1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cái Say Trong Thơ Nguyễn Khuyến

160 503 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến nhìn từ phương diện nội dung, ta thấy rằng, cái say trong thơ của Tam nguyên Yên Đổ được biểu hiện qua rất nhiều sắc thái và cung bậc cảm xúc. Cái say ấy đầu tiên chính là biểu hiện cho cuộc sống thanh nhã của nhà thơ. Ở đây ta thấy rằng, cái thú tiêu khiển của nhà thơ bắt gặp và nảy sinh ra những nét đặc sắc, những đặc điểm riêng chỉ có ở Nguyễn Khuyến. Thơ có nhắc đến cái say của Nguyễn Khuyến chính là sự tựu trung và hòa kết giữa hai con người – con người đời thường với niềm vui, sự hứng thú và con người lãng mạn của một hồn thơ với bốn thú thú cầm, kỳ, thi, tửu rất riêng và cũng rất đặc trưng cho phong cách Tam nguyên Yên Đổ.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN



NGUYỄN ANH TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CÁI SAY TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN ANH TRƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

CÁI SAY TRONG THƠ NGUYỄN KHUYẾN

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hướng dẫn khoa học: ThS Lê Văn Lực

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Có thể nói khóa luận tốt nghiệp là một công trình nghiên cứu đánh dấu sự trưởng thành và tiếp nhận của sinh viên trong quá trình học tập và tích lũy kiến thức chuyên ngành Trải qua một thời gian tìm hiểu và nghiên cứu thì đến nay, khóa luận đã được hoàn thành Góp phần quan trọng trong việc hoàn thành khóa luận, ngoài những nỗ lực từ bản thân tác giả thì đó còn là sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của quý thầy (cô) và sự ủng hộ hết lòng của gia đình, bạn bè

Qua khóa luận này, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô trong

Khoa Ngữ Văn Trường Đại học Sư phạm TP.HCM mà đặc biệt xin được gửi lời

cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến với thầy hướng dẫn khoa học - ThS Lê Văn Lực Cảm ơn thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình từ những ngày đầu ấp ủ ý tưởng đến lúc hoàn thành khóa luận

Nhân đây, người viết cũng xin được cảm ơn cán bộ, nhân viên của hai thư

viện đó là Thư viện Trường Đại học Sư phạm TP.HCM và Thư viện Khoa học

Tổng hợp TP.HCM đã tận tình và tạo điều kiện cho tác giả tìm kiếm tài liệu trong

suốt thời gian nghiên cứu

Cuối cùng, xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp

đỡ và động viên tác giả trong suốt quá trình làm khóa luận

Xin chân thành cảm ơn tất cả!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đề tài Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến là công trình

nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Lê Văn Lực và chưa từng công bố ở bất kì công trình nào trước đó

Tôi xin cam đoan những lời trên là hoàn toàn đúng sự thật Nếu có gì sai sót, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm!

Tác giả khóa luận

Nguyễn Anh Trường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Đóng góp của khóa luận 8

6 Kết cấu khóa luận 8

NỘI DUNG 10

Chương 1: Một số vấn đề chung 10

1.1 Tổng quan về cái say trong thơ ca 10

1.1.1 Khái niệm về “say” và biểu tượng “rượu” 10

1.1.2 Mối quan hệ giữa cái say và biểu tượng rượu trong thơ ca 12

1.1.3 Cái say trong thơ ca Việt Nam 13

1.1.3.1 Cái say trong ca dao - dân ca 13

1.1.3.2 Cái say trong thơ ca trung đại 19

1.1.3.3 Cái say trong thơ ca hiện đại 27

1.2 Cơ sở hình thành cái say trong thơ Nguyễn Khuyến 35

1.3 Khảo sát số lần xuất hiện yếu tố “say (túy) – rượu (tửu)” trong thơ Nguyễn Khuyến 38

Trang 6

1.3.1 Trong thơ chữ Hán 39

1.3.2 Trong thơ chữ Nôm 40

Tiểu kết 42

Chương 2: Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến nhìn từ phương diện nội dung 45

2.1 Cái say biểu hiện cho cuộc sống thanh nhã của nhà thơ 45

2.1.1 Cái say – một trong những thú tiêu khiển của nhà Nho 45

2.1.2 Cái say – niềm vui, hứng thú trong cuộc sống của một con người đời thường 52

2.2 Cái say, biểu hiện của nỗi niềm trước thời cuộc, thế cuộc 60

2.2.1 Mượn cái say để tự vấn cuộc đời mình 60

2.2.2 Mượn cái say để bày tỏ nỗi niềm về hiện trạng đất nước 63

2.2.3 Mượn cái say để bộc lộ sự lo lắng cho cuộc sống cơ cực của nhân dân 69

2.3 Cái say – niềm an ủi kẻ thất thời 74

2.3.1 Say để quên đi những mối hận – hận mình, hận đời 75

2.3.2 Say để quên đi nỗi buồn về thời thế của một kẻ bất lực 84

2.3.3 Cái say ẩn chứa những ước mơ 87

Tiểu kết 92

Chương 3: Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến nhìn từ phương diện nghệ thuật 94 3.1 Ngôn ngữ thể hiện cái say 94

3.1.1 Ngôn ngữ mang đậm tính khẩu ngữ, tính nhân dân 94

3.1.2 Ngôn ngữ giàu sức gợi 97

3.2 Giọng điệu say 101

Trang 7

3.2.1 Giọng điệu mỉa mai, châm biếm 102

3.2.2 Giọng hài hước, hóm hỉnh 106

3.2.3 Giọng điệu bi thương 111

3.3 Không gian say 115

3.3.1 Không gian vũ trụ 115

3.3.2 Không gian sinh hoạt 119

3.3.3 Không gian tâm trạng 124

3.4 Thời gian say 127

3.4.1 Thời gian vũ trụ 127

3.4.2 Thời gian sinh hoạt 131

3.4.3 Thời gian tâm trạng 135

Tiểu kết 139

KẾT LUẬN 141

TÀI LIỆU THAM KHẢO 144

PHỤ LỤC 148

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đã từ lâu, rượu luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong thi ca Người xưa có

nói “bát bửu” nghĩa là tám món phép của tiên, trong đó có bầu rượu của Lý Thiết

Quả Người ta còn truyền tụng nhau trên đời có bốn thú chơi cao sang mà tao nhã Nguyễn Công Trứ ngợi ca đó là Cầm-Kỳ-Thi-Tửu:

Dở duyên với rượu khôn từ chén, Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời

Cờ sẵn bàn son xe ngựa đó, Đàn còn phím trúc tính tình đây

(Cầm kỳ thi tửu)

Những ngày đầu tháng mười của năm 2016, khi học môn Văn học Việt Nam

từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1930, người viết đã có dịp làm về đề tài Nguyễn

Khuyến trong một bài luận được giao ở lớp Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, vô tình người viết đã bắt gặp được tấm ảnh mà cụ Nguyễn Khuyến được chụp, trên tay cầm chén rượu hạt mít duyên thật duyên Nhanh chóng cái suy nghĩ làm về đề tài cái say trong thơ của cụ Tam nguyên thoáng qua tâm trí của người viết; để rồi biết bao ấp ủ, dự định làm một điều gì đó mới mẻ để hiểu thêm về những góc độ trong cách sống cao đẹp của thi nhân này Chưa bao giờ người viết có một thôi thúc mãnh liệt làm đề tài về cái say trong thơ Nguyễn Khuyến đến như vậy Trải qua một quá trình học tập và sự cố gắng trong quá trình trau dồi kiến thức về nhà thơ, ngày hôm nay người viết đã có cơ hội thực hiện đề tài thú vị liên quan đến cái say trong thơ cụ Tam nguyên Yên Đổ

