1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Lịch sử việt nam

70 416 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lịch sử việt nam
Trường học Trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Học phần
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tài liệu “Đại cương lịch sử Việt Nam” được biên soạn với mục đích nhằm làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh Việt Nam và nước ngoài muốn tìm hiểu lịch sử việt nam, tìm hiểu nền văn hóa con người việt nam

Trang 1

HỌC PHẦN IILỊCH SỬ VIỆT NAM

Trang 2

THỜI KỲ LỊCH SỬ CỔ ĐẠI

Chương I

1 Thời kỳ dựng nước

1.1 Vài nét về đất nước, con người Việt Nam

1.2 Sự hình thành của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

1.3 Vị trí và ý nghĩa của thời kỳ dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam

Trang 3

1 Thời kỳ dựng nước

1.1 Vài nét về đất nước, con người Việt Nam

Trang 4

1 Thời kỳ dựng nước

1.2 Sự hình thành của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được bắt đầu từ những tiền đề lịch sử:

+ Tiền đề về kinh tế:

Thời kỳ đồ đồng với những công cụ mới làm cho năng suất nông nghiệp tăng, sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng Làm cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thuần dưỡng gia súc cũng phát triển

Nghề thủ công cũng phát triển mạnh mẽ và có vị trí quan trọng như nghề luyện kim, đúc đồng, nghề mộc, nghề gốm, đan lát…

Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp làm cho sản phẩm

dư thừa, dẫn đến sự ra đời và tồn tại một lực lượng quản lý và bóc lột

Trang 5

+ Tiền đề về chính trị, xã hội:

Sơ kỳ đồ đá mới Hình thái tổ chức xã hội Thị tộc mẫu hệ

Hình thái tổ chức xã hội Công xã Thị tộc mẫu hệHậu kỳ đồ đá mới

Sơ kỳ đồ đồng Hình thái tổ chức xã hội Công xã Thị tộc phụ

quyền

Hậu kỳ đồ đồng Hình thái tổ chức xã hội Công xã nông thôn

Công xã nông thôn xuất hiện làm tan rã kết cấu xã hội nguyên thủy đồng thời xuất hiện đội ngũ quý tộc điều khiển mọi hoạt động của CÔNG XÃ - Mâu thuẫn giai cấp xuất hiện

Trang 6

+ Tiền đề về văn hóa:

Do nhu cầu làm nông nghiệp trồng lúc nước cùng với nhu cầu chống xâm lăng nên các bộ lạc liên minh thành Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

Nhà nước Văn Lang ra đời vào khoảng thiên niên kỷ thứ nhất TCN với niên đại vào khoảng 2879 TCN – 208 TCN

Tên gọi

Văn Lang:

Tục nhuộm răng ăn trầu

Trang 7

Kế tiếp Nhà nước Văn Lang với các Vua Hùng là Nhà nước Âu Lạc với An Dương Vương.

Nhà nước Âu Lạc có niên đại theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô

Sĩ Liên vào khoảng 257 TCN Nhưng có thuyết khác cho rằng vào năm 214 TCN năm Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư đánh Bách Việt Người Tây Âu và người Lạc Việt cùng nhau đứng lên chống quân Tần

Quốc gia Âu Lạc có một công trình quân sự độc đáo được kết tinh bằng công sức và tài năng của cư dân Âu Lạc:

Thành

CỔ LOA

+ Tiền đề về văn hóa:

Trang 8

1.3 Vị trí và ý nghĩa của thời kỳ dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam

Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ có thật trong lịch sử dân tộc, điều này được phán ánh thông qua những truyền thuyết, trong thư tịch cổ, qua các di chỉ khảo cổ học…

Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ chuyển biến sâu sắc về nhiều mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa từ đó dẫn đấn sự hình thành nhà nước phôi thai đầu tiên trọng lịch sử Việt Nam

Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ ra đời và phát triển của một nền văn hóa cổ xưa của người Việt – VĂN MINH SÔNG HỒNG

Trang 9

2 Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc

2.1 Chính sách nô dịch và đồng hóa của bọn phong kiến phương Bắc Trung Quốc

Sau thất bại của An Dương Vương, nước ta liên tục bị các thế lực phong kiến phương Bắc xâm lược và thống trị hơn một ngàn năm

