1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

REN KN NHAN BIET, VE, PHAN TICH BIEU DO 1.DOC

51 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 13,2 MB
File đính kèm REN KN NHAN BIET, VE, PHAN TICH BIEU DO 1.rar (12 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn Địa lí ngoài việc giúp học sinh lĩnh hội kiến thức địa lí còn phải rèn luyện những kĩ năng địa lí cho các em,trong đó kĩ năng vẽ và nhận xét các dạ

Trang 2

TÊN ĐỀ TÀI:

“RÈN KĨ NĂNG NHẬN BIẾT, VẼ VÀ NHẬN XÉT CÁC DẠNG BIỂU ĐỒ

TRONG HỌC TẬP MÔN ĐỊA LÝ Ở TRƯỜNG THCS”

Tác giả: Phạm Văn Tuấn Đơn vị: Trường THCS Cát Hanh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định

1 Đặt vấn đề.

1.1 Lý do chọn đề tài.

- Nhiệm vụ của người giáo viên dạy môn Địa lí ngoài việc giúp học sinh

lĩnh hội kiến thức địa lí còn phải rèn luyện những kĩ năng địa lí cho các em,trong đó kĩ năng vẽ và nhận xét các dạng biểu đồ là một trong những kĩ năngquan trọng mà giáo viên cần hướng đến trong việc thực hiện nhiệm vụ dạy họccủa mình Để giúp học sinh rèn được kĩ năng này một cách thuần thục là cả mộtquá trình sư phạm, đòi hỏi người giáo viên phải nắm vững kiến thức lẫn kĩ năng,đồng thời phải có một tài liệu chuẩn để hướng dẫn học sinh Tuy nhiên hiện nay

hệ thống sách tham khảo, sách giáo viên, các tài liệu chuyên môn chưa hệ thốngmột cách cụ thể, nên giáo viên đôi lúc còn lúng túng trong việc soạn giảng, biênsoạn tài liệu bồi dưỡng học sinh giỏi cũng như để hướng dẫn học sinh trong cáctiết thực hành hay hướng dẫn học sinh làm các bài tập trong phần câu hỏi và bàitập ở cuối bài

- Trong quá trình giảng dạy bộ môn Địa lí, bản thân tôi rất trăn trở là làmthế nào để có thể giúp học sinh dễ dàng nhận biết, vẽ chính xác và nhận xétđúng yêu cầu của từng dạng biểu đồ, nhằm giúp các em đạt được kết quả caotrong các kì thi trong đó có kì thi chọn học sinh giỏi, góp phần nâng cao chấtlượng bộ môn nhưng quan trọng hơn hết là giúp các em có những kĩ năng nềntảng để tiếp tục học lên cao cũng như có thể ứng dụng trong công việc cuộc sốngsau này, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, tạo đượchứng thú cho hoc sinh trong học môn Địa lí… Từ những mong muốn nhỏ đócủa mình, tôi đã đúc rút kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy chínhkhóa, quá trình dạy bồi dưỡng đội tuyển để dự thi chọn học sinh giỏi cấp huyện,đồng thời sưu tầm thêm tư liệu trong các sách tham khảo, trên Internet, dự giờđồng nghiệp ở các tiết thực hành, tham khảo kinh nghiệm của một số đồngnghiệp cùng bộ môn ở đơn vị nhất là những đồng nghiệp có nhiều kinh

nghiệm… Tôi mạnh dạn hình thành chuyên đề: “Rèn kĩ năng nhận biết, vẽ và

nhận xét các dạng biểu đồ trong học tập môn Địa lý ở trường THCS”.

1.2 Xác định mục đích nghiên cứu.

- Đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Rèn kĩ năng nhận biết, vẽ và phân tích các

dạng biểu đồ trong học tập môn Địa lý ở trường THCS” nhằm giúp cho bản thân

hệ thống hóa kiến thức về kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ, tạo cơ sở để giảng dạycác tiết thực hành, các bài tập và trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi dự thicác cấp

Trang 3

- Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết để dễ dàng nhận biết dấu

hiệu của từng dạng biểu đồ, quy trình để vẽ và cách nhận xét từng dạng biểu đồ

cụ thể

- Góp phần nâng cao kĩ năng vẽ và phân tích biểu đồ cho học sinh, giúp các

em có cơ sở vững chắc để tiếp tục học tốt môn Địa lí ở cấp học cao hơn (cấpTHPT), đạt kết quả cao trong các kì thi (kiểm tra học kì, thi chọn học sinh giỏicác cấp)

- Cùng với nhóm bộ môn Địa lí ở trường có một tài liệu thống nhất trongquá trình giảng dạy và bồi dưỡng học sinh

- Góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy năng lựccủa học sinh, giúp học sinh hứng thú trong học tập môn Địa lí

- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, cũng như nâng cao chất lượng mũinhọn của nhà trường trong các kì thi chọn học sinh giỏi các cấp

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Dựa vào năng lực, kinh nghiệm của bản thân, thời gian công tác, đề tài chỉtập trung nghiên cứu những “dấu hiệu” để giúp học sinh nhận biết nhanh về loạibiểu đồ cần vẽ, quy trình để vẽ một biểu đồ đảm bảo “đúng – đủ - đẹp”, làm thếnào để nhận xét biểu đồ đã vẽ một cách chính xác, logic Từ đó học sinh rènluyện được kĩ năng nhận biết, vẽ và phân tích các dạng biểu đồ trong quá trìnhhọc tập môn Địa lí ở trường THCS

1.4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm.

