1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chuẩn kiến thức kĩ năng lịch sử lớp 7

35 2,7K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuẩn Kiến Thức Kĩ Năng Lịch Sử Lớp 7
Trường học Trường Trung Học Cơ Sở
Chuyên ngành Lịch Sử
Thể loại Tài Liệu
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 252,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuối thế kỉ V, người Giéc-man xâm chiếm, tiêu diệt các quốc gia cổ đại phương Tây, thành lập nhiều vương quốc mới : Ăng-glô Xắc-xông, Phơ-răng, Tây Gốt, Đông Gốt... Trên lãnh thổ Rô-ma, người Giéc-man đã chiếm ruộng đất của chủ nô, đem chia cho nhau; phong cho các tướng lĩnh, quý tộc các tước vị như: công tước, hầu tước... Những việc làm của người Giéc-man đã tác động đến xã hội, dẫn tới sự hình thành các tầng lớp mới: - Lãnh chúa phong kiến: là các tướng lĩnh và quý tộc có nhiều ruộng đất và tước vị, có quyền thế và rất giàu có. - Nông nô: là những nô lệ được giải phóng và nông dân, không có ruộng đất, làm thuê, phụ thuộc vào lãnh chúa. Từ những biến đổi trên đã dẫn tới sự ra đời của xã hội PK châu Âu. 2. Em biết gì về các lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến Lãnh địa PK là khu đất rộng, trở thành vùng đất riêng của lãnh chúa PK - như một vương quốc thu nhỏ. Lãnh địa gồm có đất đai, dinh thự với tường cao, hào sâu, kho tàng, đồng cỏ, đầm lầy... của lãnh chúa. Nông nô nhận đất canh tác của lãnh chúa và nộp tô thuế, ngoài ra còn phải nộp nhiều thứ thuế khác. Lãnh chúa bóc lột nông nô, họ không phải lao động, sống sung sướng, xa hoa. Đặc trưng cơ bản của lãnh địa: là đơn vị kinh tế, chính trị độc lập mang tính tự cung, tự cấp, đóng kín của một lãnh chúa. 3. Em biết gì về các thành thị trung đại trong xã hội PK châu Âu ? Nguyên nhân ra đời của các thành thị trung đại là do : - Vào thời kì PK phân quyền: các lãnh địa đều đóng kín, không có trao đổi, buôn bán, giao thương với bên ngoài. - Từ cuối thế kỉ XI, do sản xuất thủ công phát triển, thợ thủ công đã đem hàng hóa ra những nơi đông người để trao đổi, buôn bán, lập xưởng sản xuất. - Từ đấy hình thành các thị trấn rồi phát triển thành thành phố, gọi là thành thị trung đại.

Trang 1

LỚP 7 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ THẾ GIỚI TRUNG ĐẠIChủ đề 1 XÃ HỘI PHONG KIẾN CHÂU ÂU (PHƯƠNG TÂY)

1 Trình bày sự hình thành xã hội PK châu Âu

Cuối thế kỉ V, người Giéc-man xâm chiếm, tiêu diệt các quốc gia cổ đại phươngTây, thành lập nhiều vương quốc mới : Ăng-glô Xắc-xông, Phơ-răng, Tây Gốt, ĐôngGốt

Trên lãnh thổ Rô-ma, người Giéc-man đã chiếm ruộng đất của chủ nô, đemchia cho nhau; phong cho các tướng lĩnh, quý tộc các tước vị như: công tước, hầutước Những việc làm của người Giéc-man đã tác động đến xã hội, dẫn tới sự hìnhthành các tầng lớp mới:

- Lãnh chúa phong kiến: là các tướng lĩnh và quý tộc có nhiều ruộng đất và tước vị,

có quyền thế và rất giàu có

- Nông nô: là những nô lệ được giải phóng và nông dân, không có ruộng đất, làmthuê, phụ thuộc vào lãnh chúa

Từ những biến đổi trên đã dẫn tới sự ra đời của xã hội PK châu Âu

2 Em biết gì về các lãnh địa của các lãnh chúa phong kiến

Lãnh địa PK là khu đất rộng, trở thành vùng đất riêng của lãnh chúa PK - như mộtvương quốc thu nhỏ

Lãnh địa gồm có đất đai, dinh thự với tường cao, hào sâu, kho tàng, đồng cỏ, đầmlầy của lãnh chúa Nông nô nhận đất canh tác của lãnh chúa và nộp tô thuế, ngoài racòn phải nộp nhiều thứ thuế khác Lãnh chúa bóc lột nông nô, họ không phải lao động,sống sung sướng, xa hoa

Đặc trưng cơ bản của lãnh địa: là đơn vị kinh tế, chính trị độc lập mang tính tựcung, tự cấp, đóng kín của một lãnh chúa

3 Em biết gì về các thành thị trung đại trong xã hội PK châu Âu ?

Nguyên nhân ra đời của các thành thị trung đại là do :

- Vào thời kì PK phân quyền: các lãnh địa đều đóng kín, không có trao đổi, buôn bán,giao thương với bên ngoài

- Từ cuối thế kỉ XI, do sản xuất thủ công phát triển, thợ thủ công đã đem hàng hóa

ra những nơi đông người để trao đổi, buôn bán, lập xưởng sản xuất

- Từ đấy hình thành các thị trấn rồi phát triển thành thành phố, gọi là thành thịtrung đại

Hoạt động và vai trò của các thành thị trung đại :

Cư dân chủ yếu của thành thị là thợ thủ công và thương nhân, họ lập ra cácphường hội, thương hội để cùng nhau sản xuất và buôn bán

Trang 2

Hoạt động trên của các thành thị trung đại đã có vai trò thúc đẩy sản xuất, làm cho xãhội PK phát triển

4 Chủ nghĩa tư bản ở châu Âu được hình thành như thế nào ?

Từ cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do nhu cầu phát triển sản xuất cùng những tiến

bộ về kĩ thuật hàng hải như: la bàn, hải đồ, kĩ thuật đóng tàu đã thúc đẩy những cuộcphát kiến lớn về địa lí như: B Đi-a-xơ đến cực Nam châu Phi (1487) ; Va-xcô đơ Ga-

ma đến Tây Nam Ấn Độ (1498) ; C Cô-lôm-bô tìm ra châu Mĩ (1492) ; Ph lăng đi vòng quanh trái đất (1519 - 1522)

Ma-gien-Các cuộc phát kiến địa lí đã thúc đẩy thương nghiệp phát triển, đem lại nguồn lợinhuận khổng lồ cho những quý tộc, thương nhân Đó là quá trình tích lũy tư bản nguyênthủy (tạo ra số vốn đầu tiên và những người lao động làm thuê) Tầng lớp này trở nêngiàu có nhờ cướp bóc của cải, tài nguyên và buôn bán, trao đổi ở các nước thuộc địa Họ

mở rộng sản xuất, kinh doanh, lập đồn điền, bóc lột sức lao động người làm thuê, giaicấp tư sản ra đời Cùng đó là giai cấp vô sản được hình thành từ những người nông nô bịtước đoạt ruộng đất, buộc phải vào làm thuê trong các xí nghiệp của tư sản

Từ những tiền đề và điều kiện vừa nêu trên, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đãđược hình thành, ra đời ngay trong lòng xã hội phong kiến châu Âu

