1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chiến lược ngoại thuơng

37 428 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chiến Lược Ngoại Thương
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 452 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chiến lược ngoại thuơng.

Trang 1

I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ:

1 Học thuyết kinh tế của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối:

Adam Smith nhấn mạnh tầm quan trọng của mậu dịch tự do trong sự gia tăng của cải của tất cả các nước tham gia Theo ông, mậu dịch có ích lợi qua lại dựa trên nguyên tắc lợi thế tuyệt đối Quốc gia sẽ chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập khẩu những hàng hóa mà họ không có lợi thế tuyệt đối Hạn chế cơ bản của học thuyết kinh tế của Adam Smith là ở chỗ nó không cho phép giải thích được hiện tượng khi 1 nước có mọi lợi thế tuyệt đối và 1 nước khác không có lợi thế tuyệt đối nào thì chỗ đứng của mỗi nước trong quan

hệ thương mại và phân công lao động quốc tế sẽ diễn ra như thế nào? Ngày nay đối với các nước đang phát triển, việc khai thác lợi thế tuyệt đối vẫn có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là tư liệu sản xuất với chi phí có thể chấp nhận được

2 Học thuyết kinh tế của David Ricardo về lợi thế so sánh:

Ricardo đã chứng minh rằng thậm chí trong trường hợp mà quốc gia không có lợi thế tuyệt đối trong sản xuất bất kì sản phẩm nào thì mậu dịch vẫn mang lại lợi ích cho cả hai phía

“Khi mỗi nước chuyên môn hóa vào sản xuất sản sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh, tổng sản lượng của mỗi sản phẩm trên thế giới sẽ gia tăng với kết quả là tất cả các nước trở nên giàu có hơn.” Cho tới nay, bản chất của quy luật lợi thế so sánh của Ricardo vẫn không thay đổi Tuy nhiên, hạn chế cơ bản của học thuyết Ricardo đó là: các phân tích của ông không tính đến cơ cấu nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước, cho nên trong việc sử dụng mô hình lý thuyết

đó người ta không thể xác định giá tương đối mà các nước sử dụng để trao đổi sản phẩm Các phân tích của ông cũng chưa đề cập đến chi phí vận tải, bảo hiểm hàng hóa và hàng rào bảo hộ mậu dịch ngày càng tinh vi Các yếu tố này ngày càng tăng sẽ làm méo mó thương mại, ảnh hưởng đến hiệu quả của thương mại quốc tế Và lý thuyết của Ricardo không giải thích được nguồn gốc phát sinh lợi nhuận của 1 nước đối với 1 loại sản phẩm nào đó, và vì thế vẫn chưa thể giải thích được triệt để bản chất bên trong của quá trình thương mại quốc tế

3 Lí thuyết Heckscher- Ohlin:

Nhằm khắc phục những hạn chế trong học thuyết Ricardo về thương mại quốc tế, E.Hecksner và B.Ohlin trong tác phẩm “Thương mại liên khu vực và quốc tế” (1933) đã giải thích hiện tượng thương mại quốc tế như sau: “Trong 1 nền kinh tế mở cửa, mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hóa các ngành sản xuất cho phép sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà đối với nước đó là dư thừa tương đối” Lập luận đó thừa nhận rằng, mỗi sản phẩm đòi hỏi 1 sự liên kết khác nhau các yếu tố sản xuất như vốn, lao động, tài nguyên, đất đai…, và vì có sự chênh lệch giữa các nước về yếu tố này, nên mỗi nước sẽ chuyên môn hóa trong những ngành sản xuất cho phép sử dụng các yếu tố sản xuất với chi phí rẻ hơn, chất lượng tốt hơn so với các nước khác Đây chính là cơ sở của sự trao đổi, buôn bán quốc tế theo Heckcher-Ohlin, là lợi thế tương đối-lợi thế so sánh

Trang 2

Công thức biểu thị lợi thế tương đối RCA được xác định như sau:

RCA= (tA/TX):(WA/W)

Trong đó:

- tA: giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm A của nước X ( tính theo giá FOB);

- TX: tổng kim ngạch xuất khẩu của nước X trong 1 năm;

- WA: giá trị kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm A của toàn thế giới;

- W: tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn thế giới trong 1 năm

Nếu RCA < 1, thì sản phẩm không có lợi thế so sánh, xuất khẩu sẽ không có lợi bằng nhập khẩu chính sản phẩm đó cho tiêu dùng trong nước

Nếu 2,5 < RCA < 4,25 là những sản phẩm có lợi thế so sánh cao

Nếu RCA > 4,25 là những sản phẩm có lợi thế so sánh rất cao

Kinh nghiệm phát triển ngoại thương ở trong vùng cho thấy, các nước đều có lợi khi tham gia vào quá trình thương mại quốc tế, ngay cả những nước không có lợi thế tuyệt đối

Tuy nhiên, lý thuyết của Heckcher-Ohlin có những hạn chế nhất định trong việc giải thích mọi hiện tượng thương mại quốc tế, đó là những trường hợp sau :

• Có sự đảo ngược về nhu cầu, sở thích về hàng hóa không đồng nhất giữa các khu vực

• Có tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo (nhà nước tham gia bảo hộ thị trường nội địa, tài trợ cho các nhà sản xuất nội địa để đẩy mạnh xuất khẩu)

• Chi phí về vận tải và bảo hiểm trở nên quá lớn, nhiều khi có thể vượt quá cả chi phí sản xuất

Nghiên cứu các học thuyết về thương mại quốc tế cho phép rút ra 1 số vấn đề sau:

• Quá trình thương mại quốc tế mang tính tất yếu khách quan và kinh tế thế giới là 1 tổng thể thống nhất và sự phân công lao động quốc tế diễn ra 1 cách tự nhiên, tuân thủ quy luật tăng năng suất lao động, hợp lý hóa sản xuất, sử dụng lợi thế của mỗi nước, mỗi chủ thể kinh tế

• Phát triển thương mại quốc tế mang lại lợi ích cho mọi quốc gia, kể cả nước giàu và nước nghèo, nước có nhiều lợi thế tuyệt đối cũng như nước không có lợi thế tuyệt đối

• Cơ sở để phát triển xuất khẩu của mỗi quốc gia là phải dựa vào lợi thế so sánh, lợi thế tương đối của mình và thực hiện nhập khẩu những mặt hàng mà mình không có lợi thế

