1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TÀI LIỆU bồi DƯỠNG HSG địa 10

36 432 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trình bày các chuyển động chính của Trái Đất.Trái Đất có hai chuyển động chính: + Chuyển động tự quay quanh trục: – Trái Đất tự quay quanh một trục tưởng tượng, trục này đi qua hai cực v

Trang 1

Câu 1 Trình bày các chuyển động chính của Trái Đất.

Trái Đất có hai chuyển động chính:

+ Chuyển động tự quay quanh trục:

– Trái Đất tự quay quanh một trục tưởng tượng, trục này đi qua hai cực và tâm Trái Đất,hợp với mặt phảng chứa quỹ đạo chuyền động cùa Trái Đất quanh Mặt Trời (mặt phẳngHoàng đạo) một góc 66033

– Trái Đất tự quay theo hướng từ tây sang đông với chu kì 24 giờ

– Khi Trái Đất tự quay chi có hai cực là giừ nguyên không thay đổi vị trí

+ Chuyển động xung quanh Mặt Trời:

- Trái Đất chuyển động tịnh tiến quanh Mặt Trời trên quỳ đạo hình elip gần tròn, cókhoảng cách giữa 2 tiêu điểm khoảng 5 triệu km

- Hướng chuyển động từ Tây sang Đông với vận tốc rất lớn trung bình 29,8 km/s Thờigian Trái Đất chuyển động một vòng trên quỹ đạo là 365 ngày 6 giờ

– Tốc độ chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời là 29,8 km/s, nhanh nhất khi ở gầnđiểm cận nhật vào ngày 3 tháng 1, lúc đó cách xa Mặt Trời 147 triệu km, vận tốc (30,3km/s) và chậm hơn khi ở gần điểm viễn nhật vào ngày 5 tháng 7, khi đó cách Mặt Trời

152 triệu km vận tốc giảm xuống còn (29,3 km/s)

– Trong quá trình chuyển động quanh Mặt Trời, trục Trái Đất luôn nghiêng một góc66°33 và không đổi hướng trong không gian chuyển động đó gọi là chuyển động tịnh tiếncủa trái Đất quanh Mặt Trời

Giả sử Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ chuyển động quanh Mặt Trời thì

ở Trái Đất có ngày đêm không? Nếu có thì thời gian ban ngày và ban đêm là bao nhiêu? Khi đó, ở bề mặt Trái Đất có sự sống không? Tại sao?

– Do Trái Đất hình cầu nên nếu Trái Đất không tự quay quanh trục mà chỉ chuyển độngquanh Mặt Trời thì Trái Đất vẫn cỏ ngày và đêm Nhưng độ dài không phải là một ngàyđêm mà độ dài ngày đêm là một năm (6 tháng ngày và 6 tháng đêm)

– Với thời gian kéo dài như vậy, phần ban ngày sẽ rất nóng vì bị Mặt Trời đôt nóng liêntục trong nửa năm, phân ban đêm sẽ rât lạnh vì trong nửa năm không dược Mặt Trờichiếu đến nên mất nhiệt lớn Như vậy, nó tạo ra sự chênh lệch nhiệt độ rất lớn, trong điềukiện đó sự sống cùng không thể hình thành và phát triển được

Trang 2

Hãy trình bày các hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất.

Chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất (TĐ) sinh ra các hệ quả như:

– Sự luân phiên ngày đêm:

+ Do TĐ hình cầu nên một nửa luôn được Mặt Trời chiếu sáng gọi là ban ngày và mộtnửa không được chiểu sáng gọi là ban đêm

+ Do TĐ tự quay nên mọi nơi trên TĐ đều lần lượt được chiếu sáng rồi chìm vào bóng tốigây nên hiện tượng luân phiên ngày đêm

– Giờ trên TĐ và đường chuyển ngày quốc tế:

+ TĐ có hình cầu và tự quay từ tây sang đông nên cùng một thời điểm, độ cao Mặt Trời ởcác vĩ tuyến khác nhau sẽ khác nhau Đó là giờ địa phương

+ Để thuận tiện trong đời sống, người ta chia bề mặt TĐ ra làm 24 múi giờ, mồi múi rộng15° kinh tuyến Các địa phương nằm trong một múi sẽ có chung một giờ gọi là giờ múi.Qui định giờ ở múi số 0 (chứa kinh tuyến gốc) làm giờ quốc tế hay giờ GMT Đánh sốthứ tự múi theo hướng tây sang đông, các múi giờ ở phía đông kinh tuyến gốc đến kinhtuyến 180° có giờ sớm hơn giờ GMT, còn các múi giờ phía tây kinh tuvến gốc đến kinhtuyến 180° có giờ muộn hơn giờ GMT

+ Để phân định hai ngày khác nhau trên lịch (do cách chia múi giờ tạo nên) người ta chọnkinh tuyến 180° chạy qua giữa múi 12 làm đường chuyển ngày quốc tế: nếu đi từ tây sangđông qua 180° thì lùi lại một ngày trên lịch, còn đi ngược lại thì tăng thêm một ngày trênlịch

– Sự lệch hướng chuyển động cùa các vật thể:

+ Sự tự quay của TĐ làm cho các vật thể chuyển động trên bề mặt (các khối khí, dòngbiển, dòng sông, đạn bay…) đều bị lệch hướng so với ban đầu, lực làm lệch hướngchuyển động gọi là lực Côriôlit

+ Ở bán cầu Bắc vật chuyển động bị lệch về bên phải, còn ở bán cầu Nam thì bị lệch vềbên trái

Trang 3

Dựa vào hình và kiến thức đã học, hãy xác định khu vực nào trên Trái Đất cho hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh mỗi năm 2 lần? Nơi nào chỉ một lần? Khu vực nào không có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh? Tại sao?

