Dạng 1: Cảm nhận về hai hay nhiều tác phẩm đoạn tác phẩm * Yêu cầu của dạng bài: Dạng bài này yêu cầu HS phải: - Cảm nhận các tác phẩm đoạn trích trên phương diện nội dung và nghệ thuậ
Trang 1CHƯƠNG I CÁC DẠNG SO SÁNH TRONG BÀI PHÂN TÍCH VĂN HỌC
1 Dạng 1: Cảm nhận về hai (hay nhiều) tác phẩm (đoạn tác phẩm)
* Yêu cầu của dạng bài:
Dạng bài này yêu cầu HS phải:
- Cảm nhận các tác phẩm (đoạn trích) trên phương diện nội dung và nghệ thuật
- Trên cơ sở những cảm nhận trên chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau về nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm (đoạn trích) ấy
- Tìm nguyên nhân của sự giống và khác nhau đó
- Đánh giá được ý nghĩa sự tương đồng và khác biệt
* Đề bài
Nêu cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ sau:
“ Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn,
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu,
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh
sáng,
Cho no nê thanh sắc của thời tươi,
- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”
(Vội vàng - Xuân Diệu)
“Tôi buộc lòng tôi với mọi người
Để tình trang trải với trăm nơi
Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ Không áo cơm, cù bất cù bơ…”
2 Cảm nhận đoạn thơ trong bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu)
- Về nội dung: Quan niệm sống của Xuân Diệu xuất phát từ tình yêu cuộc sống, con người tha thiết
và một cảm quan đặc biệt về thời gian Vẻ đẹp cuộc sống trong cái nhìn của nhà thơ hiện ra với những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ: mây đưa, gió lượn, cánh bướm, tình yêu, cỏ rạng ngời trong nắng.Nhà thơ đã nhân hoá những vẻ đẹp thiên nhiên đó để nó mang hương sắc của tuổi xuân, tuổi trẻ Tuy nhiên, những vẻ đẹp ấy sẽ phai tàn cùng với sự trôi chảy của thời gian Vì vậy, sống là phải chủ động, hết mình, đắm say, mãnh liệt, thức nhọn mọi giác quan để tận hưởng tất cả những vẻ đẹp
của cuộc sống, của niềm vui, tình yêu và hạnh phúc Chú ý phân tích các từ: ôm-riết-say- hôn-cắn và điệp từ ta muốn để thấy rõ cảm xúc ham hố, vồ vập cả nhà thơ trước vẻ đẹp cuộc sống
thâu-trần gian
- Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành côngnhững câu thơ tự do mang điệu nói, nhịp thơ dồn dập, lôi cuốn; cách sử dụng những động từ táo bạo, mới mẻ; phép lặp từ… để khắc hoạ ước muốn giao cảm tận độ vô biên của thi sĩ với cuộc sống
3 Cảm nhận đoạn thơ trong bài “Từ ấy” (Tố Hữu)
- Về nội dung: Quan niệm sống và cũng là quan niệm nghệ thuật của Tố Hữu thể hiện trong đoạn thơ là kết quả của sự giác ngộ lí tưởng cộng sản Nó đã chỉ rõ con đường đời và con đường nghệ thuật của nhà thơ là phải đứng vào hàng ngũ những người lao động để gắn bó, cùng chiến đấu vì lí tưởng cộng sản Tố Hữu quan niệm: sống là tự nguyện đặt cái “tôi” của mình trong mối quan hệ gắn bó với quần chúng nhân dân Tâm hồn thi sĩ trải rộng với cuộc đời, cùng hoà nhịp, đồng cảm với những con người đau khổ như những người ruột thịt Sống là chiến đấu, là hi sinh vì sự nghiệp
cách mạng, vì quần chúng, nhân loại cần lao (Chú ý phân tích các từ: “tôi buộc”, “tôi đã là con”,
“là anh”, “là em”, “trăm nơi”, “hồn khổ”, “vạn nhà”, “kiếp phôi pha”…)
Trang 2- Về nghệ thuật: Góp phần thể hiện nội dung cảm xúc của đoạn thơ, nhà thơ đã sử dụng thành côngphép lặp, những từ ngữ giàu tính tạo hình, biểu cảm ngôn ngữ thơ giàu nhạc điệu, nhịp thơ dồn dập, mạnh mẽ…
4 Những điểm tương đồng và khác biệt của hai đoạn thơ
* Tương đồng:
- Hai đoạn thơ đều thể hiện quan niệm sống tích cực, đẹp đẽ của một thế hệ tuổi trẻ được thức tỉnh
ý thức cá nhân, khát khao được khẳng định mình bằng một cuộc sống có ý nghĩa Đó là lẽ sống caođẹp của những con người gắn bó với cuộc đời, với nhân dân, đất nước
- Hai nhà thơ đã vận dụng những thành tựu nghệ thuật của công cuộc hiện đại hóa thơ ca đương thời
* Khác biệt:
- Đoạn thơ của Xuân Diệu thể hiện quan niệm sống của một nhà thơ Mới Nó thể hiện sự trân trọng của nhà thơ với vẻ đẹp cuộc sống, tuổi trẻ, niềm vui, hạnh phúc ở cuộc đời Đó là một quan niệm giàu giá trị nhân văn
- Đoạn thơ của Tố Hữu nêu lên lẽ sống của một nhà thơ cách mạng đã nhận thức sâu sắc mối liên
hệ giữa cá nhân mình với quần chúng lao khổ để chiến đấu vì một lí tưởng chung Đó là lẽ sống cao đẹp của con người ưu tú khi được giác ngộ cách mạng
2 Dạng 2: So sánh điểm giống nhau và khác nhau giữa 2 tác phẩm (đoạn trích)
* Yêu cầu của dạng bài:
Khác với dạng 1, ở dạng này HS cần:
- Chỉ ra và phân tích những điểm giống và khác nhau giữa 2 tác phẩm (đoạn trích) trên cơ sở các tiêu chí
- Cắt nghĩa nguyên nhân vì sao có sự giống nhau và khác nhau ấy
- Đánh giá ý nghĩa của sự tương đồng và khác biệt trên
* Đề bài
Đề số 1: Trong bài Bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm viết:
Mẹ con đàn lợn âm dương
Chia lìa đôi ngả
Đám cưới chuột đang tưng bừng rộn rã
Bây giờ tan tác về đâu
Còn trong bài Đất nước, Nguyễn Đình Thi cũng có những câu:
Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thép gai đâm nát trời chiều
Anh (chị) hãy cảm nhận những câu thơ trong 2 bài thơ trong quan hệ so sánh, đối chiếu để thấy những nét độc đáo của mỗi tác giả khi viết về quê hương, đất nước
Định hướng cách giải quyết:
1 Giới thiệu:
- Cảm hứng quê hương, đất nước là cảm hứng nổi bật trong thơ ca kháng chiến chống Pháp, kết tinh trong nhiều bài thơ hay
- Cả hai bài thơ đều là cảm xúc tinh tế của các nhà thơ viết về quê hương, đất nước, thấm thía nhất
là những vần thơ viết về nỗi đau quê hương bị tàn phá
- Giới thiệu các câu thơ ở đề bài
2 Nét chung:
Hình ảnh quê hương, đất nước đau thương trong chiến tranh: hiện lên với những hình ảnh thân quen, gần gũi đã chạm đến những gì thiêng liêng, sâu nặng nhất trong tâm hồn mỗi con người kháng chiến
3 Nét riêng: Đối sánh trên cơ sở các tiêu chí: trong hoàn cảnh sáng tác, mạch cảm xúc, thế giới
hình tượng, nghệ thuật thể hiện
Trang 3- Đoạn 1:
+ Hoàn cảnh sáng tác đặc biệt: cảm hứng xuất thần
+ Mạch cảm xúc: bài thơ là sự song song của hai mạch cảm xúc đặc biệt: nhớ thương, tự hào và xót xa, căm giận
+ Thế giới nghệ thuật: đoạn thơ là thế giới Kinh Bắc hiện lên trong nỗi nhớ, niềm thương, sự xa xót của Hoàng Cầm: một vùng quê với vẻ đẹp của văn hoá, truyền thống nay bị tàn phá đến đau lòng Tác giả dựng lên một Kinh Bắc trong đau thương, tan tác, chia lìa trong cảm xúc tiếc thương,
ngẩn ngơ, xa xót Câu thơ: Bây giờ đi đâu về đâu lặp lại như một điệp khúc xót xa cứa mãi vào
lòng người
+ Nghệ thuật thể hiện: sự đan xen giữa cảm giác thực và ảo Nét độc đáo của nghệ thuật dân gian khiến ranh giới giữa nghệ thuật và cuộc đời trở nên gần gũi, hiện thực trong tranh mà cảm giác như chính cuộc sống
- Đoạn 2:
+ Hoàn cảnh sáng tác: là cả một quá trình suy ngẫm, chiêm nghiệm trong một thời gian dài, ghép
từ các mảng thơ khác nhau nhưng vẫn bao trùm một cảm hứng thống nhất: cảm hứng về quê hương, đất nước
+ Mạch cảm xúc: cảm xúc xót xa, đau đớn trước mọi miền quê bị giặc giày xéo
+ Thế giới hình tượng: đất nước đau thương với cảnh những cánh đồng quê chảy máu; dây thép gai đâm nát trời chiều
+ Nghệ thuật thể hiện: thiên về đường nét tạo hình, sử dụng thủ pháp tương phản đậm nét; những hình ảnh dữ dội, ấn tượng qua ống kính ngược sáng của điện ảnh khiến ta như được chứng kiến một thước phim quay chậm dữ dội mà ấn tượng như chạm khắc
3 Đánh giá
Hai bài thơ là những cách diễn tả khác nhau được viết bởi những phong cách thơ độc đáo nhưng đều được viết nên từ những gì rất gần gũi, chân thực, từ những tình cảm thiết tha với quê hương, đất nước Những câu thơ xứng đáng là những vần thơ hay viết về quê hương, đất nước của thơ ca kháng chiến chống Pháp
Đề số 2: Sự gặp gỡ và sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du trong “Độc Tiểu Thanh kí” và Thanh Thảo ở “Đàn ghi ta của Lor-ca”
Định hướng cách giải quyết:
1 Sự gặp gỡ:
1.1 Vì sao trong văn chương lại có sự gặp gỡ?
Các tác phẩm văn chương có thể có những điểm gặp gỡ về nội dung và nghệ thuật vì:
- Người nghệ sĩ cùng chung một mối quan tâm (những vấn đề có tính chất vĩnh cửu, mang tầm nhân loại); chung mục đích sáng tạo (đưa con người đến với những giá trị cao quý chân - thiện - mĩ)
- Kiểu tư duy, cách thể hiện có thể có điểm tương đồng: ở đâu, thời kì nào người ta cũng có cách nghĩ như thế, cách thể hiện như thế
- Theo quy luật kế thừa trong sáng tạo nghệ thuật: văn học của mỗi thời kì, mỗi quốc gia không bao giờ ra đời từ môi trường chân không mà luôn có sự kế thừa
1.2 Chỉ ra và phân tích những biểu hiện của sự gặp gỡ của Nguyễn Du và Thanh Thảo ở hai bài thơ “Độc Tiểu Thanh kí” và “Đàn ghi ta của Lor-ca”
+ Niềm đồng cảm sâu sắc, niềm tiếc thương day dứt, đớn đau, phẫn uất, bất bình cho cái Đẹp bị huỷ diệt, đầy đoạ, dập vùi
+ Sự nâng niu, trân trọng cái Đẹp, khẳng định sức sống của cái Đẹp, gắn với khát vọng bất tử hoá cái Đẹp
+ Hướng con người tới những tình cảm nhân văn cao đẹp, đặt ra những câu hỏi lớn lao cho thời đại, là tiếng nói cất lên từ thời đại nhưng còn đọng lại và có tầm nhân loại
Trang 4( Cần chỉ ra các biểu hiện trên ở từng tác phẩm)
2 Điểm độc đáo:
2.1 Bên cạnh sự tương đồng luôn là sự khác biệt đi liền với sự độc đáo, mới lạ vì:
- Xuất phát từ quy luật sáng tạo văn học:
+ Quá trình viết văn phải là quá trình tìm tòi sáng tạo cái mới, không được lặp lại
+ Bản thân mỗi tác phẩm văn học là một chỉnh thể, một sản phẩm duy nhất không lặp lại
+ Mỗi nhà văn vừa với tư cách một cá tính sáng tạo vừa với tư cách đại diện cho con người thời đại có cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện riêng
- Người tiếp nhận: đa dạng, phong phú, mang tính cá nhân cá thể luôn có nhu cầu tìm đến cái mới cũng góp phần làm nên bức tranh muôn màu của văn học
2.2 Chỉ ra và phân tích được những nét độc đáo về nột dung và nghệ thuật của hai tác phẩm: + Độc Tiểu Thanh kí:
Về nội dung cảm xúc: Nguyễn Du thương cho kiếp hồng nhan, phong lưu bạc mệnh, tài tử đa cùng Mạch thơ đi từ thương người sang thương đời, thương mình Bài thơ đan xen biết bao cảm xúc (thương cảm, xót xa, phẫn uất, thất vọng, khắc khoải…)
Về nghệ thuật: Tác phẩm là thơ chữ Hán theo thể thơ Đường luật cổ điển Nhà thơ nói bằng nghệ thuật đối, bằng những câu hỏi tu từ như xoáy vào hồn người, bằng cách xưng tên da diết khắc khoải, bằng giọng thơ trang trọng mà tràn đầy cảm xúc yêu thương…
+ Đàn ghi ta của Lor-ca:
Về nội dung cảm xúc: Thanh Thảo thương xót cho cuộc đời người chiến sĩ-nghệ sĩ
Về nghệ thuật: Mạch cảm xúc làm cho bài thơ kết cấu giống như một bản giao hưởng về cuộc đời
Lor-ca Nhà thơ xây dựng hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng, sử dụng thể thể thơ tự do theo khuynh
hướng thơ tượng trưng, siêu thực mới mẻ giầu chất nhạc, chất hoạ…
3 Đánh giá, mở rộng:
Qua điểm gặp gỡ và những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du và Thanh Thảo nói riêng trong hai thi
phẩm thấy được ý nghĩa của sáng tạo văn chương, thấy được vai trò, nhiệm vụ của nhà văn, của
độc giả trong quá trình sáng tạo và thưởng thức văn chương:
- Sự gặp gỡ và nét khác biệt với những sáng tạo độc đáo, thú vị làm nên sự phong phú, giàu có kì
diệu của văn học:
- Điểm tương đồng làm nên tính tập trung, thống nhất của văn học, làm cho mọi người có thể hiểu nhau, đồng cảm với nhau qua văn học (bất chấp khoảng cách về không gian, thời gian)
- Điểm khác biệt độc đáo sẽ làm tiến trình văn học ngày một dài hơn, kho tàng văn học nhân loại giàu có hơn; đời sống tinh thần con người sẽ phong phú hơn và người nghệ sĩ ghi được tên tuổi của mình trong dòng đời nước chảy
3 Dạng 3: So sánh một (một số) vấn đề qua một cụm tác phẩm
* Yêu cầu của dạng bài:
Ở dạng bài này cần: cảm thụ cụm tác phẩm trong thế đối sánh để làm nổi bật một vấn đề mà đề bàiyêu cầu (có thể là vấn đề thuộc lí luận văn học hay văn học sử,…)
* Đề bài
Có ý kiến cho rằng: “Mỗi nhà văn là một thế giới, nhà văn này không thể thay thế cho nhà văn kia Cho nên mỗi nhà văn bằng tài năng và cá tính sáng tạo của mình đều có thể trực tiếp đóng góp cho sự phong phú và đa dạng của một nền văn học”
Anh (chị) hiểu gì về ý kiến trên? Lấy dẫn chứng minh hoạ từ truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao
Định hướng cách giải quyết:
1 Giải thích nhận định:
Nhận định đề cập đến sự đóng góp của mỗi nhà văn cho nền văn học bằng tài năng và cá tính sáng tạo của họ - thực chất là vấn đề phong cách của nhà văn
Trang 52 Bàn luận:
- Sáng tạo VH là hoạt động tinh thần mang tính cá thể hoá cao độ Mỗi nhà văn với quan niệm riêng, với con mắt nhìn đời riêng sẽ có cách thể hiện riêng bằng những phương tiện nghệ thuật phùhợp để ghi dấu ấn của mình trong cuộc đời Đây là khát vọng chân chính của nghệ sĩ
- Để làm được điều đó nhà văn phải có tài năng, có văn hoá, có tư tưởng nghệ thuật độc đáo và có bản lĩnh trước cuộc đời
3 Chứng minh:
3.1 Điểm gặp gỡ trong cây bút truyện ngắn của Thạch Lam và Nam Cao: đây là cây bút truyện ngắn xuất sắc, nổi bật của văn học giai đoạn 1930 - 1945 Truyện ngắn của họ có những đặc điểm chung như:
- Cốt truyện mỏng hoặc không có cốt truyện
- Chú trọng khai thác, miêu tả tâm lí nhân vật
3.2 Những đóng góp riêng:
* Thế giới nhân vật:
- Nhân vật của Thạch Lam có tâm hồn rất mực nhân hậu, cảm thông đến đau đớn, xót xa trước số phận những hạng người nhỏ bé trong XH, những con người hiền lành, tốt bụng, phải sống kiếp sống cực nhọc và nhất là vô danh, vô nghĩa, không hạnh phúc, ánh sáng, tương lai - những cuộc đời bị bỏ quên ở một xó xỉnh tối tăm nào đó, bị chôn vùi trong khung cảnh buồn bã, ngưng đọng, tương lai mù mịt; đối tượng được ông đặc biệt chú ý là phụ nữ và trẻ em Ý thức cá nhân thức tỉnh sâu sắc mới thấy hết nỗi đau buồn, thậm chí hoảng sợ trước tình trạng mỗi cá nhân không được sống thật sự cuộc sống có ý nghĩa
- Nhân vật của Nam Cao: chủ yếu là người nông dân nghèo và người trí thức nghèo Nhân vật thường mang những xung đột nội tâm gay gắt
* Cách miêu tả và biểu hiện:
- Thạch Lam: khai thác tinh tế thế giới nội tâm nhân vật với những cảm xúc mơ hồ, mong manh, tinh tế
- Nam Cao nhìn đời, nhìn người bằng đôi mắt hiện thực sắc sảo, nghiêm ngặt, bằng đôi mắt của tình thương và lòng vị tha Ông thường xuyên băn khoăn, day dứt về vấn đề nhân phẩm, nhân cáchcon người; phát hiện và miêu tả tâm lí thông qua cái hàng ngày, từ đó đưa ra những triết lí thâm trầm
* Ngôn ngữ:
- Thạch Lam: bàng bạc chất thơ
- Nam Cao: đa thanh, đối thoại
(Cần phân tích dẫn chứng cụ thể trong truyện ngắn của hai nhà văn)
4 Nguyên nhân dẫn đến sự giống nhau, khác nhau: do hoàn cảnh lịch sử, môi trường sống, phong cách nhà văn…
5 Đánh giá: đóng góp của Thạch Lam, Nam Cao đã góp phần trong việc tạo nên sự phong phú, đa
dạng cho văn học, đặc biệt cho truyện ngắn Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn, hiện đại hơn, hấp dẫn hơn
Thiết nghĩ, đặt HS đối diện với các dạng bài cụ thể là một trong những giải pháp tối ưu để củng cố,nâng cao và khắc sâu kĩ năng cho các em Đối sánh trong cảm thụ văn học là một trong những con đường góp phần rèn kĩ năng cảm thụ cho học sinh để tạo nên những bài viết phong phú, có chiều sâu đồng thời đánh thức sự nhạy cảm trong tư duy, trong cái nhìn về cuộc đời của các em Song thiết nghĩ, để đối sánh tốt, HS phải trường vốn Do đó các em phải luôn có ý thức tích lũy cho mình vốn kiến thức phong phú để khi cảm thụ một vấn đề văn học có thể nghĩ đến những vấn đề khác có liên quan
Trang 6CHƯƠNG II CÁC ĐỀ VĂN SO SÁNH THƯỜNG GẶP TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ
VĂN 11 VÀ 12
Đề bài: Hãy phân tích vẻ đẹp của hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong hai bài thơ
Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu)
Bài viết có thể tổ chức theo nhiều cách, miễn là nêu được các ý sau đây:
1 Giới thiệu về hai tác giả, tác phẩm:
- Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng vĩ đại, đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ lớn của dân tộc Trong di sản văn học của Người, thơ ca là mảng sáng tác rất có giá trị, trong đó có thể kể đến tập thơ "Nhật kí trong tù"được sáng tác trong những ngày Người bị giam giữ ở các nhà lao thuộc tỉnh
Quảng Tây Chiều tối (Mộ -1942) là bài thơ được trích từ tập thơ này
- Tố Hữu là nhà cách mạng, cũng là nhà thơ trữ tình chính trị tiêu biểu nhất của nền thơ ca cách
mạng Sự nghiệp cách mạng của Tố Hữu gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp thơ ca của ông Từ ấy
(1938) là bài thơ hay được trích trong tập thơ cùng tên ghi lại thời khắc đặc biệt trong cuộc đời cách mạng và nghệ thuật của Tố Hữu khi nhà thơ được giác ngộ lí tưởng cách mạng, tìm thấy con đường đi cho cuộc đời mình và thơ ca
- Cả hai bài thơ đều hướng tới khắc họa vẻ đẹp trong tâm hồn và lí tưởng sống cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng
2 Vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Chiều tối (Hồ Chí Minh)
- Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: khi Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tranh thủ sự viện trợ của phe Đồng minh Khi đến Quảng Tây thì Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam Vìkhông có chứng cớ khép tội nên chúng không thể đưa ra xét xử Chúng đã hành hạ Người bằng cách giải đi khắp các nhà lao của tỉnh Quảng Tây trong hơn một năm trời nhằm tiêu diệt ý chí của người chiến sĩ cách mạng Bài thơ này cũng giống như nhiều các sáng tác khác được viết trên hànhtrình chuyển lao từ Tĩnh Tây đi Thiên Bảo, vào khoảng bốn tháng sau khi Người bị bắt Tác phẩm