5 Em hiểu gì về phong trào Văn hóa Phục hưng ?

Vào cuối thế kỉ XV đầu thế kỉ XVI, do sự kìm hãm, vùi dập của chế độ phongkiến đối với các giá trị văn hóa Sự lớn mạnh của giai cấp tư sản có thế lực về kinh tếnhưng không có địa vị chính trị, xã hội nên đấu tranh giành địa vị chính trị, xã hội, mởđầu bằng cuộc đấu tranh trên lĩnh vực văn hóa

Cuộc đấu tranh đó phát triển thành “phong trào Văn hóa Phục hưng” : Đó

là sự phục hưng những tinh hoa giá trị tinh thần của nền văn hóa cổ Hi Lạp và

Rô-ma, đồng thời phát triển nó ở tầm cao hơn (sáng tạo nền văn hóa mới của giai cấp

tư sản)

Phong trào diễn ra với các nội dung: lên án nghiêm khắc Giáo hội Ki-tô, đả phá trật

tự xã hội phong kiến ; đề cao những giá trị con người, đề cao khoa học tự nhiên, xây dựngthế giới quan duy vật Có thể kể tên những nhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa tiêu biểunhư : nhà thiên văn học Cô-péc-ních, nhà toán học và triết học xuất sắc R Đê-các-tơ, họa sĩLê-ô-na đơ Vanh-xi, nhà soạn kịch U Sếch-xpia

Phong trào Văn hóa Phục hưng đã có ý nghĩa thức tỉnh và phát động quần chúng đấutranh chống lại xã hội phong kiến bảo thủ, lạc hậu ; đồng thời mở đường cho sự phát triểnvăn hóa ở một tầm cao mới của châu Âu và nhân loại

Chủ đề 2 XÃ HỘI PHONG KIẾN PHƯƠNG ĐÔNG

1 So sánh quá trình hình thành và phát triển của xã hội PK ở các nước phương Đông và phương Tây để rút ra những điểm khác biệt ?

Xã hội PK phương Đông :

Trang 3

- Hình thành sớm, vào thời kì trước CN (như Trung Quốc), phát triển chậm, mức

độ tập quyền cao hơn so với xã hội PK phương Tây

- Quá trình khủng hoảng, suy vong kéo dài và sau này rơi vào tình trạng lệ thuộchoặc trở thành thuộc địa của CNTB phương Tây

Xã hội PK phương Tây :

- Ra đời muộn (thế kỉ V), nhưng phát triển nhanh

- Xuất hiện CNTB trong lòng chế độ PK

- Lúc đầu quyền lực của nhà vua bị hạn chế trong lãnh địa, mãi đến thế kỉ XV khicác quốc gia PK thống nhất, quyền lực mới tập trung trong tay nhà vua

2 Trình bày những nét chính về cơ sở kinh tế - xã hội của chế độ PK ?

Cơ sở kinh tế chủ yếu của chế độ PK là sản xuất nông nghiệp, kết hợp với chănnuôi và một số nghề thủ công Sản xuất nông nghiệp đóng kín ở các công xã nông thôn(phương Đông) hay các lãnh địa (phương Tây)

Tư liệu sản xuất, ruộng đất nằm trong tay lãnh chúa hay địa chủ, giao cho nôngdân hay nông nô sản xuất

Xã hội gồm hai giai cấp cơ bản là địa chủ và nông dân lĩnh canh (phương Đông),lãnh chúa phong kiến và nông nô (phương Tây) Địa chủ, lãnh chúa bóc lột nông dân vànông nô bằng địa tô

Riêng ở xã hội PK phương Tây, từ thế kỉ XI, công thương nghiệp phát triển mạnh

LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ THẾ KỈ X ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIXChủ đề 3 BUỔI ĐẦU ĐỘC LẬP THỜI NGÔ - ĐINH - TIỀN LÊ (Thế kỉ X)

I Những nét chính về mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của buổi đầu độc lập thời Ngô - Đinh - Tiền Lê ?

A Về chính trị :

1 Nhà Ngô (939-965)

Ngô Vương 938-944 ; Dương Bình Vương 945-950 ; Hậu Ngô Vương 951-965

Đánh đuổi quân Nam Hán, Ngô Quyền xưng vương (939), đóng đô ở Cổ Loa.Ngô Vương đặt ra các chức quan văn võ, qui định triều nghi, lập bộ máy chính quyềnmang tính chất tập quyền

Ngô Quyền chỉ ở ngôi được sáu năm Lúc sắp mất, Ngô Quyền đem con là NgôXương Ngập ủy thác cho người em vợ là Dương Tam Kha Dương Tam Kha là con củaDương Đình Nghệ, em của bà Dương Hậu Nhưng khi Ngô Quyền mất rồi Dương TamKha phản bội lòng tin của Ngô Quyền, cướp lấy ngôi, tự xưng là Bình Vương (945-950).Ngô Xương Ngập phải chạy trốn vào núi Dương Tam Kha bèn bắt người con thứ củaNgô Quyền là Ngô Xương Văn làm con nuôi Ngô Xương Văn, trong một dịp đi hànhquân dẹp loạn, đem quân trở ngược lại bắt được Dương Tam Kha, giáng Kha xuống bậccông

Trang 4

Ngô Xương Văn xưng vương và cho người đi rước anh về cùng làm vua Khôngbao lâu Ngô Xương Ngập bệnh chết (954) Thế lực nhà Ngô ngày một suy yếu, khắpnơi loạn lạc Trong một chuyến đi dẹp loạn (965), Xương Văn bị trúng tên chết Kể từđấy, nhà Ngô không còn là một thế lực trung tâm của đất nước nữa Con của XươngVăn là Ngô Xương Xí trở thành một trong 12 sứ quân.

Từ đó đất nước trải qua một thời kỳ nội chiến tranh quyền khốc liệt mà sử sách gọi làloạn 12 sứ quân Sau nhờ Đinh Bộ Lĩnh (924-979) đánh thắng tất cả các sứ quân, đất nướcmới thoát cảnh nội chiến

2 Nhà Đinh (968-980) - Đại Cồ Việt

Đinh Tiên Hoàng 968-979 ; Đinh Tuệ (Đinh Toàn) 980

Sau khi dẹp tan loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế tức là ĐinhTiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư (tỉnh Ninh Bình)

Đồng thời với gian đoạn này, ở Trung Hoa, nhà Tống làm chủ đất nước và tiêudiệt nước Nam Hán (970) Đinh Tiên Hoàng sai sứ sang thông hiếu Đến năm 972 nhàvua sai Đinh Liễn đem quà sang cống Vua Tống bèn phong cho Đinh Tiên Hoàng làm

An Nam Quận vương và Đinh Liễn làm Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ

Đinh Tiên Hoàng đặt ra những luật lệ hình phạt nặng nề như bỏ phạm nhân vàodầu hay cho hổ báo xé xác

Quân đội dưới thời Đinh Tiên Hoàng đã được tổ chức chặt chẽ, phân ra làm cácđơn vị như sau:

Đạo = 10 quân; Quân = 10 lữ ; Lữ = 10 tốt; Tốt = 10 ngũ ; Ngũ = 10 người

Năm 979, nhân lúc Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn say rượu, nằm ở sân điện, mộttên quan hầu là Đỗ Thích giết chết cả hai Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ

56 tuổi

Sau khi Đinh Tiên Hoàng bị Đỗ Thích giết chết, đình thần tìm bắt được Đỗ Thích

và đem giết chết đi rồi tôn người con nhỏ là Đinh Tuệ (Đinh Toàn), mới sáu tuổi lên làmvua Quyền bính ở cả trong tay Thập Đạo Tướng quân Lê Hoàn Lê Hoàn lại có quan hệchặt chẽ với người vợ góa của Đinh Tiên Hoàng là Dương Thái Hậu nên uy thế rất lừnglẫy Các công thần cũ của Đinh Bộ Lĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền đem quân vâyđánh Lê Hoàn nhưng bị Lê Hoàn tiêu diệt và giết cả