Nam Việt 68 năm (179 TCn – 111 TCN); Tiền Hán 119 năm (111 TCN - 8); Tân 17 năm (8 - 25); Hậu Hán 195 năm (25 - 220); Đông Ngô 60 năm (229-280); Nhà Tây Tấn và Đông Tấn 155 (265 420); Nam Triều 122 (420 - 542); Tùy 16 năm (602 618); Đường 287 năm (618 - 905)

Trong 1000 năm độc lập và chủ quyền của đất nước bị chà đạp thô bạo…

Trang 10

2.2 Một số phong trào đấu tranh độc lập tự chủ đầu tiên của dân tộc Việt Nam

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng

Họ là con gái của Lạc tướng Mê Linh dòng dõi nhiều đời bên ngoại

Hùng Vương Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách con trai Lạc tướng Chu Diên.

Tô Định thấy Mê Linh và Chu Diên có mối quan hệ hôn nhân với nhau

nên đề phòng hậu họa nên đã giết Thi Sách, mâu thuẫn giai đình, mâu thuẫn dân tộc trở nên sâu sắc

Mùa Xuân năm 40, Hai Bà Trưng phát động và lãnh đạo cuộc khởi

nghĩa, làm cho chính quyền đô hộ bị tan rã, Trưng Trắc được suy tôn làm vua,

sử gọi là Trưng Nữ Vương (40 - 43)

Khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là một hiện tượng độc đáo của LSVN vừa là hiện tượng hiếm có trong LSTG cổ đại

Mùa hè năm 42, Hán Võ Vương sai Mã Viện đem quân đánh chiếm, hai Bà ngoan cường chiến đấu nhưng sau thất bại và đã gieo mình xuống dòng Hát Giang (6/2/43)

Trang 11

Cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh (248)

Triệu Thị Trinh (Bà Triệu) người quận Cửu Chân, là em gái Triệu Quốc

Đạt đã cùng anh nổi dậy, sau anh mất Bà đã thống lĩnh lực lượng khởi nghĩa ở núi Tùng (Thanh Hóa) năm Bà 20 tuổi

Truyền thuyết kể rằng, nhờ kẻ phản bội cho giặc hay Bà Triệu rất “ái khiết úy ố” nên giặc Ngô đã đánh thắng Bà.

Cuộc khởi nghĩa của Lý Bí lập ra Nhà nước Vạn Xuân

Lý Bí (Lý Bôn) quê thuộc Hà Tây, xuất thân từ Hào trưởng Năm 542

Lý Bí phát động khởi nghĩa đánh nhà Lương và năm 543 đánh Chiêm Thành

Mùa xuân năm 544 lên ngôi Hoàng đế, xưng là Lý Nam Đế, đặt tên nước là Vạn Xuân, kinh độ thuộc HN ngày nay.

Sau nhà Lương tấn công buộc Lý Bí chạy vào động Khuất Lão (Phú Thọ) và mất năm 548

Con của Lý Thiên Bảo (anh của Lý Bí) là Lý Phật Tử lên ngôi (571), nhưng không lâu sau đầu hàng nhà Tùy, nhà Tiền Lý tan rã, nền độc lập của

Trang 12

Cuộc khởi nghĩa của Mai Thúc Loan

Mai Thúc Loan (Mai Huyền Thành) là người Hà Tĩnh da đen, tóc xoăn,

rất khỏe và từng làm phu dịch cho bọn đô hộ nhà Đường

Năm 722, ông phất cờ khởi nghĩa, lập bản doanh ở núi Đụn (Nghệ An)

Để quy tụ lòng người, ông cho xây dựng thành Vạn An, lập ngôi Hoàng đế sử

gọi Mai Hắc Đế.

Sau nhà Đường sai tướng giỏi binh mạnh sang tấn công nước ta, cuộc khởi nghĩa Mai Thúc Loan bị dập tắt

Cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng (761 - 802)

Phùng Hưng cùng em là Phùng Hải đã cùng nhân dân khởi nghĩa và

chiếm được Đường Lâm Thành Tống Bình bị uy hiếp, quan là Cao Chính Bình

sợ hãi mà chết, sau Phùng Hưng mất con là Phùng An lên thay và suy tôn là Bố Cái Đại Vương.