Trang 9

Nhắc đến Nguyễn Khuyến (1835-1909), ông được người đời biết đến là một trong những nhà thơ tiêu biểu sống vào cuối thế kỉ XIX đồng thời cũng là một trong những sĩ phu lựa chọn con đường bất hợp tác để bộc lộ thái độ bất bình trước triều đình và giữ trọn danh tiết Tâm hồn nghệ sĩ của ông yêu cái đẹp thiên nhiên, có mối đồng cảm sâu sắc với con người và cuộc sống thôn dã Ông là một trong những đại diện lớn của văn học Việt Nam trung đại…Tam nguyên Yên Đổ hằn đậm tên tuổi trong lịch sử văn học, như một trong những tên tuổi đứng đầu của văn học Việt Nam qua mọi thời kỳ Những sáng tác bằng chữ Nôm và chữ Hán của Nguyễn Khuyến mang những nét riêng, nét độc đáo của một nhà thơ tài

ba đồng thời vẫn mang những dấu ấn và đặc điểm chung của văn học trung đại giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX Tìm hiểu về thơ văn Nguyễn Khuyến sẽ cho thấy được những đặc điểm chung của văn học thời kỳ này

Có rất nhiều nhà thơ đã từng làm thơ với rượu, nhưng rượu trong thơ của Nguyễn Khuyến có những nét đặc sắc và thú vị rất riêng biệt Rượu trong thơ

Nguyễn Khuyến hiện lên với “cái say” độc đáo, là một thứ duyên dáng, là hơi thở,

là sự sống, đậm đà bản sắc dân tộc Có những bài thơ ở đề tài khác, Nguyễn

Khuyến thường hay nhắc đến rượu để làm nổi bật “cái say”, mà “cái say” ở bài

nào cũng mang một tâm trạng, một hoàn cảnh rất khác nhau Trong thơ Nguyễn Khuyến rượu và cái say xuất hiện không phải là sự ngẫu nhiên mà nó là một đặc điểm để nhận diện nhà thơ trong một tâm thế khác Và tâm thế này làm nên một Nguyễn Khuyến của nhân dân và vì nhân dân Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến chỉ được người ta khơi, chứ chưa thật sự đi sâu để mà làm rõ Hoặc nếu có phân tích đến thì chỉ là phân tích trên cơ sở tính bi kịch, chứ chưa có bài viết, công trình nào nói về những hứng thú của thi nhân đối với rượu và say Kết quả của những phân tích này vẫn còn bị bỏ ngõ vì họ nhìn Nguyễn Khuyến dưới góc độ một nhà Nho, nhà thơ và thời đại Nguyễn Khuyến sống (đây là thời kì tối tăm) Nên phần nhiều họ đã liên tưởng đến trong hoàn cảnh ấy thì thi nhân này chỉ có bi kịch mà

Trang 10

thôi; chứ không đi sâu và nhìn Nguyễn Khuyến bằng con mắt của một con người đời thường cũng thích uống rượu Có lúc uống rượu không chỉ thể hiện chí, tình

mà đơn giản thi nhân uống vì muốn uống hoặc trong những sinh hoạt đời thường cần có rượu

Để góp phần tìm hiểu thêm về những giá trị thơ mà Nguyễn Khuyến mang lại, cùng với niềm say mê và hứng thú riêng của bản thân, người viết đã mạnh dạn thực hiện đề tài kết thúc cho một quá trình học tập và nghiên cứu tại trường Đại

học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh với tên Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến

Với đề tài này, người viết sẽ vận dụng những kiến thức về lí luận, vốn hiểu biết

về “cái say trong thơ” nói chung; cuộc đời và thơ Nguyễn Khuyến nói riêng, đồng

thời vận dụng những kiến thức đã được tích lũy trong suốt bốn năm đại học để

tìm hiểu, khám phá những cái hay, những sáng tạo của thi nhân về “Cái say” trong

thơ ông Hy vọng rằng với đề tài này, chúng ta sẽ được cảm nhận rõ hơn, đầy đủ

và toàn diện hơn đề tài mới trong thơ của Tam nguyên Yên Đổ Từ đó giúp chúng

ta khai thác đầy đủ, toàn diện về vẻ đẹp nội dung cũng như nghệ thuật trong thơ

Nguyễn khuyến Và “cái say” là một đề tài góp phần mình vào để nâng cao thêm

sự tiếp cận của thế hệ sinh viên có niềm yêu thích đặc biệt với tác gia có tầm ảnh hưởng nhất định trong nền văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX

Trang 11

điều mà mấy mươi năm qua các nhà nghiên cứu luôn tìm tòi, khám phá nhưng không sao lý giải hết được sự hấp dẫn của thơ ông đối với người đọc Hơn nữa, hành trình mang tên thi nhân này đến gần hơn với hậu thế là một con đường lắm truân chuyên và gian khổ Nó không phải là một con đường trải hoa hồng mà nó cần có những con người nghiêm túc và một trái tim yêu thích thật sự với thi nhân Người đó chính là Nguyễn Khuyến

Trong thơ Nguyễn Khuyến ta bắt gặp rất nhiều đề tài từ những nỗi niềm tâm sự của nhà thơ đến những đề tài liên quan đến làng cảnh dân tình Việt Nam Trong những năm gần đây, những đề tài ấy được khai quật và mang ra luận bàn

và có thể nói chúng không còn là những đề tài xa lạ đối với nhiều nhà nghiên cứu

và các bạn sinh viên Nhưng có một đề tài mà cho tới nay người ta chỉ nhắc đến tên, chứ chưa thực sự mang ra để phân tích như một công trình khoa học thật sự

Đó chính là vấn đề Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến Bằng những nghiên cứu và

tìm tòi, chúng tôi đã thu thập được một số bài nghiên cứu liên quan đến cái say trong thơ của cụ Tam nguyên (từ những bài phê bình đến luận văn, luận án …) để thấy được cái say trong thơ của ông cũng có một chỗ đứng nhất định và nó là một

đề tài cũng không kém phần hấp dẫn so với những vấn đề khác

Trên phương diện nội dung, ta luận án phó tiến sĩ Ngữ văn Thơ Nôm Đường

luật (từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương) (1996) của Nguyễn Thanh Phúc đã

cho ta thấy hệ thống chủ đề, đề tài từ Hồ Xuân Hương đến Trần Tế Xương rất đa dạng và trong đó có đề tài cái say trong thơ Nguyễn Khuyến Nguyễn Thanh Phúc

đã chỉ ra rằng “…khi nhà thơ muốn dùng chén rượu để tự trào, vừa say vừa tự

trào, thì không chỉ là muốn tìm chút tri âm trong chén rượu, uống rượu để say, để quên đi nỗi buồn nào đó của riêng mình, mà là say, là buồn cho đời, cho vận nước, là qua chén rượu, cái chếnh choáng hơi men, nhà thơ tìm gặp những ước

mơ, những khát vọng Phải chăng vì vậy mà: Chén rượu say rồi nói chửa say (Tự thuật)”.[29; 66]

Trang 12

Vũ Thanh trong Nguyễn Khuyến qua thơ tự trào được in trong tập Nguyễn

Khuyến, Thơ – lời bình và giai thoại, Nhà xuất bản Văn hóa – thông tin năm 2000,

dù chỉ dành một phần nhỏ để nói về cái say nhưng cái say được Vũ Thanh đề cập

là một cái say của một con người ngoài mặt thì vui thích uống rượu nhưng sâu trong lòng lại ẩn chứa một nổi buồn thầm kín không chỉ riêng nhà thơ mà còn hằng đậm trong lòng độc giả

Bài viết Thêm một túy ông của bà Bùi Thị Xuân trong cuốn Nguyễn Khuyến

– về tác gia và tác phẩm do Vũ Thanh sưu tầm và biên soạn được xuất bản bởi

Nhà xuất bản Giáo dục năm 2001 Bài viết đã làm rõ quan điểm của người viết đó chính là xét và xem Nguyễn Khuyến là một trong những túy ông của làng say Việt Nam; nhận diện cái say của Nguyễn Khuyến trên phương diện là một cái say ngất

ngưởng: “Một “túy ông” ngất ngưởng cứ hiện diện đây đó, đó đây trong nhà nho

Nguyễn Khuyến thâm trầm và mực thước.” [37; 278], say nhưng không say:

“Nguyễn Khuyến không say! Xưa nay ít người say tự nhận mình say, còn những

người tự xưng là uống rượu, say để mà nói chuyện đời, chuyện người thì tỉnh, tỉnh lắm…” [37; 279] từ ấy làm nên bi kịch của thi nhân này