để phát triển

II/ CÁC CHIẾN LƯỢC NGỌAI THƯƠNG TRÊN THẾ GIỚI :

Trang 3

Hiện nay có 3 chiến lược ngoại thương phổ biến, đó là chiến lược hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu sản phẩm thô và đẩy mạnh xuất khẩu

1 Chiến lược hạn chế nhập khẩu:

Chiến lược hạn chế nhập khẩu là chiến lược thay thế hàng công nghiệp nhập khẩu bằng sản xuất trong nước với sự bảo hộ của nhà nước bằng hàng rào thuế quan cao hoặc bằng hạn nghạch nhập khẩu, nhằm mục đích bảo hộ nền công nghiệp non trẻ trong nước Từ những năm 50, chiến lược được nhiều nước công nghiệp phát triển sớm chấp nhận Do cuộc đại khủng hoảng kinh tế 1929-1933 và do sự gián đoạn thông thương tàu biển trong chiến tranh thế giới thứ 2 với nền công nghiệp non trẻ các nước Achentina ,Brazil, Colombia, Mexico đã

sử dụng hàng rào thuế quan và những trở ngại khác đối với hàng nhập khẩu có sức cạnh tranh lớn từ Mỹ và Châu Âu Những năm 60 các nước Châu Á (ASEAN) ,Ấn Độ ,Châu Phi, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đi theo con đường này và độc lập là động lực chính của họ Nguyên nhân là do: Sau khi giành được độc lập, các nước thuộc địa trước đây có tâm lý muốn tách khỏi hệ thống kinh tế thuộc địa; thứ hai là do sự động viên của thành tựu CNH nhanh chóng từ Liên Bang Nga; thứ ba là các nước đang phát triển theo đuổi chiến lược này vì sẵn có nhu cầu về hàng tiêu dùng và vì tin rằng nó sẽ giúp họ giải quyết khó khăn trong cân đối chi trả Nội dung cơ bản của chiến lược này là đẩy mạnh sự phát triển các nghành công nghiệp khác nhằm sản xuất sản phẩm nội địa thay thế các sản phẩm nhập khẩu Để thực hiện được chiến lược, đòi hỏi những điều kiện nhất định đó là: các nghành công nghiệp trong nước ban đầu có thể còn nhỏ

bé nhưng phải tạo ra được những yếu tố này trước hết là khả năng thu hút vốn và công nghệ của các nhà đầu tư trong và ngoài nước; thị trường tiêu thụ trong nước tương đối rộng rãi, có thể phát huy hiệu quả đối với những nước có dân số tương đối đông, những nước dân số nhỏ

bé sẽ không có thị trường để mở rộng sản rộng sản xuất; điều kiện quan trọng nhất là vai trò của chính phủ; chính phủ cần xây dựng hàng rào thuế quan và hạn nghạch nhập khẩu Cụ thể các bước thực hiện như sau :

- c Trước hết là nhập khẩu , bán thành phẩm và tiếp tục gia công chế biến cho thành sản phẩm hoàn chỉnh hoặc linh kiện rời lắp ráp tạo thành sản phẩm hoàn chỉnh Sau đó khi nhu cầu tăng lên đủ nhiều thì đầu tư sản xuất các sản phẩm này tại chỗ

- n Xác định thị trường rộng lớn trong nước thong qua sản lượng nhập khẩu thực tế hàng năm

- Phải đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài sẳn sang cung ứng vốn khoa học và công nghệ

- h Cuối cùng lập các hàng rào bảo hộ bằng thuế quan hay hạn mức nhập khẩu

2 Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô:

Sản phẩm xuất khẩu thô là những sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm khai khoáng Chiến lược này chủ yếu dựa vào việc sử dụng các tài nguyên sẳn có và điều kiện thuận lợi tại các nước – trường hợp ở các nước đang phát triển trình độ thấp, đặc biệt là các ngành công

Trang 4

nghiệp và khả năng tích lũy vốn của nền kinh tế còn hạn chế Xuất khẩu sản phẩm thô tạo ra

sự phát triển kinh tế theo chiều rộng, tạo sự thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế và tạo nguồn vốn ban đầu cho công nghiệp hoá Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm thô gặp các trở ngại về giá do cung cầu biến động và sự bùng nổ của khoa học công nghệ Đặc biệt, các nước xuất khẩu sản phẩm thô dễ mắc căn bệnh Hà Lan (Dutch Disease) Năm 1960 Hà Lan khám phá ra nguồn tài nguyên khí đốt có trữ lượng lớn và đã đẩy mạnh xuất khẩu, cán cân thanh toán thặng dư lớn Tuy nhiên trong suốt những năm 70, lạm phát tăng cao, xuất khẩu sản phẩm công nghiệp giảm, tăng trưởng thu nhập bị giảm sút, thất nghiệp gia tăng Tương tự, cũng bùng nổ xuất khẩu dầu trong các nước như Ả Rập Saudi, Nigeria, Mexico Tại sao bùng nổ xuất khẩu lại dẫn đến những hậu quả xấu đó? Trước hết bùng nổ xuất khẩu ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực của một nước và đến lượt nó, tỷ giá hối đoái thực ảnh hưởng đến các ngành khác

Chỉ số tỷ giá thực :

RER = E0Pt/Pn

Với:

E0 : Chỉ số tỷ giá hối đoái danh nghĩa

Pt : Chỉ số giá của hàng hóa có thể trao tính theo ngoại tệ

Pn:Chỉ số giá nội địa của hàng không thể trao đổi

Vì Pt tính bằng ngoại tệ sau khi nhân với chỉ số tỷ giá của hàng hóa có thể trao đổi tính bằng tiền địa phương Do đó RER có thể xem như tỷ số giá của hàng hóa có thể trao đổi so với giá của hàng hóa không thể trao đổi, tất cả đều tính bằng tiền trong nước Khi RER tăng do E0

tăng (giá của hàng hóa có thể trao đổi tính bằng USD trên thị trường thế giới) hay do giá của hàng hóa không thể trao đổi giảm, lúc đó giá tương đối của hàng hóa có thể trao trong thị trường nội địa sẽ tăng Điều này sẽ kích thích sản xuất hàng hóa có thể trao đổi Nói cách khác, khi RER tăng, đồng nội tệ sẽ giảm giá thực sự Khi giá USD/VND tăng hoặc giá hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường thế giới tăng hoặc khi giá của hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường thế giới tăng tỷ giá thực RER sẽ tăng Ngược lại giá của hàng hóa không thể trao đổi tăng thì RER tăng Do thu nhập tăng làm gia tăng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ , lúc đó giá hàng hóa nhập khẩu không bị ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu của một nước riêng lẻ tăng nghưng giá hàng hóa và dịch vụ không thể trao đổi trong nước Pn tăng, điều này làm RER giảm