- Học sinh khối 9

- Đội tuyển học sinh giỏi cấp trường môn Địa lí

1.5 Phương pháp nghiên cứu.

Để tạo ra giải pháp, tôi đã tiến hành một số phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáoviên, sách tham khảo, tài liệu chuyên môn…

- Phương pháp khảo sát điều tra, thống kê: Điều tra qua phiếu, bằng câu hỏi,

thống kê kết quả khảo sát

- Phương pháp quan sát: Theo dõi, quan sát học sinh trong giờ học trên lớp,khi học sinh làm bài thực hành vẽ biểu đồ trên lớp; quan sát, ghi chép qua cáctiết dự giờ của đồng nghiệp

- Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại trực tiếp với học sinh trong các tiếthọc, giờ thực hành, đàm thoại với giáo viên bộ môn trong các buổi sinh hoạtchuyên môn ở tổ, nhóm bộ môn

- Phương pháp kiểm tra đánh giá: Thông qua các bài kiểm tra để từ đó đánhgiá đứng thực lực của học sinh đối với kĩ năng vẽ và nhận xét biểu đồ

Trang 4

1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu

1.6.1 Phạm vi nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài đã xác định ở trên, đềtài này tập trung nghiên cứu các dạng bài tập về biểu đồ trong các tiết thực hành,trong phần câu hỏi và bài tập ở cuối bài trong chương trình môn Địa lí lớp 9,đồng thời cũng mở rộng nghiên cứu các bài tập biểu đồ trong các đề thi học kì,học sinh giỏi các cấp

1.6.2 Thời gian nghiên cứu.

- Bắt đầu nghiên cứu, đề ra các giải pháp trong năm học 2014 – 2015

- Áp dụng thực nghiệm vào thực tế giảng dạy trong năm học 2015 – 2016

- Hoàn chỉnh đề tài trong học kì I năm học 2016 – 2017

Trang 5

- Khái niệm biểu đồ: Biểu đồ là sự mô hình hóa các số liệu thống kêcho phép diễn đạt một cách dễ dàng và trực quan về đặc trưng số lượng của cácđối tượng và hiện tượng, mối liên hệ và tương quan về độ lớn giữa các đạilượng, hoặc cơ cấu thành phần trong một tổng thể của các hiện tượng địa lí

- Ý nghĩa của biểu đồ:

+ Biểu đồ có nhiều loại, mỗi loại biểu đồ có công dụng riêng, là công cụ

để

chuyển tải các số liệu và bảng biểu thống kê, tạo điều kiện cho việc đối chiếu và

so sánh, phân tích các số liệu được dễ dàng và sinh động hơn

+ Trong dạy học Địa lí, những số liệu khi đã được thể hiện thành biểu đồ,bao giờ cũng có tính trực quan và chứa đựng một hàm lượng tri thức địa lí nhấtđịnh làm cho học sinh tiếp thu tri thức dễ dàng, gây ấn tượng sâu sắc trong việchình thành những khái niệm, những nhận xét và đánh giá về địa lí, tạo đượchứng thú trong học tập của học sinh

+ Với ý nghĩa như trên, biểu đồ địa lí là một công cụ trực quan có vai trò

- Phạm vi thể hiện của biểu đồ:

+ Phản ánh quá trình phát triển, động thái biến thiên theo thời gian củacác đối tượng, hiện tượng địa lí

+ Phản ánh cơ cấu, tỉ lệ, tỉ trọng của các đối tượng và hiện tượng địa lí

+ Phản ánh sự thay đổi tương quan thứ bậc của các đối tượng và hiệntượng địa lí

Trang 6

+ Phản ánh mối quan hệ tương hỗ, quan hệ nhiều chiều của các đối tượng

và hiện tượng địa lí

+ Ngoài ra một số dạng biểu đồ còn thể hiện cả sự phân bố không giancủa các đối tượng và hiện tượng địa lí

2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu.

- Trên thực tế giảng dạy tôi nhận thấy học sinh lớp 9 phần lớn đều yếu kĩnăng quan trọng này Thường thì các em không xác định được yêu cầu của đềbài, không xác định được dạng biểu đồ cần vẽ là gì, kĩ năng vẽ biểu đồ cònlúng túng, chưa nắm được các bước tiến hành khi vẽ biểu đồ, hoặc học sinhrất yếu trong việc nhận xét biểu đồ, chỉ có một số ít học sinh có khả năng hoànthành tốt yêu cầu đặt ra

- Trong các kì thi tuyển chọn học sinh giỏi cấp trường, cấp huyện, kiểmtra học kì lớp 9, cấu trúc đề thi thường có 1 câu hỏi về phần kĩ năng vẽ và nhậnxét biểu đồ, phần này chiếm khoảng 2,5 – 3,0 điểm Ở những câu hỏi dạng nàyrất ít học sinh đạt điểm tối đa, thậm chí nhiều em không làm được câu hỏi nàyhoặc làm nhưng không đạt điểm, vì các em không xác định được dạng biểu đồthích hợp (nếu đề không yêu cầu vẽ biểu đồ gì), hoặc khi đã xác định được dạngbiểu đồ cần vẽ thì khi vẽ thiếu nhiều yếu tố, gặp một số lỗi, phần nhận xét khôngđúng yêu cầu và đủ ý nên bài làm không hoàn chỉnh

- Để có cơ sở cụ thể đánh giá năng lực của học sinh trong phần kĩ năng vẽ

và nhận xét biểu đồ đạt ở mức độ nào, tôi tiến hành khảo sát 67 học sinh lớp 9 ở

cả 3 đối tượng học sinh giỏi – khá, trung bình, yếu (nội dung khảo sát xem phầnphụ lục)

Kết quả khảo sát cụ thể như sau:

Mức độ

Vẽ sai dạng biểu đồ

Xác định đúng dạng biểu

đồ nhưng vẽ và nhận xét còn sai sót

Hoàn thành tốt yêu cầu của bài tập

Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)