Tiếp đến, là bài viết mang tên Tính bi kịch trong thơ Nguyễn Khuyến của

Vũ Đức Phúc cũng trong cuốn Nguyễn Khuyến – về tác gia và tác phẩm (2001),

đã cho thấy thơ Nguyễn Khuyến là những trường ca bi kịch, những vần thơ đượm buồn với thế thái nhân tình, đó cũng có thể là nguyên nhân chính ông tìm đến rượu để giải khuây, để tìm sự quên lãng

Luận văn thạc sĩ Văn hóa Việt trong thơ Nguyễn Khuyến của Đoàn Thị

Tuyết, bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Thái Nguyên, cũng có nhắc đến cái say trong thơ Nguyễn Khuyến, luận văn đã đề cập đến cái say như một khía cạnh của văn hóa Văn hóa thưởng rượu với bạn bè khi vui thú trong những dịp lễ lạt

Trang 13

làm nên một phong cách cho thơ Nguyễn Khuyến: “Đến Nguyễn Khuyến, ông

cũng không quên đưa thú vui tao nhã, đầy tính nhân văn này vào trong những trang thơ của mình Đối với ông, duyên ngộ trên đời không đơn thuần chỉ là gặp

gỡ biết nhau, mà trên tất cả đó chính là được ngồi quây quần bên nhau, cùng đàm đạo chuyện đời, cùng nâng tay chạm cốc uống với nhau những chén rượu thân tình.” [38; 46]

Trên phương diện nghệ thuật, ta có bài nghiên cứu Sự kết hợp phức điệu

trào phúng với trữ tình trong Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm (2001) của

Nguyễn Hữu Sơn, đã chỉ ra cho ta thấy được sự kết hợp độc đáo giữa giọng điệu trữ tình và giọng điệu trào phúng trong thơ Nguyễn Khuyến nói chung và với những vần thơ nhắc đến cái say nói riêng Bài viết đã phân tích để chứng minh

cho luận điểm ấy: “Khi chỉ trích ông phỗng đá bất lực, ngơ ngác trước cuộc đời

thì liền đó nhà thơ có sự đồng cảm “Duyên hội ngộ là duyên tuổi tác, chén chú, chén anh, chén tôi, chén bác” ” [37; 332]

Phải nói rằng số lượng những bài viết, những bài nghiên cứu về Nguyễn Khuyến là khá nhiều Chỉ căn cứ vào các công trình nghiên cứu về Nguyễn

Khuyến ở phần phụ lục II (trang 358) trong Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm

(2001) của Vũ Thanh thì có đến 106 công trình Ngoài ra còn có thêm các luận văn, luận án, trong đó đã có một số bài viết, công trình khoa học nói đến cái say

của Nguyễn Khuyến Theo các tác giả, nhà nghiên cứu này thì vấn đề Cái say

trong thơ Nguyễn Khuyến cũng là một trong những nội dung quan trọng Cái say

trong thơ Yên Đổ là một biểu hiện của bi kịch trong ông hay nó còn là một phương tiện để thi nhân tiêu khiển, tạo hứng thú trong cuộc sống; hoặc nó còn là biểu hiện của nét văn hóa cổ truyền Tuy nhiên, vấn đề này theo chúng tôi vẫn cần phải đi sâu hơn nữa; tìm hiểu, nghiên cứu thấu đáo hơn

3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu

Trang 14

Khóa luận sẽ đi vào tìm hiểu, nghiên cứu về cái say trong thơ Nguyễn Khuyến xem nó xuất phát từ đâu, nó có những biểu hiện như thế nào, nó cho ta thấy gì về thế giới tâm hồn cụ Yên Đổ Cũng trong khóa luận này, người viết cũng

sẽ đi vào tìm hiểu những phương thức biểu hiện cái say trong thơ Nguyễn Khuyến như ngôn ngữ, thời gian – không gian, giọng điệu Từ những nội dung ấy, người viết hy vọng giúp độc giả hiểu hơn nữa con người, biết hơn nữa nội dung và nghệ thuật trong sự nghiệp thơ ca của cụ Tam nguyên

Để thực hiện đề tài này, về mặt văn bản tác phẩm khóa luận sẽ sử dụng

cuốn: Nguyễn Khuyến tác phẩm của Nguyễn Văn Huyền, Nhà xuất bản Khoa học

Hà Nội, 1984 và cuốn Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến của Trần Văn Nhĩ,

Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ, 2016 Ngoài ra chúng tôi cũng sẽ tham khảo những bài viết, những công trình nghiên cứu về Nguyễn Khuyến để phục vụ cho khóa luận này

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp lịch sử

Với phương pháp này, chúng tôi sẽ hướng đến việc tìm hiểu bối cảnh lịch

sử, thời đại Nguyễn Khuyến sống và sáng tác Hơn nữa, với phương pháp này, chúng tôi còn tìm hiểu cả những nhà thơ trước và sau Nguyễn Khuyến có làm thơ

về cái say theo dòng chảy tuyến tính của lịch sử

4.2 Phương pháp thống kê - phân loại

Với phương pháp này, chúng tôi sẽ thống kê số bài thơ có nhắc đến cái say

và rượu của Nguyễn Khuyến, đồng thời phân loại chúng vào từng nội dung biểu hiện cái say và cả nghệ thuật biểu hiện của cái say

4.3 Phương pháp phân tích

Trang 15

Phương pháp phân tích là phương pháp giúp cho chúng tôi đi sâu vào những đặc trưng của cái say trong thơ Nguyễn Khuyến bằng việc phân tích những cái hay, những nét độc đáo trong thơ nói về cái say của nhà thơ trên phương diện nội dung và nghệ thuật biểu hiện cái say Đồng thời sẽ cho người đọc một cái nhìn từ bao quát đến chi tiết cái say trong thơ của Nguyễn Khuyến với phương pháp này

4.4 Phương pháp tổng hợp

Đây là phương pháp quan trọng, giúp chúng tôi có thể tổng hợp những tài liệu (bao gồm những bài viết, bài phê bình, luận văn, luận án) liên quan đến đề tài

đã sưu tầm được

Ngoài ra, với phương pháp tổng hợp chúng tôi còn liên kết từng mặt, từng

bộ phận những gì đã phân tích ở khía cạnh nội dung và nghệ thuật lại một cách đầy đủ và sâu sắc về cái say trong thơ Nguyễn Khuyến để người đọc dễ hình dung nhất

4.5 Phương pháp so sánh

Với phương pháp này, chúng tôi sẽ vận dụng so sánh cái say trong thơ Nguyễn Khuyến với các tác giả trước và sau ông để thấy được những nét tương đồng giữa họ và những khác biệt mà chỉ riêng thơ của thi nhân mới có được

5 Đóng góp của khóa luận

Chúng tôi mong muốn khóa luận có thể đóng góp được cho thơ Nguyễn Khuyến thêm một đề tài cũng không kém phần mới lạ và hấp dẫn Song song với những đề tài khác, cái say trong thơ Nguyễn Khuyến góp phần vào hệ thống những

đề tài của thơ ông, tạo điều kiện để đánh giá toàn diện những nội dung thơ Nguyễn Khuyến

6 Kết cấu khóa luận

Trang 16

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục thì khóa luận được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến nhìn từ phương diện nội dung Chương 3: Cái say trong thơ Nguyễn Khuyến nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 17

NỘI DUNG Chương 1: Một số vấn đề chung

1.1 Tổng quan về cái say trong thơ ca

Tố Hữu đã từng nói: “Thơ ca phải say mới thích” Đúng vậy, đi từ ca dao -

dân ca (văn học truyền miệng) đến thơ ca trung đại, rồi hiện đại (văn học viết), tất thảy đều thấy bóng dáng của cái say (dù ít dù nhiều) xuất hiện trên thi đàn Say trong thơ ca có đến dăm bảy loại, thi nhân say không hẳn vì uống rượu mà có thể say vì những thứ khác ngoài rượu Và khi cái say ngấm vào người thì cũng là lúc

nhà thơ “xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần”1 hơn Mỗi vần thơ say viết ra như chính con người thật của thi nhân mà lúc tỉnh táo họ ít khi nào tâm sự được

Và cái say đã nhập cuộc, nó là chiếc cầu nối tâm trạng nhà thơ với những tâm sự của họ