là bức chân dung tự họa của con người Hồ Chí Minh ở thời điểm gian nan thử thách nhất trên con đường cách mạng
- Đó là người chiến sĩ cách mạng có tâm hồn rộng mở, phóng khoáng, đón nhận vẻ đẹp của cảnh thiên nhiên núi rừng Bức tranh thiên nhiên cảnh chiều mở ra ở cả chiều cao, chiều rộng của khônggian và được vẽ bằng những nét phác họa đơn sơ, với những hình ảnh đậm đà sắc màu cổ điển nhưcánh chim và chòm mây, có chút buồn vắng, quạnh hiu những vẫn thanh thoát, ấm áp hơi thể sự sống Bức tranh thiên nhiên đã nói lên nhân vật trữ tình là con người tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên tha thiết vượt lên trên cảnh ngộ tù đày
- Đó cũng là người chiến sĩ có tấm lòng nhân đạo, bao la, yêu thương, quan tâm chia sẻ với con người lao động, một tâm hồn luôn hướng về sự sống và ánh sáng Dù vẫn phải tiếp tục chuyển lao trong cảnh trời tối, con người đã quên đi nỗi nhọc nhằn của riêng mình, hướng về cô gái nhỏ lao động nơi xóm núi xay ngô và lò than rực hồng đã đỏ để cảm thông, chia sẻ, ấm áp, vui lây niềm vui lao động của con người
- Bút pháp khắc hoạ chân dung người chiến sĩ cách mạng: là bút pháp gợi tả, những hình ảnh đậm
đà màu sắc cổ điển mà vẫn thấm đẫm tinh thần hiện đại Vẻ đẹp của người chiến sĩ cách mạng hiệnqua bức tranh cảnh vật thiên nhiên và bức tranh sinh hoạt lao động của con người Đó là con ngườiung dung, hoà hợp với thiên nhiên nhưng vẫn luôn trong tư thế làm chủ hoàn cảnh, hướng về con
người, sự sống và ánh sáng, chất thi sĩ và chất chiến sĩ hoà quyện làm một
3 Hình tượng người chiến sĩ cách mạng trong bài thơ Từ ấy (Tố Hữu)
- Bài thơ ra đời với một bước ngoặt trong cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của Tố Hữu Ngày nhà thơ được kết nạp vào Đảng cộng sản, đứng vào hàng ngũ những người cách mạng chiến đấu vì một
lí tưởng chung, ông đã viết bài thơ này Đặt trong hoàn cảnh sáng tác ấy, bài thơ đã cho thấy tình yêu, niềm say mê với lí tưởng cách mạng và lẽ sống cao đẹp làm nên vẻ đẹp hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ
Trang 7- Đó là con người có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng cộng sản Lí tưởng chính là ánh nắng hạ rực lửa, là mặt trời chói sáng, soi rọi giúp cho nhà thơ nhận ra con đường đi đến với chân
lí, lẽ phải, công bằng, niềm tin, hi vọng Lí tưởng còn hồi sinh, chỉ đường, đem đến cảm xúc mới, sức sống mới cho nghệ thuật thơ ca của người chiến sĩ
- Đó là người chiến sĩ có lẽ sống nhân đạo cao đẹp Con người ấy từ khi được giác ngộ lí tưởng, ý thức rằng cuộc sống và nghệ thuật thơ ca của mình không thuộc về cá nhân mình nữa mà thuộc về quần chúng cần lao và cuộc đấu tranh chung của dân tộc Con người đã tự nguyện đem cái "tôi" nhỏ bé của mình gắn kết với cuộc đời để tạo nên sức mạnh đoàn kết, tranh đấu Người chiến sĩ cũng ý thức rằng mình sẽ là một thành viên ruột thịt trong đại gia đình cách mạng của những người lao khổ, bị áp bức, chiến đấu vì một lí tưởng cao đẹp
- Bút pháp khắc hoạ: được khắc họa qua cách miêu tả trực tiếp bằng những cảm nhận của nhân vật trữ tình khi bắt gặp ánh sáng của lí tưởng hoặc những lời ước nguyện, lời thề quyết tâm chiến đấu
vì lí tưởng chung Bài thơ làm hiện lên chân dung của một cái "tôi" chiến sĩ không cách biệt, trốn tránh cuộc đời như cái "tôi" thơ mới mà trẻ trung, hăm hở, nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu, niềm say
mê với lí tưởng cộng sản, sống có trách nhiệm với cuộc đời, với nhân dân đau khổ bị áp bức, với cuộc đấu chung của dân tộc
4 Điểm tương đồng và khác biệt ở hình tượng người chiến sĩ trong hai bài thơ
a Điểm tương đồng: cả hai bài thơ đều tập trung khắc họa hình tượng người chiến sĩ cách mạng,
những người con ưu tú nhất của lịch sử dân tộc có tâm hồn cao đẹp, có lí tưởng sống nhân đạo, chất thi sĩ và chiến sĩ hoà quyện trong tâm hồn, lí tưởng của họ
b Điểm khác biệt:
- Ở “Chiều tối” là vẻ đẹp của người chiến sĩ yêu thiên nhiên, gắn bó với cuộc sống, một hồn thơ luôn hướng về sự sống và ánh sáng ở những thời điểm thử thách gay go nhất trên hành trình cách mạng Vẻ đẹp tâm hồn con người được thể hiện qua bút pháp gợi tả với những hình ảnh đậm màu sắc cổ điển
- Còn ở “Từ ấy”, đó là người chiến sĩ có tình yêu mãnh liệt với ý tưởng, có lẽ sống cao đẹp, sẵn sàng hi sinh, dâng hiến vì cuộc đấu tranh của dân tộc, giống nòi Nhân vật trữ tình được khắc hoạ trực tiếp bằng những hình thơ sôi nổi, trẻ trung, tươi mới
ĐỀ bài: Cảm nhận về kết thúc hai truyện ngắn Chí Phèo (Nam Cao) và Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)
1 Giới thiệu
- Truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao được đánh giá là kiệt tác trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành là tác phẩm xuất sắc trong văn xuôi Việt Nam giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mĩ Được sáng tác bởi hai cây bút truyện ngắn có phong cách riêng, lại ra đời trong những điều kiện lịch sử xã hội riêng, phản ánh những vấn đề khác nhau của đời sống nên mỗi tác phẩm lại có một cách kết thúc đặc sắc, độc đáo và gợi mở những nhận thức, suy tưởng
2 Kết thúc và vai trò của kết thúc trong một truyện ngắn
- Là khâu cuối cùng đề hoàn thành văn bản, cũng là yếu tố cuối cùng để hoàn thiện bức tranh thế giới như một sản phẩm sáng tạo của nhà văn để kí thác một tư tưởng, một quan niệm về thế giới vàcon người Với ý nghĩa ấy, phần kết thúc tác phẩm có chức năng bộc lộ ý đồ tư tưởng nghệ thuật
và khơi gợi hình dung về sự vận động tiếp tục của con người và cuộc sống trong tác phẩm
3 Thuật lại kết thúc của hai truyện ngắn
- Kết thúc truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao đã để nhân vật thị Nở nhìn nhanh xuống bụng “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”
- Kết thúc truyện ngắn “Rừng xà nu” nhà văn Nguyễn Trung Thành đã khắc họa sau khi về phép thăm làng, Tnú lại ra đi Cụ Mết và Dít tiễn anh đi “Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp chạy đến chân trời”
Trang 84 Ý nghĩa của kết thúc
* Kết thúc của truyện ngắn Chí Phèo
- Hình ảnh cái lò gạch cũ có nghĩa tả thực Cái lò nung gạch đã cũ, không còn sử dụng, bỏ không, trước đây xuất hiện nhiều ở những vùng quê
- Nghĩa ẩn dụ tượng trưng Hình ảnh cái lò gạch cũ xuất hiện ở phần đầu tác phẩm khi một anh đi thả ống lươn nhặt được Chí Phèo trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không và xuất hiện ở phần cuối tác phẩm khi Chí Phèo chết, thị Nở nhớ lại những lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng và đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ
bỏ không, xa nhà cửa và vắng người lại qua… ẩn dụ cho cái vòng luẩn quẩn của những kiếp Chí
Phèo Chí Phèo bố chết đi rất có thể sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời cũng sẽ lại rơi vào con đường lưu manh tha hoá… Từ đó, tác giả muốn khẳng định: Chí Phèo không phải là hiện tượng cá biệt mà đây là hiện tượng có tính phổ biến, qui luật trong xã hội cũ Khi nào còn tồn tại chế độ áp bức bóc lột của thực dân phong kiến thì khi đó còn tồn tại những kiếp Chí Phèo Hiện tượng ngườinông dân bị lưu manh hóa, bị từ chối quyền làm người sẽ không chấm dứt nếu như xã hội ấy còn tồn tại Hình ảnh thể hiện cái nhìn bi quan, bế tắc của Nam Cao đối với số phận người nông dân
* Kết thúc truyện ngắn “Rừng xà nu”:
- Mở đầu tác phẩm là đoạn văn miêu tả rừng xà nu trong bom đạn của kẻ thù.Hình ảnh đồi xà nu được nhắc đến “Đứng trên ngọn đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hết tầm mắt cũng không thấy gì khác
ngoài những đồi xà nu nối tiếp chạy đến chân trời” Kết thúc tác phẩm là hình ảnh những rừng xà
nu nối tiếp chạy đến chân trời Nhà văn chỉ thay một từ “đồi” thành “rừng” Như vậy, rừng xà nu
tạo nên kết cấu vòng tròn, đầu cuối tương ứng Kết thúc ấy như một khúc vĩ thanh khiến cho hình tượng xà nu đọng lại mãi trong tâm trí độc giả ngay cả khi truyện ngắn đã khép lại Đây cũng là lí
do giải thích vì sao tác phẩm có tên là Rừng xà nu
- Kết thúc truyện ngắn rừng xà nu khẳng định một dự báo về tương lai tốt đẹp của của kháng chiếnchống Mĩ Rừng cây gợi liên tưởng tới rừng người Hình ảnh cụ Mết, Tnú, Dít đứng cạnh nhau cũng như các thế hệ xà nu nối tiếp nhau chạy đến chân trời Các thế hệ nương tựa vào nhau, soi sáng cho nhau, cùng nhau viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc và đất nước mình Khi sức mạnh của xà nu cũng như sức mạnh của cuộc chiến tranh nhân dân được nhân lên không ngừng với cấp
số nhân thì thắng lợi nhất định sẽ về ta
5 Đặc điểm của hai kết thúc
*Điểm tương đồng: Đều là kết thúc đầu cuối tương ứng (vòng tròn)
-Lặp lại hình ảnh cái lò gạch cũ ở đầu tác phẩm
-Lặp lại hình tượng cây xà nu ở phần đầu và kết thúc tác phẩm
* Điểm khác biệt: kết thúc truyện ngắn Chí Phèo mang ý nghĩa dự báo đầy bi quan về hiện tượng
người nông dân bị lưu manh hóa bị từ chối quyền làm người sẽ không chấm dứt nếu như xã hội ấy còn tồn tại Còn kết thúc tác phẩm rừng xà nu mang ý nghĩa dự báo lạc quan
Nguyên nhân giống
- Hai nhà văn đều có cái nhìn biện chứng về cuộc sống để thấy được sự tiếp nối của các sự vật, hiện tượng, thấy được tính quy luật của nó
- Xây dựng những hình ảnh ấn tượng, ám ảnh, giàu ý nghĩa là một dụng ý nghệ thuật của các nhà văn
Trang 9+ Chí Phèo: thuộc khuynh hướng văn học hiện thực phê phán, chưa nhìn thấy lối thoát của người nông dân
+ Rừng xà nu: thuộc nền văn học Cách mạng 1945-1975, có khả năng và cần thiết phải chỉ ra chiều hướng phát triển tích cực của đời sống xã hội
