1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CHĂM SÓC SỨC KHỎE TRẺ MẦM NON

60 5,3K 18
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chăm sóc sức khỏe trẻ mầm non
Trường học Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Chuyên ngành Giáo dục mầm non
Thể loại Công văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 516,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo thực hiện chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non Công văn số Số: 13003/BGDĐT- GDMN ngày 11/12/2007 của Bộ GD-ĐT v

Trang 1

Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo thực hiện chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ trong

các cơ sở Giáo dục mầm non

Công văn số Số: 13003/BGDĐT- GDMN ngày 11/12/2007 của Bộ GD-ĐT về việc tăng cường công tác quản lý chỉ đạo thực hiện chăm sóc sức khoẻ, đảm bảo an toàn cho trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

––––

Số: 13003/BGDĐT- GDMN

V/v tăng cường công tác quản lý chỉ

đạo thực hiện chăm sóc sức khoẻ,

đảm bảo an toàn cho trẻ trong các

cơ sở Giáo dục mầm non

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

––––––––––––––––––––––––––––

Hà Nội, ngày 11 tháng 12 năm 2007

Kính gửi: - Các Sở Giáo dục và Đào tạo

- Ban phụ nữ Quân đội

Hàng năm, trong Chỉ thị hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học, Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn luôn yêu cầu chỉ đạo và hướng dẫn cơ sở Giáo dục mầm non thực hiện công tác quản lý, chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ em, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng được đưa lên hàng đầu trong công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ của Giáo dục mầm non

Tuy nhiên, gần đây tại một số cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệt là các cơ sở Giáo dục mầm non tư thục còn để xảy ra tình trạng mất an toàn đối với trẻ, thậm chí còn ảnh hưởng đến tính mạng của trẻ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo yêu cầu các Sở Giáo dục và Đào tạo và Ban phụ nữ Quân đội:

1 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát về việc chăm sóc sức khoẻ và đảm bảo

an toàn cho trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non Đồng thời với việc kiểm tra giám sát, cần kịp thời phát hiện, bổ sung các biện pháp đảm bảo an toàn cho trẻ

2 Các Sở Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp với chính quyền địa phương lập kế hoạch kiểm tra, rà soát đối với các cơ sở Giáo dục mầm non tư thục để đảm bảo yêu cầu: Đội ngũ giáo viên và bảo mẫu phải được đào tạo hoặc qua lớp tập huấn có chứng chỉ về Giáo dục mầm non; Cơ sở vật chất, các trang thiết bị phải đảm bảo an toàn trong chăm sóc giáo dục trẻ.

Cơ sở đáp ứng được yêu cầu chăm sóc và đảm bảo an toàn cho trẻ mới được cấp phép và hoạt động Nơi nào chưa đảm bảo các điều kiện an toàn đề nghị không cấp phép hoặc thu hồi giấy phép Khi bổ sung đầy đủ yêu cầu đảm bảo an toàn cho trẻ mới cho phép hoạt động tiếp

3 Các Sở Giáo dục và Đào tạo cần tổ chức học tập, quán triệt tinh thần cuộc vận động “ Hai không” và “Nâng cao đạo đức, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm nghề nghiệp” đến đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên trong các cơ sở giáo dục mầm non; Nghiêm cấm các cá nhân có những hành vi doạ nạt quát mắng trẻ, thiếu trách nhiệm trong chăm sóc giáo dục trẻ.

Trang 2

Trong quá trình tổ chức học tập, liên hệ, nếu phát hiện những cán bộ, giáo viên không chấp hành chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì phải chấn chỉnh kịp thời, không để ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ và uy tín của ngành.

Tổ chức học tập lại qui chế nuôi dạy trẻ đối với các cơ sở Giáo dục mầm non.

4 Đảm bảo an toàn cho trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non là tiêu chí quan trọng hàng đầu trong đánh giá chất lượng và xếp loại thi đua của các cá nhân và đơn vị

5 Khi xảy ra tại nạn đối với trẻ trong các cơ sở Giáo dục mầm non, các Sở Giáo dục và Đào tạo cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương để có biện pháp xử

lý kịp thời , đảm bảo quyền lợi cho trẻ và báo cáo nhanh về Bộ Giáo dục và Đào tạo Nhận được công văn này, đề nghị các Sở Giáo dục và Đào tạo, Ban phụ nữ Quân đội chỉ đạo tổ chức triển khai kịp thời; tổng hợp, báo cáo về Vụ Giáo dục Mầm non.

Phạm Vũ Luận-Đã ký

Hà Tĩnh:

(Dân trí) - Hàng chục trường mầm non ở Hà Tĩnh đang gặp rất nhiều khó khăn do thiếu kinh phí hỗ trợ sinh hoạt cho giáo viên Tìm hiểu mới vỡ ra đây chính là hậu quả của những bất cập trong công tác thực thi chính sách giữa các cấp chính quyền.

Theo số liệu báo cáo của Sở GD-ĐT Hà Tĩnh, hiện nay việc thực hiện hỗ trợ sinh hoạt phí cho giáo viên mầm non trong tỉnh mỗi nơi thực hiện một kiểu Toàn tỉnh chỉ có 158 xã đảm bảo hỗ trợ 150.000 đồng/tháng, hơn 100 xã còn lại hỗ trợ dưới mức 150.000 đồng theo quy định

Điều đáng nói, trong số hơn 100 xã hỗ trợ dưới mức quy định có 2 xã (Kỳ Thịnh và Kỳ Long, huyện Kỳ Anh) chỉ hỗ trợ được 10.000 đồng/tháng và có đến 15 xã (thuộc 3 huyện Kỳ Anh, Hồng Lĩnh và Hương Khê) không hỗ trợ được đồng nào.

Do hỗ trợ thấp hoặc không hỗ trợ nên hàng trăm trường mầm non tại Hà Tĩnh gặp rất nhiều khó khăn trong việc hỗ trợ phí sinh hoạt Đời sống của giáo viên mầm non vốn đã khó khăn không được hỗ trợ đầy đủ phí sinh họat lại càng khó khăn hơn.

Chẳng hạn, hơn chục giáo viên trường mầm non Hương Lâm, huyện Hương Khê lâu nay phải đau đầu bài toán chi tiêu như thế nào để đảm bảo cuộc sống Ngoài số tiền 510.000 đồng ký với nhà trường thì giáo viên ở đây không có thêm một nguồn thu gì?

“Quá nhập nhằng, thiếu rõ ràng trong việc quy định xã, huyện, tỉnh cấp ngân sách cho các trường để hỗ trợ phí sinh hoạt cho giáo viên mầm non là nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng nói trên” - bà Hồ Thị Hồng Vân - Phó Giám đốc Sở GĐ-

Bà Hồ Thị Hồng Vân.

Trang 3

ĐT Hà Tĩnh, người phụ trách những vấn đề về mầm non của tỉnh này cho hay.

Theo bà Vân, những bất cập trong việc thực hiện cấp ngân sách cho các trường giữa xã, huyện và tỉnh là rất tùy tiện Cấp

xã thì đổ lỗi cho khó khăn nên trông chờ vào kinh phí của cấp huyện, cấp tỉnh Ngược lại, cấp huyện thì không trích ngân sách hỗ trợ mà phó mặc cho ngân sách cấp xã và đóng góp của phụ huynh.

Bà Vân cũng cho hay, việc tỉnh Hà Tĩnh chậm cụ thể hóa Quyết định số 53/2006/QĐ-UBND quy định về trách nhiệm chi trả cho các cấp ngân sách cũng là một nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên.

Theo Quyết định trên thì tỉnh Hà Tĩnh đồng ý với các mức chi trả phí hỗ trợ sinh hoạt cho giáo viên mầm non như sau, tỉnh 45%, huyện 15%, xã 15% Tuy nhiên, từ quyết định đến hiện thực hóa hơn một năm nay vẫn chưa thể thực hiện.

Chuyện nhập nhằng vê mức chi trả của các cấp ngân sách đã khiến cho các trường mầm non không thể chủ động nắm được nguồn kinh phí chi trả Và hậu qủa là mọi khó khăn cứ thế đè lên đầu những giáo viên mầm non khốn khó.

Hà Tĩnh:

(Dân trí) - Chuyện nhập nhằng về mức chi trả sinh hoạt phí của các đơn vị cấp ngân sách đã khiến các trường mầm non tại Hà Tĩnh không thể chủ động nắm được nguồn kinh phí chi trả Hậu quả là mọi khó khăn đè lên đầu những giáo viên mầm non khốn khó.

Theo số liệu báo cáo của Sở GD-ĐT Hà Tĩnh, hiện nay việc thực hiện hỗ trợ sinh hoạt phí cho giáo viên mầm non trong tỉnh mỗi nơi thực hiện một kiểu Toàn tỉnh chỉ có 158 xã đảm bảo hỗ trợ 150.000 đồng/tháng, hơn 100 xã còn lại hỗ trợ dưới mức 150.000 đồng theo quy định

Điều đáng nói, trong số hơn 100 xã hỗ trợ dưới mức quy định có 2 xã (Kỳ Thịnh và Kỳ Long, huyện Kỳ Anh) chỉ hỗ trợ được 10.000 đồng/tháng và có đến 15 xã (thuộc 3 huyện Kỳ Anh, Hồng Lĩnh và Hương Khê) không hỗ trợ được đồng nào.

Do hỗ trợ thấp hoặc không hỗ trợ nên hàng trăm trường mầm non tại Hà Tĩnh gặp rất nhiều khó khăn trong việc hỗ trợ phí sinh hoạt Đời sống của giáo viên mầm non vốn đã khó khăn không được hỗ trợ đầy đủ phí sinh họat lại càng khó khăn hơn.

Chẳng hạn, hơn chục giáo viên trường mầm non Hương Lâm, huyện Hương Khê lâu nay phải đau đầu bài toán chi tiêu như thế nào để đảm bảo cuộc sống Ngoài số tiền 510.000 đồng ký với nhà trường thì giáo viên ở đây không có thêm một nguồn thu gì?

“Quá nhập nhằng, thiếu rõ ràng trong việc quy định xã, huyện, tỉnh cấp ngân sách cho các trường để hỗ trợ phí sinh hoạt cho giáo viên mầm non là nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng nói trên” - bà Hồ Thị Hồng Vân - Phó Giám đốc Sở GĐ-

ĐT Hà Tĩnh, người phụ trách những vấn đề về mầm non của tỉnh này cho hay.

Theo bà Vân, những bất cập trong việc thực hiện cấp ngân sách cho các trường giữa xã, huyện và tỉnh là rất tùy tiện Cấp

xã thì đổ lỗi cho khó khăn nên trông chờ vào kinh phí của cấp huyện, cấp tỉnh Ngược lại, cấp huyện thì không trích ngân sách hỗ trợ mà phó mặc cho ngân sách cấp xã và đóng góp của phụ huynh.

Bà Vân cũng cho hay, việc tỉnh Hà Tĩnh chậm cụ thể hóa Quyết định số 53/2006/QĐ-UBND quy định về trách nhiệm chi trả cho các cấp ngân sách cũng là một nguyên nhân dẫn đến thực trạng nói trên.