– Khu vực có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh mỗi năm hai lần : giữa hai chí tuyến

– Các địa điểm nằm trên hai chí tuyến chỉ có một lần Mặt Trời lên thiên đỉnh,đó là ngày22/6 ở chí tuyến Bắc và 22/12 ở chí tuyến Nam – Khu vực không có hiện tượng Mặt Trời lên thiên đỉnh : ngoại chí tuyến Vì trục TráiĐất nghiêng với mặt phẳng quỹ đạo (mặt phẳng chứa quỹ đạo Trái Đất) một góc = 66″33′ Để tạo góc 90″ thì góc phụ phải là 23°27′, trong khi đó các địa điểm ở ngoại chí tuyếnđều có vĩ độ lớn hơn 23′ 27′

Hãy giải thích câu tục ngữ Việt Nam:

“Đêm tháng năm, chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười, chưa cười đã tối”.

Trang 4

- Ý nghĩa của câu ca dao: khoảng thời gian trong ca dao nước ta thường tính theo âm lịch,theo câu ca dao này thì vào khoảng tháng 5 âm lịch (tức khoảng tháng 6-7 dương lịch) cóđêm ngắn và ngày dài Còn vào khoảng tháng 10 âm lịch (tức khoảng tháng 11-12 dươnglịch) có đêm dài và ngày ngắn hơn Đây chính là hiện tượng ngày - đêm dài ngắn khácnhau do sự chuyển động quanh Mặt Trời cùa Trái Đất gây ra

- Câu ca dao này đúng trong trường hợp ở bán cầu Bắc, ở bán cầu Nam thì ngược lại, ởViệt Nam thể hiện rõ hơn ở miền Bắc do cỏ vĩ độ cao hơn

+ Vào khoảng tháng 11-12, trục Trái Đất hướng đầu bắc ra xa Mặt Trời, đường phân chia sáng - tối đi qua sau cực Bắc và trước cực Nam nên ờ bán cầu Bắc phần được chiếu sáng

ít hơn phần bị che khuất Vì vậy ngày ngắn hơn và đêm dàira

Trang 5

Sự thay đổi của các mùa có tác động như thế nào đến cảnh quan thiên nhiên, hoạt động sản xuất và đời sống con người?

Sự thay đổi các mùa có ảnh hưởng đến cảnh quan thiên nhiên, hoạt động sản xuất và đời sống con người

– Vào mùa hè thì ngày dài đêm ngắn hơn, cảnh vật thiên nhiên cũng tươi sáng…làm cho con người năng động, sảng khoái hơn

– Vào thu và đông thì tiết trời se se lạnh, ngày ngắn và đêm dài ra bầu trời cũng u ám nhiều, cây cối và cảnh quang sầm xuống hơn, làm cho con người cũng hiu hiu….đó là đốivới ở nước ngoài

– Còn ở Việt nam thì chỉ có miền Bắc là chia mùa rõ rệt, chứ trong miền Nam thì chỉ có mùa ” khô ” và mùa ” ẩm ướt ” thôi Nắng, nóng, tiết trời khô ráo thì cũng tốt cho thiên nhiên và con người, nhưng khô ráo đến hạn hán thì cũng không xong

– Mưa, gió, ẩm ướt giúp cây trái, mùa màng ra hoa, sinh sôi nảy nở, nhưng mưa gió bão bùng quá làm cho ngập lụt thì cũng không xong

=> Cho nên các mùa thay đổi, ảnh hưởng theo thời tiết cũng thay đổi bất thường thì ít nhiều thiên nhiên, các hoạt động, sinh hoạt đời sống con người sẽ bị ảnh hưởng

Hãy tìm nguyên nhân để giải thích về sự khác nhau hoặc giống nhau của số giờ chiếu sáng trong ngày tại một số vĩ tuyến.

* Số giờ chiếu sáng tại Xích đạo các ngày trong năm là như nhau (12h) Nguyênnhân là do dạng cầu cùa Trái Đất, đường phân chia sáng – tối luôn đi qua tâm Trái Đất vàchia Xích đạo thành hai phần bằng nhau

* Sự giống nhau và khác nhau về số giờ chiếu sáng trong ngày ở một số vĩ tuyến

là do Trái Đất hình cầu và là kết quà của sự chuyển động quanh Mặt Trời, trong quá trìnhchuyển động trục Trái Đất luôn nghiêng 66°33 với mặt phẳng Hoàng đạo và không đổiphương trong không gian

– Vào ngày 21-3 và 23- 9 thời gian chiếu sáng ở các vĩ tuyến là như nhau (12h) Do lúcnày Mặt Trời chiếu vuông góc tại Xích đạo, đường phân chia sáng – tối đi qua hai cựccùa Trái Đất và chia các vĩ tuyến ra hai phần bằng nhau nên mọi nơi có số giờ chiếu sáng

Trang 6

+ Ở chí tuyến Nam: số giờ chiếu sáng trong ngày là 10,5h, ngày ngắn hơn đêm.

