Trong trường hợp này,nếu có phần tài sản nào đó không được định đoạt trong di chúc, được chia theopháp luật thì họ vẫn sẽ được hưởng, vì họ là người thừa kế theo pháp luật củangười để
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
MÔN: Pháp luật đại cương
LỚP HP: 1614 TLAW 0111
GIẢNG VIÊN: Nguyễn Vinh Hương
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN: Làm bài tập
Nhóm 5
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Chúng em xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường đại học Thương Mại, Khoa Thương mại quốc tế Cô giáo Nguyễn Vinh Hương đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và tin tưởng tạo điều kiện cho chúng em được tham gia làm bài tiểu luận
Trang 3A.LỜI MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ chế độ nào, vấn đề thừ kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế địnhpháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền công dân Chính vìvậy thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được đối với đời sống củamỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng xã hội Mỗi nhà nước dù có xu thế chính trịkhác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và ghi nhậntrong hiến pháp Ở Việt Nam, sớm nhận thức được vai trò đặc biêt quan trọng củathừa kế, ngay từ ngày đầu dựng nước, các triều đại Lý Trần Lê cũng đã quan tâmđến việc ban hành pháp luật thừa kế Pháp luật thành văn về thừa kế của nước talần đầu tiên được quy định trong chương “ điều sản” của bộ luật Hồng Đức dướitriều vua Lê Thái Tổ Trải qua quá trình đấu tranh cách mạng, xây dựng XHCN ởnước ta, các quy định này đã được ghi nhận, mở rộng, phát triển và được thực hiệntrong thực tế
Trang 4B.NỘI DUNG
PHẦN 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT
I Khái niệm thừa kế và di sản thừa kế
1 Khái niệm về thừa kế
Thừa kế là sự chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của người chết đối với người còn sống
- Thừa kế nó xuất hiện cùng với sở hữu, nó xuất hiện ngay trong thời kì sơ khai của xã hội loài người Ở thời kì này, việc thừa kế nhằm di chuyển tài sản của ngườichết cho những người còn sống được tiến hành dựa trên quan hệ huyết thống và do những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc, thị tộc quyết định
-Tài sản riêng của người chết là tài sản do người đó tạo ra bằng thu nhập hợp pháp
như: tiền lương, tiền công lao động, tiền thưởng …và tài sản hoặc tiền được tặng, cho được thừa kế Nhà ở, vàng, bạc, đá quý được dùng đồ trang sức, được dùng của cải để dành và các tài sản hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
- Phần tài sản của người chết trong khối tài sản chung với người khác bao gồm +Tài sản của người chết mà khi người đó còn sống góp vốn cùng sản xuất kinh doanh cùng đồng sở hữu khối tài sản, nếu người cùng đồng sở hữu khối tài sản chết thì di sản của người chết là phần tài sản thuộc sở hữu của người đó trong khối tài sản chung
+Tài sản chung của vợ và chồng: điều 219 BLDS, sở hữu chung của vợ chồng là
sở hữu chung hợp nhất Vợ, chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người, có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng
và định đoạt tài sản chung Vì vậy khi một người chết trước thì một nửa khối tài sản chung đó là tài sản của người chết và được chuyển cho người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật về thừa kế
II Những vấn đề chung
Trang 5 Quyền của người để lại tài sản – một số vấn đề vướng mắc
Đối với cá nhân người để lại tài sản, với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp đối vớinhững tài sản của mình, cá nhân có quyền lập di chúc để thực hiện quyền định đoạttài sản của bản thân Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân trong việc định đoạttài sản thuộc quyền sở hữu của họ trước khi chết
Theo quy định tại Điều 648 Bộ luật dân sự thì người lập di chúc có các quyền sauđây:
1 Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
2 Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
3 Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
4 Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
5 Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản
Ngoài ra, tại Điều 662 BLDS còn quy định, người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổsung, thay thế, hủy bỏ di chúc
1 Chỉ định người thừa kế
Người lập di chúc có quyền để lại di sản cho bất cứ cá nhân hoặc tổ chức nào Họ