Theo Quyết định trên thì tỉnh Hà Tĩnh đồng ý với các mức chi trả phí hỗ trợ sinh hoạt cho giáo viên mầm non như sau, tỉnh 45%, huyện 15%, xã 15% Tuy nhiên, từ quyết định đến hiện thực hóa hơn một năm nay vẫn chưa thể thực hiện.

Bà Hồ Thị Hồng Vân.

Trang 4

Là giáo viên THPT, tôi thấy mình vất vả trong việc giảng dạy nhưng khi so sánh với các cô giáo mầm non thì

không thấm gì (Lê Thế Hiển)

> Ủng hộ và cảm thông với người làm công tác giáo dục

Người gửi: Lê Thế Hiển

Với quy định mới, giáo viên mầm non phải làm một ngày 8 tiếng trên lớp - có nghĩa là phải làm cả ngày Vậy thì

thời gian đâu để cho cô giáo chuẩn bị bài, soạn giáo án Để dạy tốt thì một tiết trên lớp phải cần một tiết ở nhà

chuẩn bị đồ dùng và soạn giáo án Nếu như vậy, giáo viên mầm non làm một ngày phải 16 tiếng - thật khủng khiếp

Tất nhiên, không ai có sức đâu làm như vậy trong lúc đồng lương thì "còm cõi" Vậy, các giáo viên này phải làm sao? Thứ nhất, chúng ta thấy từ khi quy định này ra đời, số lượng giáo viên mầm non bỏ dạy tăng lên rất cao, nhất là ở các thành phố lớn Thứ hai, họ phải lơ là chuyện dạy trẻ trên lớp và soạn bài, làm đồ dùng qua loa chỉ

để đối phó

Qua thực trạng đó, chúng ta thấy, việc quy định ngày làm 8 tiếng của giáo viên mầm non là bất hợp lý Nếu không bỏ được quy định này, nhà nước cần phải trả lương cho giáo viên mầm non theo chế độ ngày làm 16 tiếng, hoặc các giáo viên này không phải làm đồ dùng, soạn giáo án

Ý kiến của bạn?

Có những gia đình mỗi bữa ăn của con ngoài cơm, cháo, băng, đĩa, bố mẹ ông bà còn phải nhảy múa, đôi khi

làm ngựa và đôi khi cũng phải có cả cái roi, cái phất trần bên cạnh để gây áp lực (Chị Nguyệt)

> Cô giáo dọa cho trẻ 3 tuổi vào máy giặt

Người gửi: Cẩm Tú

Khi đọc bài viết, tôi cũng bức xúc nhưng không hề ngạc nhiên, bởi từ lúc các con tôi đi học mẫu giáo cho đến tiểu học, tôi từng được chứng kiến những hình ảnh tương tự như thế này đối với con tôi và cháu khác ở các mức độ khác nhau

Ai cũng biết ở lứa tuổi còn nhỏ các cháu rất hiếu động, chưa có ý thức khiến các cô rất vất vả Tuy nhiên để đạt được mục đích đòi hỏi các cháu lúc nào cũng nghe lời “tăm tắp” thì quả là khó Chăm lo cho các cháu ở độ tuổi này đòi hỏi rất cao ở các cô lòng yêu nghề, yêu trẻ, tình thương, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp

Câu chuyện dọa cho vào máy giặt, hay nhốt vào hầm tối, hay không nín thì cho vào tủ hoặc na ná như thế, tôi đoán chắc còn xảy ra ở nhiều trường Có cháu chỉ vì câu dọa của cô mà ông bố, bà mẹ khổ sở vì phải nịnh con

đi học

Như hồi con tôi học lớp 2, vì cháu mất trật tự trong giờ học, cô chủ nhiệm tát vào má, chẳng may cháu phản xạ nghiêng đầu thế là cô tát phải mắt cháu Do tát hơi mạnh tay, nên mất một lúc cháu mới mở mắt ra được, nước mắt cứ chảy ra giàn giụa Tôi biết cô giáo cháu cũng rất lo lắng nên đã ngồi xoa mắt cho cháu và xin lỗi cháu Một vài cháu trong lớp cũng bị “cô trông trưa” (do học bán trú) dùng thước vụt tím chân vì không chịu ngủ

Là cha mẹ học sinh tôi cũng thông cảm nỗi vất vả của các cô lắm Tuy nhiên các cô cũng đã được đào tạo về sư phạm, về tâm lý giáo dục Tôi biết rất nhiều giáo viên không cần phải doạ nạt hoặc thái quá vấn đề gì đó mà học sinh vẫn vào nề nếp Thiết nghĩ đây cũng là “vấn đề” của ngành giáo dục nói chung.

Người gửi: Chi Nguyet

Với suy nghĩ chia sẻ về chuyện gửi con, sau khi đọc bài cô giáo dọa cho trẻ con vào máy giặt, thực sự tôi thấy

cảm thông với các cô chăm sóc các cháu, dỗ cho các cháu ăn, ngủ Đó là những việc làm thường ngày mà ở

nhà ông, bà, cha, mẹ vẫn cố gắng làm

Trang 5

Có những gia đình mỗi bữa ăn của con ngoài cơm, cháo, băng, đĩa, bố mẹ ông bà còn phải nhảy múa, đôi khi làm ngựa và đôi khi cũng phải có cả cái roi, cái phất trần bên cạnh để gây áp lực Đấy là ở gia đình chúng ta chỉ

có 1-2 trẻ, mỗi người ở nhà chia sẻ trông trẻ chỉ trong vài tiếng Vậy mà nhiều bố mẹ khi ngồi nói chuyện với nhau còn tâm sự: "Thực sự là mệt với chúng, có những lúc chỉ muốn trốn vào toilet, đóng cửa ngồi một mình một lúc cho nó đỡ mệt mỏi".

Tôi cũng có hai con nhỏ, chồng đi làm cả ngày, chỉ ở nhà nghỉ trông con vài tháng mà thấy trở thành một người

hay cáu giận Những lúc cho con ăn, chuyện yêu cầu chúng ngồi một chỗ thật là khó khăn, hết bật băng, đĩa, nói chuyện, kể chuyện đến mỏi cả mồm, rồi đưa ra những tình huống: nếu con không ăn thì

Có những hôm bát cháo hết, có hôm không, có hôm đến thìa cuối cùng thì lại ra hết, những lúc ấy thật là bực

mình vì bao công sức mình bỏ ra, bao thời gian, mà con thì lại mệt nữa, không cho ăn lại thì sợ con đói, cho ăn lại thì con khóc, trớ Nhất là sau thời gian ốm xong, các cháu hư vì đã quen được chiều Khi đó lại phải tìm cách vừa thuyết phục, vừa đánh lạc hướng trẻ, thậm chí là phải đưa ra hình thức phạt (cũng là một phần của doạ) để các cháu ăn.

Đứng ở cách nhìn của một người mẹ, tôi thông cảm với các cô, chỉ vì mong và tìm cách cho các cháu được ăn

no (ngược lại với những bài báo gần đây viết về một vài trường ăn bớt khẩu phần ăn của trẻ) mà các cô đã cố gắng Có thể xuất phát từ bản năng, có thể từ áp lực công việc nhưng đó là cách làm chưa đúng, dễ dẫn đến hiểu lầm Như việc vỗ vào trán để cháu khỏi trớ, cách mà nhiều bà mẹ có kinh nghiệm vẫn áp dụng làm, dễ bị hiểu lầm thành tát cháu)

Các cô hãy gặp, trao đổi với bố mẹ các cháu sau mỗi buổi đón con đế được cùng chia sẻ, cùng bàn cách nuôi, dạy các cháu, và tránh được những hiểu lầm.

Căn cứ vào nhu cầu của giáo viên và chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, các địa phương được giao chủ động xây dựng và đề xuất nội dung bồi dưỡng giáo viên mầm non.

Dự kiến mỗi năm học, các giáo viên sẽ được bồi dưỡng trung bình một tháng với các hoạt động: nghe báo cáo, tự nghiên cứu, thảo luận và viết thu hoạch

Thời gian tự học của mỗi cá nhân được tính vào thời gian bồi dưỡng nếu mỗi giáo viên được tham dự các lớp bồi dưỡng tập trung do địa phương chỉ đạo Giáo viên được quyền lựa chọn các nội dung cần thiết cho mình để tự bồi dưỡng

Trong trường hợp giáo viên đi học dài hạn, học để đạt trình độ chuẩn hoặc trên chuẩn thì được miễn phần bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ của năm đó.

Giáo viên trường mầm non sẽ được bồi dưỡng

nghiệp vụ mỗi tháng/năm Ảnh haiphong.gov

Trang 6

Mục tiêu của kế hoạch này nhằm nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và các kỹ năng để thực hiện tốt chương trình giáo dục mầm non.

Dũng Tú

THÔNG TƯ

CỦ A UỶ BAN BẢ O VỆ BÀ MẸ VÀ T RẺ EM T RUNG Ư Ơ NG SỐ 3 - CB/ UB NGÀY 7

T HÁNG 3 NĂ M 1980 HƯ Ớ NG DẪ N THI HÀNH QUYẾ T Đ Ị NH

SỐ 30 4-CP NGÀY 29 T HÁNG 8 NĂ M 1979 VỀ TỔ CHỨ C BỘ MÁY,

BIÊ N CHẾ CỦ A NHÀ TRẺ T HUỘ C KHU VỰ C NHÀ NƯ Ớ C

Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định số 304-CP ngày 29 tháng 8 năm 1979 về tổ chức bộ máy, biên chế của nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước Để thi hành thống nhất trong cả nước, Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương ra thông tư hướng dẫn cụ thể như sau:

I T Ổ C H Ứ C N H À T R Ẻ T H U Ộ C K H U V Ự C N H À N Ư Ớ C

Quyết định số 304-CP đã nêu rõ: nhà trẻ là đơn vị sự nghiệp giáo dục và phúc lợi Nghị quyết về cải cách giáo dục của Bộ chính trị đã đề ra nhà trẻ nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Để thực hiện tinh thần các văn bản trên, từng bước đưa nhà trẻ thành một tổ chức có tính chất giáo dục làm tốt nhiệm vụ nuôi dạy trẻ phù hợp với yêu cầu gửi trẻ của nữ công nhân, viên chức, tổ chức nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước gồm có:

- Nhà trẻ khu vực là nhà trẻ do hệ thống quản lý của ngành bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp trực tiếp chỉ đạo và quản lý ở các phường, tiểu khu, khu tập thể, thị trấn, v.v Nhà trẻ có nhiệm vụ nhận con công nhân, viên chức thuộc độ tuổi nhà trẻ cư trú tại khu vực đó Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức phát triển mạng lưới nhà trẻ khu vực, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ và tạo thuận lợi cho nữ công nhân, viên chức gửi trẻ

- Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp do cơ quan, xí nghiệp tổ chức và quản lý dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của ngành bảo vệ bà mẹ và trẻ em , có nhiệm vụ thu nhận con của công nhân, viên chức thuộc cơ quan, xí nghiệp đó và có thể thu nhận con của công nhân, viên chức công tác tại các cơ quan, xí nghiệp khác (ở gần nhà trẻ đó) theo sự thoả thuận của đơn vị chủ quản Những nơi có nhà trẻ khu vực mà cơ quan, xí nghiệp có số trẻ ít, thì nên thu xếp cho nữ công nhân, viên chức gửi con vào nhà trẻ khu vực; trường hợp thật cần thiết mới tổ chức nhà trẻ, nhưng ít nhất cũng là một nhóm (25 trẻ) trở lên Ở các khu vực đó nếu có nhóm trẻ cơ quan quá ít cháu thì nên thu xếp đưa trẻ vào nhà trẻ khu vực (nếu còn khả năng thu nhận) hoặc ghép vào các nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp khác, hoặc giao cho cơ quan quản lý của ngành bảo vệ bà mẹ và trẻ em tiếp thu toàn bộ cơ sở nhà trẻ đó để tổ chức lại cho phù hợp với yêu cầu nuôi dạy

Đối với các nhà trẻ có từ 50 trẻ trở lên, hàng năm (hoặc 6 tháng một lần đối với nhà trẻ

cơ quan, xí nghiệp mà số trẻ hay biến động) cơ quan bảo vệ bà mẹ và trẻ em cần xác định rõ quy mô nhà trẻ để có cơ sở thu nhận trẻ và ổn định biên chế nhà trẻ bảo đảm được việc nuôi dạy trẻ tốt

Trang 7

có điều kiện dạy cho toàn thể trẻ thì trước hết phải dạy cho trẻ từ 24 tháng đến 36 tháng.