- Từ kết quả khảo sát như trên, chúng ta dễ dàng nhận thấy tỉ lệ học sinhhoàn thành bài tập rất thấp (7,5%), trong khi đó tỉ lệ học sinh nhận dạng sai dạngbiểu đồ tương đối cao (25,3%), tỉ lệ học sinh đã xác định đúng dạng biểu đồnhưng khi vẽ và nhận xét vẫn còn nhiều thiếu sót chiếm tỉ lệ cao nhất (67,2%).Phần sai sót của học sinh khi vẽ biểu đồ chủ yếu là: thiếu tên, thiếu chú giải, chúgiải không phù hợp, xác định tỉ lệ không chính xác,… Ở đây nguyên nhân khôngphải tất cả thuộc về người giáo viên hay học sinh Bằng sự điều tra của bản thân,trao đổi với đồng nghiệp cùng bộ môn, tôi nhận thấy có một số nguyên nhân chủyếu sau dẫn đến kĩ năng vẽ, nhận xét biểu đồ của học sinh còn yếu:

+ Về phía giáo viên: Chưa dành nhiều thời gian cho việc rèn kĩ năng chohọc sinh (nhất là đối với các bài tập vẽ biểu đồ ở phần câu hỏi và bài tập cuối

Trang 7

mỗi bài), thiếu tài liệu mang tính định hướng, việc rèn kĩ năng chưa thườngxuyên…

+ Về phía học sinh: Không tập trung trong quá trình học tập bộ môn (chủyếu là học sinh có học lực trung bình – yếu), chưa dành nhiều thời gian cho việchọc bộ môn Địa lí nói chung và phần bài tập về nhà nói riêng, tâm lí của một sốđông phụ huynh và học sinh xem môn Địa lí là “môn phụ” nên không có sự đầu

tư đúng mức…

2.3 Mô tả, phân tích các giải pháp.

Trong học tập môn Địa lí, một trong những kĩ năng cơ bản, không thể thiếu

là kĩ năng về biểu đồ Để rèn luyện kĩ năng này một cách thuần thục, học sinhcần phải có kĩ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp nhất: kĩ năng tính toán, xử lí sốliệu (tính giá trị cơ cấu (%), tính tỉ lệ về chỉ số phát triển, tính bán kính hìnhtròn ); kĩ năng vẽ biểu đồ (đúng, đủ, đẹp ); kĩ năng nhận xét, phân tích biểuđồ… Để học sinh có được những kĩ năng này, giáo viên cần phải hướng dẫn họcsinh như sau:

2.3.1 Kĩ năng lựa chọn biểu đồ thích hợp.

Để lựa chọn dạng biểu đồ thích hợp nhất để vẽ cần căn cứ:

- Dạng lời dẫn có chỉ định Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ hình cột chồng thể hiện cơ cấu dân số thành thị và nông thôn nước ta qua các năm”.Như vậy, học sinh có thể xác định ngay được biểu đồ cần vẽ

- Dạng lời dẫn kín Ví dụ: “Từ bảng số liệu, hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất

và cho nhận xét” Ở đây lời dẫn không đưa ra một gợi ý nào, muốn xác địnhđược biểu đồ cần vẽ, học sinh cần dựa vào bảng số liệu

- Dạng lời dẫn mở Ví dụ: “Hãy vẽ biểu đồ so sánh bình quân lúa theo đầungười ở Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long” Như vậy, tronglời dẫn đã có gợi ý ngầm là vẽ loại biểu đồ nào Với dạng lời dẫn này cần chú ý

một số từ “chìa khóa” Chẳng hạn:

+ Đối với biểu đồ hình tròn: Thường có các từ chìa khóa như: cơ cấu, tỉ

trọng, tỉ lệ, quy mô , chuyển dịch cơ cấu… kèm theo mốc thời gian 2 năm hoặc 2

địa điểm

Ví dụ: Vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây năm

1990 và 2002

+ Đối với biểu đồ cột: Thường có các từ chìa khóa như: qui mô, số lượng,

sản lượng, so sánh ….kèm theo mốc thời gian từ 4 năm trở lên.

Ví dụ: Vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu dân số thành thị và nông thôn ở nước taqua các năm 1989, 2000, 2002 và 2007

+ Đối với biểu đồ đường biểu diễn: Thường có những từ chìa khóa đi kèm như: tăng trưởng, biến động, phát triển,… kèm theo mốc thời gian từ 4

năm trở lên

Trang 8

Ví dụ: Vẽ biều đồ thể hiện chỉ số tăng trưởng đàn gia súc, gia cầm qua cácnăm 1990, 1995, 2000 và 2002.

+ Đối với biểu đồ miền: Thường có các từ chìa khóa như: cơ cấu, thay đổi

cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu… gắn liền với chuỗi thời gian lớn hơn hoặc bằng 4

năm

Ví dụ: Vẽ biểu đồ thể hiện sự thay đổi cơ cấu lao động theo khu vực kinh

tế ở nước ta giai đoạn 2000 – 2005

b Căn cứ vào bảng số liệu:

- Trường hợp bảng số liệu đưa ra dãy số liệu có đơn vị tính (%), hay giátrị tuyệt đối phát triển theo một chuỗi thời gian (có ít nhất là từ 4 thời điểm trởlên) nên chọn vẽ biểu đồ đường biểu diễn

- Trường hợp bảng số liệu có dãy số liệu tuyệt đối về quy mô, khối lượngcủa một (hay nhiều) đối tượng biến động trong một giai đoạn nên chọn biểu

đồ hình cột

- Trường hợp bảng số liệu có 2 đối tượng với 2 đại lượng khác nhau,nhưng có mối quan hệ hữu cơ Ví dụ: diện tích (ha), năng suất (tạ/ha) của mộtvùng nào đó theo chuỗi thời gian nên chọn biểu đồ kết hợp

- Trường hợp bảng số liệu trình bày theo dạng phân ra từng thành phần Ví dụ: tổng số, chia ra: nông – lâm – ngư, công nghiệp – xây dựng -dịch vụ Với bảng số liệu này có thể là biểu đồ hình tròn, cột chồng hay miền

Trong trường hợp này cần lưu ý:

+ Nếu vẽ biểu đồ hình tròn: Mốc thời gian là dưới hoặc bằng 3 năm hoặc

2 địa điểm

+ Nếu vẽ biểu đồ cột chồng: Khi một tổng thể có quá nhiều thànhphần nếu vẽ biểu đồ hình tròn thì các góc cạnh hình quạt sẽ quá hẹp, trường hợpnày nên chuyển sang vẽ biểu đồ cột chồng theo đại lượng tương đối (%) cho dễthể hiện