Trang 13

Họ Khúc và những cải cách của họ Khúc (906-923)

Năm 907, triều đại nhà Đường (TQ) chấm dứt, Trung Quốc rơi vào tình trạng Ngũ Đại Thập Quốc Lợi dụng tình hình đó, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Khúc Thừa Dụ đã giành chính quyền và tự xưng là Tiết độ sứ, nhà Đường sau phong là Đông Bình Chương sự

Khúc Thừa Dụ được cho là người mở đầu ngoại giao khôn khéo với phong kiến phương Bắc: “Độc lập thực sự, thần phục danh nghĩa”

Ngày 23/7/907, Khúc Thừa Dụ qua đời, con Khúc Hạo lên thay và cũng xưng là Tiết độ sứ Từ năm 907 – 917, Khúc Hạo đã đề ra nhiều chính sách cải cách quan trọng nhằm xây dựng một nền tảng độc lập, tự chủ

Khúc Hạo mất con là Khúc Thừa Mỹ lên thay nhưng sau bị vua Nam

Trang 14

Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán (931)

Nam Hán là một trong 10 nước Ngũ đại thập quốc do Lưu Ẩn lập ra,

Nam Hán cử tướng cũ của họ Khúc là Dương Đình Nghệ giữ chức Thứ sử Ái

Châu

Năm 931, Dương Đình Nghệ bất ngờ tấn công thành Tống Bình và xưng là Tiết độ sứ Đến năm 937, ông bị chính con nuôi là Kiều Công Tiễn giết

để giành chức Tiết độ sứ, nước ta rơi vào khủng hoảng chính trị mới

Ngô Quyền – chiến thắng Bạch Đằng (931):

Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ Ông là một người phi

thường Theo Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả: “vẻ khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi như cọp, có trí dũng, có thể nhấc được vạc” được Dương Đình Nghệ giao cho coi quản đất Ái Châu và gả con gái cho

Khi Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ đã làm nhân dân căm phẫn, hoảng sợ Kiều Công Tiễn cầu cứu vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Vạn Thắng vương Hoàng Thao chỉ huy quân đội sang xâm lược nước ta

Trang 15

Ngô Quyền bắt tay vào việc chống quân Nam Hán xâm lược, trước thế giặc mạnh, Ngô Quyền đã thực hiện một kế hoạch độc đáo.

Bố trí trận cọc nhọn đầu bịt sắt cắm xuống sông Bạch Đằng và lợi dụng thủy triều lên xuống đánh tan quân giặc

Tháng 12/938 Hoàng Thao rơi vào ổ phục kích và chết Chiến thắng Bạch Đằng 938 gắn với vai trò của Ngô Quyền và nó khẳng định kỷ nguyên độc lập và tự chủ của nước nhà

Năm 939, Ngô Quyền xương vương, bỏ chức Tiết độ sứ, đóng đô ở Cổ Loa Sau 6 năm ở ngôi (939 - 944) Ông mất năm 47 tuổi Đất nước rơi vào loạn

12 sứ quân hơn 20 năm

Ngô Quyền – chiến thắng Bạch Đằng (931):

Trang 16

Nhà Đinh – Đinh Bộ Lĩnh (968 - 980)

Đinh Bộ Lĩnh là con của Đinh Công Trứ Thủa nhỏ, cha mất sớm về quê

mẹ ở Hoa Lư (Ninh Bình) sống và thường chơi trò với lũ trẻ chăn trâu đánh trận giả lấy công lau làm cờ

Lớn lên ông tỏ ra là người có tài năng, có khí phách và thao lược nên khi Đinh Lĩnh dựng cờ dấy nghiệp thì nhân dân theo rất đông

Bắt đầu năm 951, ông đã dẹp loạn 12 sứ quân, lập nghiệp đế Năm Mậu

Thìn (968), ông lên ngôi Hoàng đế xưng là Đinh Tiên Hoàng, lấy quốc hiệu là

Đại Cồ Việt, đóng dô ở Hoa Lư.