- Mục đích sáng tác và chủ đề tư tưởng ở hai tác phẩm khác nhau
ĐỀ bài: Phân tích hình tượng tập thể của những con người Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp qua hai đoạn thơ sau:
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành"
("Tây Tiến" - Quang Dũng)
"Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
("Việt Bắc" - Tố Hữu)
1 Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hai đoạn thơ
- Tố Hữu - cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng Việt Nam Thơ Tố Hữu có sức chinh phục mạnh mẽ bởi niềm say mê lí tưởng, khuynh hướng sử thi, cảm hứng lãng mạn, tính dân tộc đậm
- Đây là hai đoạn thơ tiêu biểu trong hai bài thơ khắc họa vẻ đẹp của tập thể những con người Việt Nam anh hùng
2 Cảm nhận đoạn thơ trong bài Việt Bắc
- Vị trí của đoạn: là lời người ra đi đáp lại người ở lại, thể hiện nỗi nhớ ViÖt Bắc trong những ngàychiến dịch
- Đặc điểm của hình tượng tập thể anh hùng trong đoạn thơ:
+ Không gian xuất hiện: những con đường Việt Bắc
+ Thời gian: ban đêm cho thấy sự gian khổ, và sự bất thường của chiến tranh
+ Hình tượng tập thể của những người lính đông đảo và có sức mạnh lay trời chuyển đất, ánh sáng
lý tưởng đẹp đẽ, tâm hồn lãng mạn (chú ý các hình ảnh: rầm rập như là đất rung, điệp điệp trùng trùng, ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan)
+ Hình tượng tập thể của đoàn dân công phục vụ cho chiến dịch miêu tả trong ánh sáng của ngày hội kháng chiến và ánh sáng của tuơng lai, họ có trái tim cách mạng rực lửa và sức mạnh san phẳng mọi khó khăn (Chú ý các hình ảnh: đỏ đuốc từng đoàn, bước chân nát đá, đèn pha bật sáng)
- Cảm xúc: tự hào tin tưởng, lạc quan Hình ảnh “những đường Việt Bắc của ta”, “đèn pha bật sángnhư ngày mai lên”
- Nghệ thuật biểu hiện là những yếu tố thể hiện tính dân tộc trong thơ: thể thơ lục bát, vận dụng thành ngữ, từ láy, tiểu đối, hình ảnh ước lệ Đổi mới thơ lục bát bằng cảm hứng anh hùng ca và giọng điệu hào hùng Xây dựng hình tượng tập thể và bút pháp phóng đại mang màu sắc sử thi
3 Cảm nhận đoạn thơ trong bài Tây Tiến
- Vị trí của đoạn thơ: là đoạn ba của bài thơ Sau khi khắc họa tượng người lính trên con đường hành quân nhà thơ đã khắc họa tượng đài tập thể của những người lính Tây Tiến
Trang 10- Đặc điểm của hình tượng
+ Người lính Tây Tiến được khắc họa như những con người bình dị nhất có những giới hạn không
thể vượt qua như bênh tật không mọc tóc, xanh màu lá, anh về đất
+ Những con người có vẻ đẹp phi thường, hào hùng: dữ oai hùm, mắt trừng
+ Lãng mạn, hào hoa: đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
+ Lí tưởng sống cao đẹp: dù hy sinh nhưng họ vẫn tình nguyện"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" Bằng trí tưởng tượng của Quang Dũng, người lính được khoác trên mình tấm áo bào sang trọng của các chiến tướng mặc khi ra trận, mang vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cổ điển Sự ra đi của người lính nhẹ nhàng thanh thản như là sự trở về với đất mẹ yêu thương Âm thanh tiếng gầm của dòng sông Mã như khúc tráng ca đưa người lính về nơi an nghỉ Cảm xúc tiếc thương, đau đớn, nhưng vẫn tràn đầy niềm tự hào
- Nghệ thuật biểu hiện: sắc thái cổ điển với thể hành, hình ảnh ước lệ, từ Hán Việt, vẻ đẹp lãng mạn bi tráng
4 Những điểm tương đồng và khác biệt của hình tượng tập thể anh hùng trong hai đoạn thơ
a Tương đồng: - Đều khắc họa hai hình tượng tập thể với phẩm chất anh hùng, dũng cảm trái tim
yêu nước nồng nàn và sẵn sàng hi sinh cho lý tưởng, tâm hồn lãng mạn Khẳng định lẽ sống cao đẹp sẵn sáng hiến dâng tuổi xuân cho đất nước
- Cảm xúc tự hào ngợi ca
- Bút pháp lãng mạn và mang âm hưởng sử thi
5 Đánh giá
- Xây dựng hình tượng tập thể anh hùng, hai đoạn thơ góp phần thể hiện đặc điểm của thơ ca cách mạng là khuynh hướng sử thi vẻ đẹp lãng mạn
- Thể hiện lòng yêu nuớc, đề cao lí tưởng sống cao đẹp của con người
- Góp phần khẳng định giá trị là bản anh hùng ca của cuộc kháng chiến cña hai bài thơ
Đề bài:
Ta muốn ôm
Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhều
Và non nước, và cây, và cỏ rạng
Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi
(Vội vàng-Xuân Diệu, Ngữ văn 11, tập một, NXB GD, tr.23)
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ
(Sóng – Xuân Quỳnh, Ngữ văn 12, tập một, NXB GD, tr.156)
Trình bày cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ trên
1 Giới thiệu khái quát về hai tác giả Xuân Diệu, Xuân Quỳnh và hai bài thơ Vội vàng, Sóng, hai
đoạn thơ được yêu cầu cảm nhận
Trang 112 Cảm nhận về hai đoạn thơ
a Đoạn thơ trong bài Vội vàng của Xuân Diệu:
- Đoạn thơ thể hiện “cái tôi” ham sống, muốn tận hưởng cuộc đời mãnh liệt Như một tuyên ngôn của lòng mình, nhà thơ tự xác định một thái độ sống gấp, tận hưởng vì cảm nhận cái hữu hạn của cuộc đời (Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm); ý thức chiếm lĩnh, tận hưởng cuộc sống ở mức
độ cao nhất (chếnh choáng, đã đầy, no nê ) những gì tươi đẹp nhất (mùi thơm, ánh sáng, thời tươi )
- Các yếu tố nghệ thuật như điệp từ, điệp cấu trúc câu, động từ mạnh góp phần thể hiện cái hối
hả, gấp gáp, cuống quýt của tâm trạng, khiến nhịp điệu đoạn thơ sôi nổi, cuồng nhiệt
b Đoạn thơ trong bài Sóng của Xuân Quỳnh:
- Đoạn thơ thể hiện khát vọng lớn lao, cao cả trong tình yêu: ước mong được tan hòa cái tôi nhỏ bé-con sóng cá thể, thành cái ta chung rộng lớn- “trăm con sóng” giữa biển cả mênh mông;
Những câu thơ có tính chất tự nhủ mình gợi cách sống, tình yêu mãnh liệt, hết mình: mong muốn được tan hòa vào tình yêu lớn lao của cuộc đời Đó là cách để tình yêu trở thành bất tử
- Thể thơ năm chữ với hình tượng “sóng”vừa ẩn dụ vừa giàu tính thẩm mĩ khiến đoạn thơ sâu sắc, giàu nữ tính
3 So sánh:
- Điểm tương đồng:
+ Cả hai đoạn thơ đều thể hiện được tình yêu mãnh liệt, trào dâng của nhân vật trữ tình
+ Đều thể hiện khao khát vượt qua giới hạn nhỏ hẹp để thỏa mãn tình yêu rộng lớn
+Đều có sự kết hợp giữa cảm xúc và triết lí
+Đều sự dụng thể thơ tự do, với các hình ảnh sóng đôi, khai thác hiệu quả của nghệ thuật ẩn dụ
- Điểm khác biệt:
+Tình yêu trong Sóng là tình yêu lứa đôi còn tình yêu trong Vội vàng là tình yêu cuộc sống
+Khát vọng trong Sóng là khát vọng bất tử hóa, vĩnh viễn hóa tình yêu còn khát vọng trong Vội vàng là khát vọng được tận hưởng hết vẻ đẹp của cuộc sống của trần gian
+ Cảm xúc của nhân vật trữ tình trong Sóng là cảm xúc lắng sâu, tha thiết, đằm thắm còn trong Vội vàng là đắm say, cuồng nhiệt, vồ vập
+Điểm khác biệt không chỉ nằm ở phong cách thơ mà còn trong cách “ứng xử” của mỗi nhà thơ: trước sự “chảy trôi” của thời gian, Xuân Diệu chọn cách sống gấp gáp, tận hưởng, Xuân Quỳnh lạithể hiện khát vọng muốn được tan hòa cái riêng vào cái chung để tình yêu trở thành bất tử … + Về nghệ thuật: ở Sóng, Xuân Quỳnh sử dụng thể thơ ngũ ngôn trường thiên với những câu thơ nhịp nhàng, đều đặn gợi âm điệu của tiếng sóng biển, hình ảnh giản dị giàu sức gợi; còn ở Vội vàng, Xuân Diệu sử dụng thể thơ tự do với những câu thơ dài ngắn không đều nhau, hình ảnh tươi mới, tràn đầy sức sống, cách ngắt nhịp nhanh mạnh, giọng thơ sôi nổi
-Lí giải điểm tương đồng khác biệt:
+ Có những điểm tương đồng là do cả Xuân Diệu và Xuân Quỳnh đều là những nhà thơ “Khát sống thèm yêu”
+ Có điểm khác biệt là do yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và do phong cách riêng của mỗi nhà văn
Đề bài: So sánh nhân vật Quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân với Đan Thiềm trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài của Nguyễn Huy Tưởng
1 Giới thiệu khái quát về hai tác giả Nguyễn Tuân, Nguyễn Huy tưởng và hai tác phẩm, hai
nhân vật được yêu cầu cảm nhận
2 Cảm nhận về hai nhân vật
a.Nhân vật quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
- Là người nắm giữ quyền lực cao nhất trong nhà ngục nhưng lại có sở thích lạ lung: Thích chơi chữ Chính sở thích cao quý này cùng tính cách nhẹ nhàng, biết giá người, biết trọng người ngay
Trang 12đã khiến cho Quản ngục vượt qua sự chi phối của địa vị xã hội để thể hiện tấm lòng biệt nhỡn liên tài với Huấn Cao Hành động suốt nửa tháng đem rượu thịt cho Huấn Cao và các bạn đồng chí của ông cho thấy Quản ngục sẵn sàng chấp nhận nguy hiểm để thể hiện tình yêu với cái đẹp, cái tài Trong cảnh cho chữ, vẻ đẹp tâm hồn của Quản ngục một lần nữa được thể hiện rõ khi nhân vật nàyđược cái đẹp từ nghệ thuật và từ thiên lương của Huấn Cao hướng thiện, thanh lọc Câu nói Kẻ mêmuội này xin bái lĩnh cùng cái bái lạy và dòng nước mắt đã cho thấy sự trong sang, tốt đẹp trong nhân cách của Quản Ngục
- Quản ngục là một nhân vật được xây dựng bằng bút pháp lãng mạn, có sự đối lập giữa tính cách
và hoàn cảnh Nguyễn Tuân đi sâu làm rõ những phức tạp trong tâm lí của Quản ngục bằng bút pháp độc thoại nội tâm
b Nhân vật Đan Thiềm trong Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
- Đan Thiềm là một cung nữ bị thất sủng có cái nhìn tỉnh táo, thức thời nhưng quan trọng hơn là cómột tình yêu mãnh liệt dành cho cái đẹp, cái tài Bà chính là người đã khuyên Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài rồi đến hồi kết cũng chính bà là người đã khuyên Vũ Như Tô đi trốn Cả hai lời khuyên đều xuất phát từ tình yêu dành cho cái đẹp, cái tài Trong đoạn trích Đan Thiềm khẩn thiết giục Vũ Như Tô đi trốn, bà tìm cách bảo vệ Vũ Như Tô như bảo vệ chính tính mạng cho mình Khi không thể trốn được nữa Đan Thiềm đã xin tha sau đó xin chết thay cho Vũ Như Tô Đóchính là tinh thần dũng cảm sẵn sàn hi sinh vì cái đẹp, cái tài Cuối cùng khi mọi nỗ lực đều khôngthành Đan Thiềm đã từ biệt Vũ Như Tô bằng tiếng kêu xé lòng
