Độc quyền ra đời không làm bản chất các qui luật trong CNTB không thay đổi, song về hình thức biểu hiện có khác: Nếu trong giai đoạn cạnh tranh tự do quy luật giá trị thặng dư và quy l
Trang 1BÀI 6: HỌC THUYẾT KINH TẾ VỀ CHỦ NGHĨA TƯ
BẢN ĐỘC QUYỀN VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN ĐỘC QUYỀN NHÀ NƯỚC
Xin chào các anh (chị) học viên!
Rất hân hạnh được gặp lại các anh (chị) trong bài 6 Đây là bài quan trọng để hiểu
về sự vận động và phát triển của CNTB hiện nay
Trong sự tồn tại của mình, CNTB phát triển qua hai giai đoạn: giai đoạn cạnh tranh tự do và giai đoạn độc quyền, độc quyền nhà nước Bài 6 nghiên cứu giai đoạn độc quyền và độc quyền nhà nước của CNTB Về mặt lý luận, Bài 6 nghiên cứu nguyên nhân ra đời, bản chất và những biểu hiện mới của CNTB trong giai đoạn độc quyền và độc quyền nhà nước; chỉ rõ khả năng, giới hạn, mâu thuẫn và
xu hướng phát triển của CNTB ngày nay
Nội dung của Bài 6 gồm:
Chủ nghĩa tư bản độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Những nét mới trong sự phát triển của CNTB hiện đại
Vai trò, hạn chế và xu hướng vận động của CNTB
Mục tiêu chung:
Sau khi học xong bài này, anh (chị) sẽ hiểu được bản chất và mâu thuẫn không đổi của CNTB qua các giai đoạn phát triển và các hình thức biểu hiện cụ thể của nó, nắm được khả năng thích nghi cũng như giới hạn lịch sử và sự tất yếu thay thế của nó bằng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn
Mục tiêu cụ thể:
Sau khi hoàn thành việc học bài 6, anh (chị) cần :
Nắm được 5 đặc điểm và những biểu hiện mới của CNTB độc quyền
Hiểu nguyên nhân, bản chất và biểu hiện của CNTB độc quyền nhà nước
Nắm được biểu hiện mới của CNTB độc quyền và độc quyền nhà nước, những mâu thuẫn và xu thế vận động của CNTB hiện nay
Trang 26.1 Chủ nghĩa tư bản độc quyền
tự do sang độc quyền
Theo Lênin: " tự do cạnh tranh đẻ ra tập trung sản xuất và sự tập trung sản xuất này, khi phát triển tới một mức độ nhất định, lại dẫn tới độc quyền"1
6.1.1.1 Nguyên nhân ra đời các tổ chức độc quyền
Sự xuất hiện quá trình tích tụ sản xuất và dẫn tới ra đời tư bản độc quyền do những nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dưới tác động của tiến bộ
khoa học – kỹ thuật, làm xuất hiện những ngành sản xuất mới Ngay từ đầu, nó đã là những ngành có trình độ tích tụ tư bản cao
Hai là: Cạnh tranh tự do Một mặt, buộc các nhà tư bản phải cải tiến kỹ
thuật, tăng quy mô tích tụ tư bản; mặt khác, đã dẫn đến nhiều doanh
nghiệp nhỏ, trình độ kỹ thuật kém hoặc bị các đối thủ mạnh hơn thôn tính, hoặc phải liên kết với nhau để đứng vững trong cạnh tranh làm cho quá trình tích tụ tư bản tăng lên Vì vậy, xuất hiện một số xí nghiệp
tư bản lớn nắm địa vị thống trị một ngành hay trong một số ngành công nghiệp
Ba là: Khủng hoảng kinh tế làm cho nhiều xí nghiệp nhỏ và vừa bị phá
sản; một số sống sót phải đổi mới kỹ thuật để thoát khỏi khủng hoảng,
do đó thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất
Bốn là: Tín dụng tư bản chủ nghĩa mở rộng, trở thành đòn bẩy mạnh
mẽ thúc đẩy quá trình tích tụ sản xuất trong nền kinh tế tăng cao hơn Trong điều kiện đó, những xí nghiệp và công ty lớn có tiềm lực kinh tế mạnh tiếp tục cạnh tranh với nhau ngày càng khốc liệt, khó phân thắng bại, làm nảy sinh xu hướng thỏa hiệp, từ đó hình thành các tổ chức độc quyền Các tổ chức độc quyền xuất hiện phổ biến và thống trị toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia đã tạo ra thời đại của CNTB độc quyền
