1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

De tai SKKN LTVC l5( yen)

23 245 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi thường nhận thấy các emhọc sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũngkhông mấy khó khăn, tuy nhiên khi học xong

Trang 1

- Đối tượng nghiên cứu.

- Phương pháp nghiên cứu

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1.Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải

quyết vấn đề

2 4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,

với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

21212222

Trang 2

PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Một trong những nguyên tắc cơ bản của dạy Tiếng Việt là dạy học thôngqua giao tiếp Các hoạt động giao tiếp, đặc biệt giao tiếp bằng ngôn ngữ làcông cụ vô cùng quan trọng để học sinh tiếp cận, rèn luyện và phát triển khảnăng sử dụng từ Tiếng Việt Do đó, việc đưa học sinh vào các hoạt động họctập trong giờ Tiếng Việt được giáo viên đặc biệt quan tâm, chú ý Ngôn ngữTiếng Việt của chúng ta thực sự có nhiều khía cạnh khó, một trong những nộidung khó đó là phần nghĩa của từ

Hơn nữa, đây lại là mảng kiến thức rất quan trọng trong quá trình học tậpcủa học sinh Các em hiểu và phân biệt được các lớp từ, đặc biệt là từ đồng âm

- từ nhiều nghĩa sẽ giúp các em có được vốn từ phong phú, từ đó hoạt độnggiao tiếp của các em ở cả hai lĩnh vực: nói - viết rất thuận lợi Việc sản sinh vănbản như đặt câu, viết đoạn sẽ chính xác và hấp dẫn người đọc, người nghe.Được như vậy, chất lượng phân môn luyện từ và câu sẽ được nâng cao và tấtnhiên sẽ có ảnh hưởng tích cực đến kết quả của các phân môn liên quan như:Tập làm văn, cảm thụ văn học góp phần quan trọng vào dạy học môn TiếngViệt ở Tiểu học

Trong chương trình được quy định ở phân môn luyện từ và câu lớp 5, nội dungnghĩa của từ được tập trung biên soạn rất hệ thống Học sinh được tìm hiểu theomức độ từ dễ đến khó: từ đồng nghĩa - từ trái nghĩa - từ đồng âm - từ nhiềunghĩa Nhiều năm liền trong quá trình dạy học, tôi thường nhận thấy các emhọc sinh dễ dàng tìm được các từ trái nghĩa, việc tìm các từ đồng nghĩa cũngkhông mấy khó khăn, tuy nhiên khi học xong từ đồng âm và từ nhiều nghĩa thìcác em bắt đầu có sự nhầm lẫn và khả năng phân biệt từ đồng âm và từ nhiềunghĩa cũng không được như mong đợi của cô giáo, kể cả học sinh biết vậndụng đôi khi vẫn còn thiếu chính xác Trăn trở về vấn đề này, qua năm giảngdạy lớp 5, tôi thấy rằng muốn cho các em nắm chắc cách phân biệt từ đồng âm

- từ nhiều nghĩa, người giáo viên phải biết cách định hướng cho các em và phải

Trang 3

biết đưa ra cách thức tổ chức hợp lí cho mỗi tiết học, mỗi dạng bài tập riêng.Trong phân môn Tiếng Việt không chỉ là công cụ giao tiếp và tư duy mà nó còn

có chức năng kép mà các môn học khác không có được, đó là: Trang bị cho HSmột số công cụ để tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa học trong nhàtrường Tiếng Việt là công cụ để học các môn học khác ; kĩ năng nghe, nói, đọc,viết là phương tiện là điều kiện thiết yếu của qúa trình học tập Bên cạnh chứcnăng giao tiếp, tư duy ngôn ngữ còn có chức năng quan trọng nữa đó là thẩm