- Đan Thiềm thuộc kiểu nhân vật loại hình (nhân vật đặc trưng của thể loại kịch) Tính cách, tâm lí của nhân vật chủ yếu thể hiện qua ngôn ngữ và hành động
3 So sánh:
- Điểm tương đồng:
+ Cả hai nhân vật đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhân vật chính (người nghệ sĩ)
+ Cả hai nhân vật đều bị đặt trong thế tương phản, đối lập với hoàn cảnh
+ Đều có tình yêu mãnh liệt dành cho cái đẹp, cái tài, sẵn sàng hi sinh vì cái đẹp, cái tài
-Lí giải điểm tương đồng khác biệt:
+ Có những điểm tương đồng là do cả hai nhà văn đều là những người nặng lòng với cái đẹp Cả hai tác phẩm đều ra đời trước cách mạng gắn với hiện thực đen tối, ngột ngạt mâu thuẫn gay gắt với cái đẹp, ước mơ, khát vọng của con người
+ Có điểm khác biệt là do yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và do phong cách riêng của mỗi nhà văn
ĐỀ BÀI: So sánh ánh sáng và bóng tối giữa Hai đứa trẻ và Chữ người tử tù
1.Giới thiệu khái quát về hai tác giả Thạch Lam, Nguyễn Tuân và hai bài truyện ngắn Hai đứa
trẻ, Chữ người tử tù; hai chi tiết được yêu cầu cảm nhận
2 Cảm nhận về hai chi tiết nghệ thuật
a Ánh sáng và bóng tối trong Hai đứa trẻ
- Dạng thức của ánh sáng, bóng tối
+ Ánh sáng: vừa mang ý nghĩa vật lý (những nguồn sáng xuất hiện trong tác phẩm như: Phương tây đỏ rực, ngọn đèn chị Tý, bếp lửa của bác Siêu, chuyến tàu ) vừa mang ý nghĩa biểu tượng choước mơ, khát vọng
Trang 13+ Bóng tối: vừa mang ý nghĩa vật lý (dãy tre làng đen lại, bóng tối mù mịt dày đặc trong đêm…)
- Tương quan ánh sáng, bóng tối: tồn tại trong thế giao tranh từ đầu đến cuối tác phẩm trong đó bóng tối càng lúc càng chiếm ưu thế để rồi thắng thế còn ánh sáng thì nhỏ bé, tội nghiệp Về ý nghĩa thực nó cho thấy bức tranh phố huyện nghèo nàn, tăm tối Về ý nghĩa biểu tượng nó cho thấynhững con người nhỏ bé như chị em Liên mang trong mình ước mơ, khát vọng mãnh liệt vào một tương lai tươi sáng nhưng ước mơ đã mâu thuẫn gay gắt và có nguy cơ bị bóp nghẹt bởi hiện thực tăm tối
b Ánh sáng và bóng tối trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
- Dạng thức của ánh sáng, bóng tối:
+ Ánh sáng: vừa có dạng thức vật lý ( ngọn đèn của Quản ngục, ánh sáng của vì sao Hôm, ngọn đuốc tẩm dầu ) vừa mang tính biểu tượng cho vẻ đẹp của nghệ thuật cao quý và thiên lương trong sáng tốt đẹp của con người
+Bóng tối: Vừa có dạng thức vật lý (Bóng tối bao trùm trong đêm quản ngục ngồi suy nghĩ cùng cái chật hẹp, tối tăm, bẩn thỉu của buồng giam ) vừa mang tính biểu tượng cho hiện thực đen tối, ngột ngạt, bạo tàn của nhà ngục nói riêng và xã hội nói chung
-Tương quan ánh sáng, bóng tối và ý nghĩa: Có sự giao tranh gay gắt nhưng ánh sáng đã nổi bật trên nền cái tăm tối, bẩn thỉu ( như ánh sáng của bó đuốc và màu trắng của tấm lụa nổi bật trên nềncủa nhà giam bẩn thỉu, chật chội; như vẻ đẹp trong thiên lương của Huấn Cao và Quản ngục đã nổibật trên nền hiện thực khắc nghiệt)
3 So sánh:
- Điểm tương đồng:
+ Cả ánh sáng và bóng tối trong hai tác phẩm đều xuất hiện với một tần số lớn
+ Ánh sáng đều biểu tượng cho những điều tốt đẹp còn bóng tối biểu tượng cho hiện thực đen tối, nghiệt ngã
+ Ánh sáng và bóng tối ở cả hai tác phẩm đều tồn tại trong thế giao tranh với nhau một cách gay gắt
+ Đều được xây dựng bằng bút pháp tương phản đối lập đặc trưng của chủ nghĩa lãng mạn
-Lí giải điểm tương đồng khác biệt:
+ Có những điểm tương đồng là do cả Nguyễn Tuân và Thạch Lam đều là những nhà văn lãng mạn, cùng sống trong hiện thực tăm tối trước 1945
+ Có điểm khác biệt là do yêu cầu bắt buộc của văn học (không cho phép sự lặp lại) và do phong cách riêng của mỗi nhà văn
Đề 1:
Có ý kiến cho rằng: “Nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy, nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong các tác phẩm của mình” Hãy làm sáng tỏ điều đó bằng cảm nhận của anh/chị về những đoạn văn sau:
…Còn xa lắm mới đến cái thác dưới Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại réo to mãi lên Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng
Trang 14vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng…
…Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương
xuân…Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ nước Sông Đà không xanh màu xanh canh hến của Sông Gâm Sông
Lô Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ cái màu
đỏ giận dữ ở một người bất mãn bực bội gì mỗi độ thu về… (Nguyễn Tuân – Người lái đò Sông
đó, người ta luôn nhìn thấy dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ
bé vừa bằng con thoi Những ngọn đồi này tạo nên những mảng phản quang nhiều màu sắc trên nền trời tây nam thành phố, “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” như người Huế thường miêu tả …”
(Hoàng Phủ Ngọc Tường – Ai đã đặt tên cho dòng sông?)
* Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp
2 Phân tích và chứng minh: Phân tích vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật của hai đoạn văn và làm rõ ý kiến:
a Những đoạn văn của Nguyễn Tuân
– Dưới ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân, sông Đà như một công trình thẩm mĩ, một kì công nghệ thuật mà thiên nhiên ban tặng con người với hai đặc điểm: hung bạo, dữ dội và thơ mộng, trữ tình – Đoạn văn miêu tả tiếng thác nước sông Đà là tài quan sát, khám phá và thể hiện hình tượng thiênnhiên của Nguyễn Tuân với ngôn ngữ giàu sức tạo hình, vốn từ ngữ phong phú, biến hóa, được tác giả tung ra đúng lúc, đúng chỗ đặc biệt là phép so sánh và nhân hóa lạ, độc đáo
– Đoạn miêu tả dáng vẻ, màu nước sông Đà là những phát hiện thú vị về vẻ đẹp dịu dàng của dòngsông và phát hiện rất tinh tế về màu nước theo mùa Đoạn văn được viết bằng sự thăng hoa của tâm hồn, nhà văn như “đề thơ vào sông nước”, thể hiện cách khám phá sự vật ở phương diện mĩ thuật
b Những đoạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Trang 15– Trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường huy động vốn tri thức, vốn ngôn ngữ phong phú, kết hợpgiữa trữ tình và chính luận, trí tuệ và cảm xúc, cảm hứng lịch sử và chiều sâu văn hóa, khả năng liên tưởng và ngôn từ trong sáng, đẹp đẽ
– Đoạn văn viết về sông Hương ở thượng nguồn là khám phá của tác giả về vẻ đẹp vừa “phóng khoáng và man dại” vừa “dịu dàng và say đắm”của dòng sông, là kết quả của trí tưởng tượng đầy tài hoa Cảnh sông ở đây
được khắc họa với những hình ảnh đầy ấn tượng bằng năng lực quan sát tinh tế và sự phong phú
về ngôn ngữ
– Đoạn văn miêu tả sông Hương ở ngoại vi thành phố là lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm
và tài hoa của sông Hương qua phép nhân hóa khi miêu tả dòng chảy và cách đặc tả màu nước phản quang hai bên bờ và thay đổi trong ngày
c So sánh để thấy được vẻ đẹp riêng của mỗi đoạn: Thí sinh có thể diễn đạt theo những cách
khác nhau, nhưng cần làm nổi bật được:
– Ẩn trong câu chữ biến hóa là vẻ đẹp lấp lánh ánh sáng trí tuệ, tri thức và cả chất phong tình, tài hoa, lãng mạn từ tâm hồn Hoàng Phủ Ngọc Tường Tất cả làm nên một Hoàng Phủ Ngọc Tường độc đáo, sâu sắc mà tràn đầy cảm xúc…
Thí sinh có thể có những cảm nhận và diễn đạt khác nhưng phải hợp lí, có sức thuyết phục
Đề bài::Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái
đò sông Đà” – Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” – Hoàng Phủ Ngọc Tường
I Mở bài: Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần bàn luận
– Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và Người lái đò sông Đà
– Giới thiệu tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ai đã đặt tên cho dòng sông
– Giới thiệu vấn đề nghị luận: vẻ đẹp của sông Hương, sông Đà, và về việc bảo vệ cảnh quan thiênnhiên của quê hương, đất nước
II Thân bài:
1 Nét tương đồng của 2 dòng sông:
a/ Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như một nhân vật trữ tình có tính cách vớinhững vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước b/ Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội
– Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được thể hiện qua sự hung bạo và dữ dội của nó trên nhiều phương diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận – Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa 1 bản trường ca của rừng già, tựa
cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại…
c/ Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:
– Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước thay đổi qua từng mùa,
vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính…
– Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm say giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa
đỗ quyên rừng Sông Hương còn mang vẻ đẹp của người con gái ngủ mơ màng chờ người tình
Trang 16mong đợi đánh thức Nó còn được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế… d/ Cả 2 đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:
– Tài hoa:
2 dòng sông đều được miêu tả trên phương diện văn hóa, thẩm mĩ:
+ Sông Đà là nơi hội tụ 2 nét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc vừa hùng vĩ, uy nghiêm,
dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng
+ Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử gắn liền với những nétđặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ Huế
– Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa, tài trí của người lái
đò Lúc này đây, sông Đà như 1 chiến địa dữ dội Và mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần sông, thần đá…