+ Nếu vẽ biểu đồ miền: Trong bảng số liệu các đối tượng được thể hiệntrong mốc thời gian từ 4 năm trở lên

c Căn cứ vào lời kết của câu hỏi:

Có nhiều trường hợp, nội dung lời kết của câu hỏi chính là gợi ý để

vẽ một loại biểu đồ cụ thể nào đó

Ví dụ: “Hãy vẽ biểu đồ thích hợp, dựa vào bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ,hãy nhận xét và giải thích tình hình tăng trưởng của đàn gia súc, gia cầm nước ta

thời kì 1990 – 2002 Ở đây, trong lời kết có từ chìa khóa là tình hình tăng

trưởng, kèm theo mốc thời gian là thời kì 1990 – 2002 nên chọn biểu đồ cần vẽ

là biểu đồ đường

Trang 9

Tóm lại, để lựa chọn được biểu đồ thích hợp nhất cần phải căn cứ vào các

yếu tố: khả năng thể hiện của biểu đồ, lời dẫn, đặc điểm của bảng số liệu đã cho

và yêu cầu của đề ra

- Ghi tên biểu đồ: Tên biểu đồ được đặt theo yêu cầu trong đề bài và phải

phản ánh được 3 khía cạnh: cái gì? Ở đâu? Khi nào Tên biểu đồ có thể ghi ởphần trên hoặc dưới biểu đồ

2.3.3 Kĩ năng nhận xét và phân tích biểu đồ:

Để nhận xét và phân biểu đồ cần lưu ý một số điểm sau:

- Đọc kĩ câu hỏi để nắm yêu cầu và phạm vi cần nhận xét, phân tích Cần tìm ra mối liên hệ (hay tính quy luật nào đó) giữa các số liệu không được bỏ sót các dữ liệu cần phục vụ cho nhận xét, phân tích

- Trước tiên cần nhận xét, phân tích các số liệu có tầm khái quát chung, sau đó phân tích các số liệu thành phần; tìm mối quan hệ so sánh giữa các con

số theo hàng ngang; tìm mối quan hệ so sánh các con số theo cột dọc; tìm giá trị nhỏ nhất (thấp nhất), lớn nhất và trung bình (đặc biệt chú ý đến những số liệu hoặc đường, cột…trên biểu đồ thể hiện sự đột biến tăng hay giảm)

- Cần có kĩ năng tính tỉ lệ (%), hoặc tính ra số lần tăng (hay giảm) để chứng minh cụ thể ý kiến nhận xét, phân tích

- Phần nhận xét, phân tích biểu đồ, thường có 2 nhóm ý:

Biểu đồ cột:

Biểu đồ tròn:

Biểu đồ miền:

Biểu đồ đường:

Trang 10

+ Những ý nhận xét về diễn biến và mối quan hệ giữa các số liệu: dựavào

biểu đồ đã vẽ và bảng số liệu đã cho để nhận xét

+ Giải thích nguyên nhân của các diễn biến hoặc mối quan hệ đó: dựa vào những kiến thức đã học để giải thích nguyên nhân

- Việc sử dụng ngôn ngữ trong lời nhận xét, phân tích biểu đồ

+ Trong các loại biểu đồ cơ cấu: số liệu đã được quy thành tỉ lệ (%), khi nhận xét phải dùng từ “tỉ trọng” trong cơ cấu để so sánh nhận xét

Ví dụ: Nhận xét biểu đồ cơ cấu giá trị các ngành kinh tế nước ta qua một

số năm Không được ghi: “Giá trị của ngành nông – lâm – ngư có xu hướng tăng(hay giảm)” mà phải ghi: “Tỉ trọng giá trị của ngành nông – lâm – ngư có xuhướng tăng (hay giảm)”

+ Khi nhận xét về trạng thái phát triển của các đối tượng trên biểu đồcần sử dụng những từ ngữ phù hợp

Về trạng thái tăng: Ta dùng những từ nhận xét theo từng cấp độ như:

“tăng”, “tăng mạnh”, “tăng nhanh”, “tăng đột biến”, “tăng liên tục”, đồng thờiphải có số liệu dẫn chứng cụ thể tăng bao nhiêu (triệu tấn, tỉ đồng, triệu người,

… hay tăng bao nhiêu (%), bao nhiêu lần)

Về trạng thái giảm: Cần dùng những từ sau: “giảm”, “giảm ít”, “giảmmạnh”, “giảm nhanh”, “giảm chậm”, “giảm đột biến”, “giảm liên tục”;… đồngthời phải có số liệu dẫn chứng cụ thể giảm bao nhiêu (triệu tấn, tỉ đồng, triệudân,… hay giảm bao nhiêu (%), bao nhiêu lần)

Về nhận xét tổng quát: Cần dùng các từ diễn đạt sự phát triển như:

“phát triển nhanh”, “phát triển chậm”, “phát triển ổn định”, “phát triển không ổn định”, “phát triển đều”, “có sự chênh lệch giữa các vùng”…

+ Những từ ngữ thể hiện phải: Ngắn gọn, rõ ràng, có cấp độ; lập luận phải hợp lí, sát với yêu cầu của câu hỏi…

2.3.4 Rèn luyện kĩ năng cho học sinh nhận biết, vẽ và nhận xét từng dạng biểu đồ cụ thể.

a Dạng biểu đồ hình tròn.

* Dấu hiệu nhận biết để vẽ biểu đồ hình tròn.

- Trong lời dẫn có các từ chìa khóa: Cơ cấu, tỉ trọng, tỉ lệ, quy mô, quy

mô và cơ cấu, thay đổi cơ cấu, chuyển dịch cơ cấu… gắn với thời gian dưới 3

năm hoặc dưới 3 địa điểm

- Đề bài có các thành phần trong tổng thể, trong một yếu tố chung như cácngành kinh tế: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ…hoặc các sản phẩm xuất,nhập khẩu… nông sản, lâm sản, tiểu thủ công nghiệp…

* Cách vẽ biểu đồ hình tròn.