+ Ở vòng cực Bắc: sổ giờ chiếu sáng trong ngày là 24h, không có đêm

+ Ở vòng cực Nam: số giờ chiếu sáng trong ngày là 0h, không có ngày

Nguyên nhân là do vào ngày 22 – 6, bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời nên diện tích đượcchiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bỏng tối, ngày dài hơn đêm Ờ bán cầu Nam thingược lại Vòng cực Bắc nằm trước đường phân chia sáng – tối nên có ngày dài 24h,vòng cực Nam nằm khuất hoàn toàn sau đường phân chia sáng – tối nên không có banngày

Câu 1: Cho bảng số liệu về số giờ chiếu sáng trong ngày ở một số vĩ tuyến:

* Số giờ chiếu sáng tại Xích đạo các ngày trong năm là như nhau (12h) Nguyên nhân là

do dạng cầu cùa Trái Đất, đường phân chia sáng - tối luôn đi qua tâm Trái Đất và chiaXích đạo thành hai phần bằng nhau

* Sự giống nhau và khác nhau về số giờ chiếu sáng trong ngày ở một số vĩ tuyến là doTrái Đất hình cầu và là kết quà của sự chuyển động quanh Mặt Trời, trong quá trìnhchuyển động trục Trái Đất luôn nghiêng 66°33 với mặt phẳng Hoàng đạo và không đổiphương trong không gian

- Vào ngày 21-3 và 23- 9 thời gian chiếu sáng ở các vĩ tuyến là như nhau (12h) Do lúcnày Mặt Trời chiếu vuông góc tại Xích đạo, đường phân chia sáng - tối đi qua hai cực cùaTrái Đất và chia các vĩ tuyến ra hai phần bằng nhau nên mọi nơi có số giờ chiếu sáng lànhư nhau

- Vào 22- 6, bán cầu Bắc có thời gian chiếu sáng dài hơn, còn ờ bán cầu Nam thì ngượclại:

Trang 7

+ Ở chí tuyến Bắc: số giờ chiểu sáng trong ngày là 13,5h, ngày dài hơn đêm

+ Ở chí tuyến Nam: số giờ chiếu sáng trong ngày là 10,5h, ngày ngắn hon đêm

+ Ở vòng cực Bắc: sổ giờ chiếu sáng trong ngày là 24h, không có đêm

+ Ở vòng cực Nam: số giờ chiếu sáng trong ngày là Oh, không có ngày

Nguyên nhân là do vào ngày 22 - 6, bán cầu Bắc ngả về phía Mặt Trời nên diện tích đượcchiếu sáng lớn hơn diện tích khuất trong bỏng tối, ngày dài hơn đêm Ờ bán cầu Nam thingược lại Vòng cực Bắc nằm trước đường phân chia sáng - tối nên cồ ngày dài 24h,vòng cực Nam nằm khuất hoàn toàn sau đường phân chia sáng - tối nên không có banngày

- Vào ngày 22 - 12 số giờ chiếu sáng tại các chí tuyến và vòng cực diễn ra ngược với ngày 22- 6

Câu 3 Lực Côriôlit là gì? Phân tích tác động của lực Côriôlit đến hoàn lưu khí quyển và các dòng biển, dòng sông trên Trái Đất.

Gợi ý trả lời

1 Khái niệm

Lực Côriôlit là lực làm lệch hướng chuyển động của các vật thể trên bề mặt Trái Đất.Các vật thể chuyển động theo vĩ tuyến và theo phương thẳng đứng đều chịu tác độngcủa lực Côriôlit

2 Phân tích

a) Tác động của lực Côriôlit đến các dòng biển

* Lực Côriôlit có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua gió) đến hướng chảycủa các dòng biển

- Những dòng biển chảy từ Xích đạo về hướng bắc (Gơn-xtrim, Bắc Đại Tây Dương,Cư-rô-xi-vô, Bắc Thái Bình Dương) đều bị lệch sang phía đông và chảy theo hướngtây nam - đông bắc

- Những dòng biển chảy từ Xích đạo về phía nam (dương lưu tín phong Nam Đại TâyDương chảy ven bờ đông Braxin, Ma-đa-ga-xca, Đông Úc…) càng chảy về nam cànglệch về phía đông, tới vĩ tuyến 400 - 500 nam thì lệch hẳn về phía đông

- Các dòng chảy từ phía đông về phía tây dọc Xích đạo, các nhánh bị lệch về phải chảylên phía bắc Phần dưới Xích đạo, lệch về trái rẽ xuống phía nam

* Lực quán tính Côriôlit tác động trực tiếp tới dòng chảy của sông Trong mỗi sông ở Bắcbán cầu, áp lực của dòng chảy lên bờ phải của sông mạnh hơn so với bờ trái, còn ở Nambán cầu, bờ trái của sông chịu áp lực của nước sông mạnh hơn

Trang 8

b) Tác động của lực Côriôlit đến hoàn lưu khí quyển

- Không khí bị mặt đất đốt nóng ở Xích đạo nở ra và bay cao lên, đến một độ cao nào đó bịlạnh đi Do phía dưới vẫn có các dòng khí đi lên, nên khí lạnh này không hạ xuống được

mà phải đi về phía hai cực và bị lệch về phía đông do tác dụng của lực Côriôlit Tới các vĩ

độ 300 - 350, độ lệch đã lên tới 900 so với kinh tuyến, các dòng khí chuyển động song songvới vĩ tuyến Tại đây, không khí đã lạnh hẳn, hạ xuống rất mạnh, tạo ra các vùng áp cao bêndưới, làm thành đai áp cao cận nhiệt đới Sự xuất hiện của đai áp cao này làm phát sinh đaihoang mạc cận nhiệt trên các đại lục và vùng lặng gió trên các đại dương (gọi là vùng vĩ độngựa)

- Do sự chênh lệch về khí áp, có gió thổi từ hai khu áp cao cận nhiệt về phía xích đạo vàhai cực

+ Những luồng gió thổi về phía xích đạo theo kinh tuyến dưới tác động của lực Côriôlit

sẽ thổi theo hướng đông bắc - tây nam ở bán cầu Bắc và đông nam - tây bắc ở bán cầuNam Gió này gọi là gió Tín phong