1.1.1 Khái niệm về “say” và biểu tượng “rượu”

Qua việc tìm hiểu định nghĩa cái say dựa vào hai cuốn từ điển là Từ điển

tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên) và Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới (Phạm

Vĩnh Cư dịch), chúng tôi xin được nêu ra dưới đây những định nghĩa về cái say

và biểu tượng rượu như sau:

Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê biên soạn, thì ở dạng động từ, say được hiểu là “trạng thái bị ngây ngất, choáng váng, nôn nao do tác động của

rượu, thuốc hay những yếu tố có tác dụng kích thích nào đó Say nắng Nôn nao như người bị say sóng Rượu lạt uống lắm cũng say” [28; 1075]

[1] Nguyên văn câu nói của Ngô Thì Nhậm: “Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Người viết đã lược bỏ đi chữ “Hãy” để hợp hơn với văn cảnh và cấu trúc câu văn

Trang 18

Có thể nói rằng, về mặt từ loại, say có thể ghép với những từ đơn khác để tạo thành những từ, cụm từ biểu hiện cho nhiều cái say mang ý nghĩa khác nhau

Ví dụ như say khướt, say mềm, say đắm, say sưa, say hoa đắm nguyệt,…

Cũng theo từ điển này, rượu được định nghĩa là “chất lỏng, vị cay nồng,

thường cất từ chất bột hoặc trái cây đã ủ men Rượu mơ Cất rượu Say rượu Rượu vào lời ra.” [28; 1063]

Rượu có mặt ở tất cả các nền văn hóa, dù là ở phương Tây hay các nước phương Đông Rượu được xem như là một biểu tượng, là một hằng số biểu hiện cho văn hóa và đặc trưng của từng quốc gia mà khi nhắc đến chúng, ta có thể biết được xứ sở của thứ cực phẩm tinh túy này như: rượu Sochu ở Hàn Quốc, rượu

Gin ở Hà Lan, rượu Sake Nhật Bản, rượu Vodka ở Nga… Trong cuốn Từ điển

Biểu tượng Văn hóa thế giới, có nói đến mối quan hệ giữa rượu với các nền văn

minh cổ đại như Hy Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa,… không những thế rượu cũng còn xuất hiện trong các bài giảng của Kinh thánh như Kinh Tân Uớc; của các tôn giáo khác nhau như Kitô giáo, đạo Hồi Nói đến đây, cũng đủ cho ta hình dung được

rằng “rượu hiển nhiên là mang đầy ý nghĩa biểu tượng, mà không phải lúc nào

cũng dễ dàng xác định được ý nghĩa đó.” [16; 789] Và dù cho có là nền văn minh

nào, tôn giáo nào đi chăng nữa thì rượu cũng là một đại diện tiêu biểu nhất cho

thấy nó “như là biểu tượng của tri thức và khai tâm…” [16; 788]

Giống như rượu, cái say cũng hiện diện trong nhiều nền văn hóa, văn minh

Có thể thấy, ở đâu có rượu thì ở đó có cái say, từ say nhẹ dịu đến say khướt, say mèm tùy thuộc vào tửu lượng của người uống Và khi rượu ngấm vào người thì

cũng chính là lúc con người ta say, cái say gây nên “tình trạng mất nhận thức về

tất cả những gì khác với chân lý, thậm chí quên mất cả chính sự quên của mình…” [16; 803]

Trang 19

Tóm lại, qua việc tìm hiểu về hai khái niệm “rượu” và “say” dựa vào hai cuốn từ điển: Từ điển tiếng Việt và Từ điển Biểu tượng Văn hóa thế giới, ta thấy

rằng rượu và cái say chính là sợi dây liên kết với văn hóa, tinh thần của con người

ở mọi thời đại và mọi nền văn minh Con người ta đôi khi phải giải phóng chính mình bằng việc uống rượu, hơn hết họ còn mượn cái say về thể chất để đạt đến niềm say sưa tinh thần Và điều này các thi nhân đã vận dụng rất tốt, họ xem nó

là mảnh đất màu mỡ để ngòi bút của mình tỏa sáng, tạo nên một món ăn tinh thần, một sáng tạo độc đáo cho thi ca, góp giọng điệu mình vào thi đàn tạo nên một âm hưởng vọng về từ quá khứ

1.1.2 Mối quan hệ giữa cái say và biểu tượng rượu trong thơ ca

Song song với những biểu tượng trong thi ca như buổi chiều, con đò, cây

đa, bến nước,… thì rượu cũng là một biểu tượng nên thơ mà thi nhân đã dành sự trang trọng nhất để viết về nó Nói đến rượu thì không thể không nhắc đến cái say Say và rượu là hai biểu tượng luôn sóng đôi với nhau, rượu là hình thức, là phương tiện để dẫn đến cái say Cái say luôn là một mảng đề tài hay cho các thi nhân mặc sức mà chạm trổ hồn mình Nguyễn Khánh2 đã từng nói: “Nếu cuộc sống là gạo

đã nấu thành cơm thì thơ là cơm đã cất thành rượu mà người đời ít ra ai cũng một lần say” Nếu như trong cuộc sống, rượu và cái say là biểu tượng cho văn hóa

tinh thần và thể chất của con người thì trong thi ca rượu và cái say chính là niềm giao cảm, là phương tiện gián tiếp để thi nhân bày tỏ nỗi lòng của mình

Trong cuộc sống bình thường, rượu là thức uống, là thức nhắm nháp của những kẻ bình thường dùng rượu để đạt đến cái say tinh thần tầm thường thì trong văn học những vần thơ chếnh choáng, lúy túy hơi men được làm nên từ việc

Trang 20

thưởng rượu của các thi nhân Rượu là chất xúc tác giúp thi nhân thăng hoa trong việc sáng tác của mình Rượu kết hợp với thi sĩ sẽ tạo nên những vần thơ mang dáng dấp của sự say sưa Có lúc quay cuồng, điên đảo như Vũ Hoàng Chương, có

lúc lúy túy như Tản Đà hay cũng có lúc như Lý Bạch mà thốt lên rằng: “Cử bôi

tiêu sầu, sầu cánh sầu”

Tóm lại, rượu và cái say trong thi ca là sợi dây giúp giải phóng tâm trạng của nhà thơ với cuộc đời thực Nhà thơ đã thi vị hóa cái say bình thường thành những vần thơ mang hơi men mà ở đó không chỉ nhà thơ mà người đọc cũng say sưa theo điệu say của thi sĩ Nó thuộc về biệt tài và vốn am hiểu với rượu và cái say một cách có chọn lọc của thi nhân

1.1.3 Cái say trong thơ ca Việt Nam

Có thể thấy rằng, thi nhân luôn dành cho cái say vì rượu một sự ưu ái khá đặt biệt Xuyên suốt dòng chảy của văn học nói chung và thơ ca nói riêng, cái say luôn hiện diện trong các sáng tác của các nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, mà đặc biệt

là Nguyễn Khuyến trong nhiều trang thơ cũng đã không ít lần cho thấy cái say của mình Những vần thơ say đã tạo nên một âm hưởng thực khác lạ, khiến người đọc như hòa cùng với nó Cái say có mặt trong hầu khắp các bộ phận, các giai đoạn của văn học từ ca dao – dân ca đến thơ ca trung đại, rồi hiện đại; ở mỗi thời kì, cái say và việc mượn cái say để biểu hiện tư tưởng mỗi khác

1.1.3.1 Cái say trong ca dao - dân ca

Trong ca dao – dân ca, tác giả dân gian thường say, họ say trong những dịp

lễ lạt, say trong sự lạc thú Nhưng tác giả dân gian cũng rất chừng mực, tuy say sưa nhưng họ nhận ra cái nguy cơ của rượu và cái say đối với cơ thể, hay cách

ứng xử của mình với người xung quanh Và người xưa có câu “rượu vào lời ra”

Trang 21

để chỉ tình trạng không làm chủ được lời nói, hành động của mình khi quá chén

Từ đó những câu ca dao phê phán thói quá đà trong việc dùng rượu và thường xuyên say (của đa phần là nam giới) xuất hiện như một lời khuyên nhủ, nhắc nhở

Cái say bắt nguồn từ rượu, rượu sở dĩ ngon là nhờ tửu tính, tức là cái men trong rượu, khiến cho con người ta ngà ngà say khi uống vừa đủ và say khướt khi quá chén với thân hữu:

Rượu ngon vì bởi men nồng

Vợ mà biết ở ắt chồng phải theo

Cái men đó tinh túy đến độ phải cất giữ kĩ thì sẽ bền vững với thời gian:

Rượu ngon chắt để bàn thờ

Ba bốn năm không lạt, sao giờ lạt đi?

