Ông không cho rằng người ta có ý tưởng về linh hồn, về Thiên Chúa nhưng chỉ là một “tình cảm” về linh hồn, về Thiên Chúa mà thôi, ta chỉ có ý tưởng về trương độ.. Trước hết, ông chối bỏ
Trang 1Đề bài: Tóm tắt tư tưởng một số triết gia thời Cận đại
Trang 21 NICOLAS DE MALEBRANCHE (1638 - 1715)
Malebranche chịu ảnh hưởng tư tưởng triết học của Descartes nhưng dần chuyển hướng thành phiếm thần Ông sinh tại Paris, học triết tại trường La Marche và học thần học tại Sorbonne Sau khi trở thành linh mục, ông khám phá học thuyết của Descartes và coi học thuyết của Descartes mới là triết học Kitô giáo, còn triết học Kinh viện chỉ là triết học ngoại đạo Tư tưởng triết học của ông xoay quanh hai nguyên lý: nguyên lý tư tưởng rõ ràng và nguyên lý vô hạn
Cũng giống như Descartes, Malebranche áp dụng nguyên tắc về tư tưởng rõ ràng và phân minh giải thích học thuyết của thánh Augustino về ảnh hưởng của Thiên Chúa trên ý tưởng của
ta như nguồn mạch phát sinh chân lý vĩnh cửu Nhưng đi xa hơn Descartes, Malebranche đã không tin vào kinh nghiệm cũng như tình cảm, ông chỉ chấp nhận những chân lý hàm chứa trong những ý tưởng rõ ràng
Ông không cho rằng người ta có ý tưởng về linh hồn, về Thiên Chúa nhưng chỉ là một
“tình cảm” về linh hồn, về Thiên Chúa mà thôi, ta chỉ có ý tưởng về trương độ Hồn không ảnh hưởng hay tác động gì đến xác nên hồn không phải là nguyên nhân chuyển động của xác Nguyên nhân ấy chính là Thiên Chúa Thiên Chúa chờ đợi một cơ hội nào đó để can thiệp đến thân xác Nhưng vì Thiên Chúa dường như thay thế cho trí khôn, linh hồn, nên mới dẫn tới mầu sắc phiếm thần - Thiên Chúa như hồn của con người
Nơi Descartes ta nhận thấy: chân lý là thụ tạo do Thiên Chúa tạo nên Malebranche lại cho rằng chân lý ấy chính là Thiên Chúa Khi nhận thức một thụ tạo, ta nhìn thấy nó trong Thiên Chúa chứ không phải là thấy thụ tạo Sở dĩ trong Thiên Chúa và chỉ trong Thiên Chúa, chúng ta mới có thể chiêm ngắm trực tiếp được đối tượng của tất cả mọi ý tưởng
2 JONH LOCKE (1632-1704)
Jonh Locke: là một nhà triết học mang xu hướng Duy nghiệm Ông là người ham mê
khoa học thực chứng và ưa chuộng phương pháp triết học của Descartes Tư tưởng triết học của ông thể hiện rất rõ qua tác phẩm: Khảo luận về trí năng con người Qua đó, ông bàn về giá trị của tri thức
Trước hết, ông chối bỏ luận chứng của Descartes cho rằng các ý niệm thực sự đã phú bẩm trong linh hồn con người và đợi khi con người biết sử dụng lý trí thì nó mới xuất hiện Ông đưa ra trường hợp trẻ em và người điên khùng làm ví dụ Qua đó, ông chứng minh không hề có chuyện ý tưởng bẩm sinh, tức những ý tưởng đã được Thượng Đế phủ bẩm trong linh hồn con người khi họ được sinh ra trên đời này Ông tìm cách chứng minh các ý tưởng có nguồn gốc từ kinh nghiệm Theo ông, ý tưởng xuất phát từ 2 nguồn chính:
- Từ cảm giác
- Từ suy nghĩ là cách chúng ta sử dụng những hoạt động của trí tuệ, suy tư Các ý tưởng phổ quát do trí khôn bày đặt ra mà thôi
Trang 3Ý tưởng là sự hiện diện trực tiếp của đối tượng trước ý thức tri thức Ý tưởng đến từ hai nguồn trên là những ý tưởng đơn giản mà trí khôn đón nhận Còn những ý tưởng phức tạp (phối hợp, so sánh, phân cách) do trí khôn liên kết các ý tưởng đơn giản lại
Theo ông, việc nhận thức là vấn đề nằm hoàn toàn trong các ý tưởng, nhận thức chỉ quy
về sự phù hợp hay không phù hợp giữa các ý tưởng với nhau Ông công nhận sự chắc chắn của phán đoán đến từ ba nguồn gốc: trực giác rồi đến chứng minh cuối cùng là cảm giác Lý thuyết
về nhận thức của Locke mở ra cho một trào lưu Duy nghiệm mới, một điểm tựa cho nền tư duy mới trong lịch sử triết học
3 MONTESQUIEU (1689 – 1755)
Montesquieu: là nhà triết học, vật lý học và là một trong những nhà sáng lập ra triết học
Khai sáng Pháp thế kỷ XVIII Tư tưởng triết học của ông chủ yếu thể hiện trong các vấn đề xã hội đặc biệt qua tác phẩm: Tinh thần của Luật pháp
Ông cho rằng tính quy luật của xã hội nằm ngay trong bản chất bên trong của xã hội chứ không phải được áp đặt từ bên ngoài Ông đề ra khuôn mẫu “tam quyền phân lập” gồm có quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp riêng biệt nhau Khuôn mẫu này nhằm tìm sự quân bình đích thực giữa quyền bính và tự do của con người; nó ảnh hưởng đến các quốc gia dân chủ ngày nay Ông đề cao vai trò của sản xuất vật chất và khẳng định điều kiện địa lý đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển của tiến trình lịch sử
Ông phủ nhận sự bình đẳng xã hội vì nó sẽ làm xã hội không có cạnh tranh, tuy nhiên ông cũng phê phán sự bất công trong quan hệ giữa mọi người Tư tưởng triết học của ông thể hiện ý chí và khát vọng xây dựng xã hội phát triển, các quốc gia được hòa bình cũng như đem lại
tự do cho con người
4 FRANCOIS MARIE VONTAIRE (1694 – 1778)
Francois Marie Vontaire: là một nhà triết học, văn học, soạn kịch nổi tiếng Tư tưởng triết học của ông có xu hướng theo chủ thuyết Tự nhiên thần luận và Duy vật.
Các tác phẩm của ông luôn nhằm đả kích, phê phán, bài trừ Giáo Hội Công Giáo Ông chống đối thái độ cuồng tín, cố chấp của Giáo Hội Pháp, cởi mở với tôn giáo ở Anh Theo ông,
sự tổ chức của thế giới cùng với mục đích nội tại của thế giới có được là do Thượng Đế Thượng
Đế vừa là dây cương vừa là niềm an ủi đối với con người, thiếu Ngài con người sẽ rơi vào vô vọng và cảnh hoang mang Thượng Đế nơi Voltaire là Đấng thông sáng, tối cao đồng thời chỉ là
sự tưởng tượng của con người
Về tri thức của con người, ông khẳng định đều bắt nguồn từ các giác quan Ông chống lại quan niệm duy tâm, ý tưởng bẩm sinh của Descartes, thuyết Vô chất của Berkeley, quan niệm của Leibniz Ông dựa vào khoa học để giải thích vận động là đặc tính của bản thân vật chất chứ không phải được đưa từ bên ngoài vào Vận động tồn tại vĩnh viễn như bản chất vật chất Ông không tin vào linh hồn bất tử và coi linh hồn con người chỉ là khả năng cảm nhận và suy nghĩ của thân xác, tuy nhiên ông đề cập đến Đức Khoan Dung như là một giá trị phổ quát cho cuộc sống con người
Trang 45 ETIENNE BONNOT CONDILLAC (1714 -1780)
Condillac là một giáo sĩ Công Giáo, nhà triết học, nhà luận lý học nổi tiếng của Pháp chịu ảnh hưởng lớn của Jonh Locke Ông đã phát triển lý thuyết về sự tri thức của con người hoàn
toàn dựa trên cảm giác – thuyết Duy Cảm qua tác phẩm nổi tiếng: Lược khảo về nguồn gốc tri
