1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

Ôn tập dạng đề so sánh văn học

14 965 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 580,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN THI THPT QUỐC GIA: DẠNG ĐỀ SO SÁNH phần 2 ĐỀ 1: Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong “Ai đã đặt

Trang 1

ÔN THI THPT QUỐC GIA: DẠNG ĐỀ SO SÁNH (phần 2)

ĐỀ 1:

Cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng sông Đà trong tác phẩm “Người lái đò Sông Đà”

của Nguyễn Tuân và hình tượng sông Hương trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”

của Hoàng Phủ Ngọc Tường Từ đó, trình bày suy nghĩ của anh, chị về việc bảo vệ

cảnh quan thiên nhiên của đất nước

1 Yêu cầu chung:

Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết;

không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

2 Yêu cầu cụ thể:

a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận:

Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân bài, Kết luận Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

c Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích,

so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng

Có thể trình bày theo định hướng sau:

I MỞ BÀI:

Dẫn dắt, giới thiệu vấn đề cần bàn luận

Trang 2

II THÂN BÀI:

1 Nét tương đồng của 2 dòng sông:

a Sông Đà và sông Hương đều được các tác giả miêu tả như một nhân vật trữ

tình có tính cách với những vẻ đẹp đặc trưng riêng biệt, thể hiện tình yêu

thiên nhiên, tình yêu quê hương, đất nước

b Sông Đà và sông Hương đều mang nét đẹp của sự hùng vĩ, dữ dội

Vẻ đẹp hùng vĩ của sông Đà được thể hiện qua sự hung bạo và dữ dội của

nó trên nhiều phương diện khác nhau cảnh trí dữ dội, âm thanh ghê rợn, đá

sông Đà như đang bày trùng vi thạch trận

Khi chảy giữa lòng Trường Sơn, sông Hương chảy dữ dội tựa một bản

trường ca của rừng già, tựa cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại

c Sông Đà và sông Hương đều có vẻ đẹp thơ mộng và trữ tình:

Sông Đà: dáng sông mềm mại tựa mái tóc tuôn dài tuôn dài, màu nước thay

đổi qua từng mùa, vẻ đẹp hoang sơ, cổ kính…

Sông Hương: với dòng chảy dịu dàng và đắm say giữa những dặm dài chói

lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng Sông Hương còn mang vẻ đẹp của

người con gái ngủ mơ màng chờ người tình mong đợi đánh thức Nó còn

được ví như điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế

d Cả hai đều được miêu tả qua ngòi bút tài hoa, uyên bác:

Tài hoa: hai dòng sông đều được miêu tả trên phương diện văn hóa,

thẩm mĩ:

 Sông Đà là nơi hội tụ hainét tiêu biểu, đặc trưng của thiên nhiên Tây Bắc

vừa hùng vĩ, uy nghiêm, dữ dội lại vừa trữ tình, thơ mộng

 Sông Hương là dòng sông của âm nhạc, dòng sông của thơ ca, của lịch sử

gắn liền với những nét đặc sắc về văn hóa, với vẻ đẹp của người dân xứ

Huế

Uyên bác: cả hai tác giả đều vận dụng cái nhìn đa ngành, vận dụng kiến thức

trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật để khắc họa hình tượng hai dòng sông

2 Nét độc đáo riêng trong từng hình tượng dòng sông:

a Sông Đà:

Trang 3

Trong đoạn trích, nhà văn tập trung tô đậm nét hung bạo, dữ dội của sông

Đà giống như một kẻ thù hiểm độc và hung ác

Thể hiện rõ nhất qua hình ảnh nước dữ, gió dữ, đá dữ đặc biệt đá bày trùng

vi thạch trận chực lấy đi mạng sống của con người

Sông Đà được cảm nhận ở chính nét dữ dội, phi thường, khác lạ: tiếng thét

của sông Đà như tiếng thét của ngàn con trâu mộng, đá trên sông đà mỗi

viên đều mang một khuôn mặt hung bạo, hiếu chiến

Đặc biệt, tác giả miêu tả sự hung bạo của sông Đà để làm nổi bật sự tài hoa,

tài trí của người lái đò Lúc này đây, sông Đà như một chiến địa dữ dội Và

mỗi lần vượt thác của người lái đò là mỗi lần ông phải chiến đấu với thần

sông, thần đá

b Sông Hương:

Sông Hương được tô đậm ở nét đẹp trữ tình, thơ mộng, gợi cảm và nữ tính,

luôn mang dáng vẻ của một người con gái xinh đẹp, mong manh có tình yêu

say đắm Khi ở thượng nguồn, nó là cô gái Digan phóng khoáng, man dại;

khi ở cánh đồng Châu Hóa, nó là cô thiếu nữ ngủ mơ màng; khi lại như

người tài nữ đánh đàn giữa đem khuya, hay là nàng Kiều tài hoa, đa tình mà

lại chung tình, là người con gái dịu dàng của đất nước

Sông Hương được miêu tả qua chiều sâu văn hóa xứ Huế, nó như người mẹ

phù sa bồi đắp cho vùng đất giàu truyền thống văn hóa này từ bao đời nay

Sông Hương được cảm nhận qua lăng kính của tình yêu: thủy trình của sông

Hương là thủy trình có ý thức tìm về người tình mong đợi Khi chảy giữa

Huế, sông Hương mềm hẳn đi như một tiếng "vâng" không nói ra của tình

yêu Trước khi đổ ra cửa biển, sông Hương như người con gái dùng dằng

chia tay người yêu, thể hiện một nỗi niềm vương vấn với một chút lẳng lơ

kín đáo

Thông qua hình tượng sông Hương mang nét đẹp nữ tính, nhà văn thể hiện

nét đẹp lãng mạn, trữ tình của đất trời xứ Huế

3 Trách nhiệm bản thân trong việc bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của quê

hương, đất nước qua hành động cụ thể như: yêu quí, bảo vệ môi trường,

quảng bá thắng cảnh…

III KẾT LUẬN:

Trang 4

Qua vẻ đẹp tương đồng của 2 dòng sông, ta bắt gặp sự tương đồng độc đáo

của 2 tâm hồn có tình yêu thiên nhiên tha thiết và niềm tự hào với vẻ đẹp

của non sông đất nước Việt Nam

Mỗi nhà văn đều có một phong cách nghệ thuật độc đáo trong việc thể hiện

hình tượng các dòng sông, giúp người đọc có những cách nhìn phong phú,

đa dạng về vẻ đẹp của quê hương, đất nước mình

ĐỀ 2:

Về hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo), có ý kiến

cho rằng: Tiếng đàn là thân phận Lor-ca, cũng là thân phận của nghệ thuật nói

chung trong một thực tại mà cái ác ngự trị Ý kiến khác lại nhấn mạnh: Tiếng đàn là

vẻ đẹp tâm hồn, là sức sống bất diệt của nghệ thuật Lor-ca

Từ cảm nhận của mình về hình tượng này, anh/chị hãy bình luận về hai ý kiến trên

1 Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm, hai ý kiến về hình tượng tiếng đàn

Thanh Thảo là gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ trẻ thời chống Mĩ, có

nhiều nỗ lực cách tân thơ sau năm 1975

Tác phẩm: Đàn Ghi ta của Lor-ca rút từ tập thơ Khối vuông Ru-bích (1985) là

thi phẩm tiêu biểu của Thanh Thảo Bài thơ là tiếng nói tri âm của Thanh

Thảo đối với người nghệ sĩ Tây Ban Nha Gar-xi-a Lor-ca

Trích dẫn hai ý kiến

2 Thân bài:

a Giải thích ý kiến

Hai ý kiến là hai nhận xét khác nhau về ý nghĩa của hình tượng tiếng đàn Ý

kiến trước nhìn tiếng đàn như một thực thể mong manh, ngắn ngủi để thấy

tiếng đàn là thân phận Lor-ca, nghệ thuật Lor-ca Ý kiến sau lại nhận ra tiếng

đàn như một sinh thể có sức sống bất diệt để thấy tiếng đàn tượng trưng cho

vẻ đẹp tâm hồn, cho sức sống của nghệ thuật Lor-ca

Trang 5

b Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn

Tiếng đàn là thân phận Lor-ca, thân phận của nghệ thuật nói chung trong

một thực tại mà cái ác ngự trị

 Những tiếng đàn bọt nước mong manh và ngắn ngủi được đặt trong sự

tương phản, đối lập với sắc màu đỏ gắt gợi liên tưởng tới thân phận nhỏ

nhoi, khiêm nhường, số phận mong manh, ngắn ngủi của Lor-ca trong bối

cảnh chính trị căng thẳng, dữ dội

 Tiếng ghi ta vỡ tan và ròng ròng máu chảy: Tiếng đàn đã thành thân phận

đau thương của Lor-ca, của nghệ thuật trước sự hủy diệt tàn bạo của kẻ

thù

Tiếng đàn là vẻ đẹp tâm hồn Lor-ca, là sức sống bất diệt của nghệ thuật

 Tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh: Tiếng đàn mang âm vang và sắc màu