+ Những luồng gió thổi từ khu áp cao cận nhiệt về phía cực bị lực Côriôlit làm lệch vềphía đông, lên tới các vĩ độ 450 - 500 hầu như thổi theo hướng tây - đông, tạo thành đaigió Tây

- Những luồng gió thổi từ khu áp cao ở cực về phía xích đạo cũng chịu tác động của lựcCôriôlit, tới các vĩ độ dưới 650 đã có phương song song với vĩ tuyến và hướng từ đôngsang tây, được gọi là gió Đông

- Vùng ôn đới nằm giữa đai gió Đông và đai gió Tây là vòng đai lặng gió Tại đây, gióthổi đến từ hai phía bắc và nam ngược nhau đã tạo ra nguyên nhân động lực để hìnhthành đai áp thấp ôn đới

Câu 4 Nêu các yếu tố dùng để xác định vị trí địa lí của một điểm bất kì trên bề mặt Trái Đất.

Gợi ý trả lời

Các yếu tố dùng để xác định vị trí địa lí của một địa điểm bất kì ở bề mặt đất được gọi

là tọa độ địa lí Các yếu tố này bao gồm:

Trang 9

Mặt phẳng đi qua tâm và vuông góc với trục Trái Đất là mặt phẳng xích đạo Mặtphẳng này chia Trái Đất làm 2 nửa: bán cầu Bắc và bán cầu Nam.

4 Xích đạo

Giao tuyến giữa mặt phẳng xích đạo với bề mặt Trái Đất là một vòng tròn tưởng tượng

đó là Xích đạo

5 Vĩ tuyến

Trên bề mặt Trái Đất các vòng tròn song song với Xích đạo được gọi là vĩ tuyến Các

vĩ tuyến chính là giao tuyến của mặt phẳng vuông góc với trục Trái Đất và bề mặt đất

6 Vĩ độ

Mỗi vĩ tuyến đều có một góc ở tâm tương ứng được gọi là vĩ độ Vĩ độ của một điểm

là góc ở tâm được tạo bởi bán kính của Trái Đất đi qua điểm đó và hình chiếu của nótrên mặt phẳng xích đạo

8 Kinh độ

Kinh tuyến gốc được quy ước là kinh tuyến đi qua đài thiên văn Grinuyt ở ngoại ôLuân Đôn (nước Anh) Mỗi kinh tuyến đều cách kinh tuyến gốc một khoảng cách gócxác định và được gọi là kinh độ

Kinh độ của một điểm ở bề mặt đất là số đo của góc nhị diện được tạo bởi 2 nửa củamặt phẳng có chung trục Trái Đất, trong đó một nửa mặt phẳng chứa kinh tuyến gốc

và một nửa mặt phẳng chứa kinh tuyến đi qua điểm đó

Việc xác định vị trí của một điểm (tọa độ địa lí) trên Trái Đất chính là xác định vĩ độ

và kinh độ của điểm đó

Câu 5 Phân biệt giờ địa phương (giờ mặt trời) và giờ khu vực (giờ múi) Tại sao trên Trái Đất có đường chuyển ngày quốc tế?

Gợi ý trả lời

1 Phân biệt giờ địa phương và giờ múi

a) Giờ địa phương

Trang 10

Trái Đất hình khối cầu và tự quay quanh trục, nên ở mỗi địa điểm quan sát trong mộtngày đêm chỉ nhìn thấy Mặt Trời lên cao nhất trên bầu trời vào lúc 12 giờ trưa Đồngthời, do Trái Đất quay từ tây sang đông, nên ở phía đông địa điểm quan sát thấy MặtTrời ngả về phía tây, còn ở phía tây thấy Mặt Trời sắp tròn bóng Như vậy, ở cùng mộtthời điểm, mỗi địa phương có một giờ riêng, đó là giờ địa phương Giờ địa phươngđược thống nhất ở tất cả các địa điểm nằm trên cùng một kinh tuyến.

Giờ địa phương được xác định căn cứ vào vị trí của Mặt Trời trên bầu trời, nên cònđược gọi là giờ Mặt Trời

b) Giờ múi

Để tiện cho việc tính giờ và giao dịch quốc tế, người ta quy định giờ thống nhất chotừng khu vực trên Trái Đất Đó là giờ khu vực Bề mặt Trái Đất được quy ước chia ralàm 24 khu vực, bổ dọc theo kinh tuyến, gọi là 24 múi giờ Giờ chính thức của toànkhu vực là giờ địa phương của kinh tuyến đi qua chính giữa khu vực

Các múi giờ được đánh số từ 0 đến 24 Khu vực đánh số 0 được gọi là khu vực giờ gốc Đó

là khu vực có đường kinh tuyến gốc đi qua đài thiên văn Grinuyt (Anh)

2 Trên Trái Đất có đường chuyển ngày quốc tế vì:

- Trái Đất có hình khối cầu nên khu vực giờ gốc số 0 trùng với khu vực giờ số 24 Vìvậy, trên Trái Đất bao giờ cũng có một khu vực, tại đó lịch chỉ hai ngày khác nhau nêncần có đường chuyển ngày quốc tế

- Người ta quy ước lấy kinh tuyến 1800 ở giữa múi giờ số 12 trên Thái Bình Dương làmđường chuyển ngày quốc tế Nếu đi từ phía tây sang phía đông qua đường kinh tuyếnnày thì phải cộng thêm một ngày, còn nếu đi từ phía đông sang phía tây thì phải trừ đimột ngày

Câu 6 Vào ngày nào tại Xích đạo, người ta quan sát thấy Mặt Trời mọc ở hướng chính Đông và lặn ở hướng chính Tây? Tại sao?