3 Nhà Tiền Lê (980-1009)

Lê Đại Hành 980-1005 ; Lê Long Việt 1005 ; Lê Long Đĩnh 1005-1009

Nhà Tống lợi dụng sự rối ren trong triều nhà Đinh, chuẩn bị cho quân sang xâmlược Đại Cồ Việt Thái hậu Dương Vân Nga trao long cổn (áo bào của vua Đinh TiênHoàng - tượng trưng cho uy quyền của nhà vua) cho Lê Hoàn và cùng quan lại, quânlính tôn Lê Hoàn lên làm vua

Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Lê Đại Hành, lập nên nhà Tiền Lê Để có thời gianchuẩn bị, nhà vua phái sứ giả qua xin hòa hoãn cùng nhà Tống Đồng thời nhà vua gấprút bày binh bố trận Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ, vào đánh Đại CồViệt Lê Đại Hành một mặt cho quân chặn đánh toán quân bộ ở Chi Lăng (Lạng Sơn)

Trang 5

Tướng Hầu Nhân Bảo, cầm đầu toán quân bộ, mắc mưu trá hàng của Lê Hoàn, bị chémchết; quân sĩ bị diệt quá nửa, tan rã Toán quân thủy bị chặn ở Bạch Đằng, nghe tin thấtbại, bèn tháo chạy về nước.

Dù chiến thắng, Lê Đại Hành vẫn giữ đường lối hòa hoãn, cho thả các tù binh vềnước, đồng thời cho người sang nhà Tống xin triều cống Thấy thế không thắng được

Lê Đại Hành, vua Tống đành chấp thuận, phong cho ông làm Tiết độ sứ

Cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất thắng lợi đã biểu thị ý chí quyếttâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta; chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước

và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại Cồ Việt

Không còn lo lắng việc chống Tống nữa, Lê Đại Hành sửa sang mọi việc trong nước.Ông mở mang kinh đô Hoa Lư, củng cố bộ máy chính quyền trung ương, sắp xếp các đơn

vị hành chính Để khuyến khích hoạt động nông nghiệp, Lê Đại Hành làm lễ cày ruộngTịch điền, mở đầu cho tục lệ này ở đất nước Về đối ngoại, nhà vua tuy thần phục nhà Tống

và chịu lệ cống, nhưng hoàn toàn không lệ thuộc gì cả

Lê Hoàn làm vua được 24 năm, mất năm 1005, thọ 65 tuổi

Sau khi Lê Đại Hành mất, Thái tử Long Việt lên ngôi được ba ngày thì bị LongĐĩnh sai người giết chết Các hoàng tử đánh nhau trong 8 tháng để tranh ngôi Cuốicùng Lê Long Đĩnh diệt được các hoàng tử khác và lên ngôi vua cai trị đất nước

Lê Long Đĩnh là người hoang dâm, không thiết gì việc xây dựng đất nước, chỉ

lo đến việc ăn chơi Do bị bệnh hoạn, mỗi khi thiết triều, Lê Long Đĩnh không thể

ngồi được mà phải nằm, nên sử sách gọi ông ta là Lê Ngọa Triều Lê Long Đĩnh lại

rất tàn ác, đặt ra nhiều hình phạt dã man để mua vui Lê Long Đĩnh ở ngôi 4 năm(1005-1009) thì chết Triều đình đưa người dòng họ khác là Lý Công Uẩn lên ngôivua

B Về kinh tế:

Thời kì này, quyền sở hữu ruộng đất nói chung thuộc về làng xã, theo tập tụcchia nhau cày cấy, nộp thuế, đi lính và làm lao dịch cho nhà vua Việc đào vét kênhmương, khai khẩn đất hoang được chú trọng, nên nông nghiệp ổn định và bước đầuphát triển; nghề trồng dâu tằm cũng được khuyến khích; nhiều năm được mùa

Đã xây dựng một số công trường thủ công: từ thời Đinh đã có những xưởng đúctiền, chế tạo vũ khí, may mũ áo xây cung điện, chùa chiền Các nghề thủ công truyềnthống cũng phát triển như dệt lụa, làm gốm

Nhiều trung tâm buôn bán và chợ làng quê được hình thành Nhân dân hai nướcViệt - Tống thường qua lại trao đổi hàng hóa ở vùng biên giới

Tóm lại, thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, nước ta đã bước đầu xây dựng nền kinh tế tựchủ trong điều kiện đất nước đã độc lập, các triều vua đã có một số biện pháp khuyếnnông như đào vét kênh, vua tổ chức lễ cày Tịch điền; về thủ công nghiệp, các thợ lànhnghề không còn bị bắt đưa sang Trung Quốc nên kinh tế đã có sự phát triển

C Về văn hóa xã hội:

Trang 6

Xã hội chia thành 3 tầng lớp: tầng lớp thống trị gồm vua, quan văn võ (cùng một

số nhà sư); tầng lớp bị trị mà đa số là nông dân tự do, cày ruộng công làng xã; tầng lớpcuối cùng là nô tì (số lượng không nhiều)

Nho học chưa tạo được ảnh hưởng, giáo dục chưa phát triển Đạo Phật đượctruyền bá rộng rãi, chùa chiền được xây dựng khắp nơi, nhà sư được nhân dân quýtrọng Nhiều loại hình văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đua thuyền tồn tại vàphát triển trong thời gian này

II Trình bày ngắn gọn công lao của các vị anh hùng dân tộc: Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn?

Ngô Quyền: Người tổ chức và lãnh đạo quân dân ta làm nên chiến thắng trên

sông Bạch Đằng năm 938 Đó là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta, kết thúc áchthống trị hơn một nghìn năm của phong kiến phương Bắc đối với nước ta, mở ra kỉnguyên độc lập, tự chủ của đất nước

Ngô Quyền xưng vương, đặt nền móng cho một quốc gia độc lập, đã khẳng địnhnước ta có giang sơn, bờ cõi riêng, do người Việt làm chủ và tự quyết định vận mệnhcủa mình

Đinh Bộ Lĩnh: Là người có công lớn trong việc dẹp “Loạn 12 sứ quân” Vì trước

nguy cơ ngoại xâm mới (mưu đồ xâm lược nước ta của nhà Tống) đòi hỏi phải nhanh chóngthống nhất lực lượng để đối phó Đó cũng là nguyện vọng của nhân dân ta thời bấy giờ Đinh

Bộ Lĩnh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó

Việc Đặt tên nước (là Đại Cồ Việt), chọn kinh đô và không dùng niên hiệu củahoàng đế Trung Quốc đã khẳng định đất nước ta là “nước Việt lớn”, nhà Đinh có ý thứcxây dựng nền độc lập, tự chủ

Lê Hoàn: Là người tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống lần

thứ nhất năm 981 giành thắng lợi, có ý nghĩa to lớn

Thắng lợi ấy đã biểu thị ý chí quyết tâm chống giặc ngoại xâm của quân dân ta;chứng tỏ bước phát triển mới của đất nước và khả năng bảo vệ độc lập dân tộc của Đại

Cồ Việt

Trong giai đoạn lịch sử củng cố bảo vệ nền độc lập và buổi đầu xây dựng đất nước,Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn là những vị anh hùng dân tộc, được nhân ta kính trọng,biết ơn, nhiều nơi lập đền thờ

Chủ đề 4 NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI LÝ (thế kỉ XI - đầu thế kỉ XIII)

I Nhà Lý đã đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước như thế nào?