Trang 36.1.1.2 Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền
Xét về bản chất, chủ nghĩa tư bản độc quyền là một nấc thang phát triển mới của chủ nghĩa tư bản
Chủ nghĩa tư bản độc quyền là chủ nghĩa tư bản trong đó ở hầu hết các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế tồn tại các tổ chức tư bản độc quyền và chúng chi phối sự phát triển của tòan bộ nền kinh tế TBCN
Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do nhưng không thủ tiêu cạnh tranh mà đẩy cạnh tranh ngày càng mạnh hơn và gay gắt hơn, do
đó V.I.Lênin cho rằng: Bản chất đích thực của độc quyền là nền kinh tế vận động trên hai nguyên tắc ngược chiều nhau: Đó là tự
do và độc quyền
Độc quyền ra đời không làm bản chất các qui luật trong CNTB không thay đổi, song về hình thức biểu hiện có khác: Nếu trong giai đoạn cạnh tranh tự do quy luật giá trị thặng dư và quy luật giá trị biểu hiện thành qui luật lợi nhuận bình quân và quy luật giá cả sản xuất, thì trong độc quyền biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền
và lợi nhuận độc quyền
Theo V.I.Lênin, thì CNTB độc quyền có năm đặc điểm kinh tế cơ bản sau:
Tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền
Tích tụ và tập trung sản xuất cao dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền
Tổ chức độc quyền là tổ chức kinh tế dựa trên cơ sở liên minh giữa những nhà tư bản lớn để tập trung vào trong tay một phần lớn (thậm chí toàn bộ) sản phẩm của một ngành bảo đảm có thể khống chế các điều kiện sản xuất và lưu thông của ngành đó nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Tổ chức độc quyền là tế bào kinh tế của CNTB độc quyền, trong
đó chứa đựng QHSX của CNTB
Nhờ vị thế chi phối được các điều kiện của sản xuất và lưu thông một ngành nên các tổ chức độc quyền có khả năng định ra giá cả độc quyền Giá cả độc quyền được hình thành nhờ mua các yếu tố đầu vào của sản xuất thấp hơn giá cả sản xuất và bán sản phẩm đầu ra cao hơn giá cả
Trang 4sản xuất nhờ vị trí độc quyền, qua đó thu được lợi nhuận độc quyền cao Như vậy, giá cả độc quyền hình thành trên cơ sở điều tiết một bộ phận của lợi nhuận bình quân từ các doanh nghiệp ngoài độc quyền và một
bộ phần tiền công của người lao động
Về liên kết, các tổ chức độc quyền thường tồn tại nhờ hai hình thức:
Liên kết ngang trong cùng ngành, từ đó ra đời loại Cácten, Xanhđica, Tờ rớt Trong đó, Cácten, xanhđica là chưa chín muồi nên dễ bị phá vỡ bởi qui luật phát triển không đều giữa các thành viên Trong thời đại ngày nay, chúng phát triển thành các conson (concern)
Liên kết dọc (liên kết hỗn hợp) đa ngành hoặc đa hình thức bao gồm
cả những cacten, xanhđica…Hình thức đơn giản là congxoocxiom
và hình thức hiện đại là cônglômêrat (conlomerate) khổng lồ
Tư bản tài chính và bọn đầu sỏ tài chính
Trong nền kinh tế TBCN thời đại độc quyền, tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng diễn ra nhanh nhất, từ đó dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc Trong nền kinh tế TBCN thời đại độc quyền, tích tụ, tập trung tư bản trong ngân hàng diễn ra nhanh nhất, từ đó dẫn đến sự hình thành các tổ chức độc quyền lớn trong ngân hàng Từ chỗ làm trung gian trong việc thanh toán và tín dụng nay do nắm được phần lớn