có thể là con, cha, mẹ, vợ, chồng… của người thuộc diện thừa kế theo luật dựa trêncác quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng hoặc quan hệ huyết thống và cũng cóthể là những người khác như Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội …
2 Truất quyền hưởng di sản
Quyền định đoạt của người lập di chúc còn được thể hiện thông qua việc họ có thểtruất quyền hưởng di sản của người thừa kế theo pháp luật, mà không nhất thiếtphải nêu lý do Người lập di chúc có thể chỉ định một hay nhiều người thừa kế theoluật không được hưởng di sản thừa kế của mình
Tuy nhiên, do pháp luật không quy định cụ thể như thế nào là “truất” nên hiện nay
còn có nhiều cách hiểu khác nhau Có quan điểm cho rằng, người bị truất quyền
hưởng di sản là trường hợp người lập di chúc thể hiện rõ ràng trong di chúc rằngmột hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật không có quyền hưởng di sản Trongtrường hợp này, nếu di chúc bị vô hiệu toàn bộ, thì tư cách người thừa kế theo luậtcủa những người nói trên không ảnh hưởng Tuy nhiên, trong trường hợp di chúc
có hiệu lực toàn bộ hoặc có một phần vô hiệu nhưng không ảnh hưởng đến hiệulực của việc truất quyền hưởng di sản thì tư cách người thừa kế theo luật của họđương nhiên bị mất Do vậy, nếu có phần di sản liên quan đến phần di chúc không
có hiệu lực, được chia theo pháp luật thì người đó vẫn không được hưởng Quan
điểm khác cho rằng, người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc nhưng
Trang 6không được người lập di chúc chỉ định hưởng tài sản Khi đó người thừa kế khôngđược chỉ định trở thành người bị truất quyền hưởng di sản Trong trường hợp này,nếu có phần tài sản nào đó không được định đoạt trong di chúc, được chia theopháp luật thì họ vẫn sẽ được hưởng, vì họ là người thừa kế theo pháp luật củangười để lại di sản, quyền thừa kế của họ có được là do luật định.
3 Quyền phân định di sản cho từng người thừa kế
Người lập di chúc có quyền phân chia một cách cụ thể di sản của mình cho ngườithừa kế Người lập di chúc có quyền phân chia di sản cho mỗi người không nhấtthiết phải ngang nhau mà không cần phải nêu lý do Người lập di chúc cũng có thểchỉ định nhiều người thừa kế và di sản được chia đều cho những người có tên trong
di chúc Nếu những người này có sự thỏa thuận về việc hưởng di sản thì việc phânchia di sản sẽ tuân theo sự thỏa thuận đó Người lập di chúc cũng có thể phân định
di sản theo tỷ lệ mà không xác định rõ phần di sản mà từng người thừa kế đượchưởng và mỗi người thừa kế được hưởng phần di sản theo tỷ lệ đã được xác địnhtrên tổng giá trị khối tài sản đang còn vào thời điểm phân chia Hoặc người lập dichúc có thể phân định rõ trong di chúc người thừa kế nào được hưởng di sản làhiện vật gì; khi di sản được phân chia, các thừa kế được nhận hiện vật theo sự xácđịnh trong di chúc
4 Quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế
Theo sự chỉ định trong di chúc, người thừa kế phải thực hiện một công việc vì lợiích vật chất của người khác mà đáng lẽ khi còn sống, người để lại di sản phải thựchiện như trả nợ, bồi thường thiệt hại… Tuy nhiên, người thừa kế không phải thựchiện nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân của người để lại di sản Trongtrường hợp người để lại di sản có để lại một nghĩa vụ về tài sản nhưng trong dichúc không nói rõ người thừa kế nào phải thực hiện nghĩa vụ đó thì theo quy địnhcủa pháp luật, ai hưởng thừa kế thì người đó phải thực hiện Tuy nhiên, người thừakế chỉ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sảnthừa kế Nếu người để lại thừa kế đã xác định rõ tỷ lệ nghĩa vụ mà từng người thừakế phải thực hiện thì mỗi người phải thực hiện phần nghĩa vụ đó trong phạm vi disản mà mình được hưởng Phần nghĩa vụ vượt quá di sản người này được hưởng sẽchia đều cho những người thừa kế khác thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ
Trang 7và người được di tặng phải còn sống vào thời điểm đó Người nhận tài sản di tặngkhông phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại Tuy nhiên, để bảo vệquyền lợi chính đáng cho các chủ nợ của người chết, pháp luật cũng quy định:
“Trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập
di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của
người này” (khoản 2 Điều 671 BLDS) và “Trong trường hợp toàn bộ di sản của
người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được
dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng” (khoản 2 Điều 670 BLDS).