1 Trình bày sơ lược bối cảnh ra đời của nhà Lý, việc dời đô ra Thăng Long và tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý?

Bối cảnh ra đời nhà Lý:

Lý Công Uẩn người làng Cổ Pháp (Tiên Sơn, Hà Bắc) không có cha, mẹ họPhạm Thời niên thiếu của Lý Công Uẩn trải qua trong môi trường Phật giáo Năm lên

Trang 7

ba, Lý Công Uẩn làm con nuôi cho nhà sư Lý Khánh Vân (vì thế ông mang họ Lý).Sau đó ông lại là đệ tử của Sư Vạn Hạnh và ở hẳn trong chùa Lục Tổ (còn gọi là chùa

Cổ Pháp)

Lớn lên, Lý Công Uẩn được giữ một chức nhỏ trong đội cấm quân của vua Lê ĐạiHành Ông nổi tiếng là người liêm khiết và được giới Phật giáo ủng hộ Năm 1005, saukhi Lê Đại Hành mất, các hoàng tử tranh ngôi, Thái tử Long Việt lên ngôi chỉ mới bangày thì bị Lê Long Đĩnh giết Lý Công Uẩn không ngại ngần, ôm xác người vua mới

mà khóc Lê Long Đĩnh lên ngôi, phong Lý Công Uẩn làm Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy

sứ, thống lĩnh toàn thể quân túc vệ

Lê Long Đĩnh chết vào năm 1009 sau một thời gian trị vì tàn bạo Lúc bấy giờgiới Phật giáo với các vị cao tăng danh tiếng như sư Vạn Hạnh đang có uy tín trong xãhội và trong triều đình đang chán ghét nhà Lê, họ cùng quan đại thần là Đào Cam Mộcđưa Lý Công Uẩn lên làm vua

Lý Công Uẩn lên ngôi, lấy hiệu là Lý Thái Tổ, lập nên nhà Lý Nhà Lý truyềnđược tám đời nên sử sách thường gọi là Lý Bát Đế (không kể đời Lý Chiêu Hoàng)

Lý Thái Tổ với việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La (đổi tên là thành Thăng Long):

Sau khi lên làm vua, Lý Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp nên cho dời đô về Đại

La (1010) và đổi tên Đại La thành Thăng Long (Hà Nội) Thăng Long bấy giờ nằm vào

vị trí trung tâm của đất nước, là nơi hội tụ của đường bộ, đường sông Theo quan niệm

của người xưa, Thăng Long có "được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; vị trí ở giữa bốn

phương Đông Tây Nam Bắc; tiện hình thế núi sông sau trước Xem khắp nước Việt ta chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp của bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của

đế vương muôn đời" (Chiếu dời đô).

Tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý:

Năm 1054, nhà Lý đổi tên nước là Đại Việt và tiến hành xây dựng chính quyềnquân chủ bằng cách tổ chức bộ máy nhà nước gồm :

Chính quyền TW: đứng đầu là vua, dưới có quan đại thần và các quan ở hai banvăn, võ

Chính quyền địa phương: cả nước được chia thành 24 lộ, dưới lộ là phủ, dướiphủ là huyện, dưới huyện là hương, xã

Đó là chính quyền quân chủ, nhưng khoảng cách giữa chính quyền với nhân dân,giữa vua với dân chưa phải là đã xa lắm Nhà Lý luôn coi dân là gốc rễ sâu bền

2 Trình bày những nét chính về luật pháp, quân đội và chính sách đối nội, đối ngoại thời Lý:

Trang 8

Quân đội:

Quân đội thời Lý bao gồm có quân bộ và quân thủy Vũ khí có giáo mác, dao,kiếm, cung, nỏ, máy bắn đá Trong quân còn chia làm hai loại: cấm quân và quân địaphương

Quân đội nhà Lý được tổ chức có quy mô Dưới đời Lý Thánh Tông, tổ chức quânđội được chia làm bốn lộ là tả, hữu, tiền, hậu Tất cả gồm có 100 đội, mỗi đội có lính kị

và lính bắn đá Binh pháp nhà Lý rất nổi tiếng, nhà Tống bên Trung Hoa đã từng bắtchước, áp dụng binh pháp này cho quân đội của mình Đến thời Lý Thần Tông có một ítthay đổi trong cơ chế quân đội Quân lính được sáu tháng một lần đổi phiên nhau về làmruộng Nhờ thế, nhân lực cho nền nông nghiệp vẫn được bảo đảm

Chính sách đối nội, đối ngoại:

Về đối nội, nhà Lý coi trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Về đối ngoại, đặt quan hệ ngoại giao bình thường với nhà Tống và Cham-pa Kiênquyết bảo toàn chủ quyền, lãnh thổ

3 Trình bày những chuyển biến về kinh tế, xã hội, văn hóa thời Lý:

Về kinh tế:

Do đất nước đã độc lập, hòa bình và ý thức dân tộc cùng những chính sách quản

lí, điều hành phù hợp của nhà Lý nên kinh tế đã có bước phát triển

Nông nghiệp: Nhà nước có nhiều biện pháp quan tâm sản xuất nông nghiệp (lễ

cày tịch điền, khuyến khích khai hoang, đào kênh mương, đắp đê phòng lụt, cấm giếthại trâu bò ), nhiều năm mùa màng bội thu

Thủ công nghiệp và xây dựng: nghề dệt, làm đồ gốm, xây dựng chùa chiền, cung

điện, nhà cửa rất phát triển Các nghề làm đồ trang sức bằng vàng, bạc; làm giấy, đúc đồng,rèn sắt đều được mở rộng Nhiều công trình nổi tiếng đã được các thợ thủ công dựng nênnhư chuông Quy Điền, tháp Báo Thiên (Hà Nội), vạc Phổ Minh (Nam Định)

Thương nghiệp: việc mua bán trong nước và với nước ngoài được mở mang hơn

trước Cảng Vân Đồn (Quảng Ninh) là nơi giao thương buôn bán với nước ngoài rấtsầm uất

Về văn hóa, giáo dục:

Năm 1070, Văn Miếu được xây dựng ở Thăng Long, năm 1076, mở Quốc tửgiám Nhà nước rất quan tâm giáo dục, khoa cử Văn học chữ Hán bước đầu phát triển.Các vua Lý rất sùng đạo Phật, khắp nơi đều dựng chùa, tô tượng, đúc chuông

Trang 9

Ca hát, nhảy múa, trò chơi dân gian; kiến trúc, điêu khắc đều phát triển với phongcách nghệ thuật đa dạng, độc đáo và linh hoạt; tiêu biểu là chùa Một Cột, tượng Phật A-di-đà, hình rồng thời Lý,

Việc xây dựng Văn Miếu, Quốc tử giám đánh dấu sự ra đời của nền giáo dục ĐạiViệt Những thành tựu về văn hóa - nghệ thuật đã đánh dấu sự ra đời của một nền vănhóa riêng của dân tộc - văn hóa Thăng Long

II Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống (1075 - 1077) dưới thời Lý đã diễn

ra như thế nào?

1 Âm mưu xâm lược Đại Việt của nhà Tống được thể hiện như thế nào?