- Các nhà trẻ phải có nội quy, có chương trình hoạt động cụ thể và phải thực hiện đầy đủ các quy chế nuôi dạy trẻ của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương

- Các nhà trẻ phải quản lý theo dõi chặt chẽ từng trẻ về các mặt (thể lực, trí thông minh, tình cảm, v.v ) Tạo mọi thuận lợi cho trẻ phát triển tốt và có phiếu nhận xét kèm theo khi chuyển trẻ lên mẫu giáo

I I I B I Ê N C H Ế N H À T R Ẻ

Điều 4 của quyết định số 304 - CP quy định số lượng biên chế của nhà trẻ có phân biệt giữa nhà trẻ dưới 50 trẻ và nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên, giữa nhà trẻ khu vực và nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp

Nhà trẻ dưới 50 trẻ là đơn vị chưa hoàn chỉnh nên số lượng biên chế có hạn, do đó việc chuyên môn hoá cán bộ, nhân viên nhà trẻ chưa thực hiện được đầy đủ nên cô nuôi dạy trẻ ngoài nhiệm vụ chính của mình phải kiêm nhiệm thêm một số công việc Nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên phải chuyên môn hoá cán bộ, nhân viên nhà trẻ chưa thực hiện được đầy đủ nên cô nuôi dạy trẻ ngoài nhiệm vụ chính của mình phải kiêm nhiệm thêm một số công viện Nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên phải chuyên môn hoá cán bộ, nhân viên ( như nuôi dạy trẻ, nấu ăn, v.v Tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên đi sâu vào nghiệp vụ, nâng cao chất lượng nuôi dạy

Nhà trẻ khu vực là một tổ chức hoàn chỉnh quản lý toàn diện về các mặt nghiệp vụ, lao động, vật tư, tài chính, v.v Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp là một đơn vị của cơ quan, xí nghiệp nên một số công tác như tài vụ, vật tư, lao động, v.v Do các bộ môn của cơ quan, xí nghiệp

Do những đặc điểm trên nên số lượng biên chế có phân biệt giữa các loại nhà trẻ nói trên Ngoài ra căn cứ vào tình hình cơ sở vật chất và trình độ quản lý hiện nay như trong thông tư số

12 - UBTT ngày 19 tháng 5 năm 1975 của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương quy định

tổ chức nhà trẻ khu vực ở các thành phố, thị xã, thị trấn, quy mô nhà trẻ nói chung nên từ 50 trẻ

và không nên quá 150 trẻ Trong thời gian qua đặc biệt ở một số thành phố, thị xã có tổ chức một số nhà trẻ trên 200 trẻ phần lớn do Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em thành phố trực thuộc trung ương hoặc tỉnh trực tiếp quản lý thì vẫn theo quy định nêu trong quyết định số 304 - CP

Trang 8

Số trẻ của các nhà trẻ hàng tháng có biến động, do đó căn cứ vào quy định sau đây để xác định số trẻ ở nhà trẻ:

Nhà trẻ khu vực căn cứ vào quy mô nhà trẻ, trường hợp số cháu thu nhận nhiều hơn quy

mô nhà trẻ được xây dựng thì căn cứ vào số cháu đăng ký nhưng nhiều nhất không quá 50% so với quy mô nhà trẻ Thí dụ: nhà trẻ quy mô là 100, nếu thu nhận nhiều nhất là 150 cháu Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp căn cứ vào số trẻ đăng ký gửi trẻ đã được nhà trẻ thu nhận

Việc xác định số trẻ của từng nhà trẻ do cơ quan bảo vệ bà mẹ và trẻ em cấp trực tiếp quản lý quyết định hàng năm hoặc 6 tháng một lần

Để từng bước ổn định tổ chức nhà trẻ cho phù hợp với cơ sở vật chất đã được xây dựng

và trang bị theo đúng quy cách, các nhà trẻ khu vực nên xác định các loại: 2 nhóm (50 trẻ), 3 nhóm (75 trẻ), 4 nhóm (100 trẻ), 5 nhóm (125 trẻ), 6 nhóm (150 trẻ), 7 nhóm (175 trẻ), 8 nhóm (200 trẻ), v V Mỗi nhóm là 25 trẻ để tiện việc thu nhận trẻ và ổn định biên chế nhà trẻ

A N HÀ TR Ẻ DƯ Ớ I 5 0 TR Ẻ

1 Đối với nhà trẻ khu vực cứ 6 trẻ được bố trí một biên chế (bao gồm cả cán bộ, quản lý,

y tế, nuôi dạy trẻ, nấu ăn, v.v ) Trường hợp số trẻ nhiều quá nửa tiêu chuẩn định mức tức là 4 trẻ cũng được bố trí thêm một biên chế Thí dụ: nhà trẻ 40 trẻ được bố trí 7 biên chế

2 Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp được bố trí biên chế như sau:

Dưới 6 trẻ đến 8 trẻ được bố trí 1 biên chế,

Từ 43 trẻ đến dưới 50 trẻ được bố trí 7 biên chế

3 Các nhà trẻ dưới 50 trẻ căn cứ vào tình hình cụ thể mà phân công cho các cán bộ, nhân viên nhà trẻ ngoài nhiệm vụ chính kiêm thêm một số công việc khác

Thí dụ: cô nuôi dạy trẻ kiêm thêm một việc như thủ quỹ, thủ kho, kế toán nhà ăn, v.v

4 Trường hợp cô nuôi dạy trẻ nghỉ từ 15 ngày trở lên (nghỉ đẻ, ốm dài hạn hay đi phép dài ngày, đi học, v.v ) Ở nhà trẻ khu vực thì nhà trẻ có thể thuê công nhật, hợp đồng để thay thế nhưng nên bố trí làm những công việc như phụ bếp, vệ sinh, giặt dũ; ở nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp nên điều nhân viên cơ quan, xí nghiệp tạm thay, nếu quá khó khăn thì thuê công nhật hợp đồng như ở nhà trẻ khu vực

Trang 9

về nuôi dạy trẻ hoặc cán bộ y tế, giáo dục có khả năng quản lý nhà trẻ để bổ nhiệm chủ nhiệm nhà trẻ, các cô chủ nhiệm nhà trẻ nhất thiết phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ nuôi dạy trẻ, và công tác quản lý nhà trẻ.

B Phó chủ nhiệm nhà trẻ: Nhà trẻ có từ 100 trẻ trở lên có thêm một phó chủ nhiệm có trình độ từ trung học chuyên nghiệp trở lên về nuôi dạy trẻ, giáo dục hoặc y tế

C) Cô nuôi dạy trẻ: Mỗi người phục vụ bình quân 9 trẻ gửi theo giờ hành chính hoặc ca kíp và cứ dôi ra 5 trẻ thì được bố trí thêm 1 cô nuôi dạy trẻ Thí dụ: nhà trẻ 50 trẻ được bố trí 6

cô, nhà trẻ 75 trẻ được bố trí 8 cô, nhà trẻ 100 trẻ được bố trí 11 cô nuôi dạy trẻ phục vụ các nhóm trẻ

Tiêu chuẩn phục vụ bình quân 9 trẻ 1 người là tiêu chuẩn chung Chủ nhiệm nhà trẻ căn

cứ vào tình hình các nhóm trẻ để bố trí biên chế cho phù hợp

Thí dụ: nhà trẻ 150 trẻ chia làm 6 nhóm có thể bố trí như sau:

- 1 nhóm 20 trẻ từ 2 tháng đến 10 tháng, bố trí 4 cô nuôi dạy trẻ

- 1 nhóm 25 trẻ từ 11 tháng đến 18 tháng, bố trí 4 cô nuôi dạy trẻ

- 2 nhóm 19 tháng đến 24 tháng thì nhóm 20 trẻ bố trí 2 cô nuôi dạy trẻ, và nhóm 30 trẻ

bố trí 3 cô nuôi dạy trẻ

- 2 nhóm 25 tháng đến 36 tháng trong đó nhóm 25 trẻ từ 25 tháng đến 30 tháng bố trí 2

cô nuôi dạy trẻ, và nhóm 30 trẻ từ 31 tháng đến 36 tháng bố trí 2 cô nuôi dạy trẻ

Như vậy tổng số là 150 trẻ được bố trí 17 cô nuôi dạy trẻ Đối với trẻ (từ 18 tháng trở lên) gửi theo hình thức ký túc cả tuần, thì một cô nuôi dạy trẻ phục vụ 4 trẻ, nếu dôi ra từ 2 trẻ trở lên thì được bố trí thêm 1 cô nuôi dạy trẻ

D) Nhân viên nấu ăn (bao gồm quản lý, tiếp phẩm, kế toán nhà ăn, v.v )

Tiêu chuẩn biên chế một người phục vụ từ 30 đến 35 trẻ chỉ áp dụng cho những nhà trẻ

có tổ chức cho trẻ ăn ít nhất từ 2 bữa chính trở lên Những nhà trẻ dưới 100 trẻ 1 người phục

vụ 30 trẻ, những nhà trẻ từ 100 trẻ trở lên 1 người phục vụ 35 trẻ Việc quy định số lượng nhân viên nấu ăn cho từng nhà trẻ nên xem xét thêm về điều kiện làm việc để quy định cho phù hợp

và do cấp trực tiếp quản lý nhà trẻ xét duyệt Nhân viên nấu ăn có trách nhiệm nấu ăn chia cơm, cháo, bột bảo đảm đúng tiêu chuẩn, dọn bữa ăn cho trẻ và rửa bát sau bữa ăn Những nơi chưa cho trẻ ăn hoặc mới cho ăn một bữa chính ở nhà trẻ thì cần phải vận động các bà mẹ đóng góp để tổ chức nấu ăn cho trẻ Trong khi chờ đợi có thể vận dụng tạm thời một người phục vụ

50 trẻ nếu nhà trẻ chỉ nấu cho trẻ ăn một bữa chính hoặc một bữa chính và một bữa phụ

Trang 10

Đ) Cán bộ y tế: Nhà trẻ từ 100 trẻ trở lên được bố trí một bác sĩ hoặc y sĩ, nếu chưa có thì chúng tôi bố trí một y tá trung cấp.