tư bản tiền tệ trong xã hội, ngân hàng biến chức năng kỹ thuật của mình thành chức năng chi phối hoạt động của các tư bản chức năng của nhiều ngành khác nhau
Trong điều kiện đó, tư bản hoạt động trong các ngành khác nhau, đặc biệt là tư bản công nghiệp không chịu sự chi phối của ngân hàng Chúng tìm cách xâm nhập vào ngân hàng bằng cách mua cổ phiếu khống chế, đưa người vào hội đồng quản trị hoặc tự lập ra các ngân hàng chuyên doanh phục vụ cho mình, nhờ đó mà xuất hiện ra quá trình xâm nhập và dung hợp giữa chúng để hình thành một loại tư bản mới là
tư bản tài chính và biến ngân hàng và công nghiệp thành các chức năng của mình
Tư bản tài chính là sự thâm nhập và dung hợp vào nhau giữa tư bản độc quyền trong ngân hàng và tư bản độc quyền trong công nghiệp
Trang 5Bọn đầu sỏ tài chính thực hiện sự thống trị của mình bằng "chế độ tham dự" Thực chất của chế độ tham dự là nhà tư bản tài chính lớn hoặc một tập đoàn tài chính, nhờ nắm được số cổ phiếu khống chế mà chi phối được công ty gốc hay "công ty mẹ", rồi công ty mẹ chi phối các công ty phụ thuộc hay các "công ty con", các công ty này lại chi phối các "công
ty cháu" v.v Từ đó hình thành các tập đoàn tư bản chứa đựng nhiều yếu
tố vật chất quan trọng giúp các nước đang phát triển tiến hành CNH, HĐH nền kinh tế Do đó, nhiều quốc gia đã mở cửa đón dòng xuất khẩu
tư bản cả dưới hình thức đầu tư trực tiếp và gián tiếp
Sự phân chia thế giới về kinh tế giữa các tổ chức độc quyền
Việc xuất khẩu tư bản tăng lên về quy mô và mở rộng phạm vi tất yếu dẫn đến việc phân chia thế giới về mặt kinh tế, nghĩa là phân chia lĩnh vực đầu tư tư bản, phân chia thị trường thế giới giữa các tổ chức độc quyền Cuộc đấu tranh giành thị trường tiêu thụ, nguồn nguyên liệu và lĩnh vực đầu tư có lợi nhuận cao ở nước ngoài càng trở nên gay gắt Những cuộc đụng đầu trên trường quốc tế giữa các tổ chức độc quyền quốc gia có sức mạnh kinh tế hùng hậu lại được sự ủng hộ của nhà nước "của mình" và các cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa chúng tất yếu dẫn đến xu hướng thoả hiệp, ký kết hiệp định để củng cố địa vị độc quyền của chúng trong những lĩnh vực và những thị trường nhất định
Từ đó hình thành các liên minh độc quyền quốc tế, các tập đoàn xuyên quốc gia…
Sự phân chia thế giới về lãnh thổ giữa các cường quốc đế quốc
Cuối thế kỷ XIX đầu XX, lãnh thổ thế giới đã chia xong, nhưng sự phân chia không đều, các đế quốc như Anh, Pháp, Mỹ…chiếm phần lớn lãnh thổ thế giới làm thuộc địa để khai thác nguyên liệu, bóc lột lao động làm thuê và tiêu thụ hàng hóa, tức là chiếm lĩnh và khai thác độc quyền thị trường thuộc địa nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao Trong khi
đó, những đế quốc trẻ như: Đức, Áo, Hungari, Italia, Nhật Bản có nền kinh tế phát triển nhanh, thị trường trong nước bão hòa, hàng hóa sản xuất
ra không xuất được sang các nước khác bởi hàng rào hành chính và thuế quan cao Chính vì vậy mà các trùm tư bản tài chính ở các nước này đã