Cái men cay nồng của rượu khiến người ta say, nó như hút, như kéo người uống, người thưởng thức rượu lại gần hơn với bầu rượu, hay nói cách khác là gần hơn với sự say sưa Chất men ấy như thứ hấp lực, nó thách thức mọi vật chứa:

Rượu ngon bất luận be sành,

Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Một thức rượu ngon không phụ thuộc vào việc nó được chứa đựng trong môi trường nào Vì đơn giản bản thân nó đã ngon thì dù có đựng trong be sành thì nó vẫn không thay mùi đổi vị Điều này có nghĩa là, thưởng thức rượu là thưởng mùi

vị chứ không phải là để ngắm nghía cái sự vật chứa rượu nó đẹp ra sao

Rượu không chỉ là ngón thưởng thức trứ danh của mặc khách tao nhân

khiến các vị này say sưa và làm ra những vần thơ say xuất thần mà nó cũng còn

là một thứ nhắm nháp của hạng tửu nang phạn đại Có thể thấy họ say rất nhiều,

Trang 22

say vì sự cộng hưởng của rượu và người đẹp mà chúng tôi gọi đó là cái say gắn

với sự lạc thú Sự say sưa đó được tác giả dân gian khắc họa:

Còn trời, còn nước, còn non,

Còn cô bán rượu, anh còn say sưa

hay:

Con tằm bối rối vì tơ;

Anh say sưa vì rượu, em ngẩn ngơ vì tình

Cái say gắn với rượu là cái say của lí tính (cái say mang tính chất vật lí, đời thường) nhưng cái say gắn với cái đẹp là cái say của cảm giác Cái say lí tính cộng hưởng với cái say của cảm giác như sợi dây gắn chặt tình duyên giữa các cặp nam

nữ dân gian Họ mượn cái say để bộc bạch nỗi lòng của mình với đối phương Và điều đó càng chứng minh rằng, rượu là chất xúc tác khiến con người mạnh dạn hơn trong việc bày tỏ cảm xúc của chính mình Và lời nói của kẻ say rượu thì

không đáng trách! Những lời nói say sưa vì rượu hay vì “cô bán rượu” đã khiến chàng trai say? Dù pha một chút bông đùa trong câu “còn cô bán rượu anh còn

say sưa” nhưng ta vẫn thấy một sự thực rằng anh chàng này hiển nhiên có say vì

rượu nhưng cũng say một phần vì “cô bán rượu” (có thể là sắc đẹp hoặc tính nết)

Hay đây, cái say ngấm, say ngầm của rượu cũng được ví von với vẻ đức hạnh của nữ giới trong việc chinh phục và giữ người đàn ông của đời mình:

Rượu sen càng nhắp càng say, Càng yêu vì nết, càng say vì tình

Đầy vơi chúc một chén quỳnh

Vì duyên nên uống, vì tình nên say

Trang 23

Câu ca dao trên đã cho so sánh rượu với phụ nữ, tác giả dân gian đã rất tinh tế khi chỉ ra được nét tương đồng ấy Và điều đó cho ta thấy rằng, trong ca dao, lối nói

so sánh điểm gây say giống nhau giữa rượu và người phụ nữ là điều rất phổ biến

Có thể nêu ra một số câu tương tự như:

Rượu ngon chưa uống đã say, Lựu, lan chưa bẻ đã bay mùi nồng

Anh có thương em thì lo một buồng cau cho tốt, một hũ rượu cho đầy, Đặt lên bàn thượng, hạ xuống bàn xây,

Trang 24

Đi ngả đường sau, thầy mẹ chê khó, đi ngả cửa ngõ, chú bác chê nghèo, Nhắm chừng duyên nợ cheo leo,

Sóng to, thuyền nặng không biết chống chèo có đặng (được) không

Cô gái tưởng tượng nên một viễn cảnh êm thấm, thuận chiều, trong lúc chàng trai

tỏ ra thực tế hơn trước trở lực, do cái nghèo tạo ra Giả như cô gái thơ ngây và có tình cảm trong sáng kia thuyết phục được bố mẹ mình chấp thuận cuộc hôn nhân

do cô chủ động, thì việc tiếp theo sẽ là:

Rượu lưu li chân quỳ tay rót, Cha mẹ uống rồi dời gót theo anh

Đôi vợ chồng mới, hoặc trai gái đã đính hôn, cũng dùng miếng trầu, chén rượu khi trao lời hẹn ước thủy chung:

Ăn một miếng trầu, năm ba lời dặn, Uống một chén rượu, năm bảy lời giao,

Anh chớ nghe ai sóng bể ba đào,

Em đây giữ niềm tiết hạnh, anh chớ lãng xao em buồn

Việc uống rượu quá đà, đắm chìm và tự hoại mình thành ma men trong bể rượu là điều không thể chấp nhận được Việc say sưa tối ngày là điều xấu Chính

vì lẽ đó mà để răn dạy con cháu đời sau, cũng như khuyên nhủ lớp người cùng thời hãy cai rượu mà tác giả dân gian đã cho ra đời những câu ca dao mang tính chất châm biếm, giễu cợt những kẻ nghiện rượu, họ tỏ ra chán ngán và sợ cảnh suốt ngày phải thấy những con ma men vất vưởng, tay cầm chai rượu lè nhè:

Ở đời chẳng biết sợ ai,

Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày

Trang 25

Và không mấy ai tin lời người say, cho dù có nói hay như thế này:

Say thời, say ngải say tình,

Say chi chén rượu mà mình nói say!

Hay đây, cái cảnh người phụ nữ lấy phải một người chồng nát rượu, suốt

ngày chỉ biết “Đem tiền mau lấy cái say”:

Con thì đói khóc như ri, Chồng thì uống rượu li bì ngày đêm Đem tiền mau lấy cái say, Hơi men giở giọng bầy nhầy bên tai

Và đây nữa, say sưa đến độ quên đi công việc đồng áng, quả là đáng trách:

Anh ơi uống rượu thì say

Bỏ ruộng ai cày, bỏ giống ai gieo

Cũng vì say sưa mà những nhân vật trong các bài ca dao quên đi bổn phận, trách nhiệm của mình với xã hội thì lấy đâu ra sự đầy đủ, ấm no cho gia đình của

họ Và ta lại có câu ca dao sau để thấy được cái say sưa triền miên, tối ngày đích thị là một thói xấu, nó làm băng hoại đi những điều vốn dĩ tốt đẹp, nó làm cho nhiều cảnh nhà rơi vào bế tắc, khổ sở và bất hạnh; khiến họ mãi không thể trở nên khấm khá:

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

Trang 26

Những bài ca dao về cái say trong kho tàng ca dao – dân ca Việt Nam mà chúng tôi tiếp cận được, tuy không quá nhiều nhưng cũng đủ để cho thấy rằng mức độ nhận thức về cái say và rượu của tác giả dân gian rất tiến bộ Họ coi trọng rượu như một vốn văn hóa tinh thần và xem cái say như một thú vui thanh nhã Nhưng họ rất chừng mực trong việc sử dụng rượu và lên án, phê phán những con người say sưa, nát rượu; vì sự ham mê, đắm chìm trong lạc thú với rượu mà bỏ bê trách nhiệm của mình với gia đình, với xã hội

1.1.3.2 Cái say trong thơ ca trung đại

Thi nhân thời trung đại cũng đã cho thấy cái say và hình ảnh rượu không ít trong thơ mình Cái say trong thơ ca trung đại qua nữ sĩ Hồ Xuân Hương; hay các nhà thơ nam có tầm cỡ như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến… rất đa chiều và nhiều sắc thái