2 Nhân viên hành chính quản trị (bao gồm văn thư, quản trị, kế toán, thủ kho, thủ quỹ,

vệ sinh, trồng cây cảnh, bảo vệ, v.v ):

A Đối với nhà trẻ khu vực được bố trí theo quy định trong quyết định số 304 - CP của Hội đồng Chính phủ như sau:

Việc bảo vệ tài sản ở nhà trẻ là một vấn đề quan trọng, tuy vậy khi bố trí số lượng bảo vệ nên căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trẻ để tiết kiệm được lao động mà vẫn bảo vệ tốt được nhà trẻ Thí dụ nhà trẻ nằm trong khu vực của cơ quan Uỷ ban nhân dân huyện đã có bảo vệ, hoặc ở xem kẽ với nhà ở của nhân viên Nhà trẻ thì có thể không bố trí bảo vệ riêng

Đối với nhà trẻ khu vực ở thành phố, thị xã, thị trấn có từ 150 trẻ em trở lên, thì ngoài số nhân viên hành chính quản trị đã được quy định (trong đó có một bảo vệ), được bố trí thêm một bảo vệ nữa

B Đối với nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp, số nhân viên hành chính quản trị chủ yếu bố trí làm công tác vệ sinh, hành chính quản trị còn các mặt tài vụ, bảo vệ, v.v Do cơ quan, xí nghiệp đảm nhiệm

Nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước đang trong quá trình phát triển từ nhỏ đến lớn và từng bước hoàn chỉnh về tổ chức và quản lý, do đó có những đặc điểm khác nhau nên Uỷ ban bảo vệ

bà mẹ và trẻ em các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần chỉ đạo các ban giáo dục, các phòng bảo vệ bà mẹ và trẻ em quy định cụ thể biên chế cho từng nhà trẻ thuộc phạm vi mình quản lý Việc thi hành quyết định số 304 - CP của Hội đồng Chính phủ phải được tiến hành khẩn trương nhưng thận trọng, tiết kiệm lao động, tăng cường thêm một bước công tác quản lý nhằm đạt được mục đích nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ, thực hiện tốt nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục và chỉ thị số 65 - CT/TU ngày 8 tháng 2 năm 1979 của Ban bí thư trung ương Đảng về công tác nuôi dạy trẻ

Để tạo điều kiện cho việc thực hiện đầy đủ quyết định trên, các địa phương cần làm một

số việc sau đây:

Trang 11

1 Phân cấp quản lý các mặt cho các nhà trẻ khu vực, làm cho các nhà trẻ khu vực trở thành các đơn vị hoàn chỉnh, trước mắt cần phân cấp ngay và kiện toàn các nhà trẻ khu vực có

từ 100 trẻ trở lên

2 Căn cứ vào hướng dẫn của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương trong công văn

số 766-UB/KH ngày 12 tháng 7 năm 1979 để xây dựng chức trách cụ thể của từng cán bộ, nhân viên trong nhà trẻ và thực hiện đầy đủ các quy chế về nuôi dạy trẻ đã được ban hành

3 Dựa vào các quy định về biên chế trong quyết định số 304- CP để xây dựng kế hoạch lao động của nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước hàng năm và dự toán kinh phí chi tiêu cho nhà trẻ

Các quy định về biên chế nhà trẻ trong các văn bản trước đây (thông tư số 18 - TT/LB ngày 18 tháng 10 năm 1961 của liên Bộ Nội vụ - Lao động, thông tư số 12 - TT/UB ngày 19 tháng 5 năm 1975 của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương về quy định tổ chức nhà trẻ khu vực ở các thành phố, thị xã, thị trấn, thông tư số 1 - TT/LB ngày 8 tháng 2 năm 1977 của liên Bộ Tài chính - Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương trái với quyết định số 304 - CP đều bãi bỏ

Trong quá trình thi hành thông tư này, nếu có những khó khăn gì, yêu cầu các địa

phương phản ảnh cho Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương biết để giải quyết

Hướng dẫn thi hành Quyết định số 304-CP ngày 29/8/1979

về tổ chức bộ máy, biên chế của nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước

THÔNG TƯCỦA UỶ BAN BẢO VỆ BÀ MẸ VÀ TRẺ EM TRUNG ƯƠNG SỐ 3 - CB/UB NGÀY 7 THÁNG 3 NĂM

1980 HƯỚNG DẪN THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH

SỐ 304/CP NGÀY 29 THÁNG 8 NĂM 1979 VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY, BIÊN CHẾ CỦA NHÀ TRẺ THUỘC KHU VỰC NHÀ NƯỚC

Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định số 304-CP ngày 29 tháng 8 năm 1979 về tổ chức

bộ máy, biên chế của nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước Để thi hành thống nhất trong cả nước,

Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương ra thông tư hướng dẫn cụ thể như sau:

I TỔ CHỨC NHÀ TRẺ THUỘC KHU VỰC NHÀ NƯỚC

Quyết định số 304-CP đã nêu rõ: nhà trẻ là đơn vị sự nghiệp giáo dục và phúc lợi Nghị quyết

về cải cách giáo dục của Bộ chính trị đã đề ra nhà trẻ nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân

Để thực hiện tinh thần các văn bản trên, từng bước đưa nhà trẻ thành một tổ chức có tính chất giáo dục làm tốt nhiệm vụ nuôi dạy trẻ phù hợp với yêu cầu gửi trẻ của nữ công nhân, viên chức, tổ chức nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước gồm có:

- Nhà trẻ khu vực là nhà trẻ do hệ thống quản lý của ngành bảo vệ bà mẹ và trẻ em các cấp trực tiếp chỉ đạo và quản lý ở các phường, tiểu khu, khu tập thể, thị trấn, v.v Nhà trẻ có nhiệm vụ

Trang 12

nhận con công nhân, viên chức thuộc độ tuổi nhà trẻ cư trú tại khu vực đó Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức phát triển mạng lưới nhà trẻ khu vực, nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ và tạo thuận lợi cho nữ công nhân, viên chức gửi trẻ.

- Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp do cơ quan, xí nghiệp tổ chức và quản lý dưới sự hướng dẫn nghiệp vụ của ngành bảo vệ bà mẹ và trẻ em , có nhiệm vụ thu nhận con của công nhân, viên chức thuộc cơ quan, xí nghiệp đó và có thể thu nhận con của công nhân, viên chức công tác tại các cơ quan, xí nghiệp khác (ở gần nhà trẻ đó) theo sự thoả thuận của đơn vị chủ quản Những nơi có nhà trẻ khu vực mà cơ quan, xí nghiệp có số trẻ ít, thì nên thu xếp cho nữ công nhân, viên chức gửi con vào nhà trẻ khu vực; trường hợp thật cần thiết mới tổ chức nhà trẻ, nhưng ít nhất cũng là một nhóm (25 trẻ) trở lên Ở các khu vực đó nếu có nhóm trẻ cơ quan quá ít cháu thì nên thu xếp đưa trẻ vào nhà trẻ khu vực (nếu còn khả năng thu nhận) hoặc ghép vào các nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp khác, hoặc giao cho cơ quan quản lý của ngành bảo vệ bà mẹ và trẻ em tiếp thu toàn bộ cơ sở nhà trẻ đó để tổ chức lại cho phù hợp với yêu cầu nuôi dạy

Đối với các nhà trẻ có từ 50 trẻ trở lên, hàng năm (hoặc 6 tháng một lần đối với nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp mà số trẻ hay biến động) cơ quan bảo vệ bà mẹ và trẻ em cần xác định rõ quy

mô nhà trẻ để có cơ sở thu nhận trẻ và ổn định biên chế nhà trẻ bảo đảm được việc nuôi dạy trẻ tốt

II NHIỆM VỤ CÔNG TÁC NHÀ TRẺ

Để thực hiện được tốt nhiệm vụ công tác nhà trẻ nêu ở điều 3 quyết định số 304-CP, các nhà trẻ cần phải thực hiện được một số công việc cụ thể như sau:

- Các nhà trẻ có từ 25 trẻ trở lên phải tổ chức nấu ăn cho trẻ từ 3 chế độ (bột, cháo, cơm) đến 4 chế độ (sữa, bột, cháo, cơm), bảo đảm cho trẻ ăn ở nhà trẻ (2 bữa chính, 1 bữa phụ)

Các nhóm trẻ nhỏ cần xen ghép vào bếp ăn với nhà trẻ gần nhất hoặc tổ chức bếp ăn chung để đảm bảo việc ăn của trẻ ở các nhóm trẻ nhỏ gần nhau

- Các nhà trẻ phải chăm sóc vệ sinh cho trẻ, chăm sóc trẻ mệt, phát hiện bệnh để chuyển cho cơ quan y tế điều trị

- Các nhà trẻ đều phải dạy trẻ: các nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên phải dạy trẻ theo chương trình của

Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương đã hướng dẫn, các nhà trẻ dưới 50 trẻ nếu chưa có điều kiện dạy cho toàn thể trẻ thì trước hết phải dạy cho trẻ từ 24 tháng đến 36 tháng

- Các nhà trẻ phải có nội quy, có chương trình hoạt động cụ thể và phải thực hiện đầy đủ các quy chế nuôi dạy trẻ của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương

- Các nhà trẻ phải quản lý theo dõi chặt chẽ từng trẻ về các mặt (thể lực, trí thông minh, tình cảm, v.v ) tạo mọi thuận lợi cho trẻ phát triển tốt và có phiếu nhận xét kèm theo khi chuyển trẻ lên mẫu giáo

III BIÊN CHẾ NHÀ TRẺ

Trang 13

Điều 4 của quyết định số 304 - CP quy định số lượng biên chế của nhà trẻ có phân biệt giữa nhà trẻ dưới 50 trẻ và nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên, giữa nhà trẻ khu vực và nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp.