mĩ , ngôn ngữ là là phương tiện để tạo nên cái đẹp; hình tượng nghệthuật.Trong văn học HS phải thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ.Vì thế ở trườngtiểu học Tiếng Vịêt và văn học được tích hợp với nhau,Văn học giúp HS cónhận thức đúng đắn, có tình cảm thái độ hành vi của con người Việt Nam hiệnđại, có khả năng hòa nhập và phát triển cộng đồng Mặt khác ngôn ngữ vănhọc còn là biểu hiện bậc cao của nghệ thuật ngôn từ Cho nên dạy Tiếng Việt làcách bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ tối ưu cho người học Ngược lại hiểu sâusắc về Tiếng Việt lại tác động đến kĩ năng cảm thụ thơ văn của học sinh Để đạtđược hiệu quả truyền thụ Tiếng Việt cho học sinh đòi hỏi người giáo viên cầnphải dạy ở mọi nơi mọi lúc trong tất cả các môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt.Phải có những phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng của bộ môn, phải

có kiến thức Tiếng Việt vững vàng và không ngừng học hỏi để nâng cao trình

độ và đó cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này

Và tôi đã đi sâu nghiên cứu Biện pháp giúp học sinh giải quyết một số khókhăn khi học dạng bài Từ đồng âm - từ nhiều nghĩa nhằm nâng cao chất lượngdạy luyện từ và câu lớp 5 Hi vọng đề tài của tôi sẽ phần nào đáp ứng được yêucầu trên

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

*Tôi chọn đề tài này nghiên cứu với mục đích:

- Giúp học sinh tháo gỡ những nhầm lẫn giữa đồng âm - từ nhiều nghĩa Gópphần làm giàu thêm vốn từ cho học sinh

- Giúp học sinh thiết lập mối quan hệ của từ với sự vật và tách được ý nghĩa từvựng của từ khỏi sự vật được biểu thị bởi từ

Trang 4

- Giúp học sinh có năng lực sử dụng từ đồng âm - từ nhiều nghĩa trong văn bảnbằng hình thức nói hoặc viết, để từ đó các em sử dụng được Tiếng Việt văn hóalàm công cụ giao tiếp tư duy.

- Rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc dạy, học từ đồng âm - từ nhiềunghĩa

3.Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu vấn đề lí luận

- Nghiên cứu thực trạng và đề ra giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học

về từ đồng âm - từ nhiều nghĩa cho HS lớp 5

- Một số kinh nghiệm giúp học sinh phân bịêt về từ đồng âm - từ nhiều nghĩa

- Học sinh lớp 5 trường Tiểu học Kiên Thọ I

4.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp trắc nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Phần 2: NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Theo ngôn ngữ học, trước hết, nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền vớirèn luyện tư duy Ngôn ngữ vừa là công cụ vừa là sản phẩm của tư duy và tưduy là hiện thực trực tiếp của ngôn ngữ Quá trình người học nhận thức cáckhái niệm và qui tắc của ngôn ngữ, vận dụng nó vào giải quyết các nhiệm vụ cụthể của giao tiếp cũng chính là quá trình người học tiến hành các thao tác tưduy theo một định hướng Quá trình này không chỉ hình thành các kỹ năngngôn ngữ mà còn hình thành các kỹ năng và phẩm chất tư duy Quá trình hoạtđộng tư duy và hoạt động ngôn ngữ là hai quá trình có mối quan hệ biện chứng,hữu cơ tới mức “ Tuy hai mà một, tuy một mà hai” Nói một cách khác, muốnrèn luyện ngôn ngữ thì tất phải rèn luyện tư duy và ngược lại

Trang 5

Trên cơ sở văn học, muốn cảm nhận được cái hay, cái đẹp của văn học,học sinh nhất thiết phải hiểu nghĩa của từ Để đặt câu, viết đoạn hay nhất thiếtphải có vốn từ dồi dào, thông hiểu vốn từ đó một cách chủ động Học sinhthông hiểu ý nghĩa các đơn vị ngôn ngữ gắn chúng với nội dung hiện thực màchúng phản ánh, đồng thời phải thấy được giá trị của chúng trong hệ thốngTiếng Việt Phải chuẩn bị tốt nội dung các đề tài cho các bài tập luyện nói, liênkết gần gũi với đời sống của các em