của một tâm hồn rạo rực, say đắm trong tình yêu, thiết tha, khắc khoải với

sự sống

 Tiếng đàn mãi trường tồn, giai điệu li-la-li-la mãi vang ngân là một ẩn dụ

tượng trưng cho sức sống bất diệt của Lor-ca, của nghệ thuật Đó chính là

cái đẹp không thể hủy diệt, là sự sống vẫn lặng lẽ tỏa hương

c Bình luận hai ý kiến

Hai ý kiến đều đúng, tuy có nội dung khác nhau nhưng không đối lập mà bổ

sung cho nhau cùng khẳng định những ý nghĩa tượng trưng của hình tượng

tiếng đàn: Tiếng đàn vừa là một ẩn dụ nghệ thuật của thân phận mong

manh, ngắn ngủi của Lor-ca, của nghệ thuật vừa là hình ảnh tượng trưng

cho vẻ đẹp, sức sống bất diệt của tâm hồn Lor-ca, nghệ thuật nói chung

Hình tượng có được nhiều ý nghĩa ấy là do Thanh Thảo đã sử dụng phối kết

hợp nhiều biện pháp nghệ thuật: đối lập, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, so sánh

để tạo nên nhiều hình ảnh thơ lạ hóa giàu sắc thái tượng trưng

3 Kết bài:

Tóm lược những nội dung đã bình luận

Nêu đánh giá chung, suy nghĩ của bản thân, liên hệ mở rộng,…

Trang 6

ĐỀ 3:

Cảm nhận của anh, chị về hai đoạn thơ sau:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ

Mặt trời chân lí chói qua tim

Hồn tôi là một vườn hoa lá

Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

(Từ ấy - Tố Hữu, Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục, 2011)

Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,

Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên, Ngữ văn 12, tập một, NXB Giáo dục, 2011)

1 Yêu cầu chung:

Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng bài nghị luận văn học để tạo

lập văn bản Bài viết phải có bố cục đầy đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện

khả năng cảm thụ văn học tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc

lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp

2 Yêu cầu cụ thể:

a Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài, Thân

bài, Kết luận Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn đề; phần

Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau cùng

làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn đề và thể hiện được ấn

tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân

b Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức

sống mãnh liệt trong tâm hồn của hai người mẹ: bà cụ Tứ (Vợ nhặt - Kim

Lân) và người đàn bà hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa - Nguyễn Minh

Châu)

Trang 7

c Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận điểm được

triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử dụng tốt các thao

tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó phải có thao tác phân tích,

so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng:

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

Phân tích để thấy tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt trong

tâm hồn của hai người mẹ: bà cụ Tứ (Vợ nhặt – Kim Lân) và người đàn bà

hàng chài (Chiếc thuyền ngoài xa – Nguyễn Minh Châu)

 Tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt trong tâm hồn bà cụ

Tứ: Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau, nhưng cần làm

nổi bật được các ý sau: Trước cảnh “nhặt vợ” của Tràng, bà cụ Tứ "vừa ai

oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình" Bà hờn tủi cho thân mình

đã không làm tròn bổn phận với con Nén vào lòng tất cả, bà dang tay đón

người đàn bà xa lạ làm con dâu: "ừ, thôi thì các con phải duyên, phải số

với nhau, u cũng mừng lòng" Bà thật sự mong muốn các con sẽ hạnh

phúc Bà giấu nỗi đau buồn, lo lắng để nhen nhóm cho các con niềm tin,

niềm hi vọng vào tương lai Giữa những ngày đói thảm hại mà “cái mặt

bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên”, bà cùng con dâu thu vén nhà cửa

Trong bữa cơm ngày đói, Kim Lân đã để cho bà cụ gần đất xa trời lại trải

qua bao khốn khổ cuộc đời là người nói nhiều nhất về tương lai hạnh phúc

Thì ra chính tình thương yêu con đã khiến cho sức sống, sự lạc quan ở

người mẹ ấy bùng lên mạnh mẽ

Trang 8

 Tình mẫu tử là cội nguồn tạo nên sức sống mãnh liệt trong tâm hồn người

đàn bà hàng chài: Thí sinh có thể trình bày theo những cách khác nhau,

nhưng cần làm nổi bật được các ý sau: Người đàn bà sẵn sàng chấp nhận

người chồng luôn đánh đập mình là vì cần có người chung tay lo cho con;

