1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận triết học

20 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 75,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học thuyết âm – dương với những triết lý về bản chất và mối quan hệ giữa các thành tố mang thuộc tính âm và thuộc tính dương ở các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đã có những ảnh hưởng s

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình tồn tại và phát triển, con người luôn mong muốn nhận thức được thế giới xung quanh, tìm hiểu và nắm bắt được quy luật vận động của tự nhiên lẫn xã hội Với sự hoài nghi về vạn vật xung quanh, con người luôn đi tìm câu trả lời cho những

nghi vấn Thế giới này do ai sáng tạo ra? Thế giới này vận động và phát triển như thế nào? Vật chất có trước hay ý thức có trước? Lý giải cho những câu hỏi này, con người

đã dần dần khám phá và hình thành những quan niệm về thế giới tồn tại xung quanh cuộc sống Đó chính là thế giới quan Triết học được hình thành trong điều kiện con người bắt đầu nghiên cứu, tìm ra những quy luật vận động và phát triển của các lĩnh vực tự nhiên,

xã hội và tư duy, chi phối đến quá trình nhận thức của con người; khi đó trình độ nhận thức của con người đã đạt tới mức trừu tượng, khái quát, hệ thống hoá để xây dựng nên các học thuyết, lý luận Có thể nói, triết học giúp hình thành thế giới quan ở con người trên cơ sở nhận thức về bản thân và thế giới xung quanh

Triết học ra đời gần như cùng vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước Công nguyên tại các trung tâm văn minh lớn của nhân loại thời cổ đại như Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp, La

Mã ở cả phương Đông và phương Tây Sự ra đời của triết học đánh dấu bước phát triển vượt bậc về tư duy của con người, như một cuộc cách mạng vĩ đại trong nhận thức của con người, giúp xây dựng một tri thức khoa học về thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp luận để nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới Nó phản ánh bản chất của

hệ thống tri thức về thế giới các sự vật - hiện tượng – quá trình, đồng thời chỉ ra vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó Tuy được hình thành và phát triển từ xa xưa nhưng đến nay các tư tưởng, học thuyết triết học vẫn giữ được giá trị và ảnh hưởng đến các khía cạnh đời sống của con người

Việt Nam là một dân tộc với bề dày truyền thống về văn hoá và lịch sử, có vị trí địa lý nằm cạnh các quốc gia phát triển lớn mạnh như Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia,… Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá được kết tinh từ hàng nghìn năm thăng trầm của lịch sử, chịu nhiều ảnh hưởng của các nền văn hoá lân cận như văn hoá phương Đông, văn hoá phương Tây, của các nước lớn mạnh đã sang xâm lược như Trung Quốc, Pháp, Mỹ,… Đặc biệt, với sự phát triển vượt trội và tham vọng bành trướng của

Trang 2

một đất nước láng giềng như Trung Quốc đã khiến cho những đặcđiểm về văn minh, văn hoá, phong tục, tập quán,… ảnh hưởng một cách đáng kể đến dân tộc ta Hơn 2.000 năm trướcđây, dân tộc Việt Nam đã thường xuyên bị các triều đình chuyên chế phong kiến Trung Hoa tấn công, xâm lược, đô hộ, âm mưu đồng hóa, Nhân dân ta đã trải qua thời

kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm (từ năm 111 trước Công Nguyên – đến năm 939 sau Công Nguyên) với sự đàn áp, bóc lột, thôn tính dã man Trung Quốc đã mang những đặc trưng của dân tộc theo âm mưu đồng hóa truyền bá sang dân tộc Việt Nam, trong đó có chữ viết, phong tục văn hoá, các giáo lý, tư tưởng và học thuyết Đến ngày hôm nay, dân tộc ta đã tiếp thu có chọn lọc những ảnh hưởng của Trung Quốc để phát triển đất nước trong đó có các học thuyết, tư tưởng triết học Có thể thấy, bên cạnh tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, Học thuyết âm – dương, Ngũ hành đã có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống và con người Việt Nam