Trang 11

Bước 1: Xử lí số liệu (nếu bảng số liệu cho đơn vị tuyệt đối: tỉ đồng, triệu

người, ha…) ta phải xử lí về đơn vị tương đối (%) Cách xử lí số liệu như sau:

- Trường hợp 1: Nếu bảng thống kê có cột tổng ta chỉ cần tính theo côngthức: Tỉ lệ cơ cấu (%) của (A) = [Số liệu tuyệt đối của (thành phần A)/Tổng số]

- Tính bán kính các hình tròn, có hai trường hợp xảy ra:

+ Trường hợp 1: Số liệu của các tổng thể là (%) ta vẽ các hình tròn có bánkính bằng nhau (vì không có cơ sở để so sánh)

+ Trường hợp 2: Nếu số liệu của các tổng thể là giá trị tuyệt đối, ta phải

vẽ biểu đồ có bán kính khác nhau Áp dụng công thức:

Gọi giá trị năm thứ 1 ứng với hình tròn có diện tích S1 và bán kính R1 (tùy

ý 1, 2, 3 cm), ta có công thức:

R2 = R1 căn bậc hai của S2 : S1

R3 = R1 căn bậc hai của S3 : S1

Rn = R1 căn bậc hai của Sn : S1

Gọi giá trị năm thứ 2 ứng với hình tròn có diện tích S2 và bán kính R2.Gọi giá trị năm thứ 3 ứng với hình tròn có diện tích S3 và bán kính R3.Gọi giá trị năm thứ n ứng với hình tròn có diện tích Sn và bán kính Rn

Lưu ý: Trường hợp 2 chỉ tính tương quan cụ thể bán kính của hai biểu đồ

khi mà hai biểu đồ này sử dụng cùng một thước đo giá trị

Bước 3: Chia hình tròn thành các hình quạt theo đúng tỉ lệ và trật tự của

các thành phần như trong đề cho

- Bắt đầu vẽ từ tia 12 giờ và vẽ lần lượt theo chiều quay của kim đồng hồ,thứ tự thành phần của các biểu đồ phải giống nhau

- Vẽ theo phương pháp dây cung hoặc theo góc ở tâm, nếu vẽ theo góc ởtâm thì toàn bộ hình tròn là 3600 tương ứng với tỉ lệ 100%, như vậy tỉ lệ 1% ứngvới 3,60 trên hình tròn

- Nếu biểu đồ có 2 đường tròn trở lên, tâm của các đường tròn nên nằmtrên một đường thẳng theo chiều ngang

Bước 4: Hoàn thiện biểu đồ.

Trang 12

- Ghi tỉ lệ của các thành phần lên biểu đồ phải ngay ngắn, rõ ràng, khôngnghiêng ngã.

- Lập bảng chú giải theo thứ tự của hình vẽ và nên ghi ở bên dưới biểu đồhoặc ghi bên cạnh không được ghi bên trên (nên vẽ đến đâu chú giải đến đó)

- Ghi tên biểu đồ: Có thể ghi tên phía trên hoặc phía dưới biểu đồ

* Một số lỗi thường gặp khi vẽ biểu đồ hình tròn.

- Vẽ chưa theo quy luật: giá trị đầu tiên nằm phía bên phải kim 12 giờ, giátrị cuối cùng nằm phía bên trái kim 12 giờ

- Thứ tự thành phần của các biểu đồ không giống nhau

- Mỗi biểu đồ đều ghi tên

- Tâm các đường tròn không nằm trên một đường thẳng nằm ngang

- Một số chú giải chưa chính xác: ghi số độ, ghi giá trị tuyệt đối, ghi tênđối tượng, ghi thời gian vào trong các nan quạt hoặc cùng một đối tượng nhưngchú giải ở các biểu đồ khác nhau

- Thiếu tên biểu đồ hoặc tên không chính xác, thiếu chú giải, thiếu giá trịtrong các nan quạt…

* Cách nhận xét biểu đồ hình tròn.

- Khi chỉ có một hình tròn

+ Nhận xét tỉ trọng của các thành phần trong biểu đồ (thành phần nàochiếm tỉ trọng cao nhất (bao nhiêu %), thành phần nào thấp nhất (bao nhiêu %).Đặc biệt là yếu tố lớn nhất so với tổng thể có vượt xa không?

+Lưu ý: Tỷ trọng có thể giảm nhưng số thực nó lại tăng, vì thế cần ghi rõ

Ví dụ: Xét về tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm… không ghi trống kiểu ngànhnông nghiệp giảm … vì như thế là chưa chính xác

- Khi có từ hai hình tròn trở lên

+ Nhận xét cái chung nhất: tăng/ giảm như thế nào?

+ Nhận xét sự thay đổi (sự chuyển dịch) về cơ cấu theo thời gian vàkhông gian, thành phần nào tăng (bao nhiêu %), thành phần nào giảm (bao nhiêu

%), nếu có một số thành phần cùng giảm thì thành phần nào giảm nhiều hơn,cùng tăng thì thành phần nào tăng nhiều hơn

+ Nếu đề bài có yêu cầu “nhận xét về sự thay đổi quy mô và cơ cấu” thìcần phải dựa thêm vào bảng số liệu để so sánh (quy mô tăng/ giảm hoặc lớn hơn/nhỏ hơn bao nhiêu lần)

* Bài tập áp dụng

- Bài tập 1: Vẽ biểu đồ hình tròn dựa vào bảng số liệu dưới đây

Bảng số liệu: Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế, năm 2002

Trang 13

- Ghi số liệu vào các nan quạt.