chị thu xếp cho Phác đến ở với ông ngoại nhằm tránh xung đột giữa hai

cha con Phác; chị muốn chồng đưa mình lên bờ đánh để các con không

phải chứng kiến cảnh bạo hành trong gia đình, để tâm hồn non nớt của con

không bị tổn thương; chị ôm chầm, vái lấy vái để đứa con khi Phác lao tới

đánh cha là để mong con đừng làm việc trái đạo, cũng là cách cầu xin con

tha lỗi cho mình vì đã không bảo vệ được con, khiến con phải lớn lên trong

cảnh khổ đau Nhìn bề ngoài, việc người đàn bà chấp nhận cuộc sống tồi

tệ là vì chị thiếu hiểu biết, không trân trọng bản thân mình Nhưng sâu xa

bên trong, mọi hành động của chị là vì con, do con Trong đau khổ triền

miên, chị vẫn chắt lọc được niềm hạnh phúc nhỏ nhoi: “Vui nhất là lúc ngồi

nhìn đàn con tôi chúng nó được ăn no”, “trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ

chồng con cái chúng tôi sống hoà thuận, vui vẻ” Chính tình thương con là

sức mạnh để chị tìm thấy niềm vui và ý nghĩa cuộc sống

Khẳng định tài năng của Kim Lân và Nguyễn Minh Châu trong việc miêu tả

hai nhân vật bà cụ Tứ và người đàn bà hàng chài Tuy hoàn cảnh khác nhau

nhưng hai người mẹ này đều có nét chung là trải qua nhiều nỗi khổ cực

trong đời mà vẫn luôn giữ được sự lạc quan, niềm tin vào tương lai và cội

nguồn sâu xa của những điều đó chính là nhờ tình yêu thương con vô bờ

Hai nhân vật này đã góp phần hoàn thiện chân dung người phụ nữ Việt

Nam

Trang 9

ĐỀ 4:

Đề ra: Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

(Tây Tiến - Quang Dũng)

Nhớ sao lớp học i tờ

Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

(Việt Bắc - Tố Hữu)

I MỞ BÀI: dẫn dắt vấn đề

II THÂN BÀI:

1 Giới thiệu hai tác giả, tác phẩm

2 Cảm nhận về hai đoạn thơ

a Đoạn thơ trong tác phẩm Tây Tiến là hồi ức của nhà thơ về đêm liên hoan

văn nghệ đậm tình quân dân

Đoạn thơ trở lên lung linh với hội đuốc hoa, tiếng khèn và điệu múa của cô

thiếu nữ miền sơn cước

Động từ “bừng” diễn tả không khí lễ hội và tâm trạng thăng hoa của người

lính “Đuốc hoa” chỉ niềm vui lan tỏa làm ấm lòng người chiến si ̃

Trang 10

Cô gái trong bộ xiêm áo lộng lẫy với dáng vẻ “nàng e ấp” Cùng lúc là tiếng

khèn man điệu nổi lên cuốn hút người lính hòa vào không khí đêm hội

Tất cả đã góp phần xây hồn thơ bồi đắp tinh thần lãng mạn và hào hoa của

tâm hồn người lính trẻ

Nghệ thuật: thể thơ thất ngôn mang đậm chất nhạc và chất thơ Tác giả đã

vẽ ra khung cảnh thiên nhiên và con người miền Tây Bắc thật mi ̃ lệ, thơ

mộng và trữ tình

b Đoạn thơ trong tác phẩm Việt Bắc là nỗi nhớ của tác giả về những ngày

tháng gắn bó với con người nơi căn cứ đi ̣a kháng chiến

Điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần đã tạo nên sự da diết trong tâm hồn

người đi và kẻ ở Mỗi nỗi nhớ lại gắn với một kỉ niệm: nhớ lớp bình dân học

vụ, nhớ nhưng đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân Hay đó chính là

nỗi nhớ những ngày sinh hoạt ở cơ quan Đó là những ngày đầy gian nan và

vất vả vì:

 Phải chống chọi với thiên nhiên và thời tiết khắc nghiệt “mưa nguồn suối lũ

những mây cùng mù”

 Những khó khăn thiếu thốn về vật chất “miếng cơm chấm muối” hay “bát

cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Tuy nhiên, sự gian khổ ấy không ngăn được tinh thần lạc quan bởi tất cả

đều hướng đến nhiệm vụ chung là giải phóng dân tộc Có được tinh thần lạc

quan ấy là cũng bởi tất cả cán bộ, chiến si ̃ và nhân dân đều đồng lòng để

hướng đến nhiệm vụ cao cả ấy

Nghệ thuật: điệp từ nhớ được nhắc lại nhiều lần, thể thơ lục bát ngọt ngào

3 So sánh

a Điểm giống: cả hai đều là những hoài niệm đẹp về quá khứ Nỗi hoài niệm

đều hướng về tình quân dân Tất cả đều thể hiện tinh thần lạc quan của

người chiến si ̃

b Điểm khác:

Đoạn thơ trong Tây Tiến được nhìn qua lăng kính hào hoa, lãng mạn của

người lính Hình ảnh thơ hiện lên sống động tươi đẹp

Ngày đăng: 16/07/2016, 00:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w