Học thuyết âm – dương với những triết lý về bản chất và mối quan hệ giữa các thành tố mang thuộc tính âm và thuộc tính dương ở các sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đã

có những ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống con người Việt Nam Dân tộc ta với những đặc trưng văn hoá riêng biệt của một nền văn minh nông nghiệp đã hình thành những quan niệm, triết lý về âm dương trong thế giới khách quan Trên cơ sở những giá trị truyền thống của dân tộc từ xưa truyền lại đến nay, cùng với những giá trị không thể phủ nhận từ Học thuyết âm – dương trong nền triết học Trung Hoa cổ đại, con người Việt Nam ngày nay đã có sự nghiên cứu và ứng dụng quy luật hài hoà, chuyển hoá giữa các mặt âm dương vào thực tiễn đời sống Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi tìm hiểu và nghiên cứu về việc “Ứng dụng Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại trong đời sống con người Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Tìm hiểu và nhận thức đầy đủ hơn Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại về quá trình hình thành và phát triển, những nội dung cơ bản, các quy luật chính của Học thuyết

Trang 3

- Nhận ra những ảnh hưởng và ứng dụng của Học thuyết âm – dương trong các lĩnh vực cụ thể của đời sống con người Việt Nam Từ đó, có thể thấy được giá trị và vị trí của Học thuyết này trong cuộc sống hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những nội dung chính trong Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại và những ứng dụng của Học thuyết giới hạn trong đời sống con người Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Kết cấu

Đề tài lần lượt giải quyết vấn đề đặt ra với các nội dung chính như:

Chương 1: Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại (đây là cơ sở lý luận để giải quyết vấn đề, trình bày khái niệm “âm” và “dương”, lược sử và nội dung các quy luật trong Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại)

Chương 2: Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại trong đời sống con người Việt Nam (đây là phần giải quyết vấn đề, tìm hiểu những ảnh hưởng và ứng dụng của Học thuyết âm – dương trong các lĩnh vực đời sống của con người Việt Nam)

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại

1.1 Khái niệm Âm và Dương

Âm và Dương theo khái niệm cổ sơ không phải là vật chất hoặc không gian cụ thể

mà là thuộc tính của mọi hiện tượng, mọi sự vật trong toàn vũ trụ cũng như trong từng tế bào, từng chi tiết

Âm và Dương là hai khái niệm trừu tượng, phản ánh hai mặt, hai đối tượng luôn ở hai cực đối lập nhau nhưng lại không thể tách rời, luôn phải thống nhất và tương hỗ nhau cùng tồn tại và phát triển

Khái niệm Âm được sử dụng biểu hiện cho những sự vật, hiện tượng nhỏ bé, yếu đuối, tối tăm, thụ động, nữ tính, mềm mại,… Ngược lại, Dương là khái niệm dành cho những gì mạnh mẽ, ánh sáng, chủ động, nam tính, cứng rắn,… Triết lý giải thích vũ trụ dựa trên Âm và Dương được gọi là Triết lý Âm – Dương

Trên cơ sở khái niệm Âm – Dương được hiểu như một cặp gồm hai mặt đối lập nhau, con người đã mở rộng đối tượng cho hai phạm trù này với những cặp đối lập trừu tượng hơn từ những hình ảnh, sự vật, hiện tượng quan sát được từ đời sống thực tế Với truyền thống nền văn minh nông nghiệp, con người phương Đông quan niệm, đất là Âm, trời là Dương và đồng nhất đất với mẹ, trời với cha Từ đó, suy rộng ra các cặp đối lập mang thuộc tính Âm – Dương tương ứng với mẹ (âm) – cha (dương) như: mềm - cứng, tình cảm – lý trí, chậm – nhanh, tĩnh – động, hướng nội - hướng ngoại, ổn định – phát triển, số chẵn - số lẻ, hình vuông – hình tròn,…; tương ứng với đất (âm) – trời (dương) là các cặp đối lập thấp – cao, lạnh – nóng, phương bắc – phương nam, mùa đông – mùa hạ, đêm – ngày, tối – sáng, màu đen – màu đỏ,… Tuy nhiên việc xác định bản chất của sự vật, hiện tượng là âm hay dương phải căn cứ vào các quy luật của Học thuyết âm – dương