- Ghi chú cho mỗi thành phần kinh tế một kí hiệu

- Ghi tên biểu đồ cần dựa vào yêu cầu của bài tập

BIỂU ĐỒ CƠ CẤU GDP PHÂN THEO

THÀNH PHẦN KINH TẾ CỦA NƯỚC TA NĂM 2002

3 Nhận xét:

Trong cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế của nước ta năm 2002,chiếm tỉ trọng cao nhất là kinh tế Nhà nước (38,4%), sau đó là kinh tế cá thể(31,6%), tiếp theo là kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế tư nhân, thấp nhất

là kinh tế tập thể (8,0%)

Chú giải

Kinh tế Nhà nướcKinh tế tập thểKinh tế tư nhânKinh tế cá thể

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài

Trang 14

Cây thực phẩm, cây ăn quả 1.090,3 2.006,6

a Hãy vẽ biểu đồ thể hiện cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây

b Từ bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ, hãy nhận xét về sự thay đổi quy môdiện tích và tỉ trọng diện tích gieo trồng của các nhóm cây

Hướng dẫn giải

1 Dấu hiệu nhận biết dạng biểu đồ cần vẽ

- Trong lời dẫn có từ chìa khóa: cơ cấu.

- Bảng số liệu: Thời gian 2 năm

> Vẽ biểu đồ hình tròn (hai hình tròn), có bán kính khác nhau

2 Vẽ biểu đồ

- Xử lí số liệu về đơn vị (%)

+ Tính tổng của các thành phần (vì bảng số liệu không cho cột tổng).+ Áp dụng công thức: Tỉ lệ cơ cấu (%) của (A) = [Số liệu tuyệt đối của(thành phần A)/Tổng số] x 100

Cây thực phẩm, cây ăn quả 12,0 16,1

- Tính bán kính đường tròn:

Cho R1990 = 2,0 đơn vị bán kính (cm)

Thì R2000 = 2 căn bậc hai của 12447,5/ 9004,0 = 2,4 cm

Như vậy, hình tròn năm 1990 có bán kính 2cm, thì hình tròn năm 2000 cóbán kính 2,4 cm

- Vẽ biểu đồ

+ Vẽ hai hình tròn: Hình tròn năm 1990 có bán kính 2 cm, hình tròn năm

2000 có bán kính 2,4 cm Tâm của hai đường tròn nằm trên một đường thẳngnằm ngang

Trang 15

+ Vẽ tia 12 giờ, vẽ các nhóm cây theo thứ tự và tỉ lệ như bảng số liệu đãtính toán (vẽ theo phương pháp dây cung hoặc theo phương pháp góc ở tâm).

+ Ghi số liệu vào các nan quạt

+ Ghi chú từng nhóm cây (ở hình tròn năm 1990 giống như hình tròn năm2000)

+ Ghi tên biểu đồ cần dựa vào yêu cầu của bài tập

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU DIỆN TÍCH GIEO TRỒNG

CÁC NHÓM CÂY

3 Nhận xét

- Về quy mô: Từ năm 1990 đến năm 2000, nhóm cây lương thực, câycông nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả đều tăng:

+ Nhóm cây lương thực tăng nhiều nhất ( tăng 1461,1 nghìn ha)

+ Nhóm cây thực phẩm, cây ăn quả tăng ít nhất ( tăng 916,3 nghìn ha)

- Về tỉ trọng: Từ năm 1990 đến năm 2000, tỉ trọng nhóm cây lương thực,cây công nghiệp, cây thực phẩm, cây ăn quả có sự thay đổi:

+ Tỉ trọng nhóm cây lương thực giảm (giảm 8,7%)

+ Tỉ trọng nhóm cây công nghiệp tăng (tăng 4,6%)

+ Tỉ trọng nhóm cây thực phẩm, cây ăn quả tăng (tăng 4,1%)

Trang 16

- Biểu đồ cột đơn.

- Biểu đồ cột ghép

- Biểu đồ cột chồng

- Biểu đồ thanh ngang

* Dấu hiệu nhận biết để vẽ biểu đồ hình cột.

- Trong lời dẫn có các từ chìa khóa: qui mô, số lượng, sản lượng, so

sánh của một hay một số đối tượng địa lí và kèm theo mốc thời gian từ 4

Tóm lại, biểu đồ cột thường dùng để thể hiện động thái phát triển của đối

tượng, so sánh tương quan độ lớn (quy mô) giữa các đối tượng hoặc thể hiện cơcấu thành phần của một tổng thể Tuy nhiên, loại biểu đồ này thích hợp nhấttrong việc thể hiện sự so sánh tương quan về độ lớn giữa các đối tượng và độngthái phát triển của đối tượng

* Cách vẽ biểu đồ hình cột.

Bước 1: Xây dựng hệ trục tọa độ.

- Hệ trục tọa độ xây dựng phải phù hợp với khổ giấy vẽ, cân đối, hợp lí,chiều cao trục tung (trục đứng) bằng 2/3 chiều dài trục hoành (trục ngang)

- Trục tung được sử dụng làm thước đo giá trị của đối tượng cần vẽ nêntrên đó phải chia khoảng cách các giá trị cho phù hợp với bảng số liệu (khoảngcách giữa các giá trị phải đều nhau, phải ghi trị số của thước đo) đồng thời phảiđánh mũi tên và ghi đơn vị tính lên phía trên mũi tên (triệu tấn, triệu người, tỉUSD, %, ) Giá trị đầu tiên của thước đo được đặt ở gốc hệ trục tọa độ, có thểlấy bằng 0 hoặc bằng một giá trị nào đó để khi vẽ xong biểu đồ độ cao của cột

Trang 17

được phân biệt rõ ràng Giá trị lớn nhất của thước đo cần lấy cao hơn so với giátrị cao nhất trong bảng số liệu

Chú ý: Đối với biểu đồ cột có 2 trục tung thì vẽ 2 trục tung có chiều cao

bằng nhau, trên đó xác định giá trị lớn nhất của 2 trục sao cho có sự tương đồng nhau.