Đinh Tiên Hoàng đã thiếp lập một triều đình tập quyền, định nghi lễ cho triều đình, định phẩm hàm cho quan văn, quan võ, phong cho Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt Vương Năm 970, bỏ niên hiệu TQ phong đặt niên hiệu cho riêng mình là Thái Bình

Trang 17

Nhà Tiền Lê tồn tại từ năm 980 đến 1009, năm 980 nhà Tống xâm chiếm Đại Cồ Việt, Lê Hoàn phát huy sáng tạo của Ngô Quyền nên đến năm 981 giặc bị đánh tơi bời

Nhưng do sai lầm bỏ trưởng lập ấu, đưa con út Hạng Lang lên làm Thái

tử, còn con trưởng Nam Việt vương Đinh Liễn không được kế vị nên sai người giết em

Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết, triều thần lập

Vệ vương Đinh Tuệ (Toàn) lên làm vua, sử gọi là Phế Đế Do vua còn nhỏ nên

binh quyền nằm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, sau đại thần nhà Đinh

nghi Lê Hoàn tư thông với Thái hậu nên cử binh đi đánh Lê Hoàn

Nhà Tống nghe tin ĐTH mất nền cử binh đánh chiếm, trươc nguy cơ đó

Thái hậu Dương Vân Nga đã trao long bào cho Lê Hoàn, nhà Tiền Lê được

thành lập

Nhà Đinh – Đinh Bộ Lĩnh (968 - 980)

Trang 18

Dẹp yên giặc giã, Lê Hoàn bắt tay ngay vào chăm lo xây dựng đất nước trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa:

Hành chính: đặt nhiều chức quan mới: Thái sư, Tổng quản, Thái úy

Kinh tế: coi trọng KT nông nghiệp, năm 987 mở lễ Tịch Điền

Văn hóa: Nho giáo được truyền bá, Phật giáo được tôn sùng…

Khi khi Lê Long Đĩnh chết, Chư tăng Sư Vạn Hạnh cùng quan đại thần Đào Cam Mộc đã đồng tâm tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, nhà Lý được thành lập

Nhà Đinh – Đinh Bộ Lĩnh (968 - 980)

Trang 20

THỜI KỲ LỊCH SỬ TRUNG ĐẠI

Chương II

1 Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII

1.1 Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.

1.2 Văn minh văn hóa Đại Việt và văn minh văn hóa Chămpa

1.3 Những cuộc chiến tranh giữ nước, giải phóng dân tộc tiêu biểu của dân tộc ta chống Tống, Nguyên và Minh.

Trang 21

1 Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII

1.1 Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.

a Thời nhà Lý (1009 - 1225)

Ngày 21/11/1009 Lý Công Uẩn lên ngôi, tức vua Lý Thái Tổ, mở ra

triều đại nhà Lý.

Tháng 7/1010, Lý Thái Tổ cho dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La với

Chiếu dời đô nhằm “mưu toan nghiệp lớn”

Ngay sau khi dời đô, Lý Thái Tổ đã cho xây dựng tổ chức chính quyền

Trung ương và địa phương tạo ra một chính quyền Trung ương tập quyền Chia

khu vực hành chính địa phương thành 24 lộ phủ

Năm 1042, Lý Thái Tông cho biên soạn bộ luật thành văn đầu tiên ở

nước ta với tên gọi Bộ luật Hình Thư.

Năm 1054, Lý Thánh Tông đổi tên nước ta với quốc hiệu Đại Việt.

Trang 22

Kinh tế nông nghiệp thời Lý rất phát triển với hai hình thức sở hữu ruộng đất:

Quốc khố

Quân điền

Với nhiều loại ruộng

Tịch điềnRuộng sơn lăng

Ruộng đất công làng xã

Thác đao điền

Ruộng tư cũng phát triển và được nhà Lý khuyến khích phát triển nông

nghiệp, đặc biệt đã thực hiện chính sách “ngụ binh ư nông” Năm 1108, cho đắp đê Cơ Xá, đặt quan trông coi đê gọi là Hà đê.

Thủ công nghiệp cũng phát triển: đúc tiền, chế tạo vũ khí, dệt vải tơ

tăm, trồng dâu, làm gốm, đúc đồng…

Thương nghiệp được mở rộng, chợ mọc lên nhiều, có buôn bán với

nước ngoài qua cảng Vân Đồn

Trang 23

Quân đội nhà Lý được xây dựng chính quy:

CẤM QUÂN: cấp Trung ương

LỘ QUÂN và DÂN BINH: cấp địa phương

Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân Tông 6 tuổi lên thay, nhà

Tống lợi dụng cơ hội xâm lược nước ta Lý Thường Kiệt được giao nhiệm vụ tổ

chức kháng chiến

Đạo Phật rất phát triển ở thời Lý, các vua Lý đều theo đạo Phật, rất

nhiều chùa chiền được xây dựng (năm 1031 có 950 ngôi chùa) Năm 1049, Lý

Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), một công trình tiêu biểu cho

kiến trúc nhà Lý

Nhà Lý luôn coi trọng xây dựng và phát triển nền giáo dục quốc gia:

Năm 1070 cho xây dựng Văn Miếu, năm 1076 lập Quốc Tử Giám Năm 1075 cho mở khoa thi đầu tiên được gọi là Tam Trường (Minh kinh bác học), thủ khoa

là Lê Văn Thịnh.

Trang 24

Nhà Lý rất coi trọng chính sách dân tộc vừa mang tính mềm dẻo vừa

mang tính kiên quyết nên đã có sự cố kết cao của các thủ lịnh người dân tộc cùng bảo vệ triều định, bảo vệ biên cương quốc gia

Cuối TK XII, đầu TK XIII nhà Lý bắt đầu suy yếu Năm 1225, Lý Huệ

Tông nhường ngôi cho con gái 7 tuổi là Lý Chiêu Hoàng nhưng quyền bính lại

rơi vào tay Trần Thủ Độ.

Ngày 10/1/1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần

Cảnh, kết thúc 216 năm cầm quyền của nhà Lý.

Trang 25

1 Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI

1.1 Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.

b Thời nhà Trần (1226 - 1400)

Trần Cảnh – Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên mở đầu cơ nghiệp nhà

Trần Chính Trần Thủ Độ là người mưu sức giúp Trần Cảnh lấy được thiên hạ từ

tay nhà Lý

Chính quyền nhà Trần trong TK XIII đã phát triển thành một chính quyền trung ương tập quyền chuyên chính - dân chủ dòng họ, đoàn kết nội bộ dòng họ

Trần

Nhà Trần áp dụng chế độ Thái Thượng hoàng để cho vua trẻ được

điều khiển chính quyền, quyền hành của Thái Thượng hoàng ở trong triều cũng như ngoài xã hội là rất lớn

Trang 26

Nhà Trần xây dựng bộ máy nhà nước:

Năm 1230, Nhà Trần cho biên soạn bộ Thống chế nhằm xây dựng quy

chế hành chính trong triều đại của mình

Năm 1242, Trần Thái Tông tiến hành phân chia lại khu vực hành chính

địa phương trong đó cả nước còn 12 Lộ, các đơn vị hành chính thuộc Lộ như Châu, Huyện, xã cũng từng bước được củng cố.

Về hình thức, bộ máy quan hành chính thời Trần không khác bao nhiêu

với thời Lý, chỉ khác là các chức vụ quan trọng đều do quý tộc họ Trần nắm giữ.

Quan lại thời Trần được hưởng rất nhiều đặc quyền, đặc lợi và được trả lương bằng tiền bạc và đất đai

Nhà Trần ban cấp rất nhiều đất đai cho quan lại nên thời này kinh tế điền trang – thái ấp rất phát triển.

Trang 27

Thời Trần tuyển lựa quan lại thông qua chế độ nhiệm tử và chế độ khoa cử.

Về quân đội: Nhà Trần cho xây dựng 2 bộ phận chính: CẤM QUÂN và

QUÂN CÁC LỘ với chủ trương “quân cốt tinh không cốt nhiều” và được huấn

luyện cả về võ nghệ lẫn binh pháp, thể hiện sự đặc sắc trong khoa học quân sự nước ta

Sự nghiệp quân sự nhà Trần gắn liền tên tuổi của Trần Hưng Đạo, tác

giả cuốn Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tổng bí truyền thư và Hịch tướng sĩ

Vì thế năm 1984, Hoàng Gia nước Anh đã công bố 10 nguyên soái quân sự trong đó có Trần Hưng Đạo

Trang 28

Năm 1341 trên cơ sở tham chước bộ luật Hình thư nhà Lý, các vua Trần đã cho ban hành bộ luật Hình thư mới, tuy nhiên bộ luật ngày nay không

còn Theo sử cũ chép lại luật có quy định thụ lệ phí xét xử, trừ tội thập ác còn các tội khác có thể dùng tiển để chuộc tội