1.2 Lược sử Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại

Trong sách “Quốc ngữ”, lần đầu tiên khái niệm Âm – Dương được viết thành văn, đại diện cho hai dạng vật chất tồn tại phổ biến trong vũ trụ, một dạng có dương tính, tích

Trang 5

cực, nhiệt liệt, cứng cỏi và một dạng có âm tính, tiêu cực, lạnh nhạt, nhu nhược Hai thế lực âm và dương tác động lẫn nhau tạo nên tất cả vũ trụ

Khoảng thế kỷ V - VI trước Công nguyên, Lão Tử đã đề cập đến khái niệm Âm – Dương Ông không chỉ tìm hiểu quy luật biến hoá âm dương của trời đất mà còn muốn khẳng định trong mỗi sự vật đều chứa đựng thuộc tính mâu thuẫn giữa âm và dương

Đến “Kinh dịch”, Học thuyết âm – dương được thể hiện sâu sắc nhất, với quan niệm vũ trụ, vạn vật luôn vận động và biến hóa không ngừng, do sự giao cảm của âm dương mà ra, đồng thời coi âm dương là hai mặt đối lập với nhau nhưng cùng tồn tại trong một thể thống nhất trong mọi sự vật từ vi mô đến vĩ mô, từ một sự vật cụ thể đến toàn thể vũ trụ Theo đó, bản nguyên của vũ trụ là thái cực, thái cực là cội nguồn của vạn vật Trong thái cực, thiếu dương vận động đến thái dương thì trong lòng thái dương lại nảy sinh thiếu âm, thiếu âm vận động đến thái âm thì trong lòng thái âm lại nảy sinh thiếu dương Cứ như thế, âm dương biến hoá liên tục, tạo thành vòng biến hóa không bao giờ ngưng nghỉ Qua các hiện tượng tự nhiên, xã hội, các tác giả trong "Kinh dịch" đã bước đầu phát hiện được sự tồn tại của những mặt đối lập mang thuộc tính âm và dương, như trong tự nhiên có sáng - tối, trời - đất, đông - tây, trong xã hội có quân tử - tiểu nhân, chồng - vợ, vua - tôi Học thuyết âm – dương là nền tảng xây dựng nên “Kinh dịch”

Trong tác phẩm “Hoàng đế nội kinh”, vấn đề âm dương trong trời đất, trong vạn vật liên quan tới sự sống con người được đưa ra luận bàn nhiều nhất trong nội dung trao đổi y học, y thuật giữa Hoàng đế và Kỳ Bá Tác phẩm này lấy âm dương để xem xét nguồn gốc của các tật bệnh Ngoài ra, tác phẩm còn bàn đến tính phổ biến của khái niệm

âm dương. Theo tác phẩm thì trời thuộc dương, đất thuộc âm, mặt trời thuộc dương, mặt trăng thuộc âm Âm dương là khái niệm phổ biến của trời đất Mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ đều có thể lấy âm dương làm đại biểu Thông qua quy luật biến đổi âm dương trong tự nhiên có thể suy diễn, phân tích luật âm dương trong cơ thể con người

Trên cơ sở những quan niệm về âm dương, người xưa đã khái quát thành quy luật

để khẳng định tính phổ biến của học thuyết này: Những quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và phát triển của một dạng vật chất, âm dương tương tác với nhau gây nên mọi sự biến hóa của vũ trụ Cốt lõi của sự tương tác đó

là sự giao cảm âm dương Điều kiện của sự giao cảm đó là sự vật phải trung và hòa với

Trang 6

nhau Âm dương giao hòa cảm ứng là vĩnh viễn, âm dương là hai mặt đối lập trong mọi

sự vật, hiện tượng Vì vậy, quy luật âm dương cũng là quy luật phổ biến của sự vận động

và phát triển không ngừng của mọi sự vật khách quan

Học thuyết âm – dương đã nói rõ sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan với hai mặt đối lập thống nhất đó là âm và dương Âm dương là quy luật chung của

vũ trụ, là kỉ cương của vạn vật, là khởi đầu của sự sinh trưởng, biến hóa

Âm dương là một trong những phạm trù cơ bản trong tư tưởng của người Trung Quốc cổ đại, là khái niệm trừu tượng đầu tiên của người xưa để giải thích sự sinh thành, biến hóa của vũ trụ Đến thời Chiến quốc, Học thuyết âm – dương đã phát triển đến một trình độ khá cao và trở thành phổ biến trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, trang bị cho con người tư tưởng duy vật khá sâu sắc và độc đáo nên đã trở thành lý luận cho một số ngành khoa học cụ thể