- Trục hoành dùng để chỉ các yếu tố về thời gian (năm, thời kì, giai đoạn),không gian lãnh thổ (tỉnh, thành phố, vùng, ) hay chỉ tiêu kinh tế theo ngành(công nghiệp, vật nuôi, cây trồng, )

+ Nếu trục hoành thể hiện yếu tố thời gian với các mốc năm cụ thể thìkhoảng cách giữa các mốc trên trục này phải phù hợp với tỉ lệ khoảng cách giữacác mốc năm trong bảng số liệu

+ Nếu trục hoành thể hiện yếu tố không gian lãnh thổ hoặc phản ánh chỉtiêu kinh tế theo ngành thì khoảng cách giữa các mốc trên trục hoành luôn cáchđều nhau

Bước 2: Vẽ các cột của biểu đồ.

- Tính độ cao của từng cột cho đúng tỉ lệ rồi thể hiện

- Các cột của biểu đồ chỉ khác nhau về chiều cao, còn chiều ngang phảibằng nhau (khoảng 1 ô vở)

+ Cột đầu tiên của biểu đồ cách trục tung khoảng 0,5 – 1cm (1 đến 2 ôvở)

+ Không được tự ý sắp xếp lại thứ tự số liệu (nếu đề không yêu cầu).+ Không dùng các đường - để nối từ cột sang trục tung gây cắt trục,rườm rà, mất thẩm mĩ

+ Ghi số liệu trên đầu mỗi cột (cột đơn, cột ghép), trong cột (cột chồng).+ Các cột hay các phần của cột thể hiện cùng một đối tượng phải được kíhiệu nền giống nhau

- Riêng cột chồng thì vẽ độ cao các cột bằng nhau, sau đó vẽ từng thànhphần trong bảng số liệu đã cho (hoặc đã xử lí)

- Biểu đồ thanh ngang tương tự như vẽ biểu đồ cột nhưng các cột nằm ngang chứ không đứng dọc như hình cột

Bước 3: Hoàn thiện biểu đồ.

- Lập bảng chú giải:

+ Ghi chú theo trình tự bài cho để dễ quan sát và so sánh, không được kẻbằng tay và viết tắt (nên vẽ đến đâu chú giải đến đó)

+ Nếu chỉ có một loại thì nên để trắng hoặc cho kí hiệu giống nhau

+ Nếu từ hai loại trở lên thì phải có kí hiệu riêng cho mỗi loại (nên cho kíhiệu đơn giản)

- Ghi tên biểu đồ: Có thể ghi tên phía trên hoặc phía dưới biểu đồ

Trang 18

* Một số lỗi thường gặp khi vẽ biểu đồ hình cột.

- Thiếu tên biểu đồ hoặc ghi tên không đúng và đủ. 

Ví dụ tên đề bài: “Hãy vẽ biểu đồ thích hợp nhất thể hiện sự thay đổi cơcấu giá trị công nghiệp phân theo nhóm ngành của nước ta trong thời kì: 1980 –1998”

Học sinh thường ghi: Biểu đồ công nghiệp phân theo nhóm ngành củanước ta Mà tên đúng phải là: Biểu đồ thể hiện sự thay đổi cơ cấu giá trị côngnghiệp phân theo nhóm ngành của nước ta trong thời kì: 1980 –1998

- Thiếu bảng chú giải

- Chú giải chưa phù hợp (viết tắt, ghi cả giá trị, một đối tượng nhưngnhiều loại kí hiệu, viết chữ vào cột…)

- Chia tỉ lệ năm trên trục đứng và trục ngang không chính xác

- Thiếu dấu mũi tên và đơn vị trên đầu hai trục

- Kí hiệu cho các cột quá phức tạp và rườm rà

- Vẽ hệ trục toạ độ không cân đối, mất thẩm mĩ

- Cột đầu tiên vẽ sát trục

- Trên đầu hoặc trong các cột không ghi giá trị

- Dùng các vạch chấm hoặc các vạch mờ nối từ trục vào cột…

* Cách nhận xét biểu đồ hình cột.

Nhận xét cơ bản.

- Đối tượng địa lí được thể hiện trên biểu đồ tăng, giảm hay biến động.+ Nếu tăng thì tăng như thế nào? (nhanh hay chậm hay đều)

+ Nếu giảm thì giảm như thế nào? (nhanh hay chậm hay đều)

+ Biến động ở giai đoạn nào?

- Mốc thời gian chuyển tiếp từ tăng qua giảm hay từ giảm qua tăng?Không ghi từng năm một trừ khi mỗi năm mỗi thay đổi Mốc thời gian từ tăngchậm qua tăng nhanh hay ngược lại hoặc mốc thời gian biến động

- Khi giải thích (nếu đề bài yêu cầu) thì cần tìm hiểu xem tại sao nó tănghay nó giảm, cần dựa vào nội dung bài học có liên quan mà giải thích

Nhận xét từng trường hợp cụ thể.

- Trường hợp cột đơn (chỉ có một yếu tố)

+ Xem xét năm đầu và năm cuối của bảng số liệu và biểu đồ đã vẽ để trảlời câu hỏi tăng hay giảm? tăng giảm bao nhiêu? (lấy số liệu năm cuối trừ cho sốliệu năm đầu hay chia cũng được)

Trang 19

+ Xem số liệu ở khoảng trong để trả lời tiếp là tăng (giảm) liên tục haykhông liên tục? (lưu ý năm nào không liên tục).

+ Nếu liên tục thì cho biết giai đoạn nào nhanh? Giai đoạn nào chậm?Nếu không liên tục thì năm nào không liên tục?

+ Kết luận và giải thích qua về xu hướng của đối tượng

- Trường hợp cột ghép (có từ hai yếu tố trở lên)

+ Một vài điều kết luận và giải thích

- Trường hợp cột chồng: thể hiện cơ cấu của một tổng thể khi so sánh phải

so sánh tỉ trọng thành phần trong cơ cấu, nhận xét sự thay đổi cơ cấu qua cácnăm hay sự khác nhau về cơ cấu giữa các vùng lãnh thổ

- Biểu đồ cột thể hiện động thái phát triển của đối tượng: nhận xét xuhướng phát triển (tăng hay giảm), tình hình phát triển ổn định hay không ổn định,nhanh hay chậm

* Bài tập áp dụng.