Pháp luật quy định người để lại di sản thừa kế có quyền dành một phần di sản củamình để di tặng là hoàn toàn hợp lý Theo quy định về di tặng thì người được ditặng có nhiều ưu tiên hơn người được thừa kế thông thường vì khi thực hiện nghĩa
vụ về tài sản, thì người được di tặng chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi toàn bộ di sảncủa người lập di chúc không đủ để thanh toán các khoản nợ của họ Tuy vậy, khigiải quyết các tranh chấp liên quan đến vấn đề này, còn tồn tại nhiều vướng mắc,
cụ thể: Xét về bản chất, người được di tặng là người được hưởng một phần di sản
theo di chúc Như vậy, có áp dụng Điều 643 BLDS quy định về “người không
được quyền hưởng di sản” đối với người nhận di tặng hay không? Trường hợp
người lập di chúc có cha mẹ già, con chưa thành niên hoặc con đã thành niênnhưng không có khả năng lao động, nhưng lại lập di chúc để lại toàn bộ tài sản củamình để di tặng cho một người khác thì Tòa án có tuyên bố di chúc đó vô hiệuđược hay không?
Vấn đề để lại di sản dùng vào việc thờ cúng cũng gặp vướng mắc tương tự Di sảnnày cũng được hưởng ưu tiên khi thực hiện nghĩa vụ và không bị đem ra chia thừakế Tuy nhiên, pháp luật không quy định rõ phần di sản dùng vào việc thờ cúng củangười để lại di sản tối đa là bao nhiêu Do vậy, trường hợp người lập di chúc địnhđoạt tài sản dùng việc thờ cúng quá lớn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của nhữngngười thừa kế Trong thời gian tới, pháp luật dân sự cần quy định cụ thể về phần disản được dùng vào việc thờ cúng và di tặng để tránh những vướng mắc nêu trên
6 Quyền sửa đổi, bổ sung thay thế, hủy bỏ di chúc
Sửa đổi di chúc: là việc người lập di chúc bằng ý chí tự nguyện của mình làm thay
đổi một phần di chúc đã lập Những phần di chúc không bị sửa đổi vẫn có hiệu lực;phần di chúc đã bị sửa đổi sẽ không còn hiệu lực mà thay vào đó, pháp luật sẽ căn
cứ vào ý chí thể hiện trong sự sửa đổi sau cùng
Bổ sung di chúc: là việc người lập di chúc bổ sung thêm một số vấn đề mà trong di
chúc đã lập chưa nói đến nhằm làm cho di chúc cụ thể, chi tiết hơn, rõ hơn Khingười lập di chúc bổ sung di chúc thì cả di chúc đã lập và cả phần bổ sung đều cóhiệu lực như nhau Trường hợp di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thìchỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật BLDS không quy định điều kiện về hình
Trang 8thức của việc sửa đổi, bổ sung di chúc Tuy nhiên, để tránh việc tẩy xóa, thêm bớtvào di chúc làm giảm tính chính xác và xác thực của di chúc pháp luật cần quyđịnh việc sửa đổi bổ sung di chúc phải được thể hiện bằng văn bản riêng biệt kèmtheo di chúc đã lập.
Thay thế di chúc: Thay thế di chúc là việc một người tuy đã lập di chúc định đoạt
tài sản của mình cho người khác nhưng sau đó nếu họ thấy việc định đoạt của mìnhchưa phù hợp (hoặc không còn phù hợp) thì có quyền lập một di chúc khác để thay
di chúc đã lập trước Khoản 3 Điều 662 BLDS quy định: “Trong trường hợp người
lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ”.