1.3 Các quy luật trong Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại

Học thuyết âm – dương được hình thành với những kiến giải về các cặp đối lập thuộc hai khái niệm Âm và Dương nhưng đây chưa phải là nội dung chính của học thuyết Triết lý âm – dương quan tâm đến bản chất và quan hệ của hai khái niệm Âm – Dương Các đặc điểm của triết lý âm – dương đều tuân theo hai quy luật cơ bản, đó là quy luật về bản chất của các thành tố và quy luật về quan hệ giữa các thành tố

1.3.1 Quy luật về bản chất của các thành tố trong triết lý âm – dương

Quy luật này cho rằng vạn vật trên thế giới này không có gì hoàn toàn âm hoặc hoàn toàn dương, trong âm phải có dương và ngược lại trong dương có âm Theo đó, hai mặt âm và dương tuy đối lập nhưng không tách biệt mà luôn thống nhất và giao hoà lẫn nhau Nguyên lý về sự thống nhất giữa hai thuộc tính âm và dương như một chỉnh thể được thể hiện qua hình ảnh Thái cực với vòng tròn khép kín, trong đó chia thành hai nửa đối lập đen và trắng nhưng nửa đen đã bao hàm phần trắng (điểm trắng) và ngược lại, biểu tượng cho quy luật trong âm có dương và trong dương có âm

Trang 7

Trong thế giới tự nhiên, chúng ta có thể nhận thấy sự hoà hợp giữa âm và dương như trong lòng đất (âm) có cái nóng (dương) và càng xuống sâu đất càng ấm nóng Hoặc nắng nóng (dương) nhưng nắng nhiều sẽ có mưa nhiều (hơi nước bay lên) làm nên mưa lạnh (âm)

Quy luật này cho thấy việc xác định một sự vật, hiện tượng là thuộc âm hay dương chỉ mang tính tương đối, phụ thuộc nhiều vào sự so sánh với một đối tượng khác Việc xác định thuộc tính âm – dương cho các cặp đối lập có sẵn thường dễ dàng hơn các sự vật, hiện tượng đơn lẻ Khi đó, chúng ta phải căn cứ vào đối tượng so sánh (màu trắng khi so sánh với màu đen là dương, nhưng khi so với màu đỏ thì lại là âm), nhưng có một

số trường hợp không thể xác định tính chất âm dương của đối tượng khi chỉ dựa vào đối tượng so sánh mà phải xác định được cơ sở so sánh (nước và đất, về độ cứng thì đất là dương, nước là âm nhưng về độ linh động thì nước là dương, đất là âm) Khi đó, cùng là một cặp đối tượng nhưng dựa trên những cơ sở khác sẽ mang tính chất khác nhau (nữ so với nam, về giới tính là thuộc tính âm nhưng xét về tính cách lại có thể mang tính dương)

Vũ trụ vận động trong sự tồn tại đa dạng và phức tạp của vạn vật, để có thể phát triển hài hoà thì phải cân bằng mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng “cô dương thì bất sinh, cô âm thì bất trường” Nếu chỉ có dương hoặc chỉ có âm thì không thể sinh thành, biến hoá và phát triển, “dương cô thì âm tuyệt” và ngược lại Chính vì thế, âm và dương phải làm tiền đề cho sự tồn tại của nhau, không có dương thì âm không thể tồn tại và không có âm thì cũng không có sự tồn tại của dương, cũng giống như không có trời thì không có đất và ngược lại hoặc không có cha thì mẹ làm sao để tồn tại? Đó chính là quy luật phát triển và biến đổi của mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ

Trang 8

1.3.2 Quy luật về quan hệ giữa các thành tố trong triết lý âm – dương

Âm và dương tuy tồn tại dưới hình thức các cặp đối lập nhưng lại có mối quan hệ gắn bó, mật thiết và chuyển hóa lẫn nhau “Âm cực sinh dương, dương cực sinh âm”, tức

là âm phát triển đến cực đại thì chuyển thành dương và ngược lại, dương phát triển đến cùng cực thì sinh ra âm Quy luật về mối quan hệ giữa các yếu tố âm và dương nói lên sự vận động, chuyển hóa không ngừng giữa hai mặt đối lập âm và dương để duy trì tình trạng thăng bằng tương đối cho sự vật, hiện tượng Sự tác động lẫn nhau sẽ làm nảy sinh hiện tượng mặt này kém, mặt kia hơn, mặt này tiến, mặt kia lùi Đó chính là quá trình vận động, biến hóa và phát triển của sự vật, hiện tượng trong vũ trụ, đồng thời cũng là quá trình đấu tranh tiêu trưởng của âm dương Chẳng hạn, ở xứ nóng (dương), nghề trồng trọt (âm) phát triển; ngược lại, ở xứ lạnh (âm) lại phát triển nghề chăn nuôi (dương)

Tất cả mọi sự vận động, biến hóa của vạn vật trong vũ trụ đều dựa vào sự đối lập biến đổi âm dương Sự đối lập thống nhất, vận động biến hóa của âm dương quyết định

sự ra đời, phát triển và biến đổi của muôn vật Mọi sự vật, hiện tượng của giới tự nhiên

và xã hội đều có mối liên hệ với nhau, vận động và biến hóa trong sự đối lập, thống nhất Trong thế giới tự nhiên, thực vật là âm, động vật là dương, động vật không thể duy trì sự tồn tại nếu không có thực vật Các loài động vật ăn cỏ như trâu, bò,… sẽ không thể duy trì sự sống và phát triển nếu không có thực vật

Như vậy, vạn vật trong vũ trụ đều tồn tại trong mối quan hệ đối lập nhưng biện chứng lẫn nhau Những quy luật cơ bản của triết lý âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và phát triển của một dạng vật chất, hai mặt âm dương tương tác với nhau tạo nên sự biến hóa trong vũ trụ Thuộc tính âm – dương là hai mặt đối lập tồn tại trong mọi sự vật, hiện tượng Do đó, quy luật về bản chất và quan hệ giữa các thành tố trong triết lý âm dương cũng chính là quy luật của sự vận động và phát triển không ngừng của mọi sự vật, hiện tượng khách quan trong vũ trụ

Trang 9

Chương 2 Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại trong đời

sống con người Việt Nam

Học thuyết âm – dương của triết học Trung Hoa cổ đại được xây dựng trên sự quan sát các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan qua một thời gian lâu dài Sự ra đời của học thuyết đã đánh dấu bước tiến bộ trong tư duy khoa học đầu tiên của loài người đối với sự sinh sôi, biến hóa của vũ trụ, hình thành những quan niệm duy vật biện chứng Chính vì thế, việc nghiên cứu học thuyết này giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn những giá trị tích cực của nó tới đời sống con người Học thuyết âm dương với quan niệm mọi sự vật, hiện tượng trong vũ trụ sẽ đạt đến trạng thái cân bằng lý tưởng, vận động và phát triển một cách hài hòa, tích cực khi hai mặt âm dương cân bằng Do đó, việc nghiên cứu, nắm vững học thuyết âm dương và ứng dụng vào các lĩnh vực cuộc sống thực tế sẽ mang lại những hữu ích cho con người

2.1 Học thuyết âm – dương và nhận thức, tính cách của con người Việt Nam

Việt Nam là một đất nước có loại hình văn hóa gốc nông nghiệp với truyền thống trồng lúa nước Nếu các nước phương Tây thuộc loại hình văn hóa gốc du mục (trọng dương) thì các nước phương Đông như Việt Nam với loại hình văn hóa gốc nông nghiệp lại mang những đặc trưng âm tính, như trọng tĩnh, hòa hợp với thiên nhiên, hướng nội, thiên về tình cảm,… Người nông dân Việt Nam từ thuở xa xưa đã nhận thức thế giới khách quan bắt nguồn từ hai cặp đối lập Đất – Trời và Mẹ - Cha, dần dần hình thành lối

tư duy lưỡng phân, lưỡng hợp với sự tồn tại hòa hợp giữa các cặp đối lập Trong những điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội đặc thù, Học thuyết âm – dương được nhận thức và vận dụng vào hầu hết các lĩnh vực của đời sống, góp phần hình thành những nét tính cách riêng biệt của con người Việt Nam