thức con người
Theo ông, mọi tri thức đều chỉ do cảm giác mà ra, các chức năng của linh hồn, của lý trí như: tình cảm, ước muốn, tư duy, phán đoán,…đều xuất phát từ cảm giác Không có cảm giác thì con người chỉ là một pho tượng vô hồn, nhờ có cảm giác thì cuộc sống tâm linh của con người mới sinh động một cách đúng nghĩa Condillac cũng hoàn toàn bác bỏ quan niệm của Descartes
về những ý tưởng bẩm sinh Ông chủ trương rằng con người khi bước chân vào đời không hề mang theo bất cứ nguyên lý nào cả, hoàn toàn thụ động trong việc tri thức
Condillac quan niệm, sự tri thức của con người khởi đầu bằng cảm giác, rồi tiến lên những cấp bậc cao thượng đỉnh như trí năng, phán đoán, ý chí Những thực thể như bản thể, yếu tính hay hữu thể hoàn toàn không thể tri thức được Trong thực tế, ta luôn nhận thấy các giác quan đem lại cho ta nhiều tri thức về các sự vật xung quanh và trí năng cũng đóng vai trò không kém trong việc nhận thức vì vậy quan niệm duy cảm nơi Condillac có phần chủ quan và thiển cận
6 DENIS DIDEROT (1713 – 1784)
Denis Diderot: là nhà triết học Duy vật, vô thần Ông là người khai sáng và chủ biên bộ
“bách khoa toàn thư” đầu tiên trên thế giới đóng vai trò lớn trong việc xây dựng và truyền bá tinh thần ánh sáng Tư tưởng triết học của ông là sự tổng hợp học thuyết duy nghiệm nơi Locke, thuyết duy lý của Descartes và thực nghiệm của F Bacon
Diderot nhấn mạnh đến vật chất là nguyên nhân duy nhất của mọi cảm giác chúng ta Ông cũng chủ trương vũ trụ chỉ có một thực thể cả trong con người lẫn trong động vật, cùng các vật khác, đó là vật chất Bản tính của vật chất là vận động, chính vận động đó là năng lực của vật chất Trong quá trình vận động, vật chất sẽ đào thải hoặc làm thích nghi với môi trường hoàn cảnh xung quanh- đây là tiền đề cho thuyết tiến hóa của Darwin sau này Ông cho rằng con người được cấu tạo do linh hồn và thể xác trong sự thống nhất hữu cơ, linh hồn cũng chỉ là vật chất và
là tổng thể các hiện tượng tâm lý
Ông phủ nhận sự tồn tại của Thượng Đế và coi đó là sự thần thánh hóa điều kiện sống hiện thực của con người Vì thế ông coi “không phải tôn giáo tạo ra con người nhưng con người tạo ra tôn giáo”
Về vấn đề xã hội, ông cho rằng: “con người tự bản chất là tốt, chính xã hội làm hư hoại con người” Vì lòng ích kỷ và lợi ích cá nhân buộc con người kết hợp lại với nhau thành xã hội, tuân theo những quy tắc Quyền lực Nhà nước phải dựa trên ý chí của nhân dân, việc nhân dân đấu tranh chống sự chuyên chế và bạo chúa là hợp lý Ông cũng chống đối việc phân biệt đẳng cấp trong xã hội Đối với ông “sống là cảm” nên đời sống của ông là một đam mê vô kỷ luật và
vô trách nhiệm Tư tưởng của Diderot là tiền đề cho Marxisme sau này và ảnh hưởng đến lối sống ích kỷ, hưởng thụ của con người
Trang 57 GEORGA BERKELEY (1685 - 1753)
Georga Berkeley: là một triết gia Giám mục người Ái Nhĩ Lan Triết học của ông mang
xu hướng Duy nghiệm và Duy tâm Các tác phẩm của ngài muốn bảo vệ tôn giáo khỏi chủ
nghĩa duy vật, chủ nghĩa vô thần và hoài nghi Tác phẩm nổi tiếng: Lược khảo về các nguyên lý
nhận thức của con người Ông đề ra học thuyết Vô chất để chứng minh vật chất không hiện hữu
mà chỉ tinh thần mới hiện hữu trong tương quan trực tiếp với Thiên Chúa mới hiện hữu
Berkeley xác định đối tượng nhận thức của con người là các ý niệm và các ý niệm này
gồm có 3 loại: các ý niệm đã in sâu vào các giác quan, các ý niệm do hoạt động của cảm xúc tinh
thần, các ý niệm nhờ ký ức và trí tưởng tượng Chủ thể nhận thức là tinh thần hay là tâm trí, linh
hồn Đây là một thực thể tri giác năng động Ông phát triển ra thuyết Vô chất để bác lại học thuyết về ý niệm trừu tượng khi ông cho rằng “không có bất cứ bản thể nào khác ngoài tinh thần”
Từ nhận thức này, ông bắt đầu xây dựng chủ nghĩa duy tâm của mình từ lý luận duy
nghiệm của Locke Khi dựa trên lý luận “hai đặc tính”trong chủ nghĩa duy nghiệm của Locke, ông tiến đến đồng nhất đặc tính có trước với đặc tính có sau, rồi đồng nhất tính khách quan với tính chủ quan, đồng nhất tính chủ quan với cảm giác Từ đó, ông đồng nhất tất cả chúng với cảm giác Còn cảm giác – cái chủ quan của con người, theo ông, không phải là cái phản ánh thực tại khách quan mà chính chúng mới là thực tại khách quan Ông cho rằng, không phải sự vật biến thành biểu tượng mà là biểu tượng biến thành sự vật Do biểu tượng không tồn tại ngoài trí óc, nên sự tồn tại của chúng là ở chỗ chúng được cảm giác Từ đây, ông đi đến kết luận nổi
tiếng: Tồn tại nghĩa là được cảm giác Cái gì không có trong cảm giác thì không tồn tại Tất cả
những sự vật hợp thành Vũ trụ đều không tồn tại ở ngoài tinh thần, mà là tồn tại trong trong tinh thần
Berkeley không chỉ thừa nhận sự tồn tại “tinh thần” của cá nhân này hay “tinh thần” của các cá nhân khác thoáng qua, mà ông còn thừa nhận sự tồn tại của một tinh thần vĩnh viễn – Thượng đế Ông thừa nhận có một tinh thần phổ biến vĩnh viễn khắp nơi Tinh thần ấy đang nhận thức, đang sản sinh ra và bao trùm lên tất cả mọi vật Nó vạch cho con mắt ta thấy những sự vật
ấy như những cái phù hợp với quy tắc do chính nó định ra mà chúng ta gọi là các quy luật tự nhiên Ông coi triết học sẽ là vô ích, nếu nó không làm cho con người thật tâm tin vào sự hiện diện của Thượng đế và kính trọng Thượng đế
Berkeley phủ nhận thực tại khách quan của vật chất Thế giới bên ngoài không có thực chất nào Nó xuất hiện là do trí khôn tri giác Bởi thế, sự vật chỉ là các ý tưởng của trí khôn Lập trường Duy nghiệm này của ông đã dẫn tới chủ thuyết Duy tâm
Một vài nhận định
Tư tưởng của các triết gia thời cận đại rất phong phú tác động đến các vấn đề trong cuộc sống từ cách nhận thức, lối suy tư, đến vấn đề tôn giáo, khoa học, con người, …Nơi mỗi triết gia, chúng ta đều nhận thấy những nét tích cực giúp cho con người nhận thức, suy tư và lạc quan hơn
về khả năng của con người
Trang 6Lập trường triết học nơi mỗi triết gia đều hướng vào chủ thể con người để từ đó giúp con người khám phá ra nhiều kinh nghiệm mới cũng như giúp con người làm chủ thiên nhiên
Bên cạnh đó chúng ta nhận thấy tư tưởng của các ông cũng còn nhiều điểm hạn chế, những cái nhìn phiến diện, dễ làm hư hoại các giá trị luân lý, nhân văn của xã hội Nó làm phát triển các trào lưu thế tục, chủ nghĩa xấu ảnh hưởng đến mọi tầng lớp con người ngày nay