Hủy bỏ di chúc: là người đã lập di chúc lại bằng ý chí tự nguyện của mình truất bãi
di chúc đã lập Khoản 3 Điểu 662 BLDS 2005 xác định một trường hợp được coi làhủy bỏ di chúc: khi người lập di chúc thay thế di chúc đã lập Tuy nhiên, thực tếviệc hủy bỏ di chúc còn có thể được người lập di chúc thực hiện bằng nhiều cáchkhác nhau, ví dụ: hủy bỏ di chúc trong trường hợp thực hiện hành vi xé, đốt, tiêuhủy di chúc mà người đó đã lập ra; hoặc khi người lập di chúc tuyên bố trước mọingười về việc phế truất di chúc đã lập hay viết vào bản di chúc là không thừa nhận
di chúc đó nữa BLDS không quy định về hình thức hủy bỏ di chúc, tuy nhiên, theonhiều ý kiến, dù thực hiện bằng cách nào chăng nữa, nhưng nếu đó là ý chí tựnguyện của người lập di chúc thì đều được coi là hủy bỏ di chúc
7 Quyền chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản
Để tránh việc thất lạc, hư hỏng di chúc, cũng như để đảm bảo ý nguyện của mìnhkhông bị người khác xâm phạm, người lập di chúc có thể gửi di chúc ở cơ quancông chứng nhà nước hoặc bất kỳ người nào mà mình tin tưởng giữ bản di chúc.Đồng thời, để di sản của người lập di chúc để lại không bị mất mát, hư hỏng cần cóngười quản lý di sản Tôn trọng ý chí của người lập di chúc nên trước hết ngườiquản lý di sản phải là người được chỉ định trong di chúc, khi nào trong di chúckhông xác định người quản lý di sản thì sẽ xác định người quản lý di sản theo mộttrong các trường hợp sau:
- Là người được những người thừa kế cùng thỏa thuận cử ra để quản lý di sản trongthời gian di sản chưa được chia
- Người đang chiếm giữ, quản lý di sản là người quản lý di sản trong thời giannhững người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản mới
- Người đang chiếm giữ, sử dụng di sản thừa kế theo hợp đồng mà họ đã ký kết vớingười để lại di sản là người quản lý di sản cho đến khi hết hạn hợp đồng
- Di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý khi chưa xác định được ngườithừa kế và di sản chưa có người quản lý
Trang 9Người được chỉ định quản lý di sản trong di chúc có thể là một trong những ngườithừa kế theo luật của người đó nhưng cũng có thể là một người bất kỳ hoặc một cơquan hay tổ chức nào đó Ý chí này của người lập di chúc luôn luôn được pháp luậtthừa nhận và bảo đảm thực hiện, nếu đúng là ý chí tự nguyện và không trái vớipháp luật.
Người lập di chúc cũng có quyền chỉ định người phân chia di sản, việc phân chia disản phải tuân theo di chúc Trường hợp di chúc không xác định cách phân chia disản thì phải chia theo sự thỏa thuận của những người thừa kế Người phân chia disản chỉ được hưởng thù lao đối với công việc chia di sản và theo mức mà người đểlại di sản đã xác định, nếu trong di chúc có cho phép hưởng thù lao Trường hợp dichúc không xác định điều này, nhưng nếu có sự thỏa thuận của những người thừakế thì người phân chia di sản vẫn được hưởng thù lao theo sự thỏa thuận đó Đồngthời, người được xác định phân chia tài sản có thể từ chối công việc đó nếu muốn
và trong những trường hợp này những người thừa kế tự thỏa thuận để cử ra ngườiphân chia di sản
Trong một số trường hợp, pháp luật quy định quyền của những người thừa kếkhông phụ thuộc vào nội dung của di chúc, các đối tượng được thừa kế tài sản
không phụ thuộc vào nội dung di chúc Cụ thể, Điều 669 BLDS quy định:
“Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của mộtngười thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trườnghợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần
di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sảntheo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sảntheo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:
1 Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
2 Con đã thành niên mà không có khả năng lao động”