Trang 6liên kết với nhà nước thực hiện hai cuộc chiến tranh thế giới đòi phân chia lại thuộc địa nhằm chiếm lĩnh và khai thác thị trường Hai cuộc chiến tranh thế giới 1914 - 1918 và 1939 - 1945 đã để lại hậu quả nặng nề do hủy hoại sức người và sức của của nhân loại
Ngay từ khi nghiên cứu về CNTB độc quyền, V.I.Lênin đã khẳng định:
Đế quốc là một trong các đặc trưng cơ bản của CNTB độc quyền, Người gọi CNTB độc quyền là Chủ nghĩa đế quốc
Như vậy, Chủ nghĩa đế quốc là một đặc trưng của chủ nghĩa tư bản độc quyền, biểu hiện trong đường lối xâm lược nước ngòai, biến những nước này thành hệ thống thuộc địa của các cường quốc nhằm đáp ứng yêu cầu thu siêu lợi nhuận độc quyền của tư bản độc quyền
trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
6.1.3.1 Quan hệ giữa độc quyền và cạnh tranh trong giai đoạn chủ
nghĩa tư bản độc quyền
Độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do, độc quyền đối lập với cạnh tranh
tự do Nhưng sự xuất hiện của độc quyền không thủ tiêu được cạnh tranh, trái lại với nó còn làm cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt và
có sức phá hoại to lớn hơn
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, tồn tại các loại cạnh tranh sau:
Một là: Cạnh tranh giữa các tổ chưc độc quyền với các xí nghiệp ngoài
độc quyền
Hai là: Cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau
Ba là: Cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền
6.1.3.2 Biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị và quy luật giá trị
thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Các tổ chức độc quyền hình thành do chính sự vận động nội tại của chủ nghĩa tư bản sinh ra Độc quyền là biểu hiện mới, mang những quan hệ mới nhưng nó không vượt ra khỏi các quy luật của chủ nghĩa tư bản mà chỉ là sự tiếp tục mở rộng, phát triển những xu thế mới của chủ nghĩa tư bản và của nền sản xuất hàng hoá nói chung, làm cho các quy luật kinh
Trang 7tế của nền sản xuất hàng hoá và của chủ nghĩa tư bản có những biểu hiện mới
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất, thì trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá
cả độc quyền
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, quy luật giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân Bước sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá cả độc quyền và thu được lợi nhuận độc quyền cao Do đó quy luật lợi nhuận độc quyền cao là hình thức biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Như vậy, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật lợi nhuận độc quyền cao Quy luật này phản ánh quan hệ thống trị và bóc lột của tư bản độc quyền trong
tất cả các ngành kinh tế của xã hội tư bản và trên toàn thế giới
quyền nhà nước
6.2.1.1 Nguyên nhân hình thành chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước
Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước ra đời do các nguyên nhân sau:
Một là: Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến qui mô của nền
kinh tế ngày càng lớn, tính chất xã hội hóa của nền kinh tế ngày càng cao đòi hỏi có sự điều tiết xã hội đối với sản xuất và phân phối bằng
một kết hoạch hóa tập trung từ một trung tâm là Nhà nước
Hai là: Sự phát triển của phân công lao động xã hội và bùng nổ của
KHCN đã làm xuất hiện một số ngành mà các tổ chức độc quyền tư bản
tư nhân không thể hoặc không muốn kinh doanh vì đầu tư lớn, thu hồi vốn chậm và ít lợi nhuận, nhất là các ngành thuộc kết cấu hạ tầng như năng lượng, giao thông vận tải, giáo dục, nghiên cứu khoa học cơ bản Nhà nước tư sản với tư cách là người đại diện tập thể cho các nhà tư
Trang 8bản phải đảm nhiệm kinh doanh những ngành đó, tạo điều kiện cho các
tổ chức độc quyền tư nhân kinh doanh các ngành khác có lợi hơn
Ba là: Sự thống trị của độc quyền đã làm sâu sắc thêm sự đối kháng
giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản và nhân dân lao động Nhà nước phải làm dịu những mâu thuẫn đó bằng các hình thức can thiệp khác nhau cần thiết vào mối quan hệ này
Bốn là: Sự tích tụ và tập trung tư bản cao dẫn đến mâu thuẫn giữa các
tổ chức độc quyền với nhau, mâu thuẫn giữa tư bản độc quyền với các
tổ chức kinh doanh vừa và nhỏ…trở nên gay gắt cần có sự điều tiết, can thiệp của nhà nước
Năm là: Cùng với xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế, sự bành trướng
của các liên minh độc quyền quốc tế vấp phải những hàng rào quốc gia dân tộc và xung đột lợi ích với các đối thủ trên thị trường thế giới Tình hình đó đòi hỏi phải có sự điều tiết các quan hệ chính trị và kinh tế quốc tế của nhà nước
Sáu là: Cuộc đấu tranh với chủ nghĩa xã hội hiện thực nhằm bảo tồn và
mở rộng QHSX tư bản chủ nghĩa cũng đòi hỏi sự liên minh giữa các nhà nước và can thiệp trực tiếp của nhà nước vào đời sống kinh tế
Dự đoán về sự ra đời của CNTB độc quyền nhà nước V.I.Lênin đã cho rằng: CNTB độc quyền nhà nước là sự kết hợp sức mạnh của các tổ chức độc quyền với sức mạnh của nhà nước tư sản trong một cơ chế thống nhất nhằm làm giàu cho các tổ chức độc quyền và bảo tồn quan
hệ sản xuất TBCN tạo điều kiện để lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Định nghĩa này nói rõ bản chất của CNTB độc quyền nhà nước và nó được hiểu trên ba phương diện sau:
Một là: Liên kết với nhà nước tư sản thì sức mạnh của các tổ chức
độc quyền được nhân bội lên nhờ sự bảo trợ và nâng đỡ của nhà nước
Hai là: Liên kết với độc quyền thì vai trò kinh tế của nhà nước tư sản
được mở rộng ra và trở thành nhân tố trực tiếp quyết định sự vận động của quá trình tái sản xuất TBCN
Ba là: Để tác động có hiệu quả vào vận động của nền kinh tế, khắc phục
các cuộc khủng hoảng, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển,
Trang 9giảm nhẹ các mâu thuẫn xã hội, đối kháng xã hội, giữa nhà nước và các
tổ chức độc quyền phải liên kết với nhau theo một cơ chế nhất định để hình thành các thể chế và thiết chế thống nhất
Các quy luật kinh tế trong CNTB độc quyền nhà nước về bản chất là không thay đổi, song luôn có sự điều chỉnh và can thiệp của nhà nước
tư sản làm cho các hình thức biểu hiện của nó ra bề mặt xã hội giảm nhẹ tính đối kháng, nhằm tạo điều kiện và môi trường để có thể tiếp tục duy trì quan hệ sản xuất TBCN
Tuy vậy, chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước không phải một chế độ kinh tế mới so với chủ nghĩa tư bản, Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chỉ là chủ nghĩa tư bản độc quyền có sự can thiệp, điều tiết của nhà nước về kinh tế, là sự kết hợp sức mạnh của tư bản độc quyền với sức mạnh của nhà nước về kinh tế nhằm tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ sản xuất TBCN trong điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất
nhà nước
Sự vận động của chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước được biểu hiện dưới những hình thức chủ yếu dưới đây:
Sự kết hợp về nhân sự giữa các tổ chức độc quyền và nhà nước tư sản
V.I Lênin đã từng nhấn mạnh rằng, sự liên minh về nhận thức của các ngân hàng với công nghiệp được bổ sung bằng sự liên minh về nhân sự của ngân hàng và công nghiệp với chính phủ theo kiểu: hôm nay là bộ trưởng, ngày mai là chủ ngân hàng; hôm nay là chủ ngân hàng, ngày mai là bộ trưởng
Sự kết hợp về nhân sự được thực hiện thông qua các đảng phái tư sản Chính các đảng phái này đã tạo ra cho tư bản độc quyền một cơ sở xã hội để thực hiện sự thống trị và trực tiếp xây dựng đội ngũ công chức cho bộ máy nhà nước
Thông qua các “liên minh giới chủ”, một mặt, các đại biểu của các tổ chức độc quyền tham gia vào bộ máy nhà nước với những cương vị khác nhau; mặt khác, các quan chức và nhân viên chính phủ được cài
Trang 10vào các ban quản trị của các tổ chức độc quyền, nắm giữ những chức
vụ trọng yếu chính thức hoặc danh dự, hoặc trở thành những người đỡ đầu các tổ chức độc quyền Sự thâm nhập vào nhau này (còn gọi là sự kết hợp) đã tạo ra những biểu hiện mới trong mối quan hệ giữa các tổ chức độc quyền và cơ quan nhà nước từ trung ương đến các địa phương
ở các nước tư bản
Sự hình thành và phát triển của sở hữu tư bản độc quyền nhà nước
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, khu vực kinh tế của nhà nước tư bản được phát triển và mở rộng do:
Viện trợ của Mỹ (kế hoạch Marshall) cho các nước tư bản khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá (phần lớn các nhóm viện trợ này đều đầu tư vào cơ sở hạ tầng thuộc sở hữu nhà nước)
Hiệu ứng làm mẫu từ các nước xây dựng CNXH do khu vực kinh tế nhà nước vào thời kỳ đó hoạt động có hiệu quả đã khuyến khích một số nước Tây Âu tiếp tục mở rộng doanh nghiệp nhà nước
Để dung hòa lợi ích của tư bản độc quyền và không độc quyền buộc nhà nước tư sản cũng phải mở rộng khu vực kinh tế của nhà nước Trong CNTB độc quyền nhà nước, Nhà nước tư bản sở hữu: Toàn bộ tài nguyên thiên nhiên, sở hữu các động sản và bất động sản dùng cho
bộ máy công quyền, sở hữu các kho bạc; độc quyền phát hành tiền tệ và
sở hữu các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế của nhà nước
Sở hữu nhà nước tư sản về bản chất mang tính hai mặt Một mặt, hình như nó là sở hữu của toàn dân, bởi về hình thức nhà nước tư sản do phổ thông đầu phiếu mà bầu ra; một mặt kia, thực chất là sở hữu tập thể của các nhà tư bản, bởi nhà nước dùng sở hữu của mình để điều tiết kinh tế nhằm duy trì quan hệ sản xuất TBCN Tuy nhiên, việc mở rộng hoặc thu hẹp sở hữu nhà nước tư sản không nói lên đầy đủ bản chất của CNTB độc quyền nhà nước, bởi lẽ bước vào thập kỷ 1970, nhiều nhà nước tư sản như Anh, Mỹ…đã tư hữu hóa các tài sản thuộc sở hữu nhà nước do tính không hiệu quả của nó, song bản chất kinh tế của CNTB nhà nước ở đây vẫn không thay đổi
Sự điều tiết kinh tế của nhà nước tư sản
Sự điều tiết kinh tế của nhà nước được thực hiện bằng nhiều công cụ khác nhau như pháp lý (luật chống độc quyền…), kinh tế (chính sách