Niềm say sưa thể chất khi uống rượu là điều tất yếu nhưng ở những thi nhân này,

ta còn thấy họ mượn rượu, mượn niềm say sưa về thể chất để đạt đến niềm say sưa tinh thần Chính niềm say sưa ấy đã thôi thúc họ viết ra những vần thơ tuyệt hay về cái say Họ coi cái say như một phương tiện để bộc bạch những tâm trạng còn lẫn khuất trong lòng của mình

Cầm, kì, thi, tửu là những thú vui thanh tao, lành mạnh để di dưỡng tinh thần của các nhà Nho Trong các sáng tác của Nguyễn Công Trứ ta thấy, uống

rượu và say sưa là cái thú thứ tư trong bốn thú “cầm, kì, thi, tửu” của nhà thơ Rất

nhiều bài thơ có nhắc đến những thú này Rượu và cái say được thi nhân xem như

như một thú hành lạc và nó “không phải là thú chơi đại chúng vì thuộc về phạm

trù tài năng và nghệ thuật, không phải ai cũng biết chơi và biết thưởng thức, không phải lĩnh vực của bọn phàm phu tục tử Đó là nghệ thuật của những con người siêu việt, đi tìm những tri kỉ, tri âm siêu việt khác.” [14; 369] Nguyễn Công

Trang 27

Trứ vô cùng đắc ý với cảnh thơ túi rượu bầu Ông xem nó như một cảnh tượng nên thơ, mặc sức mà hoan hỉ Ông ca tụng:

Thi, tửu, cầm, kỳ khách,

Phong, vân, tuyết, nguyệt thiên

… Thơ một túi gieo vần Đỗ Lý, Rượu lưng bầu rót chén Lưu Linh

(Cầm kỳ thi tửu)

Hoặc:

Giắt lỏng giang san vào nửa túi,

Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu

(Hành tàng)

Ông uống đến say lúy túy “mặc người chê mặc kẻ khen” khi say thì “đánh vật

long thần mấy cánh tay”:

Trót đà khuya sớm với ma men, Mặc mặc người chê mặc kẻ khen

Ngó lại hàng rào hương cúc trộn,

Trông ra cửa số bóng trăng chen

(Uống rượu tự vịnh)

Say hoa đắm nguyệt cũng là một dạng say Nguyễn Công Trứ của trước kia

là một con người mang nặng tư tưởng Nho giáo, ông tỏ ra rất khắc khe với những

Trang 28

người phụ nữ xấu số trong xã hội Ông đã từng lên án Thúy Kiều của Nguyễn Du:

“Đoạn trường cho đáng kiếp tà dâm?” Hay phê phán cái chết của người thiếu phụ Nam Xương: “Dẫu tình ngay song lí cũng là gian” Nhưng ta cũng không thể ngờ rằng, có một ngày ông Hi Văn tài bộ của chúng ta mang lòng mối tương tư,

nhớ nhung một người phụ nữ và đã phải mượn rượu để nguôi sầu nhớ:

Tương tư không biết cái làm sao, Muốn vẽ mà chơi, vẽ được nào

Khi đứng, khi ngồi, khi nói chuyện, Lúc say, lúc tỉnh, lúc chiêm bao

(Tương tư) Cái say của vị tướng quân họ Nguyễn không hẳn là cái say của một kẻ uống rượu nhưng nó lại là lòng say hoa đắm nguyệt, một thứ say của lạc thú Cái đa tình của Nguyễn Công Trứ là đam mê sắc đẹp, và cũng có thể là đa mang, đèo bòng Do vậy, thi nhân dễ bị lôi cuốn vì sắc đẹp và người tài sắc Ông cũng chẳng ngại khi nói lên cái quyến rũ của người phụ nữ:

Khách thập thúy say màu hoa diễm, Đối mặt hoa mà cầm, mà kì, mà tửu, mà thi

(Yêu hoa)

Đồng hương với Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du trong kiệt tác Truyện Kiều

của mình cũng cho thấy được cái thú uống rượu và say là một thú vui tao nhã

không những là của bậc nam nhi đại trượng phu mà cả những phận “nữ nhi thường

tình” cũng nhắm nháp như một thú vui thanh nhã:

Mảng vui rượu sớm cờ trưa,

Trang 29

Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh

Nguyễn Du khao khát được hưởng thụ cuộc sống, những khao khát rất con người, bởi nó là những khao khát bình dị, chính đáng: Đó là một lần say sưa với

be rượu và hai quả cam (Xuân nhật ngẫu hứng):

Lân ông bôn tẩu thôn thiền miếu,

Đấu tửu song cam tuý bất hồi

(Xuân nhật ngẫu hứng – Nguyễn Du)

Dịch:

Có ông già hàng xóm, tay cầm nậm rượu và hai quả cam đi về phía miếu đầu thôn,

Chắc là đang say, không thấy trở về

Hoặc được thưởng thức món thịt ngon, rượu quí (Hành lạc từ I):

Có rượu cứ uống cho hết

Chuyện trước mắt hay dở đã không biết,

Trang 30

Cần gì lo cái danh xa xôi sau khi chết!

Trong văn học trung đại Việt Nam, rượu và say còn là một thú vui đối với những nhà Nho ẩn dật Xa lánh chốn quan trường về ở ẩn tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi không khỏi thấy mình cô đơn Chưa bao giờ nhà thơ thấm lạnh một nỗi cô đơn tê tái trong những đêm dài trên núi Côn Sơn như bây giờ Tuy nhiên trong hoàn cảnh ấy, Ức Trai vẫn thấy cuộc sống của mình không kém phần thi vị:

Rượu đối cầm đâm thơ một thủ

Ta cùng bóng liễn nguyệt ba người

(Tự thán bài 6 – Nguyễn Trãi)

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, trong cuộc sống thanh nhàn của mình có những thú vui hết sức dân dã, bình dị Việc chọn cái nhàn để trở về với thú điền viên của trạng Trình không phải nhằm mục đích trốn tránh vất vả, cực nhọc về thể chất, quay lưng với xã hội, chỉ lo cho cuộc sống nhàn tản của bản thân mà ông cho rằng sống nhàn là xa lánh nơi quyền quý, danh lợi mà ông gọi là chốn lao xao Nhàn là sống hoà hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để tu tâm dưỡng tính

Cuộc sống nhàn ấy với một nhà nho không chỉ hòa hợp với thiên nhiên mà còn phải có cả rượu:

Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống, Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

(Nhàn)

Cái sự “uống” kia như vẽ lên một hình ảnh nhà nho già tay cầm ly rượu mà đưa

lên môi nhắm nháp trong miệng cái nồng nàn hơi men của rượu Cái men rượu kia đã làm nhà thơ say? Cái say ngà ngà của men rượu như giúp cho nhà thơ nhìn cuộc đời nhẹ nhàng, bình thản hơn

Trang 31

Cũng với một thái độ “lánh đục”, “thoát tục”, muốn tìm một cuộc sống

nhàn như bao người bình thường về già, cách trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm gần

ba trăm năm sau có một nhà thơ cũng chọn cách tìm về chốn ruộng vườn, nơi hòa hợp giữa con người với thiên nhiên để sống một cuộc sống thanh nhàn, không vướng bận sự đời và bon chen vì hư danh, lợi lộc Nguyễn Công Trứ đã nói lên được cái chí của mình khi về ở ẩn, nơi có ruộng nương, nhà thơ thích chí với những gì mình lựa chọn:

Mãi thế rồi ta sẽ tính đây,

Điền viên vui thú vẫn xưa nay

(Thú ruộng vườn)

Tác giả nhận ra cái hay của việc đồng áng, với cái thú ruộng vườn Và trong thú vui dân dã này cái ngón trứ danh không thể thiếu được với thi nhân đó là rượu

Đã là con người thì việc uống rượu phải say là chuyện hết sức bình thường:

Giang hồ bạn lứa câu tan hợp,

Tùng cúc anh em cuộc tỉnh say

(Thú ruộng vươn)

Đây nữa, một ông Hi Văn khi đã rời cuộc bon chen với lợi danh hão huyền

để trở thành một con người chẳng lụy phiền vì bất cứ ai, ung dung với một thái

độ sống thanh thản:

Chẳng lợi danh chi lại hóa hay,

Chẳng ai phiền lụy chẳng ai rầy

(Thú ẩn dật)

Trang 32

Thi nhân trong cảnh ẩn dật, làm bạn với cảnh “thơ túi rượu bầu”, lâu dần cũng thành thú và khi “chẳng ai rầy”, thi nhân mặc sức mà uống, mặc sức say, say đi loạn choạng “chân cao thấp”, miễn mình thấy vui:

Ngoài vòng cương tỏa chân cao thấp, Trong thú yên hà mặt tỉnh say

(Thú ẩn dật)

Thi nhân xưa cũng mượn rượu để giải sầu, giải buồn Khi thi nhân mang trong mình nhiều tâm sự, nỗi niềm thì rượu chính là một giải pháp tối ưu để tạm quên đi những nỗi buồn trước mắt Say là để quên đi muộn sầu về số kiếp, thân phận của mình

Hồ Xuân Hương ý thức sự say của chính mình một cách rất đặc biệt Nữ sĩ uống rượu, uống để quên đi thân phận của một người phụ nữ bé nhỏ, uống để quên

đi cái kiếp bấp bênh, chông chênh trong tình duyên Nhưng lạ thay! Càng uống thì lại càng tỉnh; càng uống, nữ sĩ lại thấy rõ hơn cảnh tuyết nguyệt hiện hữu mồn một; càng uống lại càng ý thức được số kiếp của mình:

Chén rượu hương đưa say lại tỉnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn

(Tự tình – bài 2)

Hồ Xuân Hương uống rượu, bà uống như để thoát khỏi cảnh thực tại, để nhẹ nhõm

mà thoát khỏi bi kịch mang tên “kiếp hồng nhan”; uống để chìm vào cái nhẹ dịu

của hương rượu và cái men nồng làm cho con người ta say Nhưng bi kịch thì vẫn

ở đó, càng uống lại càng buồn, thoát khỏi bi kịch này thì bà lại rơi vào một bi kịch

khác, bi kịch “không thể say” Chén rượu thơm nồng nhưng tửu tính của nó chẳng

có một chút tác dụng gì đối với người phụ nữ mạnh mẽ kia Câu thơ của Xuân

Trang 33

Hương nữ sĩ khiến ta nhớ đến hai câu thơ sau trong bài thơ Tuyên Châu Tạ Diễu

lâu tiễn biệt hiệu thư thúc Vân của Lý Bạch:

Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu

Cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu

Tạm dịch là:

Rút dao chém nước, nước vẫn chảy Nâng chén tiêu sầu, sầu càng sầu

Lý Bạch cũng uống rượu để giải sầu và bi kịch của thi nhân nổi tiếng nước Trung

Hoa đời Đường này cũng không khác gì bi kịch “không thể say” của Hồ Xuân

Hương Tuy nỗi sầu của hai thi sĩ có khác nhau nhưng cả hai càng uống thì càng tỉnh, càng uống càng buồn, không thể nào thoát ra khỏi được những bi kịch đời mình là điều không thể phủ nhận

Cao Bá Quát cũng là thi nhân mang rất nhiều nỗi sầu trong cuộc đời của mình Có thể nói, Cao Bá Quát là một nhà thơ với cuộc đời truân chuyên, không được suôn sẻ mấy Ông buồn, cái buồn của nhà thơ đứng trước thực tại, một thực tại buồn và cũng giống như phù du Ông đã nhận ra cái vô thường của cuộc sống

và nhạo với nó một tiếng “nực cười” Và rồi nhà thơ cũng mượn đến men rượu để

say, để quên đi cuộc đời phù du kia:

Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy?

Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười, Thôi công đâu chuốc lấy sự đời,

Tiêu khiển một vài chung lếu láo

(Uống rượu tiêu sầu)

Trang 34

Cái say trong thi ca trung đại Việt Nam không chỉ dừng lại ở bấy nhiêu thi nhân, mà phải nói rằng, đây là những gương mặt tiêu biểu khi đưa cái say thành một phạm trù nghệ thuật, lấy cái say để tỏ tình, tỏ chí của chính mình Xâu chuỗi tất cả những gì đã phân tích trên đây thì tựu trung ở họ, cái say như liều thuốc an thần giúp họ gửi vào đó những tâm sự, những ưu tư của mình, mượn rượu giải sầu

và cái đích cuối cùng là để say, để quên đi cái thực tại nhố nhăng, một thực tại của những con người cá nhân trong một xã hội phi cá nhân; hơn hết nó chính là tiếng nói phản kháng xã hội một cách dứt khoát và mãnh liệt của những đại diện phát ngôn cho cả một thời đại này

1.1.3.3 Cái say trong thơ ca hiện đại

Không chỉ trong văn học dân gian hay văn học trung đại ta mới thấy được cái say; mà trong văn học hiện đại, cái say cũng có một chỗ đứng nhất định của

nó trong các sáng tác của những nhà thơ tên tuổi như Tản Đà, Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn, Lưu Trọng Lư,… Tất thảy những sáng tác của những thi sĩ này đều tạo nên cho thi đàn văn học Việt Nam hiện đại một màu sắc riêng

Cái say trong thơ ca hiện đại, chúng tôi xin phép chỉ điểm qua một vài cái tên tiêu biểu của làng thơ và dừng lại ở giới mốc năm 1945 Sở dĩ như vậy vì những lẽ sau đây:

Đầu tiên, ta thấy thế kỉ XX là thế kỉ chứng kiến sự “thay da đổi thịt” của

một nền văn học về mặt thi pháp cũng như quan điểm nghệ thuật về con người Khoảng thời gian từ 1900-1930 được xem như là giai đoạn chuyển giao quan trọng trong việc kế thừa những tinh hoa của nền văn học trung đại đi trước và cách tân nó thành những trào lưu, những khuynh hướng trong thời hiện đại ở giai đoạn sau đó, giai đoạn 1930-1945 Đặc biệt là thơ ca, trong giai đoạn 1932-1945 là thời

kì đỉnh cao, đây là một giai đoạn phát triển vượt bậc, được ví như “mười mấy năm

của ta bằng mấy trăm năm ở người”, với sự xuất hiện của phong trào Thơ Mới

Trang 35

Thơ Mới ra đời như một sự vượt thoát khỏi những thi pháp trung đại đồng thời

mở rộng và cởi trói về nội dung phản ánh như đề tài, chủ đề, khuynh hướng, tư tưởng, bên cạnh đó còn chịu ảnh hưởng của thơ ca Pháp Cũng trong giai đoạn này, cái tôi trữ tình và kiểu nhà thơ lãng mạn đã xưng danh và biểu hiện mình một

cách trực tiếp đầy tự tin qua đại từ “tôi” và tự ý thức mình dưới hình thức cởi mở

những cảm giác trẻ trung, thành thực, tươi mới mang tính chất tự thú, tự ngắm và

bấy giờ một nhịp thở Ở đó, có những cái tên hay những biệt hiệu đã trở thành

cách ngôn, đại diện cho một số nhà thơ Ví như Tản Đà được mệnh danh là “thi

sĩ tửu đồ”, thậm chí báo Phong Hóa còn châm biếm Tản Đà, xem ông như một

đại diện của sự say sưa Hay khi nói đến Vũ Hoàng Chương, người ta nghĩ ngay

đó là nhà thơ say

Ở giai đoạn từ 1945-1975, thơ ca phục vụ cho Cách mạng; thơ ca phải là những hồi kèn xung trận, cổ vũ cho hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc

Ta không thấy trong thơ ca thời này mang màu sắc u buồn, cô đơn mà ngược lại

nó mang một màu sắc tươi vui, hừng hực khí thế đấu tranh giành lại độc lập Thử hỏi rằng, trong một giai đoạn mà đất nước đang sục sôi, hăng hái đánh giặc mà những thanh âm của sự say sưa cất lên thì thật là lạc điệu Và nếu có xuất hiện thì cũng nhanh chóng bị đào thải bởi những yếu tố mang tầm dân tộc và tính tương hợp của thời đại