Tóm lại, quyền định đoạt của người lập di chúc được pháp luật bảo vệ và tôn trọngnhưng chỉ có hiện lực khi việc định đoạt bằng di chúc thỏa mãn các điều kiện về dichúc hợp pháp được quy định tại Điều 652 BLDS Nếu người lập di chúc khôngtuân theo những điều kiện của di chúc hợp pháp thì di chúc đó bị xác định là khônghợp pháp và mặc dù ý chí của người có tài sản được pháp luật bảo hộ và tôn trọngnhưng quyền định đoạt của người có di sản không phải là tuyệt đối Quyền địnhđoạt tài sản của người lập di chúc không vượt ra ngoài khuôn khổ của pháp luậtthừa kế Quyền tự do ý chí ấy được thể hiện không những trong việc lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản mà còn thể hiện ngay cả trong việc không lập di chúc để định đoạttài sản để lại sau khi chết Đây là cách thể hiện ý chí của cá nhân bằng việc khônglập di chúc để định đoạt tài sản của họ mà ý chí đó thể hiện ở việc chỉ để di sản chonhững người có quyền thừa kế theo pháp luật
Trang 10 Quyền của người nhận di sản – một số vấn đề vướng mắc
Điều 642 BLDS quy định về việc từ chối nhận di sản như sau:
“1 Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằmtrốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác
2 Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản; người từ chối phải báocho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơquan công chứng hoặc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mởthừa kế về việc từ chối nhận di sản
3 Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng
kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ýnhận thừa kế.”
Pháp luật thừa kế của nước ta quy định người thừa kế có quyền nhận di sản hoặc từchối nhận di sản nếu sự từ chối quyền hưởng di sản của người thừa kế phù hợp vớinhững điều kiện mà pháp luật đã quy định Sự từ chối quyền hưởng di sản củangười thừa kế được quy định trong điều luật nêu trên quy định thời hạn có hiệu lựccủa sự khước từ, hình thức và thủ tục khước từ quyền hưởng di sản và trường hợpkhông có quyền từ chối quyền hưởng di sản Quyền từ chối nhận di sản thừa kếđược pháp luật cho phép nếu phù hợp với điều kiện, nguyên tắc, thời hạn theo quyđịnh tại Điều 642 BLDS
Từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc cũng là sự thể hiện ý chí của ngườiđược chỉ định thừa kế theo di chúc đã không nhận thừa kế theo sự định đoạt củangười để lại di sản Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc đồng thời làngười thuộc hàng thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản thì việc thể hiện ý chícủa người đó có thể xảy ra các trường hợp sau:
- Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo di chúc mà không từ chối quyền hưởngthừa kế theo pháp luật
- Chỉ từ chối quyền hưởng thừa kế theo pháp luật mà không từ chối quyền hưởngthừa kế theo di chúc
- Từ chối cả quyền hưởng thừa kế theo di chúc và quyền hưởng thừa kế theo phápluật
Theo tinh thần của điều luật này thì việc từ chối nhận di sản được coi là một quyềnnăng của người được hưởng thừa kế Tuy nhiên việc thực hiện quyền năng này chỉđược pháp luật chấp nhận trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày mở thừa kế; nếu quáthời hạn kể trên, người được hưởng di sản mới bày tỏ ý kiến về việc từ chối nhận
di sản thì việc từ chối đó không được pháp luật chấp nhận và người đó buộc phảichấp nhận việc hưởng quyền năng của mình đó là “quyền hưởng thừa kế di sản”
Trang 11Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế, rất ít trường hợp người nhận di sản thựchiện việc từ chối nhận di sản trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày mở thừa kế (tức làngày mà người để lại di sản chết) Trong không ít trường hợp, sau khi người để lại
di sản chết hàng vài năm, việc phân chia di sản mới được đặt ra (điều này là hoàntoàn phù hợp với cách xử sự truyền thống của người Việt Nam) Khi đó, tranh chấp
về thừa kế mới nảy sinh, các bên đương sự đưa nhau ra tòa, yêu cầu Tòa án giảiquyết Nhiều người trong số các đương sự này vì không muốn tham gia vào vụtranh chấp hoặc vì các lý do khác đã không muốn nhận di sản thừa kế và lúc này