Như vậy, bùng nổ xuất khẩu dầu thô sẽ tác động tăng nhanh tổng kim nghạch xuất khẩu và RER giảm Tuy nhiên hệ quả hệ quả chủ yếu của RER giảm chính là giá đồng nội tệ tăng, lạm phát và tăng cao chí phí sản xuất những mặt hàng truyền thống (nông sản) tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Do đó, những mặt hàng này sẽ bị thu hẹp sản xuất do thiếu cạnh tranh và ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

3 Chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, hướng ra thị trường thế giới (hướng ngoại):

Trang 5

Những nước nghèo tài nguyên, thị trường trong nước tương đối nhỏ, thì các chiến lược công nghiệp hóa dựa vào xuất khẩu sản phẩm thô hoặc thay thế nhập khẩu ít có hy vọng mang lại sự phát triển vững chắc Vào những năm 70 các nước ở Châu Á như Đài Loan, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Singapore theo đuổi chiến lược sản xuất những sản phẩm xuất khẩu, sử dụng tối đa những yếu tố đầu vào có sẳn trong nước nhằm khai thác lợi thế so sánh Việc theo đuổi chiến lược đó được đánh giá là đã tạo ra động lực phát triển cho những nước này Chiến lược này tạo ra nguồn ngoại tệ cho quốc gia, góp phần mở rộng quy mô ngành sản xuất trong nước, tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập, phát huy lợi thế so sánh Đẩy mạnh chiến lược này chính phủ các nước có các chính sách về tỷ giá hối đoái, trợ giá, cải cách mậu dịch và các chính sách khác.

Như vậy, thông qua ngoại thương sẽ làm phát huy lợi thế của một quốc gia trên thị trường thế giới và bù đắp những mặt còn yếu kém mà trong nước chưa tự khắc phục được Ngoại thương còn ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, thu nhập quốc gia, tích lũy vốn cho công nghiệp, tiêu dùng, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và quan hệ kinh tế - chính trị với phần còn lại của thế giới Do đó, phát triển ngoại thương cũng được đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế chung

III/ CHIẾN LƯỢC NGOẠI THƯƠNG CỦA VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ- CHIẾN LƯỢC HƯỚNG VỀ XUẤT KHẨU:

1 Các lợi thế để phát triển kinh tế xuất nhập khẩu Việt Nam

Xác định chiến lược phát triển ngoại thương với các nước khác phải dựa vào lợi thế so sánh tương đối và tuyệt đối của một quốc gia Như vậy Việt Nam cần xác định những lợi thế

so sánh của mình từ đó vạch ra phương hướng cho ngoại thương đẩy mạnh xuất nhập khẩu Những lợi thế của chúng ta đó là:

a Về vị trí địa lý:

Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á_ vùng đang có tốc độ phát triển kinh tế cao nhất thế giới( tb> 7%), nằm trong tuyến đường giao thương hàng hải quốc tế giữa Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc sang các nước Đông Nam Á, Trung Đông, Châu Phi, trên trục đường bộ và đường sắt từ châu Âu sang Trung Quốc qua Campuchia, Thái lan, Pakixtan,

Ấn Độ… Với đường bờ biển dài, có nhiều cảng nước sâu, tàu bè nước ngoài có thể cập bến an toàn quanh năm

Nằm Về vận tải hàng không, nước ta có nhiều sân bay đặc biệt là sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị trí lý tưởng, cách đều các thủ đô, các thành phố quan trọng trong vùng (Băng Cốc, Giacacta, Manila, Singapore…)

Với vị trí như vậy, cho phép chúng ta mở rộng giao thương thu hút vốn đầu tư để đẩy mạnh xuất nhập khẩu

b Về tài nguyên thiên nhiên:

Trang 6

So với các nước khác thì nước ta có nguồn tài nguyên dồi dào, phong phú, đa dạng.

- Về đất đai: Diện tích đất đai cả nước khoảng 330.363 km2 trong đó hơn 50% dùng vào nông nghiệp và ngư nghiệp Mặt khác, khí hậu nhiệt đới, mưa nắng điều hòa cho phép chúng ta phát triển nông sản, lâm sản xuất khẩu có hiệu quả cao như gạo, cao su, cà phê, tiêu, điều…

- Do có đường bờ biển dài3260 km, trên mặt đất có 2860 sông ngòi, diện tích 653.566 ha, 39400ha hồ, 56000ha ao…tạo điều kiện để phát triển thủy sản, xuất khẩu và phát triển thủy lợi, vận tải biển…

- Về khoáng sản: Tài nguyên dầu khí Việt Nam có triển vọng nhất, với sự góp mặt của nhà máy lọc dầu Dung Quất, trong tương lai đây là ngành công nghiệp có tính bước ngoặc cho Kinh tế Việt Nam nói chung và Xuất khẩu Việt Nam nói riêng Than đá với trữ lương hơn 3.6

tỷ tấn, than bùn ở Đồng bằng sông Cửu Long hơn 500 tr tấn, than nâu ở Dồng Bằng sông Hồng hơn 128 tỷ tấn Về khoáng sản kim loại: mỏ sắt vài trăm triệu tấn( Thái Nguyên, Cao bằng, Hà Tĩnh…), quặng Bô xít ở Tây Nguyên 6 tỷ tấn Đây là nguồn khoáng sản hấp dẫn để xuất khẩu và phát triển các ngành công nghiệp khai khoáng

c Nguồn lao động:

Dân số Việt Nam hiện nay hơn 85 tr người, hơn nửa trong số đó là trong độ tuổi lao động và dự báo còn tiếp tục tăng Tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta còn cao, giá nhân công ở Việt nam còn rẻ, trình độ tay nghề của lao động Việt Nam dần được cải thiện, đây là lợi thế cơ bản của Việt Nam để ngoại thương phát triển thông qua ưu thế của các ngành chiếm dụng lao động cao như các ngành dệt may, chế biến nông lâm thủy sản…

d Hoạt động ngoại giao sôi nổi trong những năm qua tạo điều kiện cho quan hệ hợp

tác với các nước thế hiện trong những cuộc đàm phán, chuyến thăm ngoại giao hợp tác song phương, đa phương…có hiệu quả

Hệ thống giao thông cơ bản đáp ứng nhu cầu giao thương từ miền ngược lên miền xuôi,

từ Nam chí Bắc, từ nông thôn ra thành thị, trong đó, tuyến đường bộ và đường sắt Bắc Nam đóng vai trò quan trọng

Với cơ sở vật chất kinh tế tuy chưa thực sự đáp ứng nhu cầu nhưng đã cơ bản phục vụ cho hoạt đông kinh tế nước nhà cũng như phát triển kinh tế đối ngoại

f Về đầu tư nước ngoài.

Việt Nam đang thu hút một lượng vốn FDI và ODA lớn, đặc biệt là từ Nhật và các nước phát triển khác Do đó, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn này là điều kiện cần thiết để chúng ta phát triển đất nước

Trang 7

- Về cơ sở vật chất đang bộc lộ nhưng mặt hạn chế cần phải có chiến lược tu sửa và thay mới.

- Trình độ quản lý còn yếu kém, khả năng sử dụng vốn thấp

Cho dù vậy, so với các hạn chế có thể khắc phục và giảm thiểu thì các lợi thế của Việt Nam đang chiếm ưu thế tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển nếu chúng ta biết tận dụng nó.

2 Nội dung chiến lược hướng về xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2001- 2010:

Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, chiến lược ngoại thương hiện tại của Việt Nam được xây dựng trên cơ sở thực hiện các mục tiêu kinh tế- xã hội mà chính phủ đề ra cho giai đoạn 2001- 2010, và trên cơ sở các cam kết hội nhập của Việt Nam với các nước và tổ chức Dưới đây là nội dung của chiến lược ngoại thương của nước ta cho 2 thời kỳ: 2001- 2010 và 2006- 2010

2.1 Chiến lược phát triển xuất- nhập khẩu thời kỳ 2001- 2010 của Bộ thương mại công bố ngày 16/9/2000:

Theo chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27/10/2000 của Thủ tướng chính phủ về Chiến lược phát triển xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001-2010 thì:

“1 Chiến lược phát triển xuất - nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010, nhất là xuất khẩu, phải là Chiến lược tăng tốc toàn diện trên nhiều lĩnh vực, phải có những khâu đột phá với bước đi vững chắc Mục tiêu hành động của thời kỳ này là tiếp tục chủ trương dành ưu tiên cao nhất cho xuất khẩu; tạo nguồn hàng có chất lượng, có giá trị gia tăng

và sức cạnh tranh cao để xuất khẩu; góp phần giải quyết việc làm cho xã hội, tạo nguồn dự trữ ngoại tệ, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển kinh tế giữa nước ta và các nước trong khu vực

2 Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001 - 2010 phải đạt mức tăng trưởng bình quân từ 15%/năm trở lên và phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

Trang 8

a) Cơ cấu xuất khẩu phải được chuyển dịch mạnh theo hướng gia tăng các sản phẩm chế biến, chế tạo, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao; bên cạnh

đó, phải quan tâm khai thác các mặt hàng chủ yếu sử dụng nguyên, vật liệu tại chỗ, sử dụng nhiều lao động mà thị trường trong, cũng như ngoài nước có nhu cầu; đồng thời, phải khai thác mọi nguồn hàng có khả năng xuất khẩu; phấn đấu cân bằng cán cân thương mại vào những năm 2009 - 2010 và xuất siêu vào thời kỳ sau năm 2010

b) Chú trọng nâng cao giá trị gia công và chất lượng từng sản phẩm xuất khẩu; giảm xuất khẩu hàng chế biến thô, tăng tỷ trọng hàng chế biến sâu bằng công nghệ mới; giảm gia công, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nguyên, vật liệu chất lượng cao trong nước với công nghệ mới; cải thiện hệ thống hạ tầng cơ sở nuôi, trồng, sử dụng các loại giống cây, con có sản lượng, chất lượng cao và công nghệ chế biến thích hợp đi đôi với các biện pháp bảo

vệ môi trường; phải có quy hoạch vùng nguyên liệu cho từng nhóm sản phẩm; quy trình quản

lý sản xuất phải được tổ chức lại một cách khoa học và tiết kiệm nhất; từng bước xây dựng tiêu chuẩn chất lượng quốc gia cho các loại hàng hóa xuất khẩu với nhãn hiệu ''sản xuất tại Việt Nam''

c) Sản phẩm xuất khẩu phải đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của thị trường thế giới, đặc biệt là yêu cầu về chất lượng, mẫu mã hàng hoá Mỗi loại hàng hóa phải hình thành được các thị trường chính, chủ lực và tập trung khả năng mở rộng các thị trường này, đồng thời chủ động mở rộng sang các thị trường khác theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá quan

hệ buôn bán; phải có đối sách cụ thể với từng thị trường và từng bước giảm dần việc xuất khẩu qua các thị trường trung gian Định hướng chung là tận dụng mọi khả năng để duy trì tỷ trọng xuất khẩu hợp lý vào các thị trường đã có ở châu Á, đặc biệt là thị trường Nhật, đẩy mạnh hơn nữa xuất khẩu trực tiếp vào các thị trường có sức mua lớn như Mỹ, Tây Âu, thâm nhập, tăng dần tỷ trọng xuất khẩu vào các thị trường Đông Âu, Nga, SNG và khu vực châu Mỹ, châu Phi

Công tác thị trường, xúc tiến thương mại có ý nghĩa rất quan trọng, phải được triển khai mạnh mẽ nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho xuất khẩu Các chương trình xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường cần được cụ thể hóa và gắn với hoạt động đối ngoại, tranh thủ ngoại giao hỗ trợ việc ký kết các Hiệp định khung, các Thỏa thuận và các Hợp đồng dài hạn có giá trị lớn với các quốc gia, các Tổ chức quốc tế, các thị trường lớn để tạo đầu ra ổn định và từ

đó có cơ sở cho đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao giá trị nội địa hóa, giá trị gia tăng hàng xuất khẩu

3 Nhập khẩu phải được định hướng chặt chẽ; tăng trưởng bình quân nhập khẩu cả thời

kỳ 2001 - 2010 được duy trì ở mức 14%/năm; chú trọng nhập khẩu công nghệ cao để đáp ứng yêu cầu của các ngành chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản và sản xuất hàng công nghiệp nhẹ; đồng thời, phải gắn với việc phát triển, sử dụng các công nghệ, giống cây con và vật liệu mới được sản xuất trong nước

Trang 9

Hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm trong nước đã sản xuất được và sản xuất có chất lượng, đạt tiêu chuẩn quốc gia, quốc tế; tăng cường tiếp cận các thị trường cung ứng công nghệ nguồn và có khả năng đầu tư hiệu quả như Tây Âu, Mỹ, Nhật Bản.