Lứa tuổi học sinh tiểu học, các em vừa học vừa chơi, hình thành kiến thứcchủ yếu trên cơ sở thực hành trực quan, các em sẽ thấy hấp dẫn hơn nếu ngườithầy của các em là người cùng khám phá, cùng chia sẻ, cùng động viên nhautrong quá trình học tập

Tất cả những vấn đề trên là cơ sở vững chắc đối với học sinh tiểu học Nắmvững điều này giáo viên sẽ tạo điều kiện để giúp em các em tiếp thu kiến thứcthoải mái, chủ động.Từ đó phát huy được tính tích cực của các em, nâng caohiệu quả giờ dạy

2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

a) Về việc dạy từ đồng âm - từ nhiều nghĩa của giáo viên

Qua dự giờ, thảo luận cùng đồng nghiệp trong các tiết sinh hoạt chuyênmôn, tôi nhận thấy việc dạy của giáo viên có một số ưu, nhược điểm như sau:

Ưu điểm: Trong quá trình dạy học các bài học này, mỗi giáo viên đều làmđúng vai trò hướng dẫn, tổ chức cho học sinh Giúp học sinh nắm bắt tương đốiđầy đủ nội dung, kiến thức có trong mỗi bài học Các hình thức tổ chức cũngđược giáo viên khá quan tâm nhằm giúp các tiết học sôi nổi hơn

Nhược điểm: Thực tế hiện nay chất lượng một số tiết học về từ đồng âm, từnhiều nghĩa chưa cao, một số học sinh còn gặp khó khăn, lúng túng trong thựchành Giáo viên đôi khi chưa lôi cuốn thu hút được học sinh vào hoạt động họctập tích cực Do thời lượng một tiết học có hạn nên giáo viên chưa lồng ghépliên hệ phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong các bài học Do đó, saucác bài học ấy học sinh chỉ nắm được kiến thức một cách tách rời giữa từ đồng

âm và từ nhiều nghĩa Đôi khi giảng dạy nội dung này, một số giáo viên còn

Trang 6

khó khăn khi lấy thêm một số ví dụ cụ thể ngoài SGK để minh hoạ phân biệt từđồng âm và từ nhiều nghĩa.

b) Về việc học từ đồng âm - từ nhiều nghĩa của học sinh

Trong thực tế, sau khi thực hành giảng dạy và dự giờ đồng nghiệp, tôi thấycác tiết học về hai lớp từ này còn nổi lên một số vấn đề về việc học tập của họcsinh như sau:

Học sinh làm các bài tập về từ đông âm nhanh và ít sai hơn khi học cácbài tập về từ nhiều nghĩa, cũng có thể do từ nhiều nghĩa trừu tượng hơn Đặcbiệt khi cho học sinh phân biệt và tìm các từ có quan hệ đồng âm, các nghĩa của

từ nhiều nghĩa trong một số văn cảnh thì đa số học sinh lúng túng và làm bàiđạt yêu cầu chưa cao Ban đầu, khi học từng bài về từ đồng âm, từ nhiều nghĩathì phần đa các em làm được bài, song khi làm các bài tập lồng ghép để phânbiệt từ đồng âm, từ nhiều nghĩa thì chất lượng bài làm yếu hơn

Trên cơ sở việc dạy và học như trên, tôi nhận thấy hầu hết học sinh khi họccác tiết luyện từ và câu về từ đồng âm, từ nhiều nghĩa còn nhiều khó khăn,vướng mắc Cụ thể như sau:

- Khó khăn trong việc giải nghĩa các từ: học sinh còn lúng túng, diễn đạtcòn lủng củng, thậm chí giải nghĩa từ bị sai

- Phân biệt từ đồng âm và từ nhiều nghĩa: còn mơ hồ, cảm tính

- Phân biệt nghĩa gốc và một số nghĩa chuyển của từ: học sinh còn làmchậm, còn sai