họ mới có ý định từ chối nhận di sản Những người này làm đơn xin Tòa án chophép họ từ chối nhận di sản (tức là họ từ bỏ một quyền năng của mình) Nếu Tòa
án chấp nhận thì sẽ vi phạm quy định về thời hạn từ chối di sản theo Điều 642 Bộluật dân sự Nếu Tòa án không cho họ thực hiện quyền năng này, rõ ràng ý chí địnhđoạt quyền năng của họ đã không được đảm bảo
Phải khẳng định rằng, quyền thừa kế đối với một khối di sản nhất định về bản chấtcũng là một quyền tài sản Người có quyền năng này cũng chính là chủ sở hữu củakhối tài sản đó Theo Điều 195 Bộ luật dân sự thì chủ sở hữu có toàn quyền địnhđoạt số phận pháp lý của tài sản thuộc sở hữu của mình, tức là có quyền chuyểnnhượng, tặng cho hoặc thậm chí từ bỏ quyền sở hữu của mình Như vậy, việc chophép người được hưởng di sản thừa kế có quyền từ chối nhận di sản thừa kế làhoàn toàn hợp lý Việc thực hiện quyền năng này ngoài thời hạn 06 tháng (nếu
không phải để trốn tránh một nghĩa vụ tài sản) thì hoàn toàn không “gây thiệt hại
hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác” như nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu quy định tại Điều
165 Bộ luật dân sự
Rõ ràng, chưa có sự thống nhất trong quy định của các Điều 642, Điều 195 và Điều
165 Bộ luật dân sự Việc áp dụng một cách máy móc Điều 642 chỉ là sự làm phứctạp hóa quan hệ dân sự, gây phiền phức cho người dân, chứ chưa thực nhằm mụcđích làm ổn định quan hệ xã hội Vì vậy, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích củanhững người thừa kế, cũng như tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết nhánh chóng,kịp thời các tranh chấp về thừa kế, nên sửa đổi quy định tương ứng của BLDS theohướng, không quy định hạn chế thời hạn từ chối nhận di sản thừa kế Đồng thời,pháp luật cũng không nên hạn chế phương thức thể hiện việc từ chối mà người từchối có thể báo với các cơ quan Nhà nước hoặc Tòa án và những người thừa kếkhác tại bất kỳ thời điểm nào trước khi di sản thừa kế được chia
III Hình thức thừa kế
a)Thừa kế theo di chúc
-Khái niệm:
Trang 12Di chúc là sự thể hiện ý chí của các nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho
người khác sau khi chết (Điều 646 BLDS, 2005).
Thừa kế theo di chúc là việc một người nào đó được nhận di sản của người chết
để lại căn cứ vào di chúc của người đó khi còn sống Di chúc là hành vi pháp lýđơn phương (chỉ thể hiển ý chí) của người lập di chúc Tuy nhiên một người muốnđịnh đoạt tài sản của mình bằng di chúc phải tuân thủ các quy định của pháp luật
về thừa kế theo di chúc
-Người lập di chúc theo quy định của BLDS, gồm:
+Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâmthần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi củamình
+Người từ đủ 15 đến 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha mẹ hoặc ngườigiám hộ đồng ý Di chúc phải lập bằng văn bản (điều 652 BLDS)
-Quyền của người lập di chúc:
Người lập di chúc có các quyền được quy định tại Điều 648 BLDS năm 2005, cụthể:
+ Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế
Người có di sản có quyền định đoạt tài sản của mình để lại cho bất kỳ ai (cánhân hay tổ chức) Đồng thời có quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kếtheo pháp luật như: Cha, mẹ, con, vợ, chồng…mà không buộc phải nêu lý do
+Phân định phần di sản cho từng người thừa kế
Người lập di chúc có quyền phân chia cho mỗi người được hưởng bao nhiêuphần di sản.Nếu không phân chia thì di sản được chia đều cho những người đượcchỉ định trong di chúc
-Dành một phần tài sản trong khối tài sản thừa kế để di tặng, thờ cúng
*Di sản dùng vào việc thờ cúng
Di sản dùng vào việc thờ cúng được quy định tại Điều 670 BLDS năm 2005:
“1 Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng, thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người
đã được chỉ định trong di chúc quản lí để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những
Trang 13người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lí để thờ cúng.
Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lí di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lí di sản thờ cúng
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đã chết thì phần di sản dùng vào việc thờ cúng thuộc về người đang quản lí hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật
2 Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa
vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”
* Di tặng
Điều 671 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 quy định về di tặng:
“1 Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác.Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc
2 Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này”
Di tặng là một phần tài sản của người lập di chúc tặng cho người khác, người được hưởng di sản di tặng có quyền sở hữu với phần tài sản đó mà không phải gánh chịunghĩa vụ của người chết để lại
+ Chỉ định người giữ di chúc, người công bố di chúc
Người lập di chúc có quyền yêu cầu cơ quan công chứng hoặc người khác lưugiữ và công bố bản di chúc
Việc lưu giữ và công bố bản di chúc được thực hiện theo quy định tại Điều 665
và Điều 672 BLDS:
Điều 665 Gửi giữ di chúc
1 Người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữ hoặc gửi ngườikhác giữ bản di chúc
2 Trong trường hợp cơ quan công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản,giữ gìn theo quy định của pháp luật về công chứng
3 Cá nhân giữ bản di chúc có các nghĩa vụ sau đây:
a) Giữ bí mật nội dung di chúc;
Trang 14b) Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báongay cho người lập di chúc;
c) Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố dichúc, khi người lập di chúc chết Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành vănbản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của hai người làmchứng
3 Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cảnhững người có liên quan đến nội dung di chúc
4 Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của dichúc
5 Trong trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đóphải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng
-Các điều kiện có hiệu lực của di chúc
+ Người lập di chúc phải minh mẫn, sang suốt trong khi lập di chúc, không bị lừadối, đe dọa hoặc cưỡng ép
Người lập di chúc phải là người đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ,hoàn toàn tự nguyện khi lập di chúc, không có sự áp đặt, đe dọa hoặc cưỡng ép, lừadối nào
+ Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi di chúc phải được lập thành văn bản vàphải được cha, mẹ và người giám hộ đồng ý
+ Nội dung của di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; Hình thức của di chúckhông trái quy định của pháp luật
Người lập di chúc phải dùng tài sản hợp pháp của mình để thể hiện ý chí và địnhđoạt tài sản đó cho những người thừa kế.Ý chí của người lập di chúc phải phù hợpvới ý chí của nhà nước, đạo đức xã hội.Tuân thủ nguyên tắc tôn trọng đạo đức,truyền thống tốt đẹp được quy định tại điều 8 BLDS
Trang 15Điều 8 Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp
“Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dântộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết,tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giátrị đạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Đồngbào các dân tộc thiểu số được tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ dân sự để từngbước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mình
Việc giúp đỡ người già, trẻ em, người tàn tật trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụdân sự được khuyến khích.”
+ Hình thức của di chúc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật
Hình thức di chúc là căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ thừa kế theo di chúc,làchứng cứ để bảo vệ quyền lợi cho người được chỉ định trong di chúc.Vì vậy, khilập di chúc người có di sản phải thực hiện theo hình thức nhất định
*Di chúc bằng văn bản
Theo quy định của bộ luật dân sự, di chúc bằng văn bản bao gồm:
→Di chúc văn bản không có người làm chứng: Người lập di chúc phải tự tayviết và ký vào bản di chúc Nội dung của di chúc phải tuân thủ các quy định tạiĐiều 653 BLDS:
→ Di chúc văn bản có người làm chứng: Điều 656 quy định: trong trường hợp
người lập di chúc không thể tự tay mình viết bản di chúc có thể nhờ người khácviết, nhưng phải có ít nhất 2 người làm chứng
→ Di chúc có công chứng hoặc chứng thực: Người lập di chúc có thể yêu cầu
cơ quan công chứng nhà nước, hoặc yêu cầu Ủy ban nhân dân Phường, Xã, Thịtrấn chứng thực bản di chúc
Điều 653 Nội dung của di chúc bằng văn bản
1 Di chúc phải ghi rõ:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điềukiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản;
đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