Triết lý âm – dương đã được ứng dụng vào thực tế cuộc sống qua nhận thức của con người Việt Nam, chuộng cặp đôi từ trong tư duy đến lối sống Trong cuộc sống hằng ngày, quan niệm của người Việt mọi sự vật, hiện tượng chỉ thật sự hài hòa, cân đối khi có đôi, có cặp Điển hình như biểu tượng vật tổ của dân tộc ta là một cặp tiên – rồng, có đất thì phải có nước, có cha thì phải có mẹ, có Ông Tơ thì phải có Bà Nguyệt Ở nông thôn, các ngôi nhà lợp ngói phải một viên ngửa, một viên sấp thì mới tạo nên sự bền vững

Trang 10

Hai quy luật của Học thuyết âm – dương đã hình thành một số nét đặc trưng trong tính cách của con người Việt Nam từ xưa đến nay Với quy luật trong dương có âm, trong

âm có dương, con người dân gian đã từng quan niệm “trong rủi có may, trong dở có hay, trong họa có phúc” Hoặc quan niệm về các quan hệ nhân quả như “trèo cao ngã đau”,

“sướng lắm khổ nhiều”,… của quy luật âm dương chuyển hóa Bên cạnh đó, lối tư duy theo triết lý âm dương đã khiến con người Việt Nam từ xưa đến nay hình thành lối sống quân bình, hài hòa, không muốn làm mất lòng những người xung quanh, cố gắng duy trì

sự cân đối âm dương trong cơ thể, sống hòa hợp với thiên nhiên và tập thể, thích nghi cao với mọi hoàn cảnh sống Trong những ngày cổ xưa đến nay, tư duy và cách sống của con người Việt Nam đều mang tính quân bình, hài hòa về âm dương

Có thể nói, Học thuyết âm – dương với những quy luật và triết lý về sự tồn tại một cách cân bằng, hài hòa giữa các cặp đối lập ngay từ thời dân gian xa xưa đã có những ảnh hưởng và dấu ấn trong tâm thức, tính cách và đời sống của con người Việt Nam Những đặc điểm này, chúng ta vẫn có thể nhận thấy trong đời sống và tính cách của người Việt hiện nay

Người Việt thường vận dụng triết lý âm dương để nhận thức và giải thích bản chất của vũ trụ Đến ngày hôm nay, dân tộc ta vẫn sử dụng lịch âm dương và hệ đếm can chi Các ngày lễ tết dân tộc, ngày giỗ,… vẫn được sử dụng ngày dựa trên lịch âm Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, tuy lịch dương được sử dụng phổ biến nhưng người Việt vẫn sử dụng lịch âm cho những sự kiện như hôn nhân, tang ma, những ngày lễ tết của dân tộc, gia đình,… Ngoài ra với quan niệm con người là một “tiểu vũ trụ”, người Việt nhận thức bản thân được tạo thành từ sự kết hợp của hai mặt âm và dương Cấu tạo

cơ thể từ phần ngực trở lên là dương, từ phần hông trở xuống là âm

Học thuyết âm dương đã giúp con người Việt Nam nhận thức và lý giải sâu sắc về

vũ trụ, tự nhiên và con người, tạo ra những nét đặc trưng trong đời sống và tính cách người Việt

2.2 Học thuyết âm - dương trong đời sống của con người Việt Nam

Học thuyết âm – dương được vận dụng vào nhiều lĩnh vực trong đời sống của con người Việt Nam Quan niệm về sự hài hòa giữa hai mặt âm dương được thể hiện ngay từ trong việc xây dựng gia đình, một mái ấm hạnh phúc và viên mãn khi có sự hòa hợp giữa

Ngày đăng: 06/08/2018, 16:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w