Nhà trẻ dưới 50 trẻ là đơn vị chưa hoàn chỉnh nên số lượng biên chế có hạn, do đó việc chuyên môn hoá cán bộ, nhân viên nhà trẻ chưa thực hiện được đầy đủ nên cô nuôi dạy trẻ ngoài nhiệm vụ chính của mình phải kiêm nhiệm thêm một số công việc Nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên phải chuyên môn hoá cán bộ, nhân viên nhà trẻ chưa thực hiện được đầy đủ nên cô nuôi dạy trẻ ngoài nhiệm vụ chính của mình phải kiêm nhiệm thêm một số công viện Nhà trẻ từ 50 trẻ trở lên phải chuyên môn hoá cán bộ, nhân viên ( như nuôi dạy trẻ, nấu ăn, v.v tạo điều kiện cho cán bộ, nhân viên đi sâu vào nghiệp vụ, nâng cao chất lượng nuôi dạy

Nhà trẻ khu vực là một tổ chức hoàn chỉnh quản lý toàn diện về các mặt nghiệp vụ, lao động, vật tư, tài chính, v.v Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp là một đơn vị của cơ quan, xí nghiệp nên một

số công tác như tài vụ, vật tư, lao động, v.v do các bộ môn của cơ quan, xí nghiệp Do những đặc điểm trên nên số lượng biên chế có phân biệt giữa các loại nhà trẻ nói trên Ngoài ra căn cứ vào tình hình cơ sở vật chất và trình độ quản lý hiện nay như trong thông tư số 12 - UBTT ngày 19 tháng 5 năm 1975 của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương quy định tổ chức nhà trẻ khu vực ở các thành phố, thị xã, thị trấn, quy mô nhà trẻ nói chung nên từ 50 trẻ

và không nên quá 150 trẻ Trong thời gian qua đặc biệt ở một số thành phố, thị xã có tổ chức một số nhà trẻ trên 200 trẻ phần lớn do Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em thành phố trực thuộc trung ương hoặc tỉnh trực tiếp quản lý thì vẫn theo quy định nêu trong quyết định số 304 - CP

Số trẻ của các nhà trẻ hàng tháng có biến động, do đó căn cứ vào quy định sau đây để xác định

số trẻ ở nhà trẻ:

Nhà trẻ khu vực căn cứ vào quy mô nhà trẻ, trường hợp số cháu thu nhận nhiều hơn quy mô nhà trẻ được xây dựng thì căn cứ vào số cháu đăng ký nhưng nhiều nhất không quá 50% so với quy mô nhà trẻ Thí dụ: nhà trẻ quy mô là 100, nếu thu nhận nhiều nhất là 150 cháu Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp căn cứ vào số trẻ đăng ký gửi trẻ đã được nhà trẻ thu nhận

Việc xác định số trẻ của từng nhà trẻ do cơ quan bảo vệ bà mẹ và trẻ em cấp trực tiếp quản lý quyết định hàng năm hoặc 6 tháng một lần

Để từng bước ổn định tổ chức nhà trẻ cho phù hợp với cơ sở vật chất đã được xây dựng và trang bị theo đúng quy cách, các nhà trẻ khu vực nên xác định các loại: 2 nhóm (50 trẻ), 3 nhóm (75 trẻ), 4 nhóm (100 trẻ), 5 nhóm (125 trẻ), 6 nhóm (150 trẻ), 7 nhóm (175 trẻ), 8 nhóm (200 trẻ), v v mỗi nhóm là 25 trẻ để tiện việc thu nhận trẻ và ổn định biên chế nhà trẻ

A NHÀ TRẺ DƯỚI 50 TRẺ.

1 Đối với nhà trẻ khu vực cứ 6 trẻ được bố trí một biên chế (bao gồm cả cán bộ, quản lý, y tế, nuôi dạy trẻ, nấu ăn, v.v ) trường hợp số trẻ nhiều quá nửa tiêu chuẩn định mức tức là 4 trẻ cũng được bố trí thêm một biên chế Thí dụ: nhà trẻ 40 trẻ được bố trí 7 biên chế

2 Nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp được bố trí biên chế như sau:

Dưới 6 trẻ đến 8 trẻ được bố trí 1 biên chế,

Từ 9 trẻ đến 16 trẻ được bố trí 2 biên chế,

Từ 9 trẻ đến 16 trẻ được bố trí 2 biên chế,

Trang 14

Từ 17 trẻ đến 23 trẻ được bố trí 3 biên chế,

Từ 24 trẻ đến 29 trẻ được bố trí 4 biên chế,

Từ 30 trẻ đến 36 trẻ được bố trí 5 biên chế,

Từ 37 trẻ đến 42 trẻ được bố trí 6 biên chế,

Từ 43 trẻ đến dưới 50 trẻ được bố trí 7 biên chế

3 Các nhà trẻ dưới 50 trẻ căn cứ vào tình hình cụ thể mà phân công cho các cán bộ, nhân viên nhà trẻ ngoài nhiệm vụ chính kiêm thêm một số công việc khác

Thí dụ: cô nuôi dạy trẻ kiêm thêm một việc như thủ quỹ, thủ kho, kế toán nhà ăn, v.v

4 Trường hợp cô nuôi dạy trẻ nghỉ từ 15 ngày trở lên (nghỉ đẻ, ốm dài hạn hay đi phép dài ngày, đi học, v.v ) ở nhà trẻ khu vực thì nhà trẻ có thể thuê công nhật, hợp đồng để thay thế nhưng nên bố trí làm những công việc như phụ bếp, vệ sinh, giặt dũ; ở nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp nên điều nhân viên cơ quan, xí nghiệp tạm thay, nếu quá khó khăn thì thuê công nhật hợp đồng như ở nhà trẻ khu vực

b Phó chủ nhiệm nhà trẻ: Nhà trẻ có từ 100 trẻ trở lên có thêm một phó chủ nhiệm có trình độ

từ trung học chuyên nghiệp trở lên về nuôi dạy trẻ, giáo dục hoặc y tế

c) Cô nuôi dạy trẻ: Mỗi người phục vụ bình quân 9 trẻ gửi theo giờ hành chính hoặc ca kíp và

cứ dôi ra 5 trẻ thì được bố trí thêm 1 cô nuôi dạy trẻ Thí dụ: nhà trẻ 50 trẻ được bố trí 6 cô, nhà trẻ 75 trẻ được bố trí 8 cô, nhà trẻ 100 trẻ được bố trí 11 cô nuôi dạy trẻ phục vụ các nhóm trẻ

Tiêu chuẩn phục vụ bình quân 9 trẻ 1 người là tiêu chuẩn chung Chủ nhiệm nhà trẻ căn cứ vào tình hình các nhóm trẻ để bố trí biên chế cho phù hợp

Thí dụ: nhà trẻ 150 trẻ chia làm 6 nhóm có thể bố trí như sau:

- 1 nhóm 20 trẻ từ 2 tháng đến 10 tháng, bố trí 4 cô nuôi dạy trẻ

- 1 nhóm 25 trẻ từ 11 tháng đến 18 tháng, bố trí 4 cô nuôi dạy trẻ

- 2 nhóm 19 tháng đến 24 tháng thì nhóm 20 trẻ bố trí 2 cô nuôi dạy trẻ, và nhóm 30 trẻ bố trí 3

cô nuôi dạy trẻ

Trang 15

- 2 nhóm 25 tháng đến 36 tháng trong đó nhóm 25 trẻ từ 25 tháng đến 30 tháng bố trí 2 cô nuôi dạy trẻ, và nhóm 30 trẻ từ 31 tháng đến 36 tháng bố trí 2 cô nuôi dạy trẻ.

Như vậy tổng số là 150 trẻ được bố trí 17 cô nuôi dạy trẻ Đối với trẻ (từ 18 tháng trở lên) gửi theo hình thức ký túc cả tuần, thì một cô nuôi dạy trẻ phục vụ 4 trẻ, nếu dôi ra từ 2 trẻ trở lên thì được bố trí thêm 1 cô nuôi dạy trẻ

d) Nhân viên nấu ăn (bao gồm quản lý, tiếp phẩm, kế toán nhà ăn, v.v )

Tiêu chuẩn biên chế một người phục vụ từ 30 đến 35 trẻ chỉ áp dụng cho những nhà trẻ có tổ chức cho trẻ ăn ít nhất từ 2 bữa chính trở lên Những nhà trẻ dưới 100 trẻ 1 người phục vụ 30 trẻ, những nhà trẻ từ 100 trẻ trở lên 1 người phục vụ 35 trẻ Việc quy định số lượng nhân viên nấu ăn cho từng nhà trẻ nên xem xét thêm về điều kiện làm việc để quy định cho phù hợp và do cấp trực tiếp quản lý nhà trẻ xét duyệt Nhân viên nấu ăn có trách nhiệm nấu ăn chia cơm, cháo, bột bảo đảm đúng tiêu chuẩn, dọn bữa ăn cho trẻ và rửa bát sau bữa ăn Những nơi chưa cho trẻ ăn hoặc mới cho ăn một bữa chính ở nhà trẻ thì cần phải vận động các bà mẹ đóng góp

để tổ chức nấu ăn cho trẻ Trong khi chờ đợi có thể vận dụng tạm thời một người phục vụ 50 trẻ nếu nhà trẻ chỉ nấu cho trẻ ăn một bữa chính hoặc một bữa chính và một bữa phụ

đ) Cán bộ y tế: Nhà trẻ từ 100 trẻ trở lên được bố trí một bác sĩ hoặc y sĩ, nếu chưa có thì chúng tôi bố trí một y tá trung cấp

2 Nhân viên hành chính quản trị (bao gồm văn thư, quản trị, kế toán, thủ kho, thủ quỹ, vệ sinh, trồng cây cảnh, bảo vệ, v.v ):

a Đối với nhà trẻ khu vực được bố trí theo quy định trong quyết định số 304 - CP của Hội đồng Chính phủ như sau:

Việc phân công các nhân viên hành chính, quản trị cần căn cứ vào tình hình cụ thể của nhà trẻ

và số lượng biên chế đã quy định để bố trí cho phù hợp, nhằm bảo đảm các công việc cần thiết của nhà trẻ Vì vậy đối với các nhân viên hành chính, quản trị, một người có thể làm nhiều việc tuỳ theo khối lượng công việc Thí dụ: thủ kho, thủ quỹ kiêm mua sắm; kế toán kiêm văn thư, v.v Việc phân công kiêm nhiệm là cần thiết nhưng không nên phân công kế toán kiêm thủ kho, thủ quỹ kiêm mua sắm

Việc bảo vệ tài sản ở nhà trẻ là một vấn đề quan trọng, tuy vậy khi bố trí số lượng bảo vệ nên căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trẻ để tiết kiệm được lao động mà vẫn bảo vệ tốt được nhà trẻ Thí dụ nhà trẻ nằm trong khu vực của cơ quan Uỷ ban nhân dân huyện đã có bảo vệ, hoặc

ở xem kẽ với nhà ở của nhân viên Nhà trẻ thì có thể không bố trí bảo vệ riêng

Trang 16

Đối với nhà trẻ khu vực ở thành phố, thị xã, thị trấn có từ 150 trẻ em trở lên, thì ngoài số nhân viên hành chính quản trị đã được quy định (trong đó có một bảo vệ), được bố trí thêm một bảo

vệ nữa

b Đối với nhà trẻ cơ quan, xí nghiệp, số nhân viên hành chính quản trị chủ yếu bố trí làm công tác vệ sinh, hành chính quản trị còn các mặt tài vụ, bảo vệ, v.v do cơ quan, xí nghiệp đảm nhiệm

Nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước đang trong quá trình phát triển từ nhỏ đến lớn và từng bước hoàn chỉnh về tổ chức và quản lý, do đó có những đặc điểm khác nhau nên Uỷ ban bảo vệ bà

mẹ và trẻ em các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần chỉ đạo các ban giáo dục, các phòng bảo vệ bà mẹ và trẻ em quy định cụ thể biên chế cho từng nhà trẻ thuộc phạm vi mình quản lý Việc thi hành quyết định số 304 - CP của Hội đồng Chính phủ phải được tiến hành khẩn trương nhưng thận trọng, tiết kiệm lao động, tăng cường thêm một bước công tác quản lý nhằm đạt được mục đích nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ, thực hiện tốt nghị quyết của Bộ chính trị về cải cách giáo dục và chỉ thị số 65 - CT/TU ngày 8 tháng 2 năm 1979 của Ban bí thư trung ương Đảng về công tác nuôi dạy trẻ

Để tạo điều kiện cho việc thực hiện đầy đủ quyết định trên, các địa phương cần làm một số việc sau đây:

1 Phân cấp quản lý các mặt cho các nhà trẻ khu vực, làm cho các nhà trẻ khu vực trở thành các đơn vị hoàn chỉnh, trước mắt cần phân cấp ngay và kiện toàn các nhà trẻ khu vực có từ 100 trẻ trở lên

