1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGƯỜI PHỤ nữ TRONG THƠ hồ DZẾNH

20 262 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 52,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sâu xa hơn nữa, nó được kết tinh từ lịch sử của hai dân tộc Việt, Trung, tuy không thiếu những trang oanh liệt, nhưng mênh mang nơi cõi thế, dường như vẫn là cái “bể khổ” mà hằng hà sa s

Trang 1

NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM QUA BÀI THƠ “CẢM XÚC” CỦA HỒ DZẾNH

_

Kiều Văn

HỒ DZẾNH

Hồ Dzếnh là một nhà thơ rất mực khiêm nhường suốt đời ẩn thân trong một cuộc sống cần lao bình dị, nhưng không hề bị những người đã từng đọc thơ ông quên lãng Hôm nay nhân “giở bồ sách cũ”, tôi tìm lại tập thơ của ông do tôi tuyển chọn và NXB Đồng Nai đã cho ra mắt vào năm

1997 Một lần nữa, tôi đã thực sự xúc động khi đọc bài thơ mà tôi đã trân trọng đặt ở vị trí đầu tiên trong tuyển tập Đó là bài “Cảm xúc”

Là nhà thơ mang hai dòng máu Hoa – Việt (mẹ ông nguyên là một “cô lái đò” ở Thanh Hoá), sinh ra và lớn lên khi đất nước còn đang chìm trong cảnh nô lệ lầm than, hồn thơ của Hồ Dzếnh như thể một hạt “lệ ngọc” được kết tinh từ cuộc đời lam lũ của cha, của mẹ, của bản thân và của đồng bào ông Sâu xa hơn nữa, nó được kết tinh từ lịch sử của hai dân tộc Việt, Trung, tuy không thiếu những trang oanh liệt, nhưng mênh mang nơi cõi thế, dường như vẫn là cái “bể khổ” mà hằng hà sa số kiếp người đã trầm luân qua bao nhiêu thế kỉ…

Tình và ý trong bài thơ “Cảm xúc” là một tiếng nói, một cách cảm nhận mới mang chiều sâu suy

tư và cảm xúc của một nhà thơ hiện đại đối với hình tượng người con gái, người phụ nữ Việt Nam truyền thống Tác giả đã nhanh chóng phát hiện được thực chất bi kịch của số phận họ, và

đã đi thẳng vào trung tâm của bi kịch ấy:

Trang 2

Cô gái Việt Nam ơi!

Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.

Những câu thơ ấy chứa đựng niềm cảm thương sâu sắc của một trái tim mang nặng tình nhân ái nhưng rơi vào bế tắc bởi chưa có cách nào giải toả được Vì vậy nỗi cảm thương ấy đã bị ứ nghẹn lại trong lòng nhà thơ Nhưng vấn đề trọng yếu nhất đã được nêu lên: nhờ một linh cảm nhạy bén, nhà thơ biết rõ rằng có một sự ứ nghẹn gay cấn hơn nhiều ở phía “cô gái Việt Nam” được ông diễn đạt bằng mấy từ: “tình cô u uất lắm” Nhà thơ đã phát hiện được cái nỗi đau ngầm, cái “vấn nạn” vẫn hiển nhiên tồn tại nhức nhối ở “cô”, cho dù suốt đời cô đã phải ráng hết sức nhấn chìm nhân bản của mình, phải khốn khổ học cho kì được tính “nhẫn” mà gia đình và xã hội gay gắt đòi hỏi cô phải có Nỗi đau ấy, vấn nạn ấy là gì? Là nỗi khát thèm được người khác biết đến con người và số phận của mình, cảm thông, chia sẻ và an ủi! Trong xã hội Việt Nam, khi

mà ánh sáng của một thời đại thật sự văn minh và tiến bộ chưa dọi tới, sự hiểu biết, cảm thông, chia sẻ ấy hình như rất ít ỏi, thậm chí có khi nó còn trở thành sự vô cảm Đến như vợ của Tú

Xương – nhà thơ đã để lại thi đàn bài thơ “Thương vợ” nổi tiếng “Quanh năm buôn bán ở mom sông…” còn phải thở than trách móc rằng “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc/ Có chồng hờ hững cũng như không” nữa là! Chính vì hiểu thấu tâm tư ấy của cô gái Việt Nam mà Hồ Dzếnh đã mạnh

dạn miêu tả thực chất tấn bi kịch của đời cô:

Bồng bế con thơ, đón tuổi già!