Từ giữa thế kỉ XI, tình hình nhà Tống gặp phải những khó khăn: nội bộ mâuthuẫn, nông dân nổi lên khởi nghĩa, vùng biên ải phía Bắc Tống bị hai nước Liêu - Hạquấy nhiễu Đối với Đại Việt, nhà Tống quyết định dùng chiến tranh để giải quyết tìnhtrạng khủng hoảng trong nước và đưa nước ta trở lại chế độ đô hộ như trước

Nhà Tống xúi giục Cham-pa đánh lên từ phía Nam, còn ở biên giới phía Bắc củaĐại Việt chúng ngăn cản việc buôn bán, dụ dỗ, mua chuộc các tù trưởng dân tộc làmphản

2 Trước âm mưu xâm lược của nhà Tống, nhà Lý đã chủ động chuẩn bị kháng chiến ra sao?

Nhà Lý đã cử Lý Thường Kiệt làm người chỉ huy, tổ chức cuộc kháng chiến.Quân đội được mộ thêm người và tăng cường canh phòng, luyện tập, làm thất bại âmmưu dụ dỗ của nhà Tống Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt đem quân đánh Cham-pa

Thực hiện chủ trương “tiến công trước để tự vệ”, tháng 10 - 1075, Lý Thường Kiệt

đem 10 vạn quân bất ngờ tấn công vào châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông), sau khitiêu diệt các căn cứ, kho tàng của giặc, quân ta tiếp tục tấn công châu Ung (Quảng tây).Sau 42 ngày chiến đấu, quân ta hạ thành Ung Châu và nhanh chóng rút về nước

Đây là một chủ trương hết sức độc đáo, táo bạo và sáng tạo, trong binh pháp gọi là

“tiên phát chế nhân” (đánh trước để khống chế kẻ thù) Tiến công để tự vệ chứ không

phải là xâm lược Cuộc tiến công diễn ra rất nhanh chỉ nhằm vào các căn cứ quân sự,kho tàng, quân lương mà quân Tống chuẩn bị để tiến hành cuộc xâm lược Sau khi thựchiện mục đích của mình, quân ta nhanh chóng rút về nước

3 Trình bày diễn biến cuộc kháng chiến chống Tống ở giai đoạn 2 (1076 - 1077) của quân dân Đại Việt?

Sau khi rút quân về nước, Lý Thường Kiệt cho xây dựng các tuyến phòng thủ ởcác vị trí hiểm yếu, chiến lược gần biên giới phía Bắc (nơi ta dự đoán quân giặc nhấtđịnh sẽ phải đi qua) Đặc biệt là tuyến phòng thủ chủ yếu trên bờ Nam sông NhưNguyệt

Sông Như Nguyệt là đoạn sông Cầu chảy qua huyện Yên Phong (bờ Bắc là BắcGiang, bờ Nam là Bắc Ninh ngày nay) Đây là đoạn sông có vị trí rất quan trọng, vì nó

án ngữ mọi con đường từ phía Bắc chạy về Thăng Long Phòng tuyến dài gần 100 km,

Trang 10

được đắp bằng đất, cao, vững chắc; bên ngoài còn có mấy lớp giậu tre dày đặc Quânchủ lực của ta do Lý Thường Kiệt chỉ huy trực tiếp đóng giữ phòng tuyến quan trọngnày

Cuối năm 1076, nhà Tống cử một đạo quân lớn theo hai đường thủy, bộ tiến hànhxâm lược Đại Việt

Tháng 1 - 1077, 10 vạn quân bộ do Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ huy vượt biên giới quaLạng Sơn tiến xuống Quân ta chặn đánh, đến trước bờ Bắc sông Như Nguyệt quân Tống

bị quân ta chặn lại Quân thủy của chúng cũng bị chặn đánh ở vùng ven biển nên không thểtiến sâu vào để hỗ trợ cho cánh quân bộ

Quân Tống nhiều lần tấn công vào phòng tuyến sông Như Nguyệt để tiến xuốngphía Nam, nhưng bị quân ta đẩy lùi Quân Tống chán nản, tuyệt vọng, chết dần chết mòn.Cuối năm 1077, quân ta phản công, quân Tống thua to

Quân ta chủ động kết thúc chiến tranh bằng đề nghị “giảng hòa”, quân Tống chấp

nhận ngay và rút về nước Cách kết thúc cuộc kháng chiến của Lý Thường Kiệt rất độcđáo: để đảm bảo mối quan hệ bang giao hòa hiếu giữa hai nước sau chiến tranh, khônglàm tổn thương danh dự của nước lớn, bảo đảm hòa bình lâu dài Đó là truyền thốngnhân đạo của dân tộc ta

III Nhân vật tiêu biểu

Ngoài những ông vua lỗi lạc của nhà Lý như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, LýThánh Tông, Lý Nhân Tông, nước Việt thời Lý còn có những nhân vật nổi tiếng như LêPhụng Hiểu, Lý Đạo Thành, Lê Văn Thịnh đặc biệt có Lý Thường Kiệt, một nhà quân

sự tài ba và Ỷ Lan Nguyên phi, một người phụ nữ đã phát huy được khả năng trong việccai trị đất nước

Ỷ Lan nguyên phi

Ỷ Lan quê ở làng Thổ Lỗi (Thuận Thành, Hà Bắc) Năm 1062, vua Lý ThánhTông đã 40 tuổi mà không có con nên thường đi các nơi để cầu tự Một hôm vua qualàng Thổ Lỗi, trong khi mọi người đổ ra đường xem xa giá thì bà đang hái dâu, chỉ đứngdựa cây lan mà nhìn Vua thấy thế làm lạ, cho gọi đến để hỏi Thấy bà xinh đẹp, đối đápdịu dàng lại thông minh sắc sảo, vua đưa về cung và phong làm Ỷ Lan phu nhân Năm

1066 bà sinh Thái tử Càn Đức và được phong là Nguyên phi

Lúc bấy giờ giữa Đại Việt và Cham-pa đang xảy ra chiến tranh biên giới Vua LýThánh Tông phải thân chinh đi đánh (1069) Vua giao cho bà quyền giám quốc Saunhiều trận không thành công, Lý Thánh Tông rút quân về nước Trên đường về kinh đô,

nghe báo là bà Ỷ Lan thay vua trị nước được yên vui, Thánh Tông nghĩ: "Người đàn bà

trị nước còn được như thế, ta đi đánh Chiêm Thành không thành công, thế ra đàn ông hèn lắm à!” Vua đem quân trở lại và lần này chiến thắng.

Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức mới bảy tuổi lên nối ngôi Bàđược phong làm Thái phi Có tài liệu ghi rằng lúc bấy giờ Thái hậu họ Dương buôngrèm lo việc triều chính Ỷ Lan lên làm Hoàng Thái Hậu (tức Linh Nhân Thái Hậu) giúpvua trị nước Trước họa nhà Tống lăm le xâm lăng Đại Việt, bà đã nghe theo lời Lý

Trang 11

Thường Kiệt cho gọi Lý Đạo Thành trở lại giữ chức Thái phó Bình Chương quân quốctrọng sự để lo việc triều chính Đây là lúc triều đình nhà Lý tổ chức thắng lợi cuộckháng chiến chống quân Tống Lý Thường Kiệt đã đem quân đánh sang tận Ung Châu,Liêm Châu, năm sau chặn đứng quân xâm lăng ở sông Như Nguyệt buộc chúng phải rút

về nước Trong việc trị nước, Thái hậu coi trọng việc phát triển nông nghiệp, bảo vệ trâu

bò dùng làm sức kéo Thương những phụ nữ nghèo khổ phải đem thân thế nợ, khôngthể lập gia đình, bà cho xuất tiền chuộc họ và tìm người gả chồng cho Thái hậu cũngchú ý mở mang đạo Phật Tương truyền bà đã cho xây dựng đến 100 ngôi chùa để mongchuộc lại lỗi đã bức tử Dương Thái Hậu cùng các cung nữ trước kia

Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Thái tử Càn Đức (7 tuổi, con của Ỷ Lan Nguyênphi) lên nối ngôi, tức là Lý Nhân Tông, Thái hậu Thượng Dương cùng Thái sư Lý ĐạoThành là phụ chính nhưng Lý Thường Kiệt giúp Ỷ Lan (đã trở thành Linh Nhân Tháihậu) truất quyền phụ chính của Thái hậu Thượng Dương, giáng Lý Đạo Thành xuốnglàm Tả gián nghị Đại phu và đổi đi trấn nhậm ở Nghệ An Ỷ Lan lên làm Phụ chính còn

Lý Thường Kiệt làm Tể tướng

Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tống đang gặp khó khăn về mọi mặt Tể tướngcủa nhà Tống là Vương An Thạch đưa ra Tân pháp để giải quyết những bế tắc củaTrung Quốc Một trong những biện pháp của Tân pháp Vương An Thạch là phải tạonên uy danh cho nhà Tống bằng cách bành trướng xuống phía Nam, xâm lăng Đại Việt

Do vậy nhà Tống cho tích trữ lương thảo, quân dụng tại các thành Ung Châu (QuảngTây), Khâm Châu và Liêm Châu (Quảng Đông) để chuẩn bị cho cuộc xâm lăng Trước

tình thế đó Lý Thường Kiệt chủ trương như sau: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem

quân ra đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc" Trước hết để củng cố nội bộ, ông đề

nghị cùng Ỷ Lan mời Lý Đạo Thành về lại triều đình giữ chức Thái phó trông coi việctriều chính Trước họa nước, Lý Đạo Thành hợp lực cùng Lý Thường Kiệt tích cựcchuẩn bị việc đối phó

Cuối năm 1075, Lý Thường Kiệt đem 10 vạn quân tiến sang đất Tống đánh vàoKhâm Châu, Liêm Châu và Ung Châu Sau 42 ngày vây hãm, quân Việt chiếm được thànhUng Châu Sau khi phá hủy phần lớn căn cứ hậu cần của quân Tống, tháng 4.1076, Lý

Trang 12

Thường Kiệt cho rút quân về Cuối năm ấy, nhà Tống cử tướng Quách Quỳ đem 30 vạnquân theo hai đường thủy bộ sang xâm lược Đại Việt Lý Thường Kiệt cho lập phòngtuyến kiên cố dọc theo sông Như Nguyệt để chặn địch Đồng thời ông cũng cho quân đónđánh thủy binh địch và đã ngăn được hai cánh quân thủy bộ của địch phối hợp với nhau.Trên phòng tuyến Như Nguyệt, chiến trận diễn ra ác liệt Để cổ vũ quân sĩ, ông làm nên bàithơ và cho người đêm khuya vào đền thờ Trương Hát ở bờ Nam sông Như Nguyệt giả thầnnhân đọc vang lên:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

(Sông núi nước Nam vua Nam ở Rành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời)

Nhờ thế tinh thần quân sĩ thêm hăng hái Sau hơn ba tháng đánh không thắng, lựclượng bộ binh không thể sang sông vì thiếu thủy binh hỗ trợ, quân Tống bị chết mất quánửa lại thêm bệnh tật đe dọa, Quách Quỳ lâm vào thế quẫn bách Lý Thường Kiệt chủđộng đề nghị hòa để mở lối thoát cho quân địch nhằm sớm chấm dứt chiến tranh Đếntháng ba năm 1077 Quách Quỳ rút quân về nước Từ đấy quân Tống từ bỏ ý định xâmlược Đại Việt

Chủ đề 5 NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN (THẾ KỈ XIII - XV) VÀ NHÀ HỒ (ĐẦU

THẾ KỈ XV)

I Nước Đại Việt dưới thời Trần:

1 Trình bày những nguyên nhân làm cho nhà Lý sụp đổ và nhà Trần được thành lập?

Từ cuối thế kỉ XII đầu thế kỉ XIII, nhà Lý suy yếu: vua quan ăn chơi xa hoa, bất lực,không chăm lo đến đời sống nhân dân; kinh tế khủng hoảng, mất mùa làm nhân dân li tán,đói khổ, bất mãn và nổi dậy khởi nghĩa Các thế lực phong kiến ở các địa phương đánh giếtlẫn nhau càng làm cho nhà Lý thêm suy yếu

Lý Huệ Tông không có con trai, chỉ có hai người con gái Công chúa cả Thuận Thiên,

gả cho Trần Liễu, con trưởng của Trần Thừa Người con gái thứ hai là Chiêu Thánh, rất được

Lý Huệ Tông yêu mến và lập làm Thái tử Năm 1224, Lý Huệ Tông nhường ngôi cho ChiêuThánh và vào ở trong chùa Chân Giáo

Dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng lấy con trai thứ của Trần Thừa

là Trần Cảnh làm chồng và sau đó nhường ngôi cho Trần Cảnh, triều Lý chấm dứt, triềuTrần thay thế Một cuộc đảo chính không đổ máu đã thành công

Trang 13

Trong hoàn cảnh đó, nhà Trần thành lập, thay nhà Lý quản lí đất nước là việc làmcần thiết để ổn định tình hình chính trị, xã hội, cải thiện đời sống cho nhân dân, xâydựng và bảo vệ đất nước.

2 Nêu và nhận xét về những điểm mới và khác trong việc xây dựng bộ máy chính quyền, quản lí, điều hành đất nước thời Trần so với thời Lý?

Nhà Trần xây dựng chính quyền mới dựa theo cơ cấu bộ máy nhà nước thời Lý,được tổ chức theo chế độ quân chủ trung ương tập quyền, gồm 3 cấp: triều đình, các đơn

vị hành chính trung gian từ lộ, phủ, huyện, châu và cấp hành chính cơ sở là xã

Tuy nhiên, nhà nước quân chủ trung ương tập quyền được tổ chức hoàn chính vàchặt chẽ hơn thời Lý Đó là:

- Ở triều đình có thêm chức danh Thái thượng hoàng (vua cha) cùng với con caiquản đất nước (trong thời gian đầu khi con mới lên ngôi)

- Bộ máy hành chính ở triều đình và các địa phương được tổ chức quy củ và đầy đủhơn như: có thêm nhiều cơ quan quản lí nhà nước về các mặt như: Quốc sử viện, Thái yviện, Hà sứ, Khuyến nông sứ, Đồn điền sứ ; cả nước được chia lại thành 12 lộ; các quý tộc

họ Trần được phong vương hầu và ban thái ấp

Điều đó chứng tỏ nhà Trần đã quan tâm hơn đến nhiều mặt hoạt động của đấtnước và năng lực quản lí được nâng cao

Bên cạnh đó là việc nhà Trần rất quan tâm đến pháp luật như ban hành bộ luật mới

mang tên “Quốc triều hình luật” (nội dung giống như bộ luật Hình thư thời Lý nhưng