2 Căn cứ vào hướng dẫn của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương trong công văn số 766-UB/KH ngày 12 tháng 7 năm 1979 để xây dựng chức trách cụ thể của từng cán bộ, nhân viên trong nhà trẻ và thực hiện đầy đủ các quy chế về nuôi dạy trẻ đã được ban hành

3 Dựa vào các quy định về biên chế trong quyết định số 304- CP để xây dựng kế hoạch lao động của nhà trẻ thuộc khu vực Nhà nước hàng năm và dự toán kinh phí chi tiêu cho nhà trẻ

Các quy định về biên chế nhà trẻ trong các văn bản trước đây (thông tư số 18 - TT/LB ngày 18 tháng 10 năm 1961 của liên Bộ Nội vụ - Lao động, thông tư số 12 - TT/UB ngày 19 tháng 5 năm 1975 của Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương về quy định tổ chức nhà trẻ khu vực

ở các thành phố, thị xã, thị trấn, thông tư số 1 - TT/LB ngày 8 tháng 2 năm 1977 của liên Bộ Tài chính - Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương trái với quyết định số 304 - CP đều bãi bỏ

Trong quá trình thi hành thông tư này, nếu có những khó khăn gì, yêu cầu các địa phương phản ảnh cho Uỷ ban bảo vệ bà mẹ và trẻ em trung ương biết để giải quyết

THÔNG TƯ CỦA LIÊN BỘ

GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI - TÀI CHÍNH - NÔNG NGHIỆP VÀ CÔNG

NGHIỆP THỰC PHẨM Hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ ở xã phường

Trang 17

Thực hiện Chỉ thị số 241-CT ngày 4-9-1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giải quyết một số vấn đề cấp bách trong công tác giáo dục và đào tạo; sau khi có ý kiến của các ban, ngành có liên quan, liên Bộ Giáo dục - Lao động - Thương binh và xã hội - Tài chính - Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm hướng dẫn thực hiện chế độ, chính sách đối với giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ ngoài biên chế Nhà nước ở xã, phường như sau:

- Những giáo viên chưa có bằng tốt nghiệp trường sư phạm mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ thì được hưởng sinh hoạt phí bằng 90% mức sinh hoạt phí của giáo viên có cùng trình độ đào tạo (ở mức khởi điểm)

- Sinh hoạt phí quy định trên đây là mức thấp nhất giáo viên được hưởng Những địa phương

có khả năng giải quyết cao hơn mức quy định trên thì do địa phương quyết định

I- CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN MẪU GIÁO VÀ CÔ NUÔI DẠY TRẺ

1 Sinh hoạt phí

- Những giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ đã qua đào tạo ở các trường sư phạm mẫu giáo

và nuôi dạy trẻ theo chương trình thống nhất của Bộ Giáo dục và của Uỷ ban Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em (trước đây) được hưởng sinh hoạt phí vận dụng theo chế độ tiền lương (bao gồm mức lương và các khoản phụ cấp, nếu có, như phụ cấp ưu đãi, thâm niên, dạy thêm giờ, khu vực, v.v ) của giáo viên trong biên chế Nhà nước có cùng trình độ chuyên môn và thâm niên công tác quy định tại Nghị định số 235-HĐBT ngày 18-9-1985 và Quyết định số 203-HĐBT ngày 28-12-1988 của Hội đồng Bộ trưởng Mức sinh hoạt phí được tính lại dưới đây:

³ ³ ³

Trình độ đào tạo Tiền sinh hoạt phí (đồng)

Giáo viên có trình độ đại học

Giáo viên có trình độ cao

Trang 18

Gia đình giáo viên gặp khó khăn, hợp tác xã có thể trích quỹ trợ cấp thêm, hoặc thiếu lương thực hàng tháng thì hợp tác xã xét bán thêm trực tiếp cho họ với mức giá như bán cho xã viên trong hợp tác xã

3 Chế độ bảo hiểm xã hội

Trước mắt thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 9-LĐTBXH/TT ngày 18-4-1989 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội

4 Nguồn kinh phí đài thọ

Nguồn kinh phí để trả sinh hoạt phí, các phụ cấp, trợ cấp cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ lấy từ ngân sách xã, phường và một phần do nhân dân đóng góp Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi nơi để hướng dẫn mức đóng góp của nhân dân cho phù hợp (từ 30% đến 70% kinh phí đài thọ cho giáo viên) nhằm bảo đảm đủ nguồn để giải quyết các chế độ cho giáo viên mẫu giáo và cô nuôi dạy trẻ

Đối với các xã vùng núi cao, hải đảo xa, các xã vùng biên giới, các xã vùng kinh tế mới còn nhiều khó khăn mà ngân sách xã và sự đóng góp của nhân dân không đủ chi cho sự nghiệp giáo dục thì tuỳ theo điều kiện cụ thể mà ngân sách huyện, tỉnh, thành phố trợ cấp để bảo đảm các chế độ, chính sách cho các cô giáo theo quy định tại Thông tư này

II - ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

1 Uỷ ban Nhân dân xã, phường và Phòng giáo dục huyện, quận, thị xã cần có kế hoạch để duy trì và phát triển các trường, lớp mẫu giáo và nhà trẻ ở địa phương Nơi nào cha, mẹ các cháu có nhu cầu gửi các cháu và xã, phường có cơ sở vật chất, trường lớp bảo đảm để nuôi dạy các cháu thì Uỷ ban Nhân dân xã, phường phối hợp cùng Phòng giáo dục tuyển chọn các cô giáo

để ra giảng dạy các cháu Những giáo viên đã qua đào tạo và công tác tốt được ưu tiên tuyển chọn trước Căn cứ vào số lượng các cô giáo công tác từ đầu năm học, Uỷ ban Nhân dân xã, phường làm văn bản về tổ chức cán bộ, về chế độ chính sách cho các cô giáo cũng như dự trù các chi phí khác nhằm bảo đảm cho hoạt động của trường mẫu giáo và nhà trẻ của xã, phường mình và lập dự toán kinh phí đưa vào kế hoạch ngân sách hàng năm của xã, phường

2 Uỷ ban Nhân dân xã, phường có trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất, trường lớp và bảo đảm đầy đủ, kịp thời mọi chế độ chính sách đối với các cô giáo Các cô giáo chịu trách nhiệm trước

Uỷ ban Nhân dân xã, phường và cha mẹ các cháu về chất lượng nuôi dạy trẻ

Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký

Trang 19

các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ

Căn cứ Nghị định số 21/2006/NĐ-CP ngày 27/02/2006 của Chính phủ về việc kinh doanh và

sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, Liên tịch: Bộ Y tế, Bộ Thương mại, Bộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em hướng dẫn thực hiện như sau:

I QUY ĐỊNH CHUNG

1 Việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ phải tuân thủ các quy định tại Nghị định số 21/2006/NĐ-CP ngày 27/02/2006 của Chính phủ về kinh doanh và

sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ (sau đây gọi tắt là Nghị định số

21/2006/NĐ-CP), các quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thương mại, quảng cáo, chất lượng hàng hoá, nhãn hàng hoá và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

2 Thông tư này áp dụng đối với:

a) Doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bao gồm

cả Văn phòng đại diện và các cá nhân hoạt động nhân danh doanh nghiệp đó;

b) Hộ kinh doanh cá thể, cá nhân kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ;

c) Tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo;

d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 7 Điều 2; thầy thuốc và nhân viên y tế quy định tại khoản 8 Điều 2 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP;

đ) Cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan nhà nước có liên quan đến việc quản lý các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ

BỘ GIÁO

DỤC

(Đã ký)

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Trang 20

II THÔNG TIN, GIÁO DỤC, TRUYỀN THÔNG

1 Nội dung các tài liệu thông tin, giáo dục, truyền thông về lợi ích của việc nuôi con bằng sữa

mẹ, về nuôi dưỡng trẻ nhỏ phải bảo đảm theo đúng quy định tại Điều 3, Điều 4 của Nghị định

số 21/2006/NĐ-CP; các tài liệu về thông tin, giáo dục, truyền thông về sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ phải bảo đảm theo đúng quy định tại Điều 5 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP

2 Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ được phép cung cấp cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thầy thuốc và nhân viên y tế làm việc trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó các tài liệu, thông tin khoa học chính thống, trung

thực, chính xác và cách thức sử dụng đúng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ Trên tài

liệu phải ghi rõ "Chỉ sử dụng cho thầy thuốc và nhân viên y tế"

3 Thầy thuốc và nhân viên y tế có trách nhiệm hướng dẫn việc sử dụng đúng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ cho các bà mẹ hoặc thành viên trong gia đình họ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP trong các trường hợp đặc biệt sau:

a) Trẻ có mẹ bị bệnh nặng không thể cho trẻ bú sữa hoặc vắt sữa được

b) Trẻ có mẹ đang bị chiếu tia xạ hoặc phải dùng thuốc chống chỉ định cho con bú như các thuốc kháng giáp trạng, thuốc chống ung thư

c) Trẻ có mẹ bị nhiễm HIV

d) Trẻ mắc các bệnh chuyển hoá không dung nạp được sữa mẹ

III QUẢNG CÁO

Việc quảng cáo các loại sữa dùng cho trẻ từ trên 12 tháng tuổi đến 24 tháng tuổi phải tuân thủ các điều kiện quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 6 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP như sau:

1 Nội dung bắt buộc tại phần đầu của quảng cáo: "Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và

sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ" phải bảo đảm yêu cầu sau:

a) Quảng cáo trên báo hình mà chỉ có hình ảnh không có lời nói thì nội dung "Sữa mẹ là thức

ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ" phải được thể hiện rõ ràng bằng chữ với thời lượng đủ để người xem có thể đọc được Nếu quảng cáo dùng cả hình ảnh và lời nói thì nội dung "Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ" phải được thể hiện bằng chữ và được nói rõ ràng, mạch lạc để người xem có thể đọc và nghe được

b) Quảng cáo trên báo nói thì phải nói rõ, mạch lạc: "Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ

và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ" để người nghe có thể nghe được

c) Quảng cáo trên báo in, báo điện tử, xuất bản phẩm, bảng, biển hoặc trên các phương tiện quảng cáo khác phải thể hiện rõ nội dung "Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ" để người xem có thể đọc được

2 Các tổ chức, cá nhân đăng ký quảng cáo, các tổ chức và cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 của Mục này còn phải thực hiện các quy định

Trang 21

tại Thông tư liên tịch số 01/2004/TTLT-BVHTT-BYT ngày 12/01/2004 của Bộ Văn hoá - Thông tin và Bộ Y tế hướng dẫn về hoạt động quảng cáo trong lĩnh vực y tế và các quy định khác của pháp luật về quảng cáo.