- Đặt câu có sử dụng từ đồng âm, từ nhiều nghĩa: chưa chính xác, chưa hay,chưa đúng với nét nghĩa yêu cầu

Cụ thể đối với học sinh lớp 5 trường Tiểu học Kiên Thọ 1 nói chung vàhọc sinh lớp 5A2 do tôi chủ nhiệm nói riêng, đa số các em đều cho rằng hai lớp

từ này rất khó nhận biết và phân biệt, các em cảm thấy tiết học hơi căng thẳng,chưa biết làm thế nào để có được kết quả khả quan hơn

c) Kết quả của thực trạng trên

Trang 7

Ngay từ đầu năm học 2015 - 2016, sau phần học từ đồng âm, từ nhiều nghĩatôi đã ra đề khảo sát học sinh lớp 5A2 để kiểm tra khả năng phân biệt 2 lớp từnày với đề bài cụ thể như sau:

Bài 1: Dòng nào dưới đây có chứa các từ nhiều nghĩa?

a, lá cây – lá thư- lá cờ

b, đỏ hoe – đỏ thẫm – đỏ thắm

c, bàn bạc – bàn thắng - cái bàn

Bài 2: Cặp từ nào dưới đây là từ đồng âm?

a, xanh lơ- xanh ngắt

b, mũi thuyền – mũi kéo

c, con bò – tập bò

Bài 3: Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào có quan hệ đồng âm, những

từ nào có quan hệ nhiều nghĩa với nhau?

Đường: - Con đường rợp bóng cây

- Đường dây điện vươn xa

- Nhà máy đường đang hoạt động

Đáp án: Bài 1: Chọn a,

Bài 2: Chọn c,

Bài 3: Đường ở câu 1 và câu 2 là từ nhiều nghĩa, Đường ở câu 3

là từ đồng âm với 2 trường hợp trên

Qua nhận xét bài, tôi đã tổng hợp được kết quả đầu năm như sau:

số giải pháp mong muốn khắc phục được tình trạng nêu trên

Trang 8

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Giải pháp 1: Giáo viên nắm vững bản chất kiến thức về từ đồng âm, từ nhiều

nghĩa và nâng cao ý thức tự học, tích lũy chuyên môn

Phương pháp dạy học mới đòi hỏi giáo viên phải nắm vững kiến thức, sâusắc để hướng dẫn, làm trọng tài khoa học cho học sinh Đối với các tiết luyện

từ và câu về từ nhiều nghĩa vốn kiến thức của giáo viên lại đặc biệt quan trọng.Muốn có điều này giáo viên phải bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu kĩ, đặc biệtphải nắm rõ các nghĩa của từ một cách chính xác

* Theo SGK TV5 - tập 1 - trang 51, Từ đồng âm là những từ giống nhau về âmnhưng khác hẳn nhau về nghĩa

Ví dụ: - đá trong đá bóng, chỉ hoạt động dùng chân tác động mạnh làm quảbóng văng ra xa

- đá trong đá vôi: danh từ chỉ thứ đá dùng để nung thành vôi

Hay: - đậu trong đậu xanh: danh từ chỉ giống đậu cho hạt nhỏ vỏ màu xanhlục

- đậu trong chim đậu : động từ chỉ hoạt động dừng chân của sự vật

- đậu trong thi đậu: chỉ thi đỗ, trúng tuyển

Đây là kiến thức cô đọng, súc tích nhất dành cho học sinh tiểu học ghi nhớ,vận dụng khi làm bài tập, thực hành

Đối với giáo viên, cần chú ý thêm từ đồng âm được nói tới trong sách giáokhoa Tiếng Việt 5 gồm cả từ đồng âm ngẫu nhiên (nghĩa là có 2 hay hơn 2 từ cóhình thức ngữ âm ngẫu nhiên giống nhau, trùng nhau nhưng giữa chúng không

có mối quan hệ nào, chúng vốn là những từ hoàn toàn khác nhau) như trườnghợp “cuốc” trong “con cuốc” và “cuốc” trong “cuốc đất” là từ đồng âm ngẫunhiên và cả từ đồng âm chuyển loại (nghĩa là các từ giống nhau về hình thứcngữ âm nhưng khác nhau về nghĩa, đây là kết quả của hoạt động chuyển loạicủa từ)