Trang 36

Cái say trong thơ ca hiện đại từ đầu thế kỉ XX đến những năm 1945 tập trung biểu hiện nỗi cô đơn, thất vọng của con người, của cái tôi cá nhân bơ vơ trước thực tại Một sự ưu tư trước sự giao thời giữa cái mới và cái cũ Chính vì thế những nhà thơ thời này thường có khuynh hướng ẩn mình trong rượu và trốn mình trong sự say sưa như một trong những cách chọn lựa cuộc sống Các nhà thơ như Tản Đà, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương,… trong các tác phẩm nói về cái say của mình, đều mượn nó để nói lên sự buồn rầu, chán nản của thực tại

Nói đến Tản Đà là nói đến cái chán, chính cái chán chường với thời cuộc,

với cuộc đời đã khiến ông phải gửi mình vào “khoái lạc” và Tản Đà tìm đến khoái lạc “như tìm một lối thoát chứ không phải vì thiếu “khoái lạc” rồi mới bi quan,

chán đời.” [3; 272] Và rồi cái “khoái lạc” mà Nguyễn Khắc Hiếu tìm thấy ấy

chính là đắm mình với rượu, để mà say cho quên đi sự đời và nỗi buồn nhân thế

cứ bám víu lấy nhà thơ:

Cảnh đời gió gió mưa mưa

Buồn trông ta phải say sưa đỡ buồn

Rượu say thơ lại khơi nguồn, Nên thơ rượu cũng thêm ngon giọng tình

Rượu thơ mình lại với mình, Khi say quên cả cái hình phù du

(Thơ rượu)

Tản Đà đã nói về cái sáng nắng chiều mưa của cuộc đời, nhà thơ trông “cảnh đời

gió gió mưa mưa” mà lòng sinh buồn Cái thời nay thế này, mai thế khác, vật đổi

sao dời quả là một cuộc đời không bình lặng, và có chăng nó dị thường và méo

mó Chính vì thế mà Tản Đà đã trút hết bầu tâm sự của mình vào từng ngụm rượu

Trang 37

để “say sưa cho đỡ buồn” Và khi Tản Đà bắt đầu lúy túy thì cũng là lúc “thơ lại

khơi nguồn”, chúng là cứu cánh giúp Tản Đà bấu víu vào để mà sống, mà nhại

với đời một chữ “ngông”

Hay Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ chung tình, suốt một đời chỉ sống với thơ, rượu, bàn đèn và tình yêu ban đầu Cuộc tình ấy không bao giờ thành, dù ông đã chờ đợi, ước mơ với bao nhiêu năm tháng mỏi mòn trong men say và nghiện ngập

Ðã có lúc ông tìm quên trong những quán rượu, uống say, nhảy múa với những vũ nữ, lảo đảo quay cuồng theo điệu nhạc vừa cảm cảnh thân phận nhạt nhòa hương phấn của người, vừa đau xót cuộc tình không phai mà không thành của mình:

Hãy buông lại gần đây làn tóc rối,

Sát gần đây, gần nữa, cặp môi điên,

Rồi em sẽ dìu anh trên cánh khói,

Đưa hồn say về tận cuối trời Quên [35; 349]

Dù nhảy nhót, uống say thâu đêm suốt sáng, cả một “thành sầu” như tảng núi, vẫn

kiên cố nằm ì trong lòng, chẳng làm sao phá vỡ đi được Niềm đau, nỗi sầu vẫn còn đó Ông nói với người vũ nữ, mà cũng là nói với ông: sầu này không thể nào phai đi được:

Đất trời nghiêng ngửa,

Mà trước mắt thành Sầu chưa sụp đổ Đất trời nghiêng ngửa,

Thành Sầu không sụp đổ, em ơi! [35; 348]

Trang 38

Cái say làm cho nhà thơ nghiêng ngửa, dù say nghiêng say ngửa như thế nhưng

Vũ Hoàng Chương vẫn không thể nào thoát ra được cái cảnh sầu muộn do mối

tình đầu gieo nên Với “Thành sầu không sụp đổ”, Vũ Hoàng Chương đã cho ta

thấy được sự buồn rầu chán nản của mình trước thực tại, dù uống rượu nhưng vẫn không thể nào say được

Lưu Trọng Lư - con người “ưa sống trong cuộc đời nhiều hơn sách vở”

[35; 41] cũng say Cái say của một con người phiêu lưu trong trường tình, của một

kiếp giang hồ “Từ những kỷ niệm tươi sáng về người mẹ đã khuất, cho đến bao

nhiêu buồn thương, bao nhiêu chán nản, bao nhiêu đau khổ vì tình yêu, cả cái cảnh đời giá lạnh của đôi vợ chồng lúc “tình đà xế bóng”, cùng cái thú ngây ngất của cuộc đời “giang hồ”, Lư đều kể cho ta nghe một cách rất cảm động” [35;

280]:

Mời anh cạn hết chén này,

Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn

Tiếng gà đã rộn trong thôn,

Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay

Để lòng với rượu cùng say Chừ đây lời nói chua cay lạ thường

Sá gì hớp rượu, bận lòng

Đợi gì môi nhấp rượu nồng mới say?

… (Giang hồ)

Trang 39

Hay đây, cái buồn của người tài tử sắp phải xa giai nhân khi một mùa đông thương nhớ đi qua Vẫn còn đó những kỉ niệm, vẫn còn đó dáng hình mà người

em gái “trong song cửa” và chàng tài tử “đứng dựa tường” nhưng khoảng cách

dần kéo hai người về hai đối cực xa nhau hơn Người tài tử nhẹ nhàng luyến tiếc, luyến tiếc những thứ ở gần trước mắt nhưng lại xa cách tận chân trời Cách xa ấy không phải là khoảng cách địa lí, cũng không phải về thời gian mà nó là sự xa

cách của “nỗi nhớ”:

Ai bảo em là giai nhân

Cho đời anh đau khổ?

Ai bảo em ngồi bên cửa sổ

Cho vướng víu nợ thi nhân?

(Một mùa đông)

Nỗi buồn càng dâng sâu trong phút giây tiễn biệt Lưu Trọng Lư lại mượn đến

rượu nhưng lần này, thi nhân không say mà là người giai nhân “đùa nô uống rượu

say”, cái nô đùa ấy, vô tình như hớp hồn thi nhân bởi đôi môi, đôi má và cả đôi

mắt “say màu sán lạn” cũng chìm vào trong tim thi nhân như một thứ hấp lực diệu

kì Tuy không uống rượu nhưng thi nhân cũng say, cái say đắm, say tình do “men”

của người giai nhân kia vương lên Cái tình kia đã vương vào lòng Lưu Trọng Lư

để rồi “lòng buồn, buồn mãi không thôi” Qua đây, ta thấy tuy gặp nhau, nhớ nhau

và đúng người nhưng không đúng thời điểm thì kết cục hai con người cũng chỉ

như “chiếc sao băng băng mãi”, “Để lòng buồn, buồn mãi không thôi” Vậy đấy,

một mối tình đẹp nhưng kết lại chỉ bằng một nỗi buồn của sự dang dở lứa đôi

Cái say còn là một phương tiện để nhà thơ giải khuây, Vũ Hoàng Chương mượn rượu giải khuây, để tìm quên:

Trang 40

Say đi em! Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn, Cho cung bực ngả nghiêng, điên rồ xác thịt

Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!

Ta say quá rồi!

Sắc ngã màu trôi…

Gian phòng không đứng vững,

Có ai ghi hư ảnh sát kề môi?

(Say đi em)

Cái say đã ngấm vào người, ngoại cảnh cũng trở nên khác thường: “lơi lả ánh

đèn”, “gian phòng không đứng vững”,… Nhưng càng uống thì càng không thể

say, càng uống thì càng tỉnh bởi cái nỗi buồn trong lòng nhà thơ quá lớn và rượu

là chưa đủ với một thi nhân đang sầu vì “một điều gì đó khó nói” ngay lúc này

Ta có một Tản Đà sòng phẳng, hết mình với mọi cuộc chơi, nhà thơ không giới hạn mình trong bất kì một sự gò bó, khuôn thước nào cả, kể cả với rượu, Tản

Đà cũng không lùi bước bao giờ:

Say sưa nghĩ cũng hư đời,

Hư thời hư vậy say thời cứ say

Đất say đất cũng lăn quay, Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười

(Lại say)

Ngày đăng: 18/06/2018, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w