Các chính sách, cơ chế điều hành nhập khẩu trong giai đoạn này phải được xem xét phù hợp với tiến trình thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế của Chính phủ ta với các Tổ chức quốc tế, khu vực và các cam kết đa phương, song phương khác

4 Hiện nay, vai trò và khả năng của các ngành dịch vụ xuất khẩu, dịch vụ thu ngoại tệ chưa được đánh giá đầy đủ; phải coi đây là tiềm năng xuất khẩu cần được đẩy mạnh trong giai đoạn 2001 - 2010, trong đó chú trọng các lĩnh vực du lịch, xuất khẩu lao động, bưu chính - viễn thông, dịch vụ tài chính - ngân hàng - bảo hiểm, dịch vụ vận chuyển hàng hoá đường không, đường biển, đường sắt ; hướng phát triển của các lĩnh vực này cần được thể hiện thành các chương trình cụ thể, trong đó cần quan tâm đầu tư để phát triển du lịch và đưa du lịch nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.”

Với những mục tiêu đã được đề ra như trên, sau 5 năm thực hiện (2001- 2005), chiến lược này đã đạt được một số thành tựu nhất định, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số hạn chế Bước sang giai đoạn mới 2006- 2010, trước những thuận lợi và khó khăn do tác động của nền kinh tế thế giới và bản thân nền kinh tế nội địa mang lại, Bộ Thương mại và Chính Phủ đã đề

ra Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010 để tiếp tục thúc đẩy chiến lược xuất khẩu

đã được thực hiện trong 5 năm qua

2.2 Chiến lược phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010:

2.2.1 Những nhân tố tác động đến khả năng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2006- 2010:

a) Những tác động từ môi trường quốc tế:

Trong giai đoạn này, nền kinh tế thế giới đang diễn ra quá trình toàn cầu hoá mạnh mẽ, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng cùng với sự phát triển “thần kì” của khu vực châu Á- Thái Bình Dương, đặc biệt là khu vực Đông Á với 3 nước- Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc Nằm trong khu vực năng động này, ngoại thương Việt Nam sẽ đạt được nhiều hiệu quả tích cực cùng với sự tranh thủ đầu tư từ các nước, sự mở rộng thị trường xuất khẩu và sự phát triển của khoa học công nghệ sẽ giúp cho Việt Nam gia nhập vào thị trường thế giới tốt hơn Đặc biệt sự gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ là một động lực mạnh mẽ để Việt Nam ngày càng phát triển hơn nữa ngoại thương của mình Tuy nhiên, dưới sự tác động của hội nhập kinh tế sâu rộng, cạnh tranh ngày càng gay gắt, ngày càng xuất hiện nhiều rào cản thương mại sẽ là một trở ngại đối với hàng xuất khẩu của các nước có tính cạnh tranh chưa cao như Việt Nam Thêm vào đó những bất ổn về chính trị, an ninh, xã hội sẽ gây không ít ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình xuất khẩu của nước ta, mà điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đang diễn ra hiện nay

b) Những tác động từ nội tại nền kinh tế:

Trang 10

So với những thời kì trước thì nước ta đang ngày càng thu hút và huy động được nhiều vốn đầu tư, năng lực sản xuất chung của nền kinh tế đang ngày càng gia tăng, thêm vào đó hình ảnh của quốc gia với nền dân chủ ổn định ngày càng được củng cố trên trường quốc tế cả

về chính trị lẫn thương mại Nhiều ngành trong nước đang phát triển với những tiềm năng to lớn như nông, lâm, thuỷ sản, các nhóm ngành công nghiệp, chế biến,… và dần trở thành các mặt hàng chủ lực trong xuất khẩu của ta Bên cạnh đó thì ở nước ta vẫn đang tồn tại những hạn chế, bất cập trong quản lí và sử dụng vốn đầu tư làm cho hiệu quả đầu tư thấp, cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngành, sự độc quyền của các tập đoàn kinh tế nhà nước, trình độ tay nghề của công nhân vẫn chưa được nâng cao, sự lãng phí, yêu sách từ các bộ phận hải quan, xuất nhập khẩu, cơ sở hạ tầng phục vụ xuất nhập khẩu chưa tốt, và năng lực cạnh tranh của quốc gia liên tục sụt giảm trong những năm qua,… là những minh chứng không tốt cho việc thiếu tầm nhìn chiến lược trong xây dựng các đồ án thúc đẩy, phát triển các chiến lược xuất khẩu của nước ta

2.2.2 Mục tiêu tổng quát của chiến lược xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010:

“Mục tiêu tổng quát của hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2006-2010 là phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, trước hết là cơ cấu kinh tế và

cơ cấu lao động trong nông nghiệp, nông thôn Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng

có lợi thế cạnh tranh, đồng thời tích cực phát triển các mặt hàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng nâng cao hiệu quả xuất khẩu Chuyển dịch

cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến, chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng xuất khẩu thô

- Tiến tới cân bằng xuất khẩu - nhập khẩu vào những năm đầu sau năm 2010

Để đạt được những mục tiêu trên, các quan điểm chủ đạo về phát triển xuất khẩu trong

Trang 11

giai đoạn 2006-2010 cần được quán triệt thực hiện là:

(1) Tiếp tục kiên trì chủ trương dành ưu tiên cao cho xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất

khẩu nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP, phát triển sản xuất, thu hút lao động

(2) Gắn kết thị trường trong nước với thị trường ngoài nước; vừa chú trọng thị trường

trong nước, vừa quan tâm mở rộng thị trường xuất khẩu

(3) Giữ vững các thị trường lớn, trọng điểm đồng thời đa dạng hóa hơn nữa thị trường

xuất khẩu để tránh lệ thuộc, rủi ro trong xuất khẩu

(4) Gắn thị trường xuất khẩu với thị trường nhập khẩu, thông qua đó giảm nhập siêu ở

các thị trường hiện có mức nhập siêu lớn nhằm giảm nhập siêu của cả nước; xây dựng và thực

hiện lộ trình giảm nhập siêu trong giai đoạn 2006 - 2010

(5) Khuyến khích, tạo điều kiện và khai thác tối đa tiềm năng của mọi thành phần kinh tế

trong hoạt động xuất - nhập khẩu nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp.”