được bổ sung thêm) Luật xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản Đồng thời có những

biện pháp để tăng cường và hoàn thiện cơ quan pháp luật như thành lập Thẩm hình viện,

là cơ quan chuyên việc xét xử kiện cáo

Những việc làm trên đã làm cho pháp luật nhà nước được thực hiện nghiêm minh;góp phần tích cực, có hiệu quả vào việc củng cố vương triều nhà Trần, ổn định xã hội vàphát triển kinh tế

3 Nêu những chủ trương và biện pháp tích cực, tiến bộ của nhà Trần trong việc xây dựng quân đội và củng cố quốc phòng?

Nhà Trần đã có những chủ trương và biện pháp tích cực, tiến bộ trong việc xâydựng quân đội, củng cố quốc phòng:

Quân đội thời Trần, gồm có cấm quân (đạo quân bảo vệ kinh thành, triều đình vànhà vua) và quân ở các lộ; ở làng xã có hương binh; ngoài ra còn có quân của các vươnghầu Bố trí tướng giỏi, quân đông ở những vùng hiểm yếu, nhất là biên giới phía Bắc

Đó là cách tổ chức rất chặt chẽ và chuyên nghiệp với tinh thần chủ động và cảnh giáccao, tạo ra sức mạnh tổng hợp giữa quân chủ lực và quân địa phương trong luyện tập vàphòng thủ

Quân đội được tuyển và huấn luyện theo chính sách “ngụ binh ư nông” (gửi binh trong dân), “quý hồ tinh bất quý hồ đa” (quân lính cốt tinh nhuệ, không cốt đông); coi

trọng học tập binh pháp và huấn luyện võ nghệ Việc binh lính luân phiên tại ngũ và về

Trang 14

làm ruộng, vừa bảo đảm việc huấn luyện đội quân thường trực lại vừa bảo đảm pháttriển kinh tế.

Với chủ trương: lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ngắn đánh dài, xây dựng tình

đoàn kết “tướng sỹ một lòng phụ tử”, đoàn kết quân dân, khoan thư sức dân làm kế sâu

rễ, bền gốc cùng cách tổ chức, huấn luyện nói trên, nhà Trần đã xây dựng được mộtđội quân tinh nhuệ, củng cố vững chắc sức mạnh quốc phòng, phát huy được sức mạnhtổng hợp trong phát triển kinh tế và bảo vệ đất nước

4 Trình bày những nét chính sự phát triển kinh tế, văn hóa thời Trần?

Kinh tế:

+ Nông nghiệp: công cuộc khai khẩn đất hoang, thành lập làng xã được mở rộng,

đê điều được củng cố Các vương hầu, quý tộc chiêu tập dân nghèo đi khai hoang lập

điền trang Nhà Trần ban thái ấp cho quý tộc, đặt chức Hà đê sứ để trông coi việc đắp

đê Nhờ vậy nông nghiệp nhanh chóng phục hồi và phát triển

+ Thủ công nghiệp: do nhà nước trực tiếp quản lí, rất phát triển và mở rộng nhiều

ngành nghề: làm đồ gốm, dệt vải, đúc đồng, rèn sắt, chế tạo vũ khí, đóng thuyền đibiển

+ Thương nghiệp: chợ mọc lên ngày càng nhiều ở các làng xã Ở kinh thành

Thăng Long, bên cạnh Hoàng thành, đã có 61 phường Buôn bán với nước ngoài cũngphát triển, nhất là ở cảng Vân Đồn (Quảng Ninh)

làm rạng rỡ cho nền văn hóa Đại Việt như: Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn, Phú

sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu

Giáo dục và khoa học - kĩ thuật:

+ Quốc tử giám được mở rộng, các lộ, phủ đều có trường học, các kì thi được tổ chứcngày càng nhiều

+ Năm 1272, tác phẩm Đại Việt sử kí của Lê Văn Hưu ra đời Y học có Tuệ Tĩnh là

thầy thuốc nổi tiếng

+ Về khoa học, Hồ Nguyên Trừng và các thợ thủ công chế tạo được súng thần công

và đóng các loại thuyền lớn

Nghệ thuật:

Trang 15

+ Kiến trúc điêu khắc thời Trần không huy hoàng như thời Lý nhưng cũng có

những công trình quan trọng như tháp mộ của vua Trần Nhân Tông trước chùa PhổMinh ở Tức Mặc (Nam Định) xây năm 1310, thành Tây Đô ở Thanh Hóa (1397)

+ Âm nhạc thời Trần có chịu ảnh hưởng của Cham-pa Chiếc trống cơm rất thịnh

hành thời ấy nguyên là nhạc khí của Cham-pa Đó là loại da dán hai đầu bằng cơmnghiền, được dùng để hòa cùng với dàn nhạc trong các dịp lễ Tết

+ Hát chèo đã manh nha từ thời này và tiếp tục phát triển.

II Ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên (thế kỉ XIII).

1 Em biết gì về sức mạnh của quân Mông - Nguyên và âm mưu, quyết tâm xâm lược Đại Việt của chúng?

Đầu thế kỉ XIII, nhà nước phong kiến Mông Cổ được thành lập Với một lựclượng quân sự hùng mạnh và hiếu chiến, quân Mông Cổ đã liên tiếp xâm lược và thốngtrị nhiều nước, gieo rắc nỗi kinh hoàng, sợ hãi khắp châu Á, châu Âu

Năm 1257, Mông Cổ tiến đánh Nam Tống nhằm xâm chiếm toàn bộ TrungQuốc Để đạt được mục đích, chúng quyết định xâm lược Đại Việt rồi đánh thẳng lênphía Nam Trung Quốc

Năm 1279, Nam Tống bị tiêu diệt, Trung Quốc hoàn toàn bị Mông Cổ thống trị(năm 1271, Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên)

Năm 1283, nhà Nguyên cử Toa Đô chỉ huy 10 vạn quân tiến đánh Cham-pa Saukhi chiếm được Cham-pa, quân Nguyên cố thủ ở phía Bắc, chờ phối hợp đánh Đại Việt.Sau hai lần xâm lược Đại Việt thất bại, vua Nguyên ra lệnh đình chỉ cuộc tấn côngNhật Bản, tập trung mọi lực lượng kể cả ý đồ đánh lâu dài, tấn công Đại Việt lần thứ ba

để trả thù Cuối tháng 12 năm 1287, 30 vạn quân thủy, bộ tiến đánh Đại Việt

2 Trước âm mưu và hành động của giặc Mông - Nguyên, nhà Trần đã chuẩn bị kháng chiến như thế nào?

Cuối năm 1257, khi được tin quân Mông Cổ chuẩn bị xâm lược, nhà Trần đã banlệnh cho cả nước sắm sửa vũ khí, các đội dân binh được thành lập, ngày đêm luyện tập.Hốt Tất Liệt cho sứ sang bảo vua Trần phải thần phục Vua Trần Thái Tông chogiam đoàn sứ giả lại rồi sai Trần Hưng Đạo đem quân lên giữ phía Bắc

Nhà Trần đã có chủ trương và đường lối chuẩn bị kháng chiến toàn dân hết sứcđúng đắn, cương quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

3 Trình bày nét chính diễn biến ba lần kháng chiến chống quân Mông Nguyên?

-a Cuộc kháng chiến lần thứ nhất chống quân Mông Cổ (1258).

Không thấy đoàn sứ giả trở về, tháng 1 năm 1258, 3 vạn quân Mông Cổ do NgộtLương Hợp Thai chỉ huy tiến vào xâm lược Đại Việt Quân giặc theo đường sông Thao tiếnxuống Bạch Hạc (Phú Thọ) rồi tiến đến vùng Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phúc) thì bị chặn lại ởphòng tuyến do vua Trần Thái Tông chỉ huy

Để bảo toàn lực lượng, nhà Trần chủ trương cho quân rút khỏi kinh thành Thăng

Long, thực hiện “vườn không nhà trống” Giặc vào kinh thành không một bóng người

Trang 16

và lương thực Chúng đã điên cuồng tàn phá kinh thành Thiếu lương thực, lại bị quân tachống trả, chưa đầy một tháng, lực lượng chúng bị tiêu hao dần.

Nhà Trần mở cuộc phản công lớn ở Đông Bộ Đầu (bến sông Hồng, ở phố HàngThan - Hà Nội ngày nay) Ngày 29 - 01 - 1258, quân Mông Cổ thua trận phải rút chạy

về nước Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông Cổ kết thúc thắng lợi

b Cuộc kháng chiến lần thứ hai chống quân xâm lược Nguyên (1285).

Sau khi biết tin quân Nguyên đánh Cham-pa, vua Trần triệu tập các vương hầu,quan lại họp ở Bình Than (Chí Linh - Hải Dương) để bàn kế đánh giặc Trần Quốc Tuấn

được vua giao cho chỉ huy cuộc kháng chiến Ông soạn Hịch tướng sỹ để động viên tinh

thần chiến đấu

Đầu năm 1285, vua Trần mời các vị bô lão họp Hội nghị Diên Hồng ở ThăngLong để bàn kế đánh giặc Cả nước được lệnh sẵn sàng, quân đội tập trận lớn ở Đông

Bộ Đầu.Tướng sĩ được khích lệ, ai nấy một lòng diệt giặc Họ lấy mực xăm lên tay hai

chữ "sát Thát" để tỏ lòng quyết tâm của mình.

Cuối tháng 1 - 1285, Thoát Hoan chỉ huy 50 vạn quân tiến công Đại Việt Quân ta doTrần Hưng Đạo chỉ huy, sau một số trận chiến đấu ở biên giới đã chủ động rút về Vạn Kiếp

(Chí Linh - Hải Dương) Giặc đến, ta rút về Thăng Long thực hiện “vườn không nhà trống”,

rồi rút về Thiên Trường (Nam Định) Quân Nguyên tuy chiếm được Thăng Long, nhưng chỉdám đóng quân ở phía Bắc sông Nhị (sông Hồng)

Toa Đô từ Cham-pa đánh ra Nghệ An, Thanh Hóa Thoát Hoan mở cuộc tiến công

xuống phía Nam tạo thế “gọng kìm” hi vọng tiêu diệt chủ lực ta và bắt sống vua Trần Quân

ta chiến đấu dũng cảm, Thoát Hoan phải rút quân về Thăng Long Quân Nguyên lâm vàotình thế bị động, thiếu lương thực trầm trọng

Từ tháng 5 - 1285, quân ta bắt đầu phản công, nhiều trận đánh lớn như: Tây Kết,Hàm Tử (Khoái Châu - Hưng Yên), Chương Dương (Thường Tín - Hà Tây) Quân tatiến vào Thăng long, quân Nguyên tháo chạy Sau hơn 2 tháng phản công, quân ta đãđánh tan hơn 50 vạn quân Nguyên, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến lần thứ haichống quân Nguyên

c Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống quân xâm lược Nguyên (1287 - 1288).

Đứng trước nguy cơ bị xâm lược, nhà Trần khẩn trương chuẩn bị, tăng cườngquân ở những nơi hiểm yếu, nhất là vùng biên giới và vùng biển

Cuối tháng 12 - 1287, quân Nguyên tiến vào nước ta Cánh quân bộ do ThoátHoan chỉ huy vượt biên giới đánh vào Lạng Sơn, Bắc Giang rồi kéo về Vạn Kiếp Cánhquân thủy do Ô Mã Nhi chỉ huy theo đường biển tiến vào sông Bạch Đằng rồi về VạnKiếp

Tại Vân Đồn, Trần Khánh dư chỉ huy quân mai phục, khi đoàn thuyền lương củaTrương Văn Hổ đến, quân ta đánh dữ dội Phần lớn thuyền lương của giặc bị đắm, sốcòn lại bị ta chiếm

Cuối tháng 1 - 1288, Thoát Hoan vào thành Thăng Long trống vắng Sau trậnVân Đồn, tình thế quân Nguyên ngày càng khó khăn, nhiều nơi xung yếu bị quân ta

Trang 17

tấn công chiếm lại, lương thực ngày càng cạn kiệt, Thăng Long có nguy cơ bị cô lập.Thoát Hoan quyết định rút quân về Vạn Kiếp và từ đây rút về nước theo hai đườngthủy, bộ.

Nhà Trần mở cuộc phản công ở cả hai mặt trận thủy, bộ Tháng 4 - 1288, đoànthuyền của Ô Mã Nhi đã lọt vào trận địa bãi cọc trên sông Bạch Đằng do ta bố trí từtrước, cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra, Ô Mã Nhi bị bắt sống Trên bộ, Thoát Hoan dẫnquân từ Vạn Kiếp theo hướng Lạng Sơn rút về Trung Quốc, bị quân ta liên tục chặnđánh, Thoát Hoan phải chui vào ống đồng thoát thân

Tuy thắng trận, nhưng trước sức mạnh của quân Nguyên, vua Trần Nhân Tông chongười sang xin giảng hòa Vua Nguyên cũng đành bằng lòng Cuộc kháng chiến lần thứ

ba chống quân Nguyên đã kết thúc thắng lợi vẻ vang

4 Trình bày nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của ba lần kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên dưới thời Trần?

Nguyên nhân thắng lợi:

Tất cả các tầng lớp nhân dân, các thành phần dân tộc đều tham gia đánh giặc, bảo vệquê hương đất nước tạo thành khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó các quý tộc, vương hầunhà Trần là hạt nhân lãnh đạo

Sự chuẩn bị chu đáo về mọi mặt cho mỗi cuộc kháng chiến Đặc biệt, nhà Trần rấtquan tâm chăm lo sức dân, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân bằngnhiều biện pháp để tạo nên sự gắn bó giữa triều đình và nhân dân

Tinh thần hi sinh, quyết chiến quyết thắng của toàn dân mà nòng cốt là quân đội.Chiến lược, chiến thuật đúng đắn, sáng tạo của vương triều Trần, đặc biệt là củavua Trần Nhân Tông, các danh tướng Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Khánh

Dư đã buộc giặc từ thế mạnh chuyển dần sang thế yếu, từ chủ động chuyển sang bị động

để tiêu diệt chúng, giành thắng lợi

III Nhân vật, di tích tiêu biểu thời Trần: (tham khảo)

Nhà Trần đã để lại một dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam với sự nở rộ đáng kể về

số lượng danh nhân Ta có thể phân biệt các danh nhân dưới triều Trần ra làm hai: Danhnhân thuộc họ Trần và danh nhân ngoài dòng họ Trần Trong họ Trần, đó là Trần TháiTông (Trần Cảnh, 1218-1277), Trần Thánh Tông (Trần Hoảng, 1240-1290), Trần NhânTông (Trần Khâm, 1258-1308), Trần Hưng Đạo (12??-1300), Trần Quang Khải (1241-1294), Trần Khánh Dư (?-1285), Trần Thủ Độ (1194-1264), Trần Huyền Trân, TrầnKhát Chân (?-1399), Trần Quốc Toản Những danh nhân ngoài dòng họ Trần có thể kể

Ngày đăng: 13/08/2013, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w