Ví dụ: a) + hái (danh từ): cái hái; b) gạch (danh từ): hòn gạch

+ hái (động từ): hái hoa; gạch (động từ): gạch chéo

Trang 9

c) + cá (danh từ): con cá + cá (động từ): cá cược

Từ đồng âm hình thành do nhiều cơ chế: do trùng hợp ngẫu nhiên (lông mày

- bọn mày), do chuyển nghĩa quá xa mà thành (nhiều kẻ vì - vì lý do gì), do từvay mượn trùng với từ có sẵn( cái đầm - bà đầm, la hét - nốt la), do từ rút gọntrùng với từ có sẵn (hụt mất hai phân – phân bón, )

Trong giao tiếp cần chú ý đầy đủ đến ngữ cảnh để tránh hiểu sai nghĩa của

từ hoặc dùng với nghĩa nước đôi do hiện tượng đồng âm

* Cũng theo SGK Tiếng Việt 5 Tập 1 - trang 67, từ nhiều nghĩa là từ có mộtnghĩa gốc và một hay một số nghĩa chuyển Các nghĩa của từ nhiều nghĩa baogiờ cũng có mối liên hệ với nhau

Theo cách phân chia này nghĩa của từ được chia làm hai loại: nghĩa gốc vànghĩa chuyển Nghĩa gốc là cái nghĩa chỉ vật, khái niệm mà những người trongmột cộng đồng ngôn ngữ thường hiểu đối víi một từ nào đó khi nó đứng mộtmình, ít bị phụ thuộc vào những từ đi trước hoặc sau nó Nghĩa chuyển là nghĩađược suy ra từ nghĩa gốc

Ví dụ: Đối với từ chân nghĩa “chi dưới của động vật”, đối với từ nhà nghĩa

“công trình kiến trúc để ở”, đối với từ chạy nghĩa “dời chổ bằng chân với tốc

độ cao”, đối với chín nghĩa “chỉ trạng thái của quả cây” là nghĩa gốc thì cácnghĩa còn lại của mỗi từ đều là nghĩa chuyển

Mặt khác các từ trong cùng một phạm vi biểu vật thường chuyển nghĩatheo một hướng nên nghĩa gốc và nghĩa chuyển có tính chất giống nhau

Ví dụ: Nếu xem nghĩa “ bộ phận cơ thể người, động vật” là nghĩa gốc của từtay thì đó cũng là nghĩa gốc của từ: đầu, mặt, cổ, chân, cánh, lưng, bụng….vàcác nghĩa của các từ trên trong các tổ hợp sau đây là nghĩa chuyển của chúng:tay ghế, tay áo, đầu bút, đầu sóng, mặt bàn, tai mũ, tai chén, cổ áo, cổ chai,cánh quạt, lưng áo, lưng quần, lưng ghế, chân bàn, chân mây, ruột bút…

Từ có thể chuyển nghĩa dựa trên sự giống nhau về vị trí hoặc hình thứccủa các sự vật như: lòng sông, đầu làng, ngọn núi Từ cũng có thể chuyển nghĩa

Trang 10

dựa trên sự giống nhau về chức năng của sự vật như: bến trong bến xe, bến tàuđiện giống với bến đò, bến sông vì cùng chỉ chức năng đầu mối giao thông.

Có khi người ta dùng tên gọi của những giác quan này để gọi tên những cảm giác của những giác quan khác hay những cảm giác trí tuệ, tình cảm như:

“chua”, “nhạt”, “mặn”, “chát” là những cảm giác vị giác được dùng để gọi têncác cảm giác thính giác : “nói chua loét”, “lời nói ngọt ngào”, “pha trò nhạtquá”, “nói cay quá”…

Cũng có nhiều khi từ chuyển nghĩa bằng cách lấy tên gọi bộ phận cơ thểthay cho cả cơ thể, cho cả người hay cả toàn thể Ví dụ: chân, tay, miệng là têngọi bộ phận cơ thể nhưng trong các tập hợp sau: “có chân trong đội bóng đá”,

“ một tay cờ xuất sắc”, “ gia đình bảy tám miệng ăn” chúng chỉ cả người hay cả

cơ thể trọn vẹn

Cũng có khi lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên đơn vị thời gian

Ví dụ: xuân là tên gọi một mùa nhưng nó có thể để chỉ năm ( mùa xuân - bảymươi xuân)

Đối với giáo viên có thể hiểu: Một từ có thể gọi tên nhiều sự vật hiệntượng, biểu thị nhiều khái niệm (khái niệm về sự vật, hiện tượng) trong thực tếkhách quan thì từ ấy được gọi là từ nhiều nghĩa Các nghĩa trong từ nhiều nghĩa

có mối liên hệ mật thiết với nhau

Muốn hiểu rõ hơn khái niệm về từ nhiều nghĩa ta có thể so sánh từ nhiềunghĩa với từ một nghĩa Từ nào là tên gọi của một sự vật, hiện tượng biểu đạtmột khái niệm thì từ ấy chỉ có một nghĩa.Từ nào là tên gọi của nhiều sự vật,hiện tượng, biểu thị nhiều khái niệm thì từ ấy là từ nhiều nghĩa

Đối với học sinh lớp 5, chúng ta không thể yêu cầu học sinh nắm vững cácthành phần ý nghĩa của từ, cách thức chuyển nghĩa của từ song yêu cầu họcsinh phải giải nghĩa một số từ thông qua các câu văn, các cụm từ cụ thể, xácđịnh được nghĩa gốc và nghĩa chuyển của từ, phân biệt từ nhiều nghĩa với từđồng âm, tìm được một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của từ, đặt câu với cácnghĩa của từ nhiều nghĩa

Trang 11

Như vậy dạy học từ nhiều nghĩa ở tiểu học rất phức tạp Là giáo viên giảngdạy lớp 5 giáo viên cần phải nắm vững kiến thức về từ nhiều nghĩa, các cáchthức chuyển nghĩa của từ để từ đó có thể lựa chọn phương pháp hướng dẫn họcsinh học tập phù hợp.

Giải pháp 2: Giáo viên giúp học sinh phân loại cụ thể các dạng bài tập phân

biệt từ đồng âm với từ nhiều nghĩa

Việc phân loại các dạng bài tập vô cùng thuận lợi cho cả giáo viên và họcsinh trong dạy - học: Giáo viên có thể dựa trên dạng bài mà đưa ra các hìnhthức tổ chức phù hợp còn học sinh, nắm rõ được các dạng bài tập sẽ địnhhướng được cách tìm ra lời giải hay đáp án một cách dễ dàng, ít bị vướng mắc.Theo tôi, bài tập về từ đồng âm - từ nhiều nghĩa tồn tại ở một số dạng dưới đây:Dạng 1: Phân biệt nghĩa của các từ

* Đối với từ nhiều nghĩa:

Trong những câu sau câu nào có từ “miệng” mang nghĩa gốc và câu nào có

từ “miệng” mang nghĩa chuyển?

Miệng: a Miệng giếng tròn tròn b Bé đau miệng

Đối với bài tập trên giáo viên yêu cầu học sinh nêu được nghĩa của từ

“miệng” trong mỗi câu và xác định nghĩa chuyển, nghĩa gốc: “miệng” trongcâu a chỉ phần trên cùng của cái giếng – nghĩa chuyển, “miệng” trong câu bmột bộ phận của cơ thể dùng để ăn, nói – nghĩa gốc

Dạng 2: Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm hoặc nhiều nghĩa

Ví dụ:

* Đối với từ đồng âm : Đặt câu để phân biệt các từ đồng âm: bàn, cờ, nước

Ngày đăng: 17/09/2018, 22:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w