Nhà Trần cũng rất coi trọng chính sách “ngụ binh ư nông” trong việc xây dựng và củng cố lực lượng vũ trang, chỉ yếu nhằm giảm chi phí quốc phòng, góp phần phát triển nông nghiệp

Trang 29

c Thời nhà Hồ (1400 - 1407)

Nhà Trần suy yếu do sự sa đọa của tầng lớp quý tộc cầm quyền, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra, lại bị Chămpa đánh nhiều lần vào các năm 1376, 1378, 1389…

Năm 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi vua Trần, lập ra nhà Hồ, đổi tên quốc hiệu là Đại Ngu, dời đô về An Tôn ( Tây Đô) ở Thanh Hóa ngày nay.

Năm 1401, Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương và

xưng Thái Thượng hoàng Ông đã cho tiến hành cuộc cải cách về chính trị, kinh

tế tài chính, văn hóa giáo dục và xã hội… đạt được nhiều thành tựu quan trọng…

1 Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI

1.1 Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong kiến Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.

Trang 30

Năm 1406, quân Minh lật đổ nhà Nguyên và tiến hành xâm lược nước

ta, chúng đã đô hộ trên 20 năm nước ta với những chính sách đô hộ và âm mưu đồng hóa thâm độc và thô bạo

Năm 1418, nổ ra cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi dấy binh với vai trò to lớn của Nguyễn Trãi, nhà Lê sơ được thành lập.

c Thời nhà Hồ (1400 - 1407)

Trang 31

d Thời nhà Lê sơ (1428 - 1789)

Tháng 4 năm 1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế, triều Lê tồn tại tới 361 năm, trong đó được chia thành:

Lê sơ

Lê Trung Hưng

Lê Thái Tông (1434 - 1442)

Lê Nhân Tông (1443 - 1459)

Lê Thánh Tông (1460 - 1497)

Lê Hiến Tông (1497 - 1503)

Lê Thái Tổ (1428 - 1433)

Trang 32

Hệ thống chính quyền: dưới thời Lê Thái Tổ cả nước được chia làm 4 đạo:

Nam Đạo

Đông Đạo

Bắc Đạo

Hải Tây Đạo

Dưới Đạo là Trấn, Lộ, Phủ, Huyện, Châu và Xã

Năm 1428, Lê Thánh Tông lại chia cả nước thành 12 Đạo, đến năm

1471 do chiếm được đất Chiêm Thành nên ông lập thêm đạo thứ 13 gọi là Đạo Quảng Nam.

Quan lại thời Lê sơ, vua nắm độc quyền lực lượng vũ trang, sản xuất

và quản lý vũ khí Đây là điểm khác biệt với quân đội thời các triều đại trước…

Nhà Lê sơ cũng thực hiện chính sách ngụ binh ư nông để nhằm giảm chi phí quốc phòng, không gây nguy hại đến sản xuất nông nghiệp mà quân đội

Trang 33

Pháp luật:

Năm 1483, nhà Lê cho ban hành bộ luật: Lê triều hình luật (Luật Hồng Đức) Bộ luật có tất cả 721 điều gồm 16 chương và phản ánh đậm nét ý thức hệ giai cấp thống trị

Trang 34

Cơ cấu xã hội

Địa chủ phong kiến

Nông dân

Thợ thủ công, thương nhân, nô tỳ cũng là tầng lớp đáng kể trong cơ cấu xã hội thời kỳ này…

Quý tộcQuan lạiĐịa chủ thường

Chiếm đa số và được chia ruộng đất công

Trang 35

Tuy nhiên đến năm đầu của TK XVI, sau khi Lê Hiến Tông mất (1504),

xã hội Đại Việt mất dần cảnh thịnh trị, kinh tế sa sút, nhân dân cực khổ, các vua

về sau lo ăn chơi, tranh giành quyền lực dẫn đến khủng hoảng chính trị.

Năm 1527, trước sự bất lực của nhà Lê, thấy thần dân trong nước theo mình, Mạc Đăng Dung đã bức vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi và lập ra nhà

Mạc.

Ngày đăng: 14/08/2013, 09:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Kinh tế nông nghiệp thời Lý rất phát triển với hai hình thức sở hữu ruộng đất: - Lịch sử việt nam
inh tế nông nghiệp thời Lý rất phát triển với hai hình thức sở hữu ruộng đất: (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w