b/ Sông Hương:
– Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính, luôn mang dáng vẻ của 1 người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu say đắm Khi ở thượng nguồn, nó là cô gái Digan phóng khoáng, man dại; khi ở cánh đồng Châu Hóa, nó là cô thiếu nữ ngủ mơ màng; khi lại như người tài nữ đánh đàn giữa đem khuya, hay là nàng Kiều tài hoa, đa tình mà lại chung tình, là người con gái dịu dàng của đất nước
– Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay
– Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông Hương là thủy trình
có ý thức tìm về người tình mong đợi Khi chảy
giữa Huế, sông Hương mềm hẳn đi như 1 tiếng ” vâng” không nói ra của tình yêu Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng chia tay người yêu, thể hiện 1 nỗi niềm vươngvấn với 1 chút lẳng lơ kín đáo
– Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn thể hiện nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế
III/ Kết luận:
Đánh giá chung về đóng góp của hai nhà văn
– Qua vẻ đẹp tương đồng của 2 dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo của 2 tâm hồn có tìnhyêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp của non sông đất nước Việt Nam
– Mỗi nhà văn đều có 1 phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú, đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình
Đề bài: Vẻ đẹp xứ Huế qua hai tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử) và Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
1 Giới thiệu chung hai tác giả và tác phẩm
2 Phân tích vẻ đẹp xứ Huế trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử
+Cảnh vườn cây đẹp trong nắng ban mai với cành lá mơn mởn ướt sương, ánh như ngọc được miêu tả trực tiếp, qua những hình ảnh cụ thể, sinh động Con người xứ Huế hiền lành, phúc hậu
Trang 17+Sau vườn cây xứ Huế là thiên nhiên xứ Huế Cảnh trời, mây, sông, nước ở đây thật đẹp, nhất là cảnh một dòng sông được tưới đẫm ánh trăng với con thuyền chở đầy ánh trăng nhưng tất cả đều thấm đượm nỗi buồn
+Khổ thơ thứ ba thể hiện một nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong không gian bao la của trời, mây, sông, nước đã thấm đẫm ánh trăng Đó là sự hy vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi Vẫn ở trong mộng ảo, vì vậy cảnh và người ở đây đều hư hư, thực thực
Tóm lại: Cảnh đẹp, giàu sức sống, thơ mộng nhưng đượm một nỗi buồn bâng khuâng, da diết
3 Phân tích vẻ đẹp xứ Huế trong bài Ai đã đặt tên cho dòng sông của Hoàng Phủ Ngọc
Tường Thực chất là phân tích vẻ đẹp của dòng sông Hương
Có thể tham khảo những ý chính sau:
– Vẻ đẹp được phát hiện ở cảnh sắc thiên nhiên:
Sông Hương có vẻ đẹp “phóng khoáng và man dại, rầm rộ, mãnh liệt, một bản trường ca của rừng già” khi nó đi qua giữa lòng Trường Sơn; có vẻ đẹp dịu dàng và trí tuệ khi trở thành “người mẹ phù sa” của một vùng văn hóa đất cố đô, có vẻ đẹp phản quang nhiều màu sắc của nền trời tây namthành phố “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, có vẻ đẹp “trầm mặc” khi lặng lẽ chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn; có
vẻ đẹp mang màu sắc “triết lí, cổ thi” khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ, có vẻ đẹp “vui tươi” khi đi qua những bãi bờ xanh biếc vùng ngoại ô Kim Long; có vẻ đẹp “mơ màng trong sương khói” khi nó dời xa dần thành phố để đi qua những nương dâu, lũy trúc và những hàng cau thôn Vĩ Dạ…
– Vẻ đẹp sông Hương nhìn từ góc độ văn hóa Tác giả cho rằng đã có một dòng thi ca về con sông Hương, một dòng thơ không lặp lại mình, ấy là “dòng sông trắng- lá cây xanh”, trong thơ Tản Đà,
là vẻ đẹp hùng tráng “như kiếm dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát, là nỗi quan hoài vạn cổ trong
thơ Bà Huyện Thanh Quan, là sức mạnh phục sinh tâm hồn trong thơ Tố Hữu
– Vẻ đẹp nhìn từ góc độ lịch sử: sông Hương từng là dòng sông bảo vệ biên thùy tổ quốc thời Đại Việt, từng soi bóng kinh thành Phú Xuân của Nguyễn Huệ, từng chứng kiến bao cuộc khởi nghĩa, rồi đến cách mạng tháng tám, chiến dịch mậu thân năm 1968…
– Vẻ đẹp trong trí tưởng tượng đầy tài hoa của tác giả:
Ông đã nhìn sông Hương như một cô gái Huế, từng có lúc là một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại, nhưng nói chung là một thiếu nữ tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc, đa tình và kín đáo, lẳng lơ nhưng rất mực chung tình, khéo trang sức mà không lòe loẹt phô phang, giống như những cô dâu Huế ngày xưa trong sắc áo điều đục “Đấy cũng chính là màu của sương khói trên sông Hương, giống như tấm voan huyền ảo của tự nhiên, sau đó ẩn giấu khuôn mặt thực của dòng sông…”
4 Chỉ ra nét tương đồng và khác biệt
*Nét tương đồng:
– Cả hai nhà thơ đều lấy những địa danh nổi tiếng của xứ Huế (Vĩ Dạ và sông Hương) làm điểm nhấn và khởi hứng cảm xúc
– Cùng tái hiện được vẻ đẹp của thiênnhiên, cảnh sắc con người xứ Huế rất riêng, rất thơ mộng
Có được điều đó chứng tỏ mảnh đất, con người Huế đã chiếm chỗ sâu bền nhất trong lòng các tác giả
– Cả hai đều là những cây bút tài hoa,tinh tế, nhạy cảm trong văn chương, có tâm hồn hết sức lãng mạn, phong phú
*Nét khác biệt:
–Đây thôn Vĩ Dạ: Bài thơ được gợi cảm hứng từ tấm bưu thiếp mà Hoàng Cúc gửi cho Hàn Mặc
Tử nên điểm nhìn cảm xúc trong một khônggian hẹp, cái nhìn từ kí ức Cảnh vật của xứ Huế hiện lên với những nét đặctrưng rất bình dị, quen thuộc, gần gũi nhưng cũng thật lãng mạn:
Trang 18cảnh khu vườn mướt như ngọc, sông trăng huyền ảo, con người với vẻ đẹp đằm thắm, dịudàng…cảnh vật in đậm cảm xúc về tình đời, tình người
– Ai đã đặt tên cho dòng sông?: Hoàng Phủ Ngọc Tường chọn điểm nhìn là sông Hương, đặt trong một không gian phóng khoáng, rộng lớn hơn Vẻ đẹp của xứ Huế hiện lên ở rất nhiều góc độ từ quá khứ cho đến hiện tại, từ lịch sử, thơ văn đến địa lí, văn hóa….Vì thế vùng đất cố đô hiện lên toàn diện hơn, hiện thực hơn bởi sông Hương chính là linh hồn của Huế,là nơi tích tụ những trầm tích văn hóa lâu đời của mảnh đất kinh thành cổ xưa
I MỞ BÀI
Giới thiệu khái quát về hai nhân vật trong hai tác phẩm
– Kim Lân là nhà văn chuyên viết về nông thôn và cuộc sống người dân quê, có sở trường về truyện ngắn Vợ nhặt là truyện ngắn xuất sắc, viết về tình huống “nhặt vợ” độc đáo, qua đó thể hiện niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốt đẹp của những con người bình dị trong nạn đói thê thảm.– Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiêu biểu thời chống Mĩ, cũng là cây bút tiên phong thời đổi mới Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn xuất sắc ở thời kì sau, viết về lần giáp mặt của một nghệ sĩ với cuộc sống đầy nghịch lí của một gia đình hàng chài, qua đó thể hiện lòng xót thương, nỗi lo âu đối với con người và những trăn trở về trách nhiệm của người nghệ sĩ
II THÂN BÀI
1 Nhân vật người vợ nhặt
– Giới thiệu chung: Tuy không được miêu tả thật nhiều nhưng người vợ nhặt vẫn là một trong ba nhân vật quan trọng của tác phẩm Nhân vật này được khắc hoạ sống động, theo lối đối lập giữa bềngoài và bên trong, ban đầu và về sau
– Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Phía sau tình cảnh trôi dạt, vất vưởng, là một lòng ham sống mãnh liệt
+ Phía sau vẻ nhếch nhác, dơ dáng, lại là một người biết điều, ý tứ
+ Bên trong vẻ chao chát, chỏng lỏn, lại là một người phụ nữ hiền hậu, đúng mực, biết lo toan
2 Nhân vật người đàn bà chài
– Giới thiệu chung: Là nhân vật chính, có vai trò quan trọng với việc thể hiện tư tưởng của tác phẩm Nhân vật này được khắc hoạ sắc nét, theo lối tương phản giữa bề ngoài và bên trong, giữa thân phận và phẩm chất
– Một số vẻ đẹp khuất lấp tiêu biểu:
+ Bên trong ngoại hình xấu xí, thô kệch là một tấm lòng nhân hậu, vị tha, độ lượng, giàu đức hi sinh
+ Phía sau vẻ cam chịu, nhẫn nhục vẫn là một người có khát vọng hạnh phúc, can đảm, cứng cỏi + Phía sau vẻ quê mùa, thất học lại là một người phụ nữ thấu hiểu, sâu sắc lẽ đời
3 So sánh:
– Tương đồng: Cả hai nhân vật đều là những thân phận bé nhỏ, nạn nhân của hoàn cảnh Những
vẻ đẹp đáng trân trọng của họ đều bị đời sống cơ cực lam lũ làm khuất lấp Cả hai đều được khắc hoạ bằng những chi tiết chân thực…
– Khác biệt: Vẻ đẹp được thể hiện ở nhân vật người vợ nhặt chủ yếu là những phẩm chất của một
nàng dâu mới, hiện lên qua các chi tiết đầy dư vị hóm hỉnh, trong nạn đói thê thảm Vẻ đẹp được
Trang 19khắc sâu ở người đàn bà hàng chài là những phẩm chất của một người mẹ nặng gánh mưu sinh, hiện lên qua các chi tiết đầy kịch tính, trong tình trạng bạo lực gia đình…
4 Lý giải sự khác biệt:
+ Vẻ đẹp khuất lấp của người vợ nhặt được đặt trong quá trình phát triển, biến đổi từ thấp đến cao(cảm hứng lãng mạn), trong khi đó người đàn bà chài lưới lại tĩnh tại, bất biến như một hiện thực nhức nhối đang tồn tại(cảm hứng thế sự-đời tư trong khuynh hướng nhận thức lại)
+ Sự khác biệt giữa quan niệm con người giai cấp (Vợ nhặt) với quan niệm con người đa dạng, phức tạp( Chiếc thuyền ngoài xa) đã tạo ra sự khác biệt này
(có thể có thêm nhiều ý khác, tùy thuộc mức độ phân hóa của đề thi)
KẾT BÀI
– Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu
– Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân
Đề bài: Cảm nhận về hai đoạn thơ sau:
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hẹn hò
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
(Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
và
“Con sóng dưới lòng sâu
Con song trên mặt nước
“Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta hò hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