2.2.3 Các chỉ tiêu phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010:

2.2.3.1 HÀNG HÓA

a) Quy mô và tốc độ tăng trưởng

“Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2006 đạt mức 18,5% và tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trung bình cả giai đoạn 2006-2010 đạt mức 17,5%/năm

Đơn vị: triệu USD, %

Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Giai đoạn 2006-2010

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010

Những chỉ tiêu trên thể hiện rõ quan điểm “Coi việc tập trung đầu tư vào nhóm hàng công nghiệp để mở rộng sản xuất, khai thác thêm những mặt hàng mới, thị trường mới và đổi mới công nghệ chế biến, nâng cao giá trị gia tăng của nhóm hàng nông sản là hai khâu trọng tâm để đẩy mạnh tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 2006-2010 Qua đó, ta thấy tốc

độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng nguyên nhiên liệu, khoáng sản có xu hướng giảm dần; tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng nông, lâm, thủy sản thì tăng nhẹ; còn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp và thủ công mĩ nghệ thì tăng mạnh do có

sự đổi mới công nghệ và phát triển thị trường mới, sản phẩm mới

b) Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu

Trang 12

“Với mục tiêu “chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô Theo đó, tỷ trọng của các nhóm hàng nông

- lâm - thuỷ sản và nhiên liệu - khoáng sản sẽ có xu hướng giảm dần và nhóm hàng công

nghiệp và thủ công mỹ nghệ sẽ có xu hướng tăng dần”, Đề án xây dựng cơ cấu cụ thể cho từng

nhóm hàng xuất khẩu như sau:

Nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản giảm dần tỷ trọng trong cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam từ 19,1% năm 2006 xuống còn 13,7% năm 2010 Nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản với hai mặt hàng chủ yếu là dầu thô và than đá giảm mạnh từ 21,0% năm 2006 xuống còn 9,6% năm 2010 Riêng nhóm hàng công nghiệp và thủ công mỹ nghệ tăng khá mạnh từ 45,9% năm 2006 lên 54,1% năm 2010.”

Đơn vị: triệu USD, %

Tỷ trọng KN

Tỷ trọng KN

Tỷ trọng KN

Tỷ trọng

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010

Cụ thể hơn, ta có các chỉ tiêu cho từng nhóm ngành như sau:

Nhóm hàng nguyên, nhiên liệu, khoáng sản:

Đơn vị: triệu USD, %

Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Giai đoạn 2006-2010

KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng

Trang 13

Đơn vị: triệu USD, %

Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Giai đoạn 2006-2010

KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng

Nhóm hàng sản phẩm công nghiệp và thủ công mỹ nghệ:

Đơn vị: triệu USD, %

Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Giai đoạn 2006-2010

KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng

Trang 14

Nội dung Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

Giai đoạn 2006-2010

KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng KN Tăng

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010

c) Thị trường xuất khẩu

Dự kiến, khu vực thị trường châu Á giảm dần tỷ trọng từ 48,7% năm 2006 xuống 45,5% năm 2010 song vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam Xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Âu tăng nhẹ tỷ trọng từ 18,2% năm 2006 lên 22% vào năm

2010 Xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Mỹ tăng dần tỷ trọng từ 21,5% năm 2006 lên 24% vào năm 2010 Tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Phi tăng khá từ 2,2% năm 2006 lên 2,8% năm 2010 Khu vực thị trường châu Đại Dương có tỷ trọng giảm không đáng kể từ 7,8% năm 2006 xuống 7,7% năm 2010

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006-2010

Qua đó cho thấy, Mĩ và Nhật Bản, Trung Quốc là 3 thị trường quan trọng nhất, do đó cần phải có chiến lược phát triển và xuất khẩu các mặt hàng quan trọng và thích hợp sang các thị trường này, và đặc biệt là phải quan tâm đến tiêu chuẩn và chất lượng sản phẩm “Đối với thị trường Nhật Bản cần chú trọng vào các mặt hàng xuất khẩu gồm: thuỷ sản, dệt may, dây điện

và cáp điện, điện tử và linh kiện, sản phẩm gỗ, giày dép, hàng thủ công mỹ nghệ và một số mặt hàng nông sản như cà phê, rau quả, cao su.” “Cơ cấu nhập khẩu hàng Việt Nam của Trung Quốc khá đa dạng song vẫn tập trung vào một số nhóm hàng chủ yếu là cao su, thuỷ sản, hạt

Trang 15

điều, rau quả và các loại khoáng sản thô.” “Hoa Kỳ vẫn là một trong những thị trường quan trọng nhất của Việt Nam xét tại thời điểm hiện nay lẫn tiềm năng trong tương lai, cần tích cực khai thác để có thể mở rộng qui mô xuất khẩu, đặc biệt là đối với một số mặt hàng như dệt may, giày dép, thuỷ sản, đồ gỗ, máy móc thiết bị điện, điện tử, hạt điều, cao su, đồ gốm sứ và

đồ mũ nón, vali, túi xách.”

2.2.3.2 DỊCH VỤ

a) Qui mô, tốc độ tăng trưởng:

Phấn đấu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của khu vực dịch vụ (bao gồm cả xuất khẩu lao động) trong giai đoạn 2006-2010 đạt tốc độ bình quân 16,3%/năm và kim ngạch đạt 12 tỷ USD vào năm 2010 Trong đó, dự kiến một số lĩnh vực có tốc độ tăng khá là bảo hiểm tăng 29,3%/năm, bưu chính viễn thông tăng 24,5%/năm, tài chính tăng 22,4%/năm, vận tải biển tăng 21,5%/năm

Dự kiến đến năm 2010, xuất khẩu của một số lĩnh vực dịch vụ có mức kim ngạch cao là

du lịch đạt khoảng 3,2 tỷ USD, xuất khẩu lao động đạt 3 tỷ USD, dịch vụ vận tải biển đạt 1,1

tỷ USD, dịch vụ vận tải hàng không đạt 950 triệu USD Ngoài ra, một số dịch vụ khác như tài chính, bưu chính viễn thông, bảo hiểm có kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010 đạt mức tương ứng là 550 triệu USD, 530 triệu USD và 470 triệu USD

Đơn vị: triệu USD,%

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010

b) Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu:

Trong cơ cấu xuất khẩu của khu vực các ngành dịch vụ có xu hướng gia tăng tỷ trọng chủ yếu gồm có vận tải biển, bưu chính viễn thông, tài chính và bảo hiểm Trong đó, dịch vụ vận tải biển dự kiến có tỷ trọng tăng khá mạnh từ 7,9% năm 2006 lên 9,2% năm 2010; dịch vụ bưu chính viễn thông tăng từ 3,4% năm 2006 lên 4,4% năm 2010, dịch vụ tài chính dự kiến tăng nhẹ từ 3,8% năm 2006 lên 4,6%/năm 2010; dịch vụ bảo hiểm tăng từ 2,6% năm 2006 lên 3,6% năm 2010

Các ngành dịch vụ vận tải hàng không, du lịch và xuất khẩu lao động sẽ có tỷ trọng giảm dần Trong đó, dịch vụ vận tải hàng không sẽ giảm từ khoảng 8,6% năm 2006 xuống 7,9% năm 2010; dịch vụ du lịch giảm từ 33,8% năm 2006 xuống 26,7% năm 2010; xuất khẩu lao

Trang 16

động giảm nhẹ từ 26,2% năm 2006 xuống 25% vào năm 2010.

Đơn vị: triệu USD,%

Dịch vụ Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010

KN Tỷ trọng KN Tỷ trọng Tổng xuất khẩu 6.372 100 7.386 100 8.579 100 9.986 100 12.000 100

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010

IV/ NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 2001 ĐẾN NAY:

Trong những năm vừa qua đã xảy ra nhiều biến động lớn về kinh tế, chính trị và xã hội trên quy mô toàn thế giới Vượt qua nhiều khó khăn và thách thức, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và thực sự là động lực phát triển của nền kinh tế Trong giai đoạn này, hội nhập kinh tế quốc tế và kinh tế đối ngoại có bước tiến rất quan trọng Quan hệ quốc tế được mở rộng, các cam kết quốc tế được triển khai thực hiện tốt; đồng thời đã tiến hành kí kết nhiều hiệp định đa phương, song phương, tạo bước phát triển mới về kinh tế đối ngoại Thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 17,5%/ năm ( tính đến năm 2005), vượt kế hoạch đề ra

Trong 02 năm đầu của giai đoạn 2001-2005, thị trường thế giới đã có nhiều diễn biến không thuận Kinh tế Hoa Kỳ và Nhật Bản có dấu hiệu tăng trưởng chậm lại, ảnh hưởng tới sức mua đối với một số sản phẩm công nghiệp như linh kiện máy tính, dệt may, giày dép, hàng điện tử Sự kiện 11/09 đã làm trầm trọng thêm những khó khăn vốn có của nền kinh tế - thương mại thế giới, tác động tiêu cực đối với hoạt động xuất khẩu của nhiều nước trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam Thêm vào đó, việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã khiến cho hoạt động cạnh tranh trên thị trường thế giới trở nên ngày càng khốc liệt, đặc biệt đối với những nước có cơ cấu hàng xuất khẩu tương tự như Trung Quốc Kết quả

là, mặc dù chúng ta đã áp dụng khá nhiều giải pháp khuyến khích xuất khẩu nhưng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 15 tỷ USD vào năm 2001 (tăng 4% so với năm 2002) và 16,7 tỷ USD vào năm 2002 (tăng 11% so với năm 2001)

Bước sang năm 2003, tình hình kinh tế thế giới cũng không sáng sủa hơn do tác động của cuộc chiến tại Irắc và đại dịch SARS Trước bối cảnh đó, nhờ tranh thủ tình hình dầu thô

Trang 17

lên giá cộng với việc tích cực đẩy mạnh thâm nhập thị trường Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt mức 20,17 tỷ (tăng 20,7 % so với năm 2002).

Trong 02 năm cuối của giai đoạn 2001-2005, nền kinh tế thế giới bắt đầu hồi phục, dù vẫn mang trong mình nhiều yếu tố bất ổn Nhờ tích cực xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu đi đôi với sự tăng trưởng đáng kể nguồn cung hàng xuất khẩu thông qua khắc phục thành công những khó khăn trong nước như sự tăng giá nguyên liệu đầu vào, hiện tượng thiếu điện trong sản xuất do hạn hán, nạn dịch cúm gia cầm tái phát kim ngạch xuất khẩu đạt 26,5 tỷ USD trong năm 2004 (tăng 31,4% so với năm 2003) và lên tới 32,4 tỷ USD trong năm 2005

Năm 2006 mặc dù xuất khẩu gặp nhiều biến động thị trường và các rào cản thương mại mới Nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt 39,6 tỷ USD Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đạt kim ngạch xuất khẩu cao Trong đó, hàng dệt may chỉ đứng sau dầu thô về kim ngạch (đạt 5,9 tỷ USD, tăng 22% so năm trước và chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam)

Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam gia nhập WTO, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước cao hơn tốc độ tăng chung, chứng tỏ khu vực này đã tận dụng được cơ hội do vị thế mới của thành viên WTO Nếu không kể dầu thô bị sút giảm thì kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn tăng cao hơn khu vực kinh tế trong nước tổng kim ngạch xuất khẩu đạt giá trị 48,38 tỷ USD, nếu tính bằng USD tổng kim ngạch xuất khẩu so với GDP đạt 67,9%, thuộc loại cao ở châu Á và thế giới Tổng kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người đạt khoảng 568 USD, cao nhất từ trước tới nay