Vẻn vẹn có bốn câu thơ với vài nét chấm phá mà tất cả cuộc đời, tất cả số phận đáng thương của cô gái Việt Nam được lột tả chính xác, giống như những thước phim quay vội nhưng sắc nét! Người ta nói không sai: một nỗi đau khổ được chia sẻ sẽ chỉ còn lại một nửa nỗi đau khổ Tôi tin rằng bất kì người phụ nữ Việt Nam nào đọc những câu thơ này cũng cảm thấy xúc động, cũng thấy lòng phần nào vợi bớt khổ đau, và cũng thầm cảm ơn tấm lòng quý hoá của nhà thơ quá cố, cũng muốn thắp cho ông một nén hương tưởng nhớ

Có phải nhà thơ Hồ Dzếnh đã phóng đại tấn bi kịch của cô gái Việt Nam chăng? Tôi xin bày tỏ: trên thực tế, ở nửa đầu thế kỷ XX, thời đại “văn minh Âu hoá” tuy đã mở màn trên đất nước ta, nhưng trừ một số ít phụ nữ ở các thành thị, cuộc sống được ít nhiều thay đổi, tự do hơn, còn ở hầu hết các vùng nông thôn rộng lớn thì – đúng như nhà văn Tô Hoài đã viết – “cuộc sống không

một chút thay đổi, như trong tranh vẽ” (Xóm Giếng ngày xưa) Chính Hồ Dzếnh đã lí giải về sự

thật này như sau:

Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi.

Trang 3

Thế nhưng trong khi nhận thức thực chất tấn bi kịch của người con gái Việt Nam xưa, tâm hồn thi nhân của Hồ Dzếnh đã đồng thời lĩnh hội được đầy đủ về những phẩm chất vàng ngọc của họ Phát hiện ấy đã tạo nên một sự đối lập triệt để giữa hai phạm trù ĐAU KHỔ - CAO QUÝ khả dĩ gây ra được những hiệu ứng sắc cạnh về trí tuệ và những cảm xúc mãnh liệt về tình cảm – những cái làm nên đặc trưng của văn chương kim cổ

Chính người con gái, người phụ nữ Việt Nam nói chung, đã tạo nên những vẻ đẹp vô ngần gắn liền với quê hương xứ sở thân yêu:

Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ.

Phải, những người con gái Việt Nam chân chính không khi nào đánh mất đức hạnh cao quý của phụ nữ phương Đông, cũng không bao giờ để lụi tắt niềm tin vào tương lai của cuộc sống Họ

tuyệt nhiên không bao giờ là những kẻ lánh đời và yếm thế Câu thơ “Son sắt, lòng cô vẫn đợi chờ” gợi nhớ đến câu thơ của Hồ Xuân Hương “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn/ Nhưng em vẫn giữ tấm lòng son” Thơ Hồ Dzếnh đã cho chúng ta thấy vẻ đẹp và đức hạnh của người phụ nữ Việt

Nam là bất hủ với thời gian

Nhà thơ cũng không quên ghi nhận biết bao “công lênh” của những cô gái Việt đã đóng góp cho quê hương đất nước bằng nết chịu thương chịu khó và đức quên mình, khiến chúng ta càng khâm phục bao nhiêu thì càng thương cảm bấy nhiêu:

Trong một làng con, đã héo rồi!

Hiểu biết, sẻ chia bằng tấm tình yêu thương chân thật, đằm thắm, nhưng đối với nhà thơ, thế vẫn

là chưa đủ Toàn bộ tình cảm và suy nghĩ của ông, ở đoạn thơ kết, đã thăng hoa, dồn nén rồi bùng nổ với một mãnh lực mới Có thể nói, bằng sức mạnh của một hồn thơ đích thực, bằng cách vươn theo sự phát triển nội tại tất yếu của một tình yêu sâu nặng, của dòng xúc cảm thơ trào cuộn, rốt cuộc lí trí của Hồ Dzếnh bỗng bừng sáng và ông đã tìm thấy chiếc chìa khoá vàng để giải toả nỗi ứ nghẹn tâm tư của cô gái Việt Nam đã dàn trải trong suốt mấy khổ thơ liền Mẫn tuệ nắm bắt ngay lấy hình thức “tụng ca”, ông đã cất cao giọng để tưởng thưởng, để ca ngợi đức hạnh cao quý, chân giá trị con người, cuộc sống cùng với những công lao và những hi sinh to lớn nhưng thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam đối với gia đình, xã hội và quê hương xứ sở

Như trên đã nói, nỗi buồn sâu kín nhất của người phụ nữ Việt Nam là “mình đã cống hiến tất cả cho cuộc đời này, và nếu được hưởng thụ thì cũng chỉ là “một tí con con”, thế nhưng có ai biết đến điều ấy cho mình đâu?” Hiểu thấu điều đó, Hồ Dzếnh với thiên chức của một nhà thơ, đã dùng những lời vàng ngọc của thi ca để mạnh mