng vận dụng khác nhau sẽ cho kết quả rất khác nhau Khi thực hiện PL chưa trở thành một thứ văn hoá ứng xử thì PL hiện ra trần trụi chỉ là một công cụ cưỡng bức
Như vậy, văn hoá PL đòi hỏi trước hết phải có những tri thức cơ bản về
PL, về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người cũng như cơ chế để đảm bảo tính hiện thực cho các quyền và nghĩa vụ đó, về cơ chế hợp pháp để bảo
Trang 26vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có kỹ năng và khả năng sử dụng
có hiệu quả cơ chế đó để bảo vệ lợi ích cho bản thân mình, cho người khác và cho xã hội, xử sự đúng đắn và có chừng mực trong các mối quan hệ xã hội ý
thức PL là cơ sở tạo nên văn hoá PL của chủ thể Khi có đủ tri thức PL cần thiết sẽ hình thành ở chủ thể tình cảm và lòng tin đối với các chuẩn mực của
PL, tạo điều kiện cho chủ thể chủ động xác lập và chịu trách nhiệm về hành vi của mình Những hiện tượng PL xảy ra trong đời sống xã hội thường tác động lên tâm lý mỗi người, mỗi cộng đồng khác nhau, nên hình thành ở họ những tâm trạng, tình cảm và cách xử sự khác nhau Khi ý thức PL cao sẽ hình thành
ở chủ thể thái độ cũng như cách ứng xử đúng đắn đối với PL Khi chủ thể nhận thức được sự cần thiết của PL, tin tưởng vào sự công bằng, vào lẽ phải thì
họ sẽ tự giác thực hiện những yêu cầu, đòi hỏi của PL Nếu PL phù hợp với nguyện vọng của chủ thể thì họ mong muốn thực hiện chúng một cách nhanh chóng, chính xác với một tình cảm tin tưởng phấn khởi
Tóm lại, nền văn hoá PL của các nước khác nhau có những đặc điểm khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ là được cấu thành bởi ba nội dung cơ bản là: ý thức PL, hệ thống PL, kỹ năng và hành vi thực hiện, áp dụng PL Ba yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau Yếu tố này tạo tiền đề cho yếu tố kia xuất hiện Ngược lại, yếu tố kia khẳng định sự thành công và tạo đà cho yếu tố này phát triển đến đỉnh cao mới
PL, trước khi ra đời đã tồn tại dưới dạng ý thức PL xã hội trong tư duy của nhà làm luật Khi PL được chấp nhận đã chứng tỏ sự thành công của ý thức PL Thực hiện và áp dụng PL giúp con người nâng cao thêm trình độ hiểu biết về PL
ý thức PL là tiền đề tư tưởng trực tiếp để thiết lập hệ thống PL phù hợp với
sự phát triển kinh tế xã hội, vì lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của mỗi người dân Thực tế khi xây dựng một văn bản PL, trước hết cần phải xác định
rõ tư tưởng chỉ đạo, những nguyên tắc cơ bản thể hiện trong văn bản PL đó, sau đó là nội dung cụ thể các quy phạm sẽ ban hành Các nhà chức trách và công dân khi có sự nhận thức đúng, đầy đủ nội dung và yêu cầu của các quy phạm PL sẽ có ý thức tôn trọng và chủ động thực hiện PL hiệu quả hơn
Trang 27Hệ thống PL là sản phẩm vật chất của ýthức PL của con người trên cơ
sở hiện thực khách quan của xã hội PL là cơ sở cho ýthức PL tác động đến ý thức cá nhân, hướng họ xử sự phù hợp với các quy định, các nguyên tắc hay phù hợp với tinh thần chung của PL Mỗi văn bản PL mới ra đời, mỗi quyết
định áp dụng PL, mỗi hành vi PL đều tác động đến ýthức PL của mỗi cá nhân theo nhiều chiều hướng Và trên cơ sở này, việc hình thành các quan điểm, tư tưởng, học thuyết, tư duy mới về PL lại xuất hiện PL điều chỉnh các hành vi tức là tác động vào yếu tố chủ quan của con người, ngược lại, hành vi của chủ thể làm cho PL trở thành hiện thực và sống động Thông qua hành vi của chủ thể PL cho chúng ta thấy khả năng đích thực của PL, và việc sử dụng PL trên cơ sở của nhận thức và có mục đích cụ thể Trình độ và khả năng thực hiện hành vi hợp pháp phản ánh trình độ của văn hoá PL Việc áp dụng PL đòi hỏi phải minh bạch, công khai, phải đúng người, đúng việc, đúng PL Như vậy,
đòi hỏi với các cơ quan nhà nước, các cán bộ nhà nước phải là tấm gương soi
từ ý thức đến việc làm theo đúng các chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực PL cho tất cả mọi người ý thức PL, trình độ chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của con người chi phối hành vi của họ Do vậy, các chủ thể thường xuyên phải trang bị cho mình kiến thức PL, luôn luôn làm mới mình, trau dồi kỹ năng xử lý các tình huống xảy ra để theo kịp với sự tiến bộ của khoa học và thực tiễn pháp lý Chỉ có PL, cho dù là PL tiến bộ công bằng thì cũng vẫn chưa đủ, mà giá trị của văn hoá PL thể hiện trong các đạo luật đó được hiểu và nói lên như thế nào tuỳ thuộc vào những người thực thi PL Một xã hội có văn hoá PL là một xã hội mà trong đó việc thực hiện PL biến thành một thứ văn hoá ứng xử bình thường, tự nhiên, các chuẩn mực PL được đối xử như giá trị đạo đức
Trang 28Chương 2 Khái quát về Nền kinh tế tri thức
2.1 Khái niệm nền kinh tế tri thức
Đã từ lâu, tri thức luôn luôn có vai trò thúc đẩy sản xuất phát triển, vai trò ấy tăng dần cùng với sự phát triển xã hội Trong nền kinh tế nông nghiệp, vốn tri thức của con người còn quá ít, công nghệ hầu như không đổi mới, tác
động của tri thức chưa thật rõ rệt Sự tiến bộ của nền kinh tế nông nghiệp là hết sức chậm chạp Đến thế kỷ XVII những thành tựu khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sự chuyển biến từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp, sức sản xuất trong xã hội đã tăng lên rõ rệt, của cải được sản xuất đã tăng lên hàng trăm lần Đặc biệt là giai đoạn những năm 50 của thế kỷ XX, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học…ra đời đã làm tăng nhanh nhịp độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự nhảy vọt trong lực lượng sản xuất Nền kinh tế thế giới bước sang giai đoạn mới là nền KTTT - ở
đó tri thức từng bước trở thành yếu tố quyết định nhất đối với sự phát triển sản xuất, khoa học và công nghệ, thực sự “trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”
và quan trọng hàng đầu Quá trình chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền KTTT là quá trình chuyển từ nền kinh tế dựa vào tài nguyên và lao động sang nền kinh tế chủ yếu dựa vào trí tuệ con người, hay nói cách khác là chuyển từ nền kinh tế dựa vào lực lượng sản xuất vật chất là chủ yếu sang nền kinh tế dựa vào lực lượng sản xuất tinh thần là chủ yếu Đây không chỉ là cuộc cách mạng trong phát triển lực lượng sản xuất mà còn là cuộc cách mạng trong quan niệm, trong tư duy của con người đòi hỏi con người phải đổi mới cách nghĩ, cách làm để thích nghi và làm chủ sự phát triển
Về nguyên lý chung thì sự xuất hiện nền KTTT không vượt khỏi sơ đồ của Mác về sự tiến hoá của lịch sử thông qua các hình thái kinh tế Theo Mác thì hình thái kinh tế tự nhiên tương đương với nền kinh tế nông nghiệp và xã hội nông dân, hình thái kinh tế thị trường tương đương với nền kinh tế thị
Trang 29trường của thời đại công nghiệp cơ khí và xã hội công nghiệp, còn hình thái cộng sản chủ nghĩa tương đương với nền kinh tế có trình độ phát triển rất cao
và xã hội tự do (có thể là một cách diễn đạt của nền KTTT) Trên thực tế, lịch
sử các hình thái kinh tế không hoàn toàn diễn ra tuần tự mà luôn có sự giao thoa của hai hay ba hình thái khác nhau trong mỗi nước và trên phạm vi toàn cầu trong mỗi giai đoạn phát triển nhất định[72,tr.54-55]
Trong thời đại KTTT, lợi thế cạnh tranh chuyển từ tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động sang tri thức, kỹ năng và tính sáng tạo Tất cả các yếu
tố này chỉ có thể tìm thấy trong con người, do đó con người trở thành tài sản quý nhất của xã hội
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, các nước phát triển và đang phát triển đều rất quan tâm theo dõi, nghiên cứu tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là cách mạng về tri thức và đã đặt
ra chương trình hành động hướng tới nền KTTT Theo đánh giá của OECD, bốn nền kinh tế đang dẫn đầu xu thế chuyển dịch sang nền kinh tế dựa vào tri thức là Thuỵ Điển, Mỹ, Hàn Quốc và Phần Lan Nền KTTT không còn là một thuật ngữ có tính học thuật mà đã thực sự trở thành một mục tiêu then chốt trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia Có thể hiểu một cách khái quát, nền KTTT là nền kinh tế phát triển dựa vào tri thức
Có thể nói, nền KTTT là một loại môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội mới có những đặc tính phù hợp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới và sáng tạo Trong môi trường đó tri thức tất yếu trở thành nhân tố quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế Do vậy, cốt lõi của việc phát triển một nền KTTT không đơn thuần là phát triển khoa học công nghệ, mà là phát triển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi loại tri thức của nhân loại Với ý nghĩa này, KTTT được hiểu như một giai đoạn phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hay nói rộng ra là giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung
Trang 30Tri thức theo từ điển Tiếng Việt là "những điều hiểu biết có hệ thống về
sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội"[83] Không phải ngày nay, khi cách
mạng khoa học công nghệ làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thành yếu tố bao trùm quyết định sự phát triển của xã hội, tri thức mới lộ
ra vai trò chi phối mà trong lịch sử, tri thức luôn là một nhân tố tạo ra sự tăng trưởng kinh tế Phương Đông cổ đã đặc biệt quan tâm đến tri thức, coi trọng giáo dục, phát triển các học thuyết và đặc biệt coi trọng hiền tài, coi hiền tài là
“nguyên khí của quốc gia” Con người tạo ra tri thức và sử dụng tri thức để sống, để phát triển và hoàn thiện cuộc sống của mình Trong giai đoạn hiện nay, tri thức có thêm một chức năng mới có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với kinh tế xã hội, đó là dùng tri thức để tạo ra tri thức và từ đó hình thành nên nền KTTT Nền KTTT đang trở thành hiện thực ở nhiều nước công nghiệp phát triển và đang có sức lan toả mạnh mẽ
Thuật ngữ “Nền KTTT” đã được sử dụng rộng rãi nhưng nội dung của
nó lại được tiếp cận và hiểu với nhiều nghĩa khác nhau Có người sử dụng thuật ngữ này để miêu tả một nền kinh tế mới được kết nối qua lại chặt chẽ và những ảnh hưởng tích cực của các công nghệ mới Có người lại cho rằng, nền kinh tế dựa trên tri thức diễn tả việc các ngành vi tính hoá và công nghệ cao ngày càng đóng góp nhiều hơn vào GDP Trên phương tiện thông tin đại chúng có nhiều tên gọi khác nhau về nền KTTT như: nền KTTT, nền kinh tế dựa vào tri thức, nền kinh tế kỹ thuật số, nền kinh tế thông tin, nền kinh tế học hỏi, nền kinh tế hậu công nghiệp, nền kinh tế mới… song người ta đều hiểu là khái niệm đó dùng để chỉ một nền kinh tế đang xuất hiện và về cơ bản là nền kinh tế dựa vào tri thức
KTTT ở dạng manh nha đã được đề cập tới từ lâu, năm 1962 lần đầu tiên Fvitz Machlup đưa ra khái niệm “Công nghiệp tri thức” trong cuốn sách:
“Sản xuất và phân phối kiến thức ở Mỹ” Công nghiệp tri thức là công nghiệp sản xuất phân phối tri thức dưới hình thức sản phẩm nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, thông tin Từ thập niên 80 đến nay do tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, nền kinh tế thế giới đang biến
Trang 31đổi nhanh chóng về cơ cấu, chức năng và phương thức hoạt động Điều này có một ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử phát triển nhân loại, đó là lực lượng sản xuất xã hội chuyển dần từ kinh tế tài nguyên sang KTTT, và nền văn minh nhân loại chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn minh trí tuệ Đến năm
1996, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa hết sức
chung chung về nền KTTT là: “Nền kinh tế dựa trực tiếp vào sản xuất, phân
phối và sử dụng tri thức” Đây có thể coi là định nghĩa rất quan trọng, nó đánh
dấu một bước tiến bộ trong nhận thức của con người về kết cấu của một nền KTTT Một nền kinh tế đạt tới nền KTTT khi nền kinh tế đó không chỉ dựa vào tri thức để phát triển, mà sản xuất tri thức, phân phối và sử dụng tri thức phải trở thành những ngành, những lĩnh vực kinh tế đặc thù Trong một báo
cáo phân tích về nền KTTT, Chính phủ Anh định nghĩa: “Nền KTTT là nền
kinh tế lấy tri thức làm động lực trong đó quá trình tạo ra và khai thác tri thức
đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra của cải” Ngân hàng thế giới (WB) thì
cho rằng “Trong nền KTTT, tri thức thực sự đã trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết định mức sống hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả yếu tố lao động” Mặc dù được đánh giá là đi đầu trong các nước phát
triển KTTT, nhưng ở Mỹ lại dùng khái niệm “ Nền kinh tế mới” để chỉ những
bước chuyển đầu tiên sang nền KTTT mà không đưa ra định nghĩa chuẩn cho khái niệm KTTT [21, tr.27]
Chưa có một định nghĩa chính thức về nền KTTT, nhưng có thể nói rằng
đặc trưng nổi bật nhất của nền KTTT là tri thức đã vượt qua các nhân tố sản xuất truyền thống là vốn và sức lao động để trở thành nhân tố sản xuất quan trong nhất góp phần vào tăng trưởng kinh tế, và phát triển xã hội của các quốc gia Trên thế giới đang có một sự chuyển biến từ nền kinh tế dựa trên bắp thịt
và tiền vốn sang nền kinh tế dựa trên trí não Một nền kinh tế được coi là trở thành nền KTTT khi tổng sản phẩm các ngành KTTT chiếm khoảng 70% tổng sản phẩm trong nước, hơn 70% công nhân trí thức trong cơ cấu lao động, sự phân biệt giữa cán bộ quản lý và công nhân sẽ bị rút ngắn và có tính chất tương đối Đi đôi với quá trình biến đổi về cơ cấu kinh tế là quá trình biến đổi
Trang 32về cơ cấu xã hội với đặc trưng là lực lượng lao động được tri thức hoá, lực lượng lao động trực tiếp sản xuất ra hàng hoá ngày một ít đi mà người làm việc gián tiếp, làm việc bàn giấy tăng lên nhanh Theo tiêu chuẩn của KAM (phương pháp Ma trận mà Ngân hàng thế giới đánh giá KTTT) thì 4 nhân tố chính tạo nên một nền KTTT đó là: Một chế độ khuyến khích phát triển kinh
tế được chi phối bởi thể chế luật pháp; một lực lượng lao động có giáo dục và
có kỹ năng để sáng tạo ra và sử dụng tri thức; một cơ sở hạ tầng thông tin năng động và một cơ cấu đổi mới có hiệu quả [61, tr 40-41]
Từ những phân tích trên đây về nền KTTT chúng ta có thể rút ra định
nghĩa : Nền KTTT là nền kinh tế mà trong đó quá trình sáng tạo và khai thác
tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống
Để phát triển KTTT đòi hỏi mỗi quốc gia cần phải hoạch định cho mình chiến lược phát triển từ sớm Khung khổ chính sách nhằm xây dựng nền KTTT tập trung vào các vấn đề lớn như tăng cường các yếu tố nền tảng về kinh tế xã hội, khuyến khích mở cửa, cải thiện hiệu quả hoạt động của các thị trường và thể chế, đồng thời có cơ chế đối phó với hệ quả của quá trình chuyển đổi sang nền KTTT; tăng cường đầu tư cho giáo dục đào tạo; thúc đẩy quá trình phổ biến công nghệ thông tin và truyền thông; khơi dậy tính sáng tạo của khu vực doanh nghiệp…Trên cơ sở hoạch định chính sách, các văn bản pháp luật thể chế hoá thành các quy định cụ thể để tạo hành lang pháp lý cho các chủ thể thực hiện Một cơ chế hợp lý sẽ tạo ra môi trường có thể huy động tối đa mọi nguồn lực, đưa nền kinh tế tiến những bước dài trên con đường tiến tới nền KTTT Ngược lại, một cơ chế thiếu tính hợp lý có thể là lực cản to lớn ngăn chặn các nguồn lực khỏi sự phát triển tự nhiên của chúng Hiện nay, cơ chế thị trường vẫn được coi là cơ chế phân bổ nguồn lực tối ưu nhất Dựa vào những thông tin thu thập được, các lực lượng tham gia thị trường sẽ tự do lựa chọn hành vi tối đa hoá lợi ích của mình Vì vậy, cơ chế thị trường có thể đảm bảo là động lực chính quyết định việc sản sinh cũng như khai thác tri thức một cách hiệu quả Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế hiện nay thì không gian thị
Trang 33trường sẽ được mở rộng ở phạm vi toàn thế giới Cạnh tranh không chỉ diễn ra trong lòng một quốc gia hay lãnh thổ mà nó còn có ở khắp toàn cầu Mỗi quốc gia cần có những thay đổi cơ bản trong hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách thích ứng, chẳng hạn luật sở hữu trí tuệ, luật bản quyền phải được chú trọng Các bộ luật và quy tắc pháp luật cần phải rõ ràng, ổn định và đầy đủ Cơ chế thực thi pháp luật cần thiết lập nghiêm minh và công bằng không có sự ưu tiên đặc biệt hay ngoại lệ nào
Trong nền KTTT, vai trò của việc phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là rất quan trọng Yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao xuất phát từ trí tuệ, chất xám của con người trong quá trình hoạt động tạo ra công nghệ mới và cao và chính trình độ công nghệ cao và mới của máy móc thiết bị
đòi hỏi phải thay đổi trình độ của người lao động Nguồn lực trở thành lợi thế cạnh tranh của bất cứ doanh nghiệp nào Con người có trí tuệ sẽ biết biến kho tri thức hiện có thành tri thức mới sinh lời hơn Công nhân tri thức cần được quan tâm các điều kiện làm việc để họ phát huy khả năng và những tri thức tiềm ẩn Những người quản lý cần tạo điều kiện phát huy lòng say mê nghề nghiệp và tinh thần tự giác của họ Điều đó gắn liền với thực tế là mỗi quốc gia cần nhanh chóng cải cách lại hệ thống giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học Nền KTTT đặc biệt đề cao vấn đề giáo dục đào tạo thường xuyên, cả đời đối với nguồn nhân lực để sử dụng hiệu quả những nền tảng tri thức trong nền kinh tế Kỹ năng cần thiết cho người lao động trong nền KTTT là khả năng tư duy, tổng hợp, khái quát, phân loại, tổ chức các sự kiện để phân tích các vấn đề, do đó cần phải cập nhật tri thức thường xuyên, nếu không sẽ
bị lỗi thời Cơ cấu đội ngũ lao động thay đổi, tỷ trọng lao động “cổ trắng” và
“cổ vàng” ngày càng tăng Tương đồng với nguồn nhân lực chất lượng cao, tiềm lực khoa học công nghệ giữ một vai trò trọng yếu Giống như một hàng hoá công cộng, chi phí sản xuất lớn với độ rủi ro mạo hiểm cao, tri thức thường được nhà nước đầu tư nghiên cứu và triển khai Môi trường kinh doanh buộc các doanh nghiệp muốn dành thắng lợi thì phải đầu tư cho khoa học và công nghệ, chứ không nhất thiết chờ sự quan tâm của nhà nước
Trang 34Một cơ sở hạ tầng thông tin thích hợp để chia sẻ tri thức là rất cần thiết trong nền KTTT Công nghệ thông tin có ý nghĩa then chốt đối với nền KTTT theo nghĩa nó là một công cụ tạo khả năng cho sự sản sinh, trao đổi và hấp thụ tri thức Bản thân công nghệ thông tin không phải là tri thức, mà chỉ là công
cụ để chuyên chở tri thức và qua đó tăng cường khả năng đóng góp của tri thức cho phát triển Nhiều nhà phân tích đã chỉ ra rằng bản thân ngành công nghệ thông tin (bao gồm máy tính, phần mềm ) ít có khả năng trở thành một ngành kinh tế chủ lực dài hạn ở bất kỳ quốc gia nào, bởi vì công nghệ thông tin luôn gắn với những nội dung mà nó mang theo Chẳng hạn, một phần mềm máy tính kế toán chỉ có giá trị nếu như nó chứa đựng những tri thức chuẩn xác
về kinh tế và kế toán Mọi phát triển và đóng góp của công nghệ thông tin đều không thể nằm ngoài khuôn khổ kinh tế thị trường
Có lẽ không có trường hợp ngoại lệ là bỏ qua xã hội công nghiệp để tiến thẳng lên xã hội tri thức Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế là tiền đề quyết định cho phát triển KTTT Nhà nước tập trung xây dựng các ngành có hàm lượng chất xám cao Các ngành kinh tế dựa vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ chiếm đại đa số trong nền KTTT Trong nền kinh tế tri thức vẫn còn nông nghiệp và công nghiệp truyền thống nhưng hai ngành này chiếm tỷ lệ thấp, hoặc cũng được cải tạo bằng khoa học, công nghệ cao, một số ngành mới xuất hiện như công nghiệp thông tin, các ngành dịch vụ với các hoạt động đòi hỏi hàm lượng khoa học công nghệ cao, nhu cầu về dịch cụ tăng nhanh hơn nhu cầu về hàng hoá
ở Việt Nam, mặc dù khái niệm về nền KTTT chưa được đề cập một cách cụ thể nhưng chúng ta cũng đã nhận thức rõ vai trò quan trọng của tầng lớp trí thức trong xã hội Lê Quý Đôn đã tổng kết: “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” Như vậy, sự hưng thịnh của một quốc gia phụ thuộc rất lớn vào trình độ và sự cống hiến của đội ngũ trí thức Nhận thức rõ vai trò quan trọng của nền KTTT và con đường đi tới mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát huy những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiến tiến, đặc biệt là công
Trang 35nghệ tin học và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn,
ở mức cao hơn những thành tựu mới về khoa học công nghệ, từng bước phát triển KTTT Phát huy nguồn trí tuệ và sức mạnh của người việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” [9, tr.91]
2.2 Đặc điểm chính của nền kinh tế tri thức
2.2.1 Trong nền kinh tế tri thức, tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo nên sự tăng trưởng kinh tế
Như trên đã phân tích, quá trình sáng tạo và khai thác tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với việc tạo ra của cải vật chất và nâng cao chất lượng cuộc sống trong nền KTTT Tri thức mới, về nguyên tắc sẽ không ngừng được tạo ra trên nền tảng của tri thức đã tích luỹ được, và do vậy tri thức được xem như nguồn tài nguyên vô hạn Trong nền KTTT vẫn còn tồn tại những ngành truyền thống như công nghiệp, nông nghiệp Song mức độ phát triển của những ngành này phụ thuộc vào khả năng được cải tạo bằng những tiến bộ của khoa học và công nghệ Xét trên bình diện chung thì các ngành kinh tế dựa vào những thành tựu tiến bộ của khoa học công nghệ để phát triển sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong nền KTTT Trong nền KTTT, bản thân tri thức là đối tượng được đem ra trao đổi trực tiếp chứ không đơn thuần là những sản phẩm tinh thần nữa Theo tính toán của OECD thì ngay từ năm 1996 hơn 20% giao dịch trong ngành công nghệ thông tin là giao dịch về ý tưởng, về bản quyền phát minh sáng chế Như vậy, có thể nói
ở tất cả các ngành trong nền KTTT dù ở trình độ phát triển nào cũng đều có sự xâm nhập và chi phối mạnh mẽ của tri thức
Vốn quý nhất trong nền KTTT là tri thức, không như những nguồn lực khác (lao động và tài nguyên), tri thức không mất đi khi sử dụng mà nó được chia sẻ và càng tăng thêm khi sử dụng Có nhà kinh tế học đã diễn tả việc tạo
ra và sử dụng tri thức bằng hình ảnh: “anh ta nghe ý kiến của tôi và tự nhận
lấy kiến thức cho mình mà không hề làm giảm kiến thức của tôi; giống như anh ta thắp sáng ngọn nến của anh ta bằng ngọn nến của tôi và nhận ánh sáng mà không hề làm cho tôi bị tối đi”[85, tr.124] Mặt khác, những người
Trang 36tạo ra tri thức thường khó có thể ngăn cản được người khác sử dụng chúng, sự tiêu dùng của người này không loại trừ sự tiêu dùng của người khác và càng
được nhiều người tiêu dùng tri thức càng trở nên giàu có hơn, sức sáng tạo ra tri thức mới càng mạnh mẽ và rộng khắp hơn Các công cụ như bảo vệ bí mật thương mại hay bằng sáng chế, bản quyền hay thương hiệu…chỉ dành cho những người sáng tạo ra tri thức một sự bảo vệ nào đó mà thôi Trong nền KTTT, ai chiếm được nhiều tài sản trí tuệ hơn người đó sẽ thắng trong cạnh tranh PL về sở hữụ trí tuệ sẽ trở thành nội dung chủ yếu trong quan hệ dân sự
và thương mại quốc tế Sự sáng tạo và đổi mới là động lực chủ yếu nhất thúc
đẩy sự phát triển xã hội Chu kỳ của một sản phẩm nào đó thay đổi rất nhanh, vòng đời của công nghệ được rút ngắn, một doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải luôn luôn đổi mới công nghệ và sản phẩm Cứ như vậy, cái cũ mất đi và
được thay thế ngay bằng cái mới với chất lượng cao hơn, nền kinh tế và xã hội ngày càng phát triển Và để đi đến sự thịnh vượng không có con đường nào khác ngoài cách coi việc học hỏi và tạo ra tri thức là nhân tố có tính quan trọng hàng đầu Từ đó đặt ra vấn đề mới về vai trò đặc biệt của giáo dục và khoa học trong nền KTTT Bởi vì đầu tư chi phí cho khoa học, giáo dục dù không nhiều cũng có thể làm cho nền kinh tế tăng trưởng lên rất nhiều Thực
tế ở nhiều nước trên thế giới, trong thời kỳ nền kinh tế công nghiệp thì chi cho khoa học chỉ từ 1%-2% GDP, song đóng góp của khoa học đạt đến 30-40% cho GDP Đến nền KTTT thì vai trò của khoa học là cực kỳ to lớn, là yếu tố quyết định Chỉ cần chi phí cho khoa học ở mức 3%GDP thì sự đóng góp của khoa học cho nền kinh tế sẽ tăng tới 80% GDP, tức là hầu hết các sản phẩm của xã hội đều do khoa học mang lại
2.2.2 Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao
Trong nền KTTT chu trình hình thành cái mới: từ khi biết cái mới, nuôi dưỡng nó rồi suy tàn và thay thế bằng cái mới hơn diễn ra cực nhanh Công nghệ thay đổi không còn là hàng năm mà là hàng tháng, thậm chí hàng ngày Cái mới vừa ra đời là cái cũ bị thay thế luôn và cái mới ra đời liên tục để thay thế cái cũ Thời gian biến ý tưởng khoa học thành sản phẩm thực tế được rút ngắn lại rất nhiều đã nhanh chóng đem lại phúc lợi cho xã hội
Trang 37Trong thời gian gần 20 năm qua các nền kinh tế phát triển trên thế giới
đã có những chuyển đổi to lớn và sâu sắc về cơ cấu kinh tế, về cách thức hoạt
động, đang phát triển nhanh các ngành kinh tế dựa vào tri thức Các ý tưởng
đổi mới và sáng tạo công nghệ đang là chìa khoá cho việc tạo ra việc làm mới
và nâng cao chất lượng cuộc sống Sản xuất công nghệ đang trở thành loại hình sản xuất quan trọng, tiên tiến và tiêu biểu nhất của nền sản xuất Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau đã không ngừng cải tiến đổi mới công nghệ,
đổi mới sản phẩm làm tăng năng suất, tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế Sự
ra đời của hàng loạt công ty gắn liền với sự ra đời của hàng loạt công nghệ mới Có những tập đoàn kinh tế hùng mạnh lên do hợp nhất hoặc “mua” nhau với số vốn khổng lồ chi phối kinh tế toàn thế giới Trong nền kinh tế công nghiệp, sự thành công của một công ty nhất thiết dẫn tới sự sụp đổ của một công ty khác do cạnh tranh Nhưng ngược lại, trong nền KTTT sự thành công của nơi này sẽ kéo theo sự thành công của nơi khác dẫn đến sự phát triển liên tục Các doanh nghiệp phải vừa cạnh tranh với nhau, vừa hợp tác với nhau để phát triển Trong cùng một lĩnh vực, khi một công ty thành công hơn, lớn mạnh hơn thì công ty khác tìm cách sáp nhập vào hoặc chuyển hướng khác nếu không muốn bị phá sản Điều đó chứng tỏ một nền kinh tế luôn biến động với nhịp độ tăng trưởng cao
Trong nền KTTT chủ yếu là các doanh nghiệp tri thức, các khu công nghệ cao trong đó doanh nhân và nhà khoa học có thể là một Các khu công nghệ cao là nơi rất thuận lợi để nhất thể hoá quá trình nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và qua đó các ý tưởng khoa học nhanh chóng trở thành công nghệ và tạo ra sản phẩm
Nhờ các phương tiện truyền thông tức thời trong nền KTTT, sự giao lưu văn hoá hết sức thuận lợi, tạo điều kiện cho các nền văn hoá tiếp thu các tinh hoa văn hoá nhân loại để phát triển nền văn hoá của mình Văn hoá có điều kiện phát triển nhanh sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội
2.2.3 Nền kinh tế tri thức tạo nên một xã hội dân chủ, văn minh
Với sự phát triển của nền KTTT xã hội với đầy đủ thông tin sẽ thúc đẩy
sự dân chủ hoá, mọi người đều có nhu cầu thông tin và dễ dàng truy cập đến