Năm 2008 là năm hoạt động xuất khẩu của nước ta gặp muôn vàn khó khăn Đó là kinh

tế thế giới đang tăng trưởng chậm lại, đồng USD không ổn định, giá cả hàng hóa đầu vào tăng cao và phụ thuộc khá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Các thị trường xuất khẩu chính

là Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản trong những tháng cuối năm bị giảm sút do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, song nhìn chung tình hình ngoại thương Việt Nam vẫn giữ được xu thế phát triển tốt Theo con số của Tổng cục thống kê VN, căn cứ theo tỷ giá của năm 1994, GDP của năm 2008 đã tăng 6,23%, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 29,5%

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 01/2009 ước tính đạt 3,8 tỷ USD, giảm 18,6% so với tháng 12/2008 và giảm 24,2% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do sự giảm giá xuất khẩu của nhiều mặt hàng cũng như nhu cầu nhập khẩu hàng hoá từ Việt Nam của một số thị trường quan trọng giảm sút như: Mỹ, EU, Nhật Bản Kim ngạch hàng hoá xuất khẩu của khu vực kinh

tế trong nước đạt 1,7 tỷ USD, giảm 21,9% so với tháng 01/2008; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài không kể dầu thô đạt 1,7 tỷ USD, giảm 13,7% Bên cạnh những mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu gạo đạt 130 triệu USD, gấp 2,5 lần tháng 01/2008 (lượng gấp 2,3 lần)

Trang 18

Tháng 2/ 2009, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá hai tháng đầu năm đạt 16,31 tỷ USD, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2008 Trong đó, xuất khẩu xấp xỉ 8,8 tỷ USD, tăng 3,9%

và nhập khẩu là 7,53 tỷ USD, giảm 44,6% Nhờ có xuất khẩu tăng mạnh nên cán cân thương mại hàng hoá hai tháng đầu năm thặng dư gần 1,25 tỷ USD (riêng tháng 2 thặng dư 840 triệu USD)

1 Quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu:

Giai đoạn 2001-2005, qui mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá đều đạt và vượt các chỉ tiêu đặt ra cho giai đoạn 5 năm đầu của Chiến lược xuất khẩu 2001- 2010 Trong đó,

tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trung bình cả giai đoạn đạt 17,5%/năm vượt

1,5% so với chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược là 16%/năm Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 đạt

trên 32,4 tỷ USD, vượt hơn 4 tỷ USD so với chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược là 28,4 tỷ USD

Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá trong giá trị tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng từ

44,7% năm 2000 lên 61,3% năm 2005 so với chỉ tiêu đặt ra trong Chiến lược là 66,3%.

Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng xuất khẩu diễn ra không đều trong giai đoạn 2001-2005 Trong 2 năm đầu, 2001 - 2002, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trung bình chỉ đạt mức 7,4%/năm, thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu trung bình đặt ra là 16%/năm Trong 3 năm cuối,

2003 - 2005, hoạt động xuất khẩu đã có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng đạt mức bình quân 24,7%/năm

Năm 2006 mặc dù xuất khẩu gặp nhiều biến động thị trường và các rào cản thương mại mới Nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn đạt 39,6 tỷ USD, vượt 4,9% so với kế hoạch, tăng 22,1% so năm 2005

Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước tăng 21,5% so với năm 2006, vượt 4,1% so với kế hoạch do chính phủ đặt ra là 17,4%

Năm 2008, cuộc khủng hoảng tiền tệ quốc tế, mà nguyên nhân là từ khủng hoảng tiền

tệ ở Mỹ, đã gây những ảnh hưởng bất lợi đối với nền ngoại thương, nhưng Việt Nam cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 29,5%, GDP của năm 2008

đã tăng 6,23%

2 Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu:

Giai đoạn 2001-2005, khu vực thị trường châu Á đã giảm dần tỷ trọng từ 57,3% năm

2001 xuống 50,5% năm 2005 song vẫn chiếm ưu thế trong cơ cấu xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam Tỷ trọng xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Âu có xu hướng giảm nhẹ nhưng giá trị tuyệt đối năm sau vẫn tăng so với năm trước (giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân 13,5%/năm)

và đóng góp trên 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước Trong khi đó, xuất khẩu vào khu vực thị trường châu Mỹ tăng khá đột biến, chiếm tỷ trọng từ 8,9% năm 2001 lên 21,3% vào năm 2005; xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ tăng mạnh từ 7,1% năm 2001 lên 20,2% năm 2005 Khu vực thị trường châu Phi có tỷ trọng tăng từ 1,2% năm 2001 lên 2,1% năm 2005 và tăng được kim ngạch xuất khẩu gấp gần 4 lần trong giai đoạn này từ 176 triệu

Ngày đăng: 19/10/2012, 14:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thị Ngọc Phùng (chủ biên) (2005), Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Tác giả: Vũ Thị Ngọc Phùng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2005
2. Hoàng Vĩnh Long (chủ biên) (2007), Kinh tế học quốc tế, NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế học quốc tế
Tác giả: Hoàng Vĩnh Long (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
3. Võ Thanh Thu (03/2005), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế quốc tế
Nhà XB: NXB Thống kê
4. Võ Thanh Thu (2005), Kinh tế đối ngoại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế đối ngoại
Tác giả: Võ Thanh Thu
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2005
5. Lê Thị Anh Vân (2003), Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới chính sách nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Lê Thị Anh Vân
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
6. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển xuât- nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kì 2001- 2010, Số: 22/2000/CT-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển xuât- nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ thời kì 2001- 2010
8. Quyết định Phê duyệt Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010, Thủ tướng Chính phủ, số 156/2006/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Phê duyệt Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010, Thủ tướng Chính phủ
9. Đỗ Đức Minh (2006), Tài chính Việt Nam 2001-2010, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: chính Việt Nam 2001-2010
Tác giả: Đỗ Đức Minh
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2006
7. Bộ Thương mại, Đề án phát triển xuất khẩu giai đoạn 2006- 2010 Khác
10. Các số liệu được tổng hợp từ các nguồn:- Tổng cục thống kê Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bước sang năm 2003, tình hình kinh tế thế giới cũng không sáng sủa hơn do tác động của cuộc chiến tại Irắc và đại dịch SARS - Chiến lược ngoại thuơng
c sang năm 2003, tình hình kinh tế thế giới cũng không sáng sủa hơn do tác động của cuộc chiến tại Irắc và đại dịch SARS (Trang 16)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w