IV KINH DOANH CÁC SẢN PHẨM DINH DƯỠNG DÙNG CHO TRẺ NHỎ

1 Các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ trước khi đưa ra thị trường đều phải được công

bố tiêu chuẩn sản phẩm tại Bộ Y tế (Cục An toàn vệ sinh thực phẩm)

2 Nhãn sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bình bú và núm vú giả ngoài việc thực hiện các quy định tại Điều 8, Điều 9 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP còn phải thực hiện các quy định khác của pháp luật về ghi nhãn hàng hoá

V TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU, THẦY THUỐC VÀ NHÂN VIÊN

Y TẾ CỦA CÁC CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

1 Người đứng đầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thầy thuốc và nhân viên y tế làm việc tại các cơ sở đó có trách nhiệm thực hiện:

a) Các quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP;

b) 10 điều kiện để nuôi con bằng sữa mẹ thành công trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (theo Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này)

2 Bộ Y tế tổ chức kiểm tra việc thực hiện 10 điều kiện nuôi con bằng sữa mẹ trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trên cơ sở đó, xem xét để cấp Giấy chứng nhận công nhận danh hiệu

"Bệnh viện bạn hữu trẻ em" Trong quá trình kiểm tra, thanh tra, nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được công nhận danh hiệu trên nhưng không thực hiện đúng các điều kiện quy định tại khoản 1 của mục này thì Bộ Y tế sẽ rút Giấy chứng nhận, đồng thời thông báo với Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nếu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó thuộc quyền quản lý của địa phương

3 Người đứng đầu các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, thầy thuốc và nhân viên y tế được nhận các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ thông qua các tổ chức từ thiện để nuôi dưỡng trẻ bị

bỏ rơi hoặc trong các trường hợp đặc biệt phải sử dụng các sản phẩm đó theo quy định tại khoản 3, mục II của Thông tư này Trong trường hợp, các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không

đủ sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ để nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi thì có thể mua các sản phẩm đó với số lượng đủ theo nhu cầu thực tế

VI TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

1 Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Thương mại, Bộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em và các cơ quan liên quan quản lý việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ; quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ trong phạm vi cả nước

2 Sở Y tế chủ trì và phối hợp với Sở Thương mại, Sở Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan quản

lý việc kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ; quản lý chất lượng,

Trang 22

vệ sinh an toàn các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ; tổ chức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo thẩm quyền.

VII TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Thông tư này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo Bãi bỏ Thông tư liên tịch

số 04/2001/TTLT/YT-TM-VHTT-UBBVCSTEVN ngày 14/03/2001 hướng dẫn thi hành Nghị định số 74/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 của Chính phủ về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ để bảo vệ và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ

2 Đối với sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ, bình bú và núm vú giả bao gồm cả sản phẩm sản xuất trong nước và nhập khẩu, nếu có nhãn cũ đã được in trước thời điểm Thông tư này có hiệu lực hiện còn tồn đọng mà không vi phạm các quy định của Nghị định số

74/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 của Chính phủ về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ để bảo vệ và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ và Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT/YT-TM-VHTT-UBBVCSTEVN ngày 14/03/2001 hướng dẫn thi hành Nghị định số 74/2000/NĐ-CP ngày 06/12/2000 của Chính phủ về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ để bảo vệ và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ thì cơ sở sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm báo cáo số lượng nhãn tồn đọng với Bộ Y tế (Cục An toàn vệ sinh thực phẩm) để kiểm tra, xác nhận mới được tiếp tục lưu thông nhưng phải bổ sung nhãn phụ bằng tiếng Việt với những nội dung thông tin mà nhãn hàng hoá cũ còn ghi thiếu so với quy định tại Điều 8, Điều 9 của Nghị định số 21/2006/NĐ-CP

3 Đối với sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ nhỏ có ghi hạn sử dụng từ trước ngày Thông tư này có hiệu lực và được đóng gói trong các loại bao bì thương phẩm chắc chắn bằng kim loại, thuỷ tinh, sành sứ và có nhãn hàng hoá cũ được in trực tiếp lên hàng hoá hoặc bao bì thương phẩm mà không thể thay đổi bằng bao bì có nhãn mới, nếu còn hạn sử dụng thì được phép lưu thông đến thời điểm hết hạn sử dụng nhưng cơ sở sản xuất, kinh doanh phải bổ sung nhãn phụ với những nội dung thông tin mà trên nhãn hàng hoá cũ còn ghi thiếu so với quy định lại Điều

Trang 23

BỘ Y TẾ

BỘ THƯƠNG

(Đã ký)

o0o

-Hà Nội , Ngày 01 tháng 08 năm 1980

THÔNG TƯCỦA LIÊN BỘ GIÁO DỤC - LAO ĐỘNG SỐ 16/TT-LB NGÀY 1 THÁNG 8 NĂM 1980 QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ XẾP LƯƠNG THEO TIÊU CHUẨN ĐÀO TẠO MỚI CHO GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG

Tại cuộc hợp ngày 19 tháng 9 năm 1979, Thường vụ Hội đồng Chính phủ đã "đồng ý cho thực hiện chế độ xếp lương theo trình độ đào tạo (tốt nghiệp) đối với giáo viên các cấp bất kể họ làm công tác ở cấp học nào (I, II, III)" và "giao cho Bộ Giáo dục và Bộ Lao động, sớm có văn bản hướng dẫn và kiểm tra thực hiện việc này" (Thông báo số 52 - TB ngày 19 tháng 9 năm 1979 của Phủ thủ tướng)

Căn cứ nghị quyết nói trên của Thường vụ Hội đồng Chính phủ, liên Bộ Giáo dục - Lao động quy định chế độ xếp lương theo tiêu chuẩn đào tạo mới đối với giáo viên các cấp học như sau.

23

Trang 24

BỘ GIÁO DỤC

Số: 49/TT-GD

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAMĐộc lập - Tự do - Hạnh phúc

284/TCCP, ngày 25/10/1979), ban hành thông tư quy định chế độ công tác của giáo viên các trường phổ thông như sau:

I MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA

Trên cơ sở chức năng và nhiệm vụ của trường phổ thông, quy định chế độ công tác cho giáo viên là xác định nhiệm vụ, khối lượng công tác của người thầy giáo, cô giáo trong quá trình giáo dục học sinh, và thời gian quy định cho từng nhiệm vụ, khối lượng công tác đó, nhằm giúp cho:

- Người giáo viên thấy được nhiệm vụ cụ thể của mình để có kế hoạch thực hiện các nhiệm vụ công tác ấy một cách chủ động và sáng tạo, không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo học sinh một cách toàn diện

- Các cơ quan quản lý giáo dục và trường học có căn cứ để bố trí và sử dụng hợp lý lực lượng giáo viên, tăng cường công tác quản lý lao động và thực hiện chế độ chính sách đối với cô giáo, thầy giáo

- Các cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội, cha mẹ học sinh biết để phối hợp và tạo điều kiện cho người giáo viên làm tròn trách nhiệm của người cán bộ giáo dục

II NHIỆM VỤ CÔNG TÁC CỦA NGƯỜI GIÁO VIÊN

Người giáo viên có những nhiệm vụ công tác cụ thể sau đây:

1 Công tác giáo dục và giảng dạy, bao gồm các công việc:

Trang 25

1.1 Giáo dục tư tưởng, đạo đức, xây dựng tập thể học sinh là nhiệm vụ thường xuyên của mọi giáo viên.

Nhiệm vụ này được thực hiện thông qua việc giảng dạy bộ môn, công tác chủ nhiệm lớp, công tác chặt chẽ với cha mẹ học sinh, với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, để giúp đỡ học sinh và cùng học sinh tiến hành các sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội

1.2 Giảng dạy, giảng lý thuyết, chữa bài tập, hướng dẫn thực hành, kiểm tra đánh giá chất lượng học sinh

1.3 Giáo dục lao động cho học sinh và cùng học sinh tham gia lao động sản xuất

1.4 Soạn bài, chấm bài, làm đồ dùng giảng dạy, chuẩn bị thí nghiệm, tổ chức ngoại khoá, phụ đạo và bồi dưỡng học sinh

1.5 Coi thi, chấm thi: thi học kỳ, thi lên lớp, thi tuyển vào lớp đầu cấp, thi hết cấp, thi tốt nghiệp trường phổ thông

1.6 Đánh giá xếp loại học sinh: Làm sổ điểm, phê học bạ, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở cuối học kỳ và toàn năm học

1.7 Sinh hoạt chuyên môn: Họp hội đồng giáo dục, họp tổ chuyên môn, nhóm chuyên môn, dự giờ, thăm lớp các giáo viên khác, đúc rút kinh nghiệm giáo dục và giảng dạy học sinh

2 Công tác học tập và bồi dưỡng: để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm (học chính trị, nghiệp vụ sư phạm, ngoại ngữ, bồi dưỡng để đạt trình

độ sư phạm theo tiêu chuẩn, bồi dưỡng sau đại học và trên đại học ) bao gồm các hình thức:

2.1 Tham dự các lớp bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng tại chức trong hè và trong năm học, theo chương trình và kế hoạch thống nhất của Bộ giáo dục

2.2 Cá nhân có kế hoạch tự học tập và bồi dưỡng

3 Công tác tập luyện quân sự: cho những người trong độ tuổi quy định của Nhà nước

4 Tham gia các công tác xã hội khác:

4.1 Công tác xã hội, công tác đoàn thể ở trong và ngoài nhà trường

4.2 Tham gia các hoạt động của địa phương theo đúng chức năng của nhà trường

4.3 Tham gia công tác bổ túc văn hoá

4.4 Tham gia xây dựng đời sống tập thể của cán bộ, giáo viên trong nhà trường

III THỜI GIAN LAO ĐỘNG TRONG 1 NĂM CỦA GIÁO VIÊN:

Trang 26

1 Một năm công tác có 52 tuần lễ, trừ 4 tuần cho giáo viên nghỉ hè (giáo viên miền xuôi lên công tác ở vùng cao nghỉ 6 tuần), 2 tuần nghỉ các ngày lễ lớn, nghỉ tết âm lịch và tiến hành các đại hội đoàn thể của giáo viên và học sinh trong năm, còn lại 4 tuần lễ, phân phối cho các nhiệm vụ công tác:

- Công tác giáo dục và giảng dạy: 35 tuần

- Công tác học tập và bồi dưỡng: 9 tuần lễ, để tiến hành bồi dưỡng tập trung trong hè, việc cá nhân tự học tập và bồi dưỡng cho giáo viên thu xếp vào thời gian thích hợp

- Công tác luyện tập quân sự: 2 tuần lễ lấy trong giờ chính quyền và thêm một số thời gian ngoài giờ chính quyền, theo quy định chung của Nhà nước

2 Một năm học được tiến hành từ 5/9 năm này đến 31/5 năm sau, gồm có 39 tuần lễ (trong đó

có 35 tuần làm công tác giáo dục và giảng dạy, 2 tuần nghỉ các ngày lễ lớn, nghỉ tết âm lịch, tiến hành các đại hội đoàn thể trong năm, 2 tuần luyện tập quân sự)

Thời gian còn lại từ 1/6 đến cuối tháng 8, giáo viên nghỉ hè, tham gia học tập, bồi dưỡng tập trung và chuẩn bị cho năm học mới

IV NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHẾ ĐỘ CÔNG TÁC CỦA GIÁO VIÊN

1 Định mức lao động trong 1 tuần lễ của giáo viên trường phổ thông không có học sinh nội trú

1.1 Giáo viên cấp 1 của trường phổ thông cơ sở, dạy đủ số tiết quy định của kế hoạch đào tạo (trừ số tiết của bộ môn Họa, Nhạc) của 1 lớp và làm chủ nhiệm lớp đó