Gợi ý trả lời

Hiện tượng Mặt Trời mọc và lặn là một loại chuyển động biểu kiến diễn ra hằng ngày

mà nguyên nhân là do sự chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất Tuy nhiên,không phải tất cả mọi nơi trên Trái Đất đều quan sát thấy Mặt Trời mọc ở chính Đông

và lặn ở chính Tây Hiện tượng này chỉ xảy ra ở những địa điểm có hiện tượng MặtTrời lên thiên đỉnh (Mặt Trời chiếu thẳng đỉnh đầu lúc 12 giờ trưa) nghĩa là chỉ trongkhu vực nội chí tuyến mới quan sát thấy Mặt Trời mọc ở hướng chính Đông và lặn ởhướng chính Tây

Tại Xích đạo, ngày xuân phân (21/3) và thu phân (23/9) người ta quan sát thấy MặtTrời mọc ở hướng chính Đông và lặn ở hướng chính Tây Vì vào hai ngày này, Trái

Trang 11

Đất di chuyển đến những vị trí trung gian ở giữa hai đầu mút của quỹ đạo chuyểnđộng, trục nghiêng của Trái Đất không quay đầu nào về phía Mặt Trời, ánh sáng MặtTrời chiếu thẳng góc trên mặt đất Xích đạo (Mặt Trời lên thiên đỉnh tại Xích đạo).

- Cơ sở khoa học để xây dựng hai loại lịch này khác nhau

+ Dương lịch: căn cứ vào thời gian Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời để tínhnăm, tháng Thời gian Trái Đất chuyển động trọn một vòng quanh Mặt Trời là 365ngày 5 giờ 48 phút 46 giây (tương đương 365,2422 ngày)

+ Âm dương lịch được xây dựng trên cơ sở của hai vận động: vận động của Mặt Trăngquanh Trái Đất và vận động của Trái Đất quanh Mặt Trời Trong đó, tháng căn cứ vàotuần trăng (âm), còn năm bình quân căn cứ vào chu kì 4 mùa tức là căn cứ của dươnglịch Vì vậy, lịch này gọi là âm dương lịch (nhân dân ta quen gọi là âm lịch)

- Cách tính độ dài tháng và luật nhuận khác nhau

+ Dương lịch: mỗi năm có 12 tháng, các tháng 1,3,5,7,8,10,12 có 31 ngày Các thángcòn lại (từ tháng 2) có 30 ngày Riêng tháng 2 có 28 ngày, năm nhuận có 29 ngày.Luật nhuận của dương lịch hiện nay như sau: Năm nhuận là năm mà con số của năm

đó chia hết cho 4 (như luật cũ) trừ những năm chứa số nguyên thế kỉ mà con số thế kỉkhông chia hết cho 4 Quy luật nhuận của dương lịch khiến cho độ dài bình quân củanăm dương lịch gần với độ dài của năm thật (sai với năm thật là 0,0003 ngày) Vậy cứ

3300 năm mới chênh nhau một ngày

+ Âm dương lịch: lấy thời gian biến đổi của một tuần trăng làm độ dài của tháng và bìnhquân một tháng là 29 ngày 12 giờ 44 phút Tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29ngày Một năm có 354 hoặc 355 ngày Để độ dài năm âm dương lịch gần thống nhấtvới độ dài năm dương lịch, người ta đã đặt ra luật nhuận: năm nhuận có 13 tháng, cứ

19 năm có 7 năm nhuận Vì âm dương lịch được tính toán dựa vào chu kì vận độngcủa Mặt Trăng để phân chia các tháng nên nó sai với chu kì chuyển động của Trái Đấtquanh Mặt Trời mỗi năm khoảng 10 ngày Mặc dù cứ 3 năm có 1 tháng nhuận nhưng

Trang 12

có năm lịch vẫn sai với chu kì chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời tới 20 ngày.

Do đó các mùa của âm dương lịch không hoàn toàn như dương lịch.

2 Ưu điểm của dương lịch

Dương lịch có rất nhiều ưu điểm

- Độ dài của năm dương lịch khá phù hợp với độ dài của 4 mùa nên từng ngày thángnhất định của dương lịch phản ánh được trạng thái khí hậu nhất định trong chu kì 4mùa Chính vì lẽ đó dương lịch thuận lợi cho việc chỉ đạo sản xuất, đặc biệt sản xuấtnông nghiệp

- Năm nhuận chỉ hơn năm thường một ngày nên thích hợp cho việc lập kế hoạch hằngnăm của các quốc gia

- Quy luật nhuận được xác định rõ ràng nên mọi người có thể biết được năm nào là nămnhuận

Câu 8 Nếu trục Trái Đất không nghiêng trên mặt phẳng xích đạo một góc bằng

66 0 33' mà đứng thẳng thành một góc vuông 90 0 hoặc trùng với mặt phẳng xích đạo thành một góc 0 0 thì khi Trái Đất vẫn tự quay quanh mình và quay xung quanh Mặt Trời như hiện nay, hiện tượng các mùa sẽ ra sao?