- Bài tập 1: Dựa vào bảng số liệu sau: Dân số và sản lượng lúa ở nước ta.

Dân số (triệu người) 54 56,4 61,1 66,1 76,3

Sản lượng lúa (triệu tấn) 11,6 14,4 16,0 19,1 34

a Vẽ biểu đồ thể hiện bình quân lúa theo đầu người

Trang 20

b Nhận xét và giải thích.

Hướng dẫn giải

1 Dấu hiệu nhận biết dạng biểu đồ cần vẽ

Đề bài yêu cầu vẽ biểu đồ thể hiện 1 đối tượng địa lí (bình quân lúa theođầu người) với mốc thời gian là 5 năm > Vẽ biểu đồ cột đơn

- Vẽ các 5 cột tương ứng với số liệu đã tính theo bảng

- Ghi số liệu, tên biểu đồ

Trang 21

3 Nhận xét và giải thích.

- Nhận xét

+ Bình quân lúa theo đầu người ở nước ta liên tục tăng từ năm 1980 đến

năm 1999, tăng từ 214,8 kg/người lên 445,6 kg/người

+ Giai đoạn từ năm 1980 – 1990 tăng nhanh, tăng từ 214,8 kg/người lên

289,0 kg/người (tăng 74,2 kg/ người)

+ Giai đoạn 1990 – 1999 tăng rất nhanh, tăng từ 289,0 kg/người lên 445,6

kg/người (tăng 155,6 kg/ người)

- Giải thích: Bình quân lúa theo đầu người tăng liên tục, nhất là giai đoạn

1990 – 1999 là do:

+ Diện tích sản xuất ngày càng được mở rộng

+ Ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học kĩ thuật vào sản xuất (giống

mới, phân bón, thủy lợi…)

+ Tăng mùa vụ (2 đến 3 vụ/ năm)

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN BÌNH QUÂN LÚA THEO ĐẦU NGƯỜI Ở

NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 1980 – 1999.

Năm

Trang 22

+ Nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nôngnghiệp.

- Bài tập 2: Cho bảng số liệu: Sản lượng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu

Long (nghìn tấn)

Năm Vùng

1 Dấu hiệu nhận biết dạng biểu đồ cần vẽ

- Lời dẫn có từ chìa khóa: sản lượng.

- Bảng số liệu có đơn vị tính tuyệt đối, thời gian từ năm 1980 đến 1986. > Vẽ biểu đồ cột ghép

2 Vẽ biểu đồ

- Vẽ hệ trục tọa độ

+ Trục đứng: Thể hiện sản lượng thủy sản, đơn vị nghìn tấn

+ Trục ngang: Thể hiện thời gian (3 năm), chia đúng khoảng cách thờigian

- Vẽ các cột

+ Mỗi năm hai cột theo đúng tỉ lệ trong bảng số liệu

+ Mốc năm nằm giữa hai cột

- Ghi số liệu, tên biểu đồ, chú giải

Trang 23

3 Nhận xét.

- Giai đoạn 1995 – 2002, sản lượng thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long

và cả nước liên tục tăng Cụ thể, Đồng bằng sông Cửu Long tăng 1,65 lần, cảnước tăng 1,67 lần

- So với sản lượng thủy sản của cả nước (năm 2002), sản lượng thủy sảncủa Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 51,2%

- Bài tập 3: Cho bảng số liệu: Tình hình sản xuất thủy sản ở Đồng bằng

sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng và cả nước, năm 2002 (nghìn tấn)

Vùng

Sản lượng

Đồng bằngsông Cửu Long

Đồng bằngsông Hồng Cả nước

Vẽ biểu đồ thể hiện tỉ trọng sản lượng cá biển khai thác, cá nuôi, tôm nuôi

ở ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sông Hồng so với cả nước (cả nước

BIỂU ĐỒ SẢN LƯỢNG THỦY SẢN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG

CỬU LONG VÀ CẢ NƯỚC GIAI ĐOẠN 1995 – 2002.

2002 1000

Cả nước

Trang 24

Hướng dẫn giải

1 Dấu hiệu nhận biết dạng biểu đồ cần vẽ

- Lời dẫn có từ chìa khóa: tỉ trọng.

- Thể hiện các thành phần (Đồng bằng sông Cửu Long, Đồng bằng sôngHồng) trong tổng thể (cả nước) của các đối tượng địa lí (cá biển khai thác, cánuôi, tôm nuôi)

SẢN LƯỢNG THỦY SẢN Ở VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

VÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG SO VỚI CẢ NƯỚC, NĂM 2002 (%)

Vùng

Sản lượng

Đồng bằng sông Cửu Long

+ Trục đứng: Thể hiện sản lượng thủy sản, đơn vị %

+ Trục ngang: Loại thủy sản

Trang 25

- Bài tập 4: Cho bảng số liệu: Độ che phủ rừng của các tỉnh ở Tây

Nguyên, năm 2003

(Đắk Lắk đã được tách thành hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông)

Vẽ biểu đồ thanh ngang thể hiện độ che phủ rừng theo các tỉnh và nêunhận xét

Hướng dẫn giải

1 Dấu hiệu nhận biết dạng biểu đồ cần vẽ

Vẽ biểu đồ thanh ngang (theo yêu cầu của đề bài)

§ång b»ng s«ng Hång C¸c vïng kh¸c

C¸ biÓn khai th¸c

41, 5

58, 4

76, 7

53,

4, 6

22, 8

3, 9

Biểu đồ tỉ trọng sản lượng cá biển khai thác, cá nuôi, tôm nuôi

ở Đồng bằng sông Cửu Long và Đồng bằng sông Hồng so với

cả nước, năm 2002.

Ngày đăng: 18/07/2018, 15:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w