1.2 Giáo viên Họa, Nhạc của trường phổ thông cơ sở dạy trên lớp 20 tiết/tuần (*)

1.3 Giáo viên cấp 2 của trường phổ thông cơ sở dạy trên lớp 20 tiết/ tuần - cho tất cả các loại giáo viên

1.4 Giáo viên trường phổ thông trung học dạy trên lớp 18 tiết / tuần - cho tất cả các loại giáo viên

2 Định mức lao động trong 1 tuần lễ của giáo viên trường phổ thông trung học vừa học, vừa làm, trường Bổ túc văn hoá tập trung và các trường phổ thông nội trú khác

2.1 Giáo viên cấp 1 trường bổ túc văn hoá tập trung, dạy trên lớp 20 tiết/ tuần

Giáo viên câp 1 trường phổ thông cơ sở, dạy đủ số tiết quy định của 1 lớp (trừ bộ môn Hoạ, Nhạc) và làm chủ nhiệm lớp đó

Giáo viên Hoạ, Nhạc của trường phổ thông cơ sở, dạy trên lớp 18 tiết/ tuần

2.2 Giáo viên cấp 2 dạy trên lớp 18 tiết/ tuần - cho tất cả các loại giáo viên

2.3 Giáo viên trường trung học dạy trên lớp 16 tiết/ tuần cho tất cả các loại giáo viên

Trang 27

3 Chế độ huy động giáo viên dạy thêm giờ ngoài tiêu chuẩn quy định

3.1 Nhiệm vụ của mỗi giáo viên là phải dạy đủ số tiết tiêu chuẩn quy định cho một tuần lễ và cho cả năm học

Trường hợp vì thiếu giáo viên, cơ quan quản lý giáo dục (Ban giáo dục, Sở, Ty giáo dục, Hiệu trưởng) được quyền huy động giáo viên dạy thêm từ 1/ 4 -1/ 2 số giờ tiêu chuẩn (đối với cấp 2, 3) và không quá 1 lớp (đối với cấp 1)

3.2 Việc huy động này được thực hiện đối với mọi cô giáo, thầy giáo

- Trong số giờ dạy thêm có từ 2 - 4 tiết/tuần, cho công tác giảng dạy ở các lớp bổ túc văn hoá

- Số còn lại sử dụng cho việc dạy ở các trường phổ thông các lớp bồi dưỡng giáo viên để đạt trình độ theo tiêu chuẩn

- Số giờ huy động dạy thêm này được trả thù lao theo chế độ dạy thêm giờ

4 Một số quy định về quy đổi các loại giờ lao động khác ra giờ tiêu chuẩn

4.1 Mỗi giáo viên có nghĩa vụ trực tiếp hướng dẫn học sinh lao động và cùng tham gia lao động sản xuất với học sinh (hoặc chỉ đạo học sinh tham gia hoạt động xã hội), mỗi tuần 1 buổi được tính là 2 tiết tiêu chuẩn

- Nếu trong buổi lao động đó, giáo viên phải soạn giáo án để hướng dẫn học sinh về lý thuyết lao động thì thời gian hướng dẫn lý thuyết này và thời gian cùng học sinh tham gia lao động, đựơc tính là 3 tiết tiêu chuẩn

- Nếu được huy động thêm các buổi khác, thì cứ 1 buổi trực tiếp hướng dẫn tính là 2 tiết tiêu chuẩn (cho cấp 2, 3) và 1 buổi tiêu chuẩn (cho cấp 1)

- Giáo viên không tham gia hướng dẫn học sinh lao động sản xuất thì phải dạy trên lớp đủ số tiết tiêu chuẩn quy định trong tuần

Thí dụ: Giáo viên A có giờ dạy tiêu chuẩn là 18 tiết/tuần Trong tuần, đồng chí hướng dẫn và cùng học sinh lao động một buổi thì được tính 2 tiết tiêu chuẩn

Như vậy, tuần lễ đó đồng chí còn phải dạy trên lớp 16 tiết văn hoá nữa Ngược lại, nếu đồng chí không hướng dẫn và cùng học sinh lao động thì phải dạy trên lớp đủ 18 tiết tiêu chuẩn

Nếu giáo viên được phân công soạn giáo án để hướng dẫn học sinh về lý thuyết lao động (chẳng hạn lý thuyết về mộc) trong một tiết, sau đó hướng dẫn học sinh thực hành cho hết buổi thì trong buổi đó đồng chí được tính 3 tiết tiêu chuẩn

4.2 Mỗi tháng, giáo viên ngữ văn trường phổ thông trung học phải chấm số bài kiểm tra loại

15 phút và loại từ 1 tiết trở lên, không quá 90 bài cho mỗi loại

Nếu chấm số bài quá số quy định trên thì cứ 45 bài loại 15 phút, tính là 3 tiết tiêu chuẩn, 45 bài loại từ 1 tiết trở lên, tính 7 tiết tiêu chuẩn

Trang 28

Giáo viên dạy các bộ môn còn lại thuộc các cấp học, mỗi tháng phải chấm số bài kiểm tra không quá 135 bài, cho mỗi loại Nếu quá số quy định đó, cứ 45 bài loại 15 phút, tính 2 tiết tiêu chuẩn, 45 bài loại từ 1 tiết trở lên, tính 4 tiết tiêu chuẩn.

Việc thực hiện việc kiểm tra học sinh nói trên phải được thực hiện theo kế hoạch của nhà trường

Thí dụ 2 : Đồng chí B là giáo viên Văn cấp 3, được phân công dạy 3 lớp Văn, với số tiết là 13 tiết/ tuần (chưa kể công tác kiêm nhiệm) Số bài kiểm tra cho mỗi loại trong tháng là 145 bài,

dư 55 bài so với quy định và được tính ra tiết tiêu chuẩn

Trang 29

4.3 Hướng dẫn học sinh thực hành các bộ môn có thực nghiệm đã được quy định trong

chương trình của Bộ giáo dục, thì cứ 2 tiết hướng dẫn thực hành, tính 1 tiết tiêu chuẩn, báo cáo ngoại khoá cho học sinh (do nhà trường tổ chức) thì số tiết báo cáo thực tế được tính là số tiết tiêu chuẩn tương đương

4.4 Giáo viên đang ở thời gian tập sự, nữ giáo viên có con nhỏ từ 12 tháng trở xuống, nữ giáo viên dạy môn thể dục có thai từ tháng thứ 6 trở lên, mỗi tuần lễ được giảm 2 tiết (cho cấp 2, 3)

và 1 buổi (cho cấp 1), trừ trường hợp y, bác sĩ cho nghỉ sớm hơn

Ở cấp 1 có thể bố trí giáo viên khác dạy thay hoặc nếu thiếu giáo viên thì giáo viên này giảng dạy bình thường, buổi được giảm trả thù lao dạy thêm giờ hoặc không huy động giáo viên tham gia các buổi lao động sản xuất với học sinh trong tuần

4.5 Giáo viên được huy động tham gia công tác thanh tra chuyên môn giáo dục, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ bộ môn (do Ban giáo dục triệu tập, sau khi được Sở, Ty giáo dục đồng ý, nếu

là giáo viên cấp 1, 2 hoặc Sở, Ty triệu tập, nếu là giáo viên cấp 3 ) thì thời gian thoát ly nhà trường để thực hiện nhiệm vụ được tính tiết tiêu chuẩn như khi giảng dạy ở trường, nghĩa là cộng số tiết tiêu chuẩn bình quân trong thời gian được huy động với số tiết thực dạy ở trường

Thí dụ 4 : Trong tháng 10, giáo viên D được Ty giáo dục triệu tập đi thanh tra chuyên môn đầu năm ở các trường cấp 3 trong 10 ngày (không kể chủ nhật) và đã giảng dạy ở trường được 45 tiết, như vậy trong tháng 10, giáo viên này đã thực hiện:

18 tiết/ tuần

(10 ngày x ) + 45 tiết ằ 75 tiết

6 ngày/ tuần

Thí dụ 5 : Sau khi Ty giáo dục đồng ý, Ban giáo dục triệu tập giáo viên K đi hướng dẫn nghiệp

vụ bộ môn cho giáo viên trong cụm một thời gian là 12 ngày (không kể chủ nhật) và sau đó đồng chí về trường tiếp tục giảng dạy được 60 tiết nữa Như vậy trong tháng đồng chí đã thực hiện:

Trang 30

Để tăng cường công tác quản lý chuyên môn trong nhà trường, ngoài phần việc được phân công về công tác quản lý, tất cả các Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng đều phải trực tiếp tham gia giảng dạy trên lớp theo quy định dưới đây:

- Hiệu trưởng dạy 2 tiết/tuần

- Phó hiệu trưởng dạy 4 tiết/tuần hoặc 2 buổi/tuần

Đối với trường phổ thông trung học trực tiếp tham gia đào tạo giáo viên cấp 3 theo phương thức vừa học, vừa làm, thì đồng chí Phó hiệu trưởng phụ trách công tác này có số tiết dạy trên lớp như hiệu trưởng

Việc phân công giảng dạy cho Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng nên thực hiện theo hướng:

a) Dạy thay cho giáo viên ốm đau, sinh đẻ

b) Hoặc có thể dạy đủ số tiết quy định cho một lớp (hoặc một số lớp) thuộc bộ môn của mình Nếu do sự phân công này mà phải dạy quá số tiết tiêu chuẩn quy định nói trên thì trả thù lao cho số tiết vượt quá đó

Thí dụ 6 : Hiệu trưởng X là giáo viên Toán cấp 3, thì có thể sử dụng 2 tiết của mình để dạy thay cho giáo viên đau ốm, sinh đẻ, hoặc dạy môn Lượng giác của 1 lớp hoặc dạy trọn 5 tiết Toán của 1 lớp và trả thù lao cho 3 tiết vượt quá đó

Hiệu phó Y là giáo viên cấp 1 thì chủ yếu thực hiện bằng cách dạy thay cho giáo viên khác

VI CHẾ ĐỘ CÔNG TÁC CỦA BÍ THƯ ĐOÀN

VÀ TỔNG PHỤ TRÁCH ĐỘI

Mỗi trường phổ thông bố trí 1 giáo viên có năng lực về công tác Đoàn, công tác Đội để phụ trách Bí thư Đoàn (đối với trường phổ thông trung học) hoặc tổng phụ trách Đội (đối với trường phổ thông cơ sở) Các giáo viên này có chế độ giảng dạy:

- Trường dưới 18 lớp, dạy 1/2 số tiết tiêu chuẩn, mỗi tuần

- Trường dưới 28 lớp, dạy 1/3 số tiết tiêu chuẩn, mỗi tuần

- Trường từ 28 lớp trở lên, dạy 2 tiết/ tuần

Việc thực hiện chế độ giảng dạy của Bí thư Đoàn và Tổng phụ trách Đội theo như hướng dẫn tại mục V trên đây

VII CHẾ ĐỘ CÔNG TÁC ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN KIÊM NHIỆM CÔNG TÁC ĐOÀN

THỂ, CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN TRONG NHÀ TRƯỜNG

1 Trong trường phổ thông, các công tác sau đây (gọi tắt là công tác kiêm nhiệm) sẽ do giáo viên đảm nhiệm Thời gian để thực hiện các công tác đó, nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào khối lượng của từng công việc trong từng trường và được quy ra số tiết tiêu chuẩn tương ứng

Ngày đăng: 07/08/2013, 01:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w