Gợi ý trả lời

1 Nếu trục Trái Đất đứng thẳng thành một góc vuông với mặt phẳng xích đạo thì

- Khi Trái Đất quay xung quanh Mặt Trời, ánh sáng Mặt Trời bao giờ cũng chiếu thẳngvào Xích đạo thành một góc vuông với mặt đất

- Lúc đó hiện tượng mùa sẽ không có ở bất kì nơi nào trên mặt đất

- Nhiệt độ lúc nào cũng cao nhất ở Xích đạo và giảm dần về 2 cực

2 Nếu trục Trái Đất trùng hợp với mặt phẳng xích đạo (nằm trong mặt phẳng quy đạo) thì

Khi Trái Đất chuyển động tịnh tiến quanh Mặt Trời trên bề mặt Trái Đất sẽ có hiệntượng các mùa ở khắp mọi nơi nhưng sự thay đổi nhiệt độ giữa các mùa sẽ rất khốcliệt Trong một năm, ánh sáng Mặt Trời sẽ lần lượt chiếu thẳng góc từ Xích đạo lên cảhai địa cực Lúc đó sẽ không còn khái niệm đường chí tuyến, vùng nội chí tuyến

Câu 9 Một trong những vận động chính của Trái Đất là sự vận động của hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng Sự vận động đó đã gây nên những hệ quả địa lí nào?

Gợi ý trả lời

Sự vận động của hệ thống Trái Đất - Mặt Trăng đã gây nên một số hệ quả sau:

1 Quy đạo Trái Đất không phải là một đường cong đều đặn

Trang 13

Do quay quanh một tâm chung nên khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất thì Trái Đấtcũng vận động quanh tâm chung Do đó, trong khi vận động quanh Mặt Trời thì quỹđạo của Trái Đất không phải là một đường cong đều đặn mà hơi gợn sóng Trái Đất cólúc xa có lúc nhích gần lại gần Mặt Trời một khoảng cách bằng 0,73 bán kính Trái Đất(tức khoảng 4800 km).

3 Nhật thực và Nguyệt thực

- Trong khi Mặt Trăng quay xung quanh Trái Đất thì Trái Đất vẫn chuyển động xungquanh Mặt Trời Khi 3 thiên thể này thẳng hàng hoặc gần thẳng hàng với nhau thì sẽsinh ra hiện tượng Mặt Trời bị Mặt Trăng che khuất (Nhật thực) hoặc Mặt Trăng bịTrái Đất che khuất (Nguyệt thực)

Nhật thực chỉ xảy ra vào thời kì không trăng (ngày sóc, đầu hoặc cuối tháng âm dương lịch) và vào ban ngày

Nguyệt thực xảy ra khi Mặt Trăng đi vào vùng bóng tối của Trái Đất trong khoảngngày rằm âm dương lịch (ngày vọng)

4 Hiện tượng sóng triều trên Trái Đất

Hiện tượng này biểu hiện rõ nhất ở Đại dương thế giới

- Do Trái Đất và Mặt Trăng đều quay xung quanh tâm chung của hệ thống nên đã sinh ra lực

li tâm Lực này đồng đều ở khắp mọi điểm trên Trái Đất và có hướng ngược về phía MặtTrăng Ở tâm Trái Đất, lực hút của Mặt Trăng bằng lực li tâm

- Tác động qua lại giữa lực hút của Mặt Trăng và lực li tâm đã sinh ra hiện tượng sóngtriều Kết quả là vật chất trên Trái Đất có xu hướng dâng cao cả hai phía, phía hướng

về Mặt Trăng và phía đối diện

- Khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng thẳng hàng mà Mặt Trăng ở giữa (ngày trăng non

và ngày sóc) thì Mặt Trăng và Mặt Trời đều hút nước về cùng một hướng, khi đó thuỷtriều lên cao nhất (triều cường)

- Những lúc Mặt Trăng, Trái Đất và Mặt Trời ở vị trí vuông góc với nhau (thượng huyềnhoặc hạ huyền) thì hai sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời phân tán theo hai hướng

Trang 14

vuông góc với nhau, do đó nước triều lên và xuống ít nhất, đó là hai lần thuỷ triều nhỏ(triều kém)

Trong thực tế, thuỷ triều diễn ra rất phức tạp và không hoàn toàn đúng với thời gian ởtrên

Câu 10 Giải thích hiện tượng chênh lệch thời gian giữa 2 mùa nóng, lạnh trong năm

Gợi ý trả lời

Trái Đất chuyển động tịnh tiến xung quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo hình Elíp gần tròn(Mặt Trời sẽ nằm ở một trong hai tiêu điểm), thời gian thực hiện hết một vòng quỹ đạo là 1năm với vận tốc trung bình là 29,8 km/s Vì thế, sẽ có lúc Trái Đất ở gần Mặt Trời nhất(điểm cận nhật) và cũng có lúc cách xa Mặt Trời nhất (điểm viễn nhật)

- Vào ngày cận nhật (thường là ngày 3/1) khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời là ngắnnhất, khoảng 147 triệu km khi đó lực hút của Mặt Trời đối với Trái Đất là lớn nhất Vìthế, vận tốc chuyển động của Trái Đất trên quỹ đạo lúc này là nhanh nhất đạt 30,3km/s

- Vào ngày viễn nhật (thường là ngày 5/7) khoảng cách từ Trái Đất đến Mặt Trời là xa nhất,khoảng 152 triệu km khi đó lực hút của Mặt Trời lên Trái Đất là nhỏ nhất Vì thế, vận tốcchuyển động của Trái Đất cũng là nhỏ nhất đạt 29,3 km/s

Như vậy:

- Từ ngày 21/3 cho đến trước ngày 23/9, khi Trái Đất di chuyển trên 1/2 quỹ đạo hìnhElíp có chứa điểm viễn nhật do vận tốc di chuyển chậm nên thời gian hoàn thành xong1/2 quỹ đạo này hết 186 ngày, đây là thời kì mùa nóng ở Bắc bán cầu, đồng thời làmùa lạnh ở Nam bán cầu

- Từ ngày 23/9 đến trước ngày 21/3, Trái Đất chuyển động trên 1/2 quỹ đạo còn lại cóchứa điểm cận nhật, vận tốc di chuyển là lớn nên thời gian thực hiện xong 1/2 quỹ đạorút ngắn lại chỉ còn 179 ngày, đây là thời điểm mùa lạnh ở Bắc bán cầu, đồng thờicũng là mùa nóng ở Nam bán cầu

Như vậy, ở Bắc bán cầu mùa nóng dài hơn mùa lạnh Ở Nam bán cầu thì ngược lạimùa lạnh lại dài hơn mùa nóng

Trình bày thuyết Kiến tạo mảng So sánh kết quả một số kiểu chuyển dịch của các mảng.

– Thuyết Kiến tạo mảng

+ Học thuyết được xây dựng trên "Thuyết trôi dạt lục địa" cùa Vê-ghê-ne

+ Lớp vỏ Trái Đất gồm 7 địa mảng nằm kề nhau, luôn luôn di chuyển với tốc độ chậm

Trang 15

+ Ở ranh giới của các địa mảng thường xuyên xảy ra các hoạt động kiến tạo như độngđất, núi lửa…

– Kết quả của một sổ kiểu chuyển dịch cùa các mảng

+ Khi hai mảng tách rời nhau vật chất nóng chày ở trong lòng Trái Đất (macma) trào rangoài, kết quả là tạo thành các sống núi ngầm giữa đại dương

+ Khi hai mảng kiến tạo xô vào nhau một mảng sẽ luồn xuống sâu dưới mảng kia tạothành vực sâu, phần vật chất cùa mảng bị hút xuống bị nóng chày tạo thành macma vàphun lên trên bề mặt Trái Đất theo các khe nứt, kết quả là tạo thành các đào núi lửa.+ Khi hai mảng kiến tạo trược ngang xãy ra đứt gãy dọc theo đường tiếp xúc

Câu 11 Trình bày mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình hình thành các dạng địa hình bề mặt Trái Đất.

Gợi ý trả lời

1 Khái niệm

- Nội lực là lực phát sinh ở bên trong Trái Đất Nguyên nhân sinh ra nội lực chủ yếu làcác nguồn năng lượng ở trong lòng Trái Đất như: năng lượng của sự phân huỷ cácchất phóng xạ, năng lượng của các phản ứng hoá học,

- Ngoại lực là lực có nguồn gốc ở bên ngoài, trên bề mặt đất Nguồn năng lượng sinh ra ngoại lực chủ yếu là nguồn năng lượng bức xạ Mạt Trời

2 Mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực trong quá trình hình thành các dạng địa hình bề mặt Trái Đất

- Nội lực và ngoại lực xảy ra đồng thời, liên tục và có tính đối lập nhau về phươnghướng Nội lực làm nâng lên hoặc hạ xuống các bộ phận của vỏ Trái Đất, có khuynhhướng làm tăng cường tính gồ ghề của bề mặt đất Trong lúc đó, ngoại lực có khuynhhướng san bằng những chỗ gồ ghề đó Địa hình chính là kết quả của sự tác động qualại giữa nội lực và ngoại lực

- Mặc dù đối lập nhau, nhưng nội lực và ngoại lực vẫn có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Ví dụ,nếu vận động kiến tạo nâng lên sinh ra miền núi, thì ngoại lực có hướng phá huỷ, còn khi vậnđộng hạ xuống, thì phương hướng chung của ngoại lực là bồi tụ

- Vai trò của nội lực và ngoại lực trong các yếu tố địa hình cụ thể không giống nhau.Trong việc hình thành các yếu tố địa hình lớn, nội lực đóng vai trò chủ yếu Đối với

Trang 16

địa hình nhỏ, nó đóng vai trò thứ yếu Dựa vào quá trình hình thành chủ yếu, có thểchia địa hình bề mặt đất thành:

+ Địa hình kiến tạo: quá trình nội lực đóng vai trò chủ yếu

+ Địa hình bóc mòn - bồi tụ: quá trình ngoại lực đóng vai trò chủ yếu

Câu 12 Các vành đai động đất, núi lửa trên Trái Đất thường được phân bố ở những khu vực nào trên Trái Đất? Tại sao?

Gợi ý tr¶ lêi

1 Sự phân bố các vành đai động đất, núi lửa

- Các vành đai động đất: vành đai động đất lớn nhất kéo dài từ Địa Trung Hải đến Tây Nam

Á, Nam Á, Đông Nam Á, Nhật Bản, khu vực Bắc Thái Bình Dương, rồi sang phía tây châuMĩ; vành đai động đất dọc sống núi ngầm Đại Tây Dương…

- Vành đai núi lửa: vành đai lửa Thái Bình Dương, Địa Trung Hải,…

- Khi hai mảng xô vào nhau hình thành nên các dãy núi uốn nếp trẻ, vực sâu, đảo núi lửa,kèm theo đó là động đất, núi lửa cũng xảy ra Ví dụ: sự xô vào nhau của mảng Bắc Mĩ vàmảng Nam Mĩ với mảng Thái Bình Dương hình thành nên hệ thống núi trẻ ở rìa phía tâychâu Mĩ, theo đó là vành đai động đất và núi lửa…

Câu 13 Trên Trái Đất có những kiểu hoang mạc nào? Tại sao các hoang mạc chủ yếu phân bố ở khu vực chí tuyến hoặc ở sâu trong lục địa?

Gợi ý trả lời

1 Các kiểu hoang mạc trên Trái Đất

- Dựa vào đặc điểm khí hậu, các hoang mạc được chia thành 3 kiểu:

+ Hoang mạc nửa khô hạn: lượng mưa trung bình 200 - 300 mm/năm, không có dòngchảy thường xuyên và dòng nước ngầm

+ Hoang mạc khô hạn: lượng mưa dưới 200 mm, không có mùa ẩm, chỉ có ngày ẩm Cóhoang mạc khô hạn nóng như Xa-ha-ra với nhiệt độ trung bình năm khoảng 150 -

200C, cũng có hoang mạc khô hạn lạnh như Tây Tạng với nhiệt độ trung bình nămkhoảng - 100C và + 50C

Trang 17

+ Hoang mạc khô hạn cực độ: chỉ có mưa sau vài năm hay vài chục năm, lượng mưakhoảng vài chục mm (ví dụ hoang mạc A-ta-ca-ma).

- Các hoang mạc còn được phân biệt nhau bởi hình thái Dựa trên cơ sở sự khác nhau vềkhí hậu, nham thạch, thực vật, có các kiểu hình thái của hoang mạc:

+ Hoang mạc núi: có địa hình đổ nát tạo thành từ những sống núi hay quả núi kế tiếpnhau nổi lên giữa những bồn địa và cánh đồng bao quanh

+ Hoang mạc đá: là những vùng bằng phẳng hay lượn sóng bị phủ kín bởi đá tảng haycát thô, hoàn toàn không có thực vật

+ Hoang mạc cát: là những vùng cát và các dạng địa hình của chúng (cồn cát, đụncát, )

+ Hoang mạc sét: thường là các bồn địa trong hoang mạc, bằng phẳng, được bồi tụ bởisét

Câu 14

1 Trình bày ảnh hưởng của địa hình đến nhiệt độ và khí áp.

2 Cho ví dụ cụ thể về ảnh hưởng của địa hình đến chế độ nhiệt của khí hậu nước ta.

- Hướng sườn: nhiệt độ khác nhau ở các hướng của sườn núi Sườn phơi nắng có nhiệt

độ cao hơn sườn khuất nắng

- Độ dốc khác nhau có nhiệt độ khác nhau Nơi có độ dốc nhỏ sẽ có nhiệt độ cao hơnnơi có độ dốc lớn vì lớp không khí được đốt nóng có độ dày lớn hơn

Trang 18

- Bề mặt địa hình: Biên độ nhiệt trong ngày thay đổi theo địa hình Nơi đất bằng nhiệt độthay đổi ít hơn nơi đất trũng vì nơi đất trũng ban ngày ít gió, nhiệt độ cao, ban đêm khílạnh trên cao dồn xuống làm cho nhiệt độ hạ thấp Trên mặt các cao nguyên, không khíloãng hơn ở đồng bằng nên nhiệt độ thay đổi nhanh hơn ở đồng bằng

* Khí áp:

Càng lên cao không khí càng loãng nên sức ép của không khí càng nhỏ, khí áp giảm

2 Ảnh hưởng của địa hình đến chế độ nhiệt của khí hậu nước ta

- Tác động trực tiếp: thể hiện qua yếu tố độ cao địa hình Theo quy luật đai cao, cứ lên caokhoảng 100m thì nhiệt độ giảm 0,60C Vì vậy, những vùng núi cao ở nước ta có nhiệt độthấp hơn so với nền nhiệt độ trung bình của cả nước (dẫn chứng)

- Tác động gián tiếp: thông qua hướng của các dãy núi

+ Hướng vòng cung của các cánh cung ở Đông Bắc tạo điều kiện cho gió mùa ĐôngBắc tác động xâm nhập sâu vào lãnh thổ nước ta khiến các địa phương ở phía Bắc cónhiều tháng nhiệt độ xuống thấp (dẫn chứng)

+ Hướng tây bắc - đông nam của dãy Hoàng Liên Sơn có tác dụng ngăn ảnh hưởng củagió mùa Đông Bắc đến khu Tây Bắc làm cho vùng này có mùa đông ngắn hơn so vớikhu Đông Bắc

+ Hướng tây bắc - đông nam của dãy Trường Sơn vuông góc với gió Tây Nam khiếncho sườn đông chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng vào mùa hạ nhiệt độ lên cao(dẫn chứng)

+ Hướng tây - đông của các dãy núi Hoành Sơn, Bạch Mã có tác dụng ngăn ảnh hưởngcủa gió mùa Đông Bắc xuống phía nam góp phần làm cho nền nhiệt độ ở phía Namcao hơn phía Bắc (dẫn chứng)

Câu 15 Trình bày quy luật phân bố các lục địa và đại dương trên Trái Đất.

Gợi ý trả lời

Sự phân bố các lục địa và đại dương trên Trái Đất có một số quy luật sau:

- Phần lớn diện tích các lục địa nằm ở Bắc bán cầu (lục địa là 39%, đại dương là61%), phần lớn diện tích các đại dương nằm ở Nam bán cầu (81% diện tích là nước,19% là đất nổi) Vì vậy, Bắc bán cầu được xem là bán cầu lục địa và Nam bán cầu làbán cầu đại dương

- Các lục địa được phân bố trên bề mặt Trái Đất thành hai dải: dải Bắc gồm lục địa Á

-Âu, Bắc Mĩ; dải gần Xích đạo gồm lục địa Nam Mĩ, Phi và Ô-xtrây-li-a Lục địa NamCực nằm ngoài hai dải trên

- Các lục địa và đại dương nhìn chung có sự phân bố đối xứng qua tâm Trái Đất, hay

có tính đối chân ngược nhau, nghĩa là nếu ở phía bên này là biển thì bên kia đối xứng

Ngày đăng: 19/09/2018, 22:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w