(Đất Nước – Trích Trường ca mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)
Và:
“Con sóng dưới lòng sâu
Con song trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Trang 20II Thân bài:
1 Giới thiệu vài nét về hai tác giả, hai tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác và vị trí hai đoạn thơ cần phân tích
Sóng- Xuân Quỳnh
.– Nhà thơ của hạnh phúc đời thường: tiếng thơ khao khát tình yêu, hạnh phúc đời thường bình dị – Cái tôi độc đáo: giàu vẻ đẹp nữ tính, thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt gắn với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ., cùng những dự cảm bất trắc Tác phẩm
+ Xuất xứ: 1967, nhân chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền (Thái Bình), in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào
+ Đoạn thơ thứ 5 miêu tả nỗi nhớ của nhân vật trữ tình ” Em”
Đất nước- Nguyễn Khoa Điềm
Thơ Nguyễn Khoa Điềm cuốn hút người đọc bằng cảm xúc trữ tình nồng thắm và chất suy tư sâu lắng, ông cất lên tiếng nói của một người trí thức
thiết tha gắn bó với quê hương, giàu ý thức trách nhiệm với nhân dân, đất nước
Đoạn trích Đất Nước là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng Tác phẩm này được hoàn thành năm 1971, thể hiện sự thức tỉnh của thế lệ trẻ miền Nam về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước
Đoạn thơ trên thuộc phần đầu chương V
2 Điểm giống nhau
-Trước hết điểm tương đồng giữa hai đoạn thơ chính là viết về tình yêu đôi lứa trong nỗi nhớ, niềmthương
+Đúng vậy, tình yêu thì luôn gắn liền với nỗi nhớ, có ai yêu mà chưa bao giờ nếm mùi của cảm giác chờ mong, khắc khoải Tất cả biểu hiện của nỗi nhớ trong tình yêu rốt cuộc cuối cùng chỉ là khát khao hướng tới người mình yêu, mong muốn được ở gần người trong trái tim mình
+Trong ca dao xưa chẳng phải người xưa họ cũng đã từng diễn tả cái nỗi nhớ trong tình yêu rồi hay sao:
“ Nhớ ai bổi hổi, bồi hồi
Như đứng đống lửa như ngồi đống than”
Hay
“ Đêm nằm lưng chẳng tới giường
Mong cho mau sáng ra đường gặp anh”
+ Âý thế nhưng, trong đoạn thơ của NKĐ để diễn tả nối nhớ trong tình yêu, tác giả đã mượn hình ảnh của chiếc khăn – tín vật giao ước kết đôi mà biểu hiện nỗi nhớ:
“ ĐN là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
Tín vật tình yêu chính là điểm giao kết cho đôi bạn tình Từ xừa đến nay, những người yêu nhau như càng muốn thể hiện sự khăng khít gắn bó mặn nồng, thường lấy một tín vật nào đó mà kết duyên, giao ước.Họ coi đó như là “sợi chỉ hồng” của ông lão bà tơ se duyên kết mối Hình ảnh chiếc khăn
được nhắc đến trong đoạn thơ là một hình ảnh quen thuộc trong ca dao xưa:
“Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất
Khăn thương nhớ ai
Trang 21Khăn vắt lên vai
Khăn thương nhớ ai
Khăn chùi nước mắt…”
Đó là chiếc khăn tín nghĩa, biểu trưng cho tình cảm thật đẹp, thật trong sáng trong nỗi nhớ yêu thương
+Còn trong đoạn thơ của bài Sóng, cái tình yêu khát vọng của người phụ nữ “khát khao sống, khát khao yêu” dù bình dị nhưng rất đỗi mãnh liệt này không cần đến vật giao ước kêt đôi mà vẫn diễn
tả được hết tất thảy cái nỗi nhớ đến điên cuồng mãnh liệt Bởi tình yêu ấy đã vượt qua mọi chiều kích giới hạn chật hẹp để đến với tình yêu( sâu- rộng), vượt qua mọi bến bờ của vũ trụ, xuyên qua không gian, thời gian ( ngày – đếm) và kết tụ ngay cả khi “thức” lẫn khi “ngủ” của Xuân Quỳnh
Nó rợn ngợp giống như nỗi nhớ đã bao trùm giăng mắc mọi thứ xung quanh như ám vào vạn vật nên cần chi “vật giao ước” mà thể nghiệm nỗi lòng thương yêu? Cho nên tình yêu ấy với nỗi nhớ
ấy càng trở nên da diết, khắc khoải hơn bao giờ hết Nó không đơn thuần chỉ là nỗi nhớ bình
thường vụt đến rồi vụt tan mà nỗi nhớ ấy đã trở thành gánh nặng tâm tư trong lòng người con gái đang yêu mất rồi
-Nếu thật thiếu sót nếu chúng ta không nhìn nhận ra điểm tương đồng của hai đoạn thơ ấy chính là:
cả hai thi sĩ đều rất tài tình dụng công mượn hình ảnh, sự vật, hiện tượng tự nhiên xung quanh để diễn tả tâm tư tình cảm của mình
+ Với đoạn trích trong bài thơ ĐN, tác giả đã kể đến những sự vật xung quanh mỗi chúng ta Đó làtrường học, là nơi sinh hoạt hằng ngày ( nơi em tắm), là nơi cu trú, định cư ( nơi chim về, nơi rồngở) Tất cả nhưng sự vật
xung quanh của mỗi chúng ta ấy đều là những cái bình dị, thân thương mà chúng ta ít chú ý đến Tác giả nhắc đến mỗi sự vật ấy đều gắn với hai tiếng ĐN chính là muốn truyền tải tư tưởng: ĐN không tồn tại ở đâu xa xôi mà nó hóa thân, hiện hữu xung quanh mỗi chúng ta Đó chính là mỗi sự vật mà chúng ta nhìn thấy, tất cả những sự vật nhỏ bé ấy đều góp phần làm nên dáng hình, diện mạo ĐN
+ Còn Sóng của XQ cũng vậy, chị đã mượn hiện tượng tự nhiên của sóng biển để soi vào nhịp lòngmình, nhịp đập của con tim đang rung lên đồng điệu với nhịp sóng, đang bùng lên khát vọng trong tình yêu và nỗi nhớ:
“Con sóng dưới lòng sâu
Con song trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”
Những đợt sóng dâng trào, sóng tiếp sóng ào ạt lúc thì lăn tăn gối lên nhau trên “ mặt nước”, lúc lại luôn tiềm ẩn cái dữ dội, ồn ào “ lòng sâu” dưới đáy bể đại dương bao la thăm thẳm Tất thảy những đợt sóng đều cuồn cuộn xô đuổi nhau đến tận chân trời, đưa sóng đến gần hơn với bờ Bởi
bờ chính là điểm đến của sóng, là chỗ dựa vững chắc cho điểm về của sự bình yên, phẳng lặng
3 Sự khác biệt
-Bên cạnh điểm giao thoa, kết sóng thì giữa hai đoạn thơ còn có điểm khác biệt rõ ràng Nhưng chính điểm khác biệt ấy đã tạo nên cái độc đáo, cái sức hấp dẫn riêng của mỗi phong cách thi nhân
+Tình yêu đôi lứa trong đoạn thơ ĐN của NKĐ gắn liền với tình yêu ĐN, tình yêu đôi lứa dưới con mặt của ông là một thứ tình yêu “hóa thân”, “nảy mầm” nên tình yêu ĐN Chính tình yêu đôi lứa cũng là một yếu tố góp phần làm nên diện mạo của một đất nước trù phú, tươi vui Điều này, cũng đã được các nhà thơ cùng thời với NKĐ ý thức rất rõ, ta có thể lấy dẫn chứng tiêu biểu trong bài thơ “Tiếng hát con tàu” của Chế Lan Viên:
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Trang 22Như xuân đến chim rừng long trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
+ Còn trong đoạn thơ của bài thơ Sóng, tình yêu luôn tuyệt đối hóa trong tình yêu riêng tư, tình yêu đời thường Cái chất đời thường trong tình yêu gắn liền với nỗi nhớ ấy đã được XQ diễn tả thông qua hình tượng “ sóng” với sự phân thân của nhân vật trữ tình “em”:
Đó là biểu hiện của một trái tim đang yêu chân thành, đằm thắm:
“ Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt đời thường ai chả có
Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa
Vẫn yêu anh cả khi chết đi rồi”
+Đoạn thơ ĐN sử dụng thể thơ tự do, kết hợp với nghệ thuật chiết tự từ ( Đất là gì?, Nước là gì?) cùng với việc sử dụng hàng loạt các hình ảnh sự vật tự nhiên đã có tác dụng diễn tả thật đắt tư tưởng Đất Nước của mình Hướng người đọc đến sự hóa thân kỳ diệu của ĐN trong từng sự vật nhỏ bé, đơn sơ, bình dị đến lạ thường
+Đoạn thơ trong bài sóng của XQ sử dụng thể thơ ngũ ngôn với việc mượn hình tượng sóng biển
để soi tỏ nhịp đập thổn thức của trái tim người phụ nữ đang yêu có tác dụng diễn tả thật đát nỗi nhớ niềm thương và tấm lòng thủy chung son sắt của một tâm hồn đa sầu, đa cảm
-Như ta đã biết, Nghệ thuật luôn đòi hỏi tính sáng tạo, mỗi người ngệ sĩ luôn cố gắng tạo cho mìnhmột phong cách nghệ thuật riêng Vì thế các tác phẩm tạo ra mới không bị nhòe lẫn vào các tác phẩm của nhà thơ khác
+ Không nằm ngoài lệ, NKĐ luôn thể hiện một phong cách thơ trữ tình – chính luận Với sự tự ý thức về vai trò- chức năng của một nghệ sĩ – chiến sĩ thì đối với ông, thơ ca chính là ngọn nguồn cảm hứng viết lên những bản tình ca bất hủ về ĐN Cho nên tình yêu đôi lứa dưới con mắt của nhàthơ nó chính là một phần biểu hiện của một tình yêu đất nước muôn đời
+Còn thi sĩ XQ thì ngược lại, chị tìm cho mình một tiếng nói riêng trong trái tim của một người phụ nữ hồn hậu đa sầu, đa cảm với những khoảnh khắc rung động trong tình yêu đôi lứa Tình yêu
ấy luôn cháy rực ngọn lửa trong các trang thơ của XQ thật muôn vẻ muôn phần Vì thế, dưới con mắt của thi sĩ, tình yêu luôn được cụ thể hóa trong một tâm hồn khát khao hướng tới hạnh phúc riêng tư, đời thường
4 Lí giải sự khác biệt:
+ Do hoàn cảnh sáng tác
+ Do phong cách nghệ thuật, cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ
Kết bài:Như vậy,qua việc cảm nhận ở trên ta thấy rằng cả hai đoạn thơ đều có chung đặc điểm viết
về tình yêu đôi lứa nhưng mỗi thi sĩ lại có một tiếng nói riêng cho tư tưởng của bản thân mình VớiNKĐ tình yêu đất nước là vĩnh cửu, với XQ tình yêu đôi lứa là muôn thưở muôn đời Chính mỗi người lại có một phong cách thơ và cách nhìn nhận riêng của mình về cuộc sống, đều góp phần đắc lực cho vườn thơ dân tộc thêm sáng trong và tỏa hương thơm ngát
Đề bài: So sánh đoạn thơ trong bài Đất nước và Tây Tiến
Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Trang 23Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
(Tây Tiến – Quang Dũng)
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở Làm nên Đất Nước muôn đời”
(Đất Nước- Nguyễn Khoa Điềm)
I Mở bài:
Tây Tiến của Quang Dũng và Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm là những bài thơ đặc sắc trong nền thơ cách mạng Việt Nam Hai tác phẩm này đã nói về những con người vô danh lặng thầm chiến đấu bảo vệ quê hương Mỗi bài thơ đều để lại những cảm xúc, suy tư sâu lắng trong lòng người đọc Trong đó có những câu thơ rất đặc sắc:
“Rải rác biên cương mồ viễn xứ
……….”
Và:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời”
Thân bài:
Trước hết chúng ta tiến hành phân tích từng đoạn:
II Thân bài
a.Đoạn thơ trong bài Tây Tiến
*Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm, vị trí đoạn thơ
+Quang Dũng là nghệ sĩ đa tài (thơ, văn, nhạc, hoạ), cũng là một người lính, sống một đời lính oanh liệt, hào hùng Quãng đời ấy đã trở thành cảm hứng đặc sắc trong thơ ông Bài thơ Tây Tiến viết về người lính, về những chàng trai“chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” – người lính Tây Tiến
+Tây Tiến là một đơn vị bộ đội thành lập đầu năm 1947 Thành phần chủ yếu là thanh niên trí thức
Hà Nội Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ đội Lào, đánh tiêu hao lực lượng địch ở Thượng Lào, bảo vệ biên giới Việt Lào Sau một thời gian hoạt động ở Lào, đoàn quân Tây Tiến trở về Hoà Bình thành lập trung đoàn 52 Năm 1948, nhà thơ Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, không bao lâu, ông nhớ đơn vị cũ sáng tác bài thơ này
+ Bài thơ có 4 khổ, đây là khổ thứ 3, nội dung khắc hoạ hình tượng người lính TT
*Phân tích cụ thể:
-Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ, nhớ về đồng đội và địa bàn hoạt động của đoàn quân, nhớ về vùng đất mà bước chân hào hùng mà đoàn binh Tây Tiến đã đi qua – Tây Bắc Vùng đất đóvới thiên nhiên hoang sơ, hùng vĩ và thơ mộng, trữ tình, vùng đất ấy với những con người tài hoa, duyên dáng và nghĩa tình Trên nền cảnh ấy là hình ảnh người lính Tây Tiến Họ hiện lên thật ấn tượng với phẩm chất hào hùng đáng kính, họ đã hi sinh dọc đường hành quân, hi sinh dọc miền biên giới – họ đã hi sinh vì lí tưởng sống cao đẹp:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
-Đoạn thơ sử dụng rất nhiều từ Hán Việt mang sắc thái trân trọng, thể hiện không khí trang
nghiêm, lòng thành kính thiêng liêng của nhà thơ trước sự hi sinh của đồng đội Những từ ngữ ấy như những nén tâm nhang thắp lên đưa tiễn những người đã ngã xuống CHính hệ thống từ ngữ ấy kết hợp với những hình ảnh giàu sức gợi (biên cương, chiến trường, áo bào, khúc độc hành) cũng tạo sắc thái cổ kính, gợi liên tưởng đến sự hi sinh oanh liệt của những anh hùng, dũng tướng sẵn sàng chấp nhận cảnh “da ngựa bọc thây” đầy bi tráng trong văn học trung đại
Trang 24-Câu thơ đầu đoạn thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt (biên cương, viễn xứ) nhưng sức nặng của cả câulại dồn vào một từ thuần Việt: “mồ” Mồ cũng là mộ nhưng không phải mộ theo đúng nghĩa Đó chỉ là những nấm đất được đào vội, chôn mau ngay trên con đường hành quân vội vã để đoàn quânlại tiếp tục lên đường Đặt trong không gian bao la, mênh mông hoang sơ của miền biên giới Việt –Lào, những nấm mồ ấy gợi lên bao nỗi xót xa
-Trong câu thơ thứ hai, tác giả sử dụng nghệ thuật đảo ngữ (chiến trường đi) để nhấn mạnh đích đến của người lính, người chiến sĩ Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, sứ mênh đất nước rấtmỏng manh, chiến trường là đích đến duy nhất, là sự lựa chọn đầy trách nhiệm của cả một thế hệ Với họ, “đường ra trận mùa này đẹp lắm” và “cuộc đời đẹp nhất trên trận chiến chống quân thù” Cách nói “chẳng tiếc đời xanh” cho thấy sự dứt khoát, lòng quyết tâm, coi thường gian nguy, coi thường cái chết Họ sẵn sàng hiến dâng cả đời xanh, tuổi trẻ, quãng đời đẹp nhất cho tổ quốc, hơn thế nữa, tính mạng của họ cũng sẵn sàng hi sinh để làm nên dáng hình đất nước Họ ra đi với tinh thần của cả thời đại“Người ra đi đầu không ngoảnh lại” Đó là lí tưởng sống cao đẹp, hào hùng -Viết về người lính và cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta, nhà thơ Quang Dũng rất chân thực, ông không hề né tránh hiện thực:
Áo bào thay chiếu anh về đất
“Áo bào thay chiếu” – một hình ảnh thực đến xót xa của chiến tranh Nhưng cái thiếu thốn về vật chất lại được khoả lấp bằng sự hiên ngang, can trường của người lính Từ Hán Việt và cách nói
“Áo bào thay chiếu anh về đất”làm cho cái chết của người lính Tây Tiến trở nên trang trọng hơn rất nhiều, thiêng liêng hơn nhiều Nhà thơ vẫn gợi lên sjw thật chung của cả thời chống Pháp là sự thiếu thốn về vật chất, ở vùng biên giới xa xôi thì sự thiếu thốn ấy còn nhân lên gấp bội Người chiến sĩ đã ngã xuống không có một cỗ quan tài, thậm chí không có lấy một tấm chiếu để liệm thân
mà khi ngã xuống vẫn cứ mặc nguyên tấm áo thường ngày trên đường hành quân Đó có thể là tấm
áo sờn vai, tấm áo bạc màu, tấm áo có vài mảnh vá Nhưng với thái độ trân trọng đồng đội, nhà thơQuang Dũng đã thấy họ như đang mặc tấm áo bào của chiến tướng mà đi vào cõi vĩnh hằng, bất tử cùng sông núi Cách nói “về đất” không chỉ là cách nói giảm, nói tránh mà mang ý nghĩa biểu tượng thiêng liêng Cái chết không phải là ra đi vào cõi hư vô bất định mà là trở về, trở về với đất
Mẹ yêu thương Đất Mẹ cũng đã mở lòng đón những đứa con đầy trách nhiệm của mình trở về Họ
đã ra đi như thế đấy Họ đã nằm lại nơi chân đèo, dốc núi nào đó trên con đường hành quân đầy gian khổ, nhọc nhằn, họ đã để lại mình nơi biên cương lạnh lẽo, hoang vắng Nhưng họ đã ra đi vì
lí tưởng, cái chết của họ dù để lại nhiều xót xa trong lòng người đọc nhưng họ ra đi một cách rất thanh thản Họ chỉ là “không bước nữa”, là “bỏ quên đời”, là “về đất” thôi chứ không phải là chết các anh đã ngã xuống, đã “hoá thân cho dáng hình xứ sở” để rồi mỗi thế núi hình sông, mỗi tên đấttên làng đều có bóng hình các anh Các anh hi sinh, trở về trong lòng Đất Mẹ để “cho cây đời mãi mãi xanh tươi”, để đem lại cho đất đai, cho quê hương đất nước sự sống bất tận
– Đoạn thơ kết thúc bằng một âm hưởng hào hùng Dường như linh hồn người tử sĩ đã hòa cùng sông núi, con sông Mã đã tấu lên khúc nhạc đau thương, hùng tráng để tiễn đưa người lính vào cõi bất tử Hình tượng “sông Mã” ở cuối bài thơ được phóng đại và nhân hóa, tô đậm cái chết bi hùng của người lính_ sự hi sinh làm lay động đất trời, khiến dòng sông gầm lên đớn đau, thương tiếc
*Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm:
+Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống
Mỹ Ông xuất thân từ một gia đình trí thức cách mạng ở Huế, bản thân ông tham gia trực tiếp vào
Trang 25phong trào đấu tranh sinh viên nên thơ Nguyễn Khoa Điềm rất giàu chất suy tư, cảm xúc dồn nén mang tâm tư của người trí thức…
+Đất nứơc là phần đầu chương V của trường ca Mặt đường khát vọng, viết năm 1971 tại chiến khuTrị Thiên giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang hết sức khốc liệt
*Phân tích cụ thể:
“Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời”
– Đoạn thơ có giọng điệu tâm tình sâu lắng, thiết tha Tác giả tạo ra cuộc trò chuyện thân mật giữa nhân vật trữ tình “anh” với “em” Giọng điệu ấy đã làm mềm hóa nặng nề, khô khan của chất chính luận
– Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá một định luật rất mới “Đất Nước là máu xương của mình” Đốivới mỗi con người, máu xương là yếu tố cần thiết cho sự sống Hình ảnh so sánh độc đáo ấy có hàm ý khẳng định: Đất nước là sự sống thiêng liêng đối với mỗi con người
Nguyễn Khoa Điềm nhắc nhở mỗi người chúng ta phải biết trân trọng đất nước hôm nay
– Từ việc xác định vai trò quan trọng của đất nước đối với mỗi con người, nhà thơ khơi gợi ý thức trách nhiệm của mỗi công dân, nhất là thế hệ trẻ Phép điệp ngữ “phải biết” vừa có ý nghĩa cầu khiến vừa là lời thiết tha, mong chờ như mệnh lệnh từ trái tim Ba cụm động từ cụ thể hóa trách nhiệm của mỗi con người: “Gắn bó” là lời kêu gọi đoàn kết, hữu ái giai cấp Vì, có đoàn kết là có sức mạnh “San sẻ” là mong muốn mỗi người có ý thức gánh vác trách nhiệm với quê hương Còn
“hóa thân” là biểu hiện tinh thần sẵn sàng hi sinh cho đất nước, là sự dâng hiến thiêng liêng, đẹp
đẽ
* Nghệ thuật:
– Đoạn thơ mang tính chính luận nhưng được diễn đạt bằng hình thức đối thoại, giọng điệu trữ tìnhkết hợp với biện pháp tu từ điệp ngữ Từ “Đất Nước” dược lặp lại hai lần kết hợp cách viết hoa đã tăng thêm sự tôn kính thiêng liêng, thể hiện quan niệm lớn: “Đất Nước của nhân dân”
bó máu thịt với mỗi con người
-Đoạn thơ trong bài Tây Tiến được viết bằng thể thơ thất ngôn, có sử dụng nhiều từ Hán Việt trangtrọng với giọng điệu thơ dứt khoát, mạnh mẽ, âm hưởng hào hùng để tô đậm hiện thực khốc liệt của chiến tranh và khẳng định sự bất tử của người chiến sĩ vô danh
+Đoạn thơ trong Đất Nước được viết bằng thể thơ tự do, giọng điệu tâm tình trò chuyện, từ ngữ giản dị, gần gũi nhằm khẳng định vai trò to lớn của nhân dân vô danh
* Lí giải:
Sự khác biệt như trên:
-Do hoàn cảnh sáng tác
- Do phong cách, cá tính sáng tạo của mỗi nhà thơ
III Kết bài: Đánh giá chung về giá trị hai đoạn thơ và tài năng nghệ thuật của hai tác giả
Đề bài: Cảm nhận của anh/ chị về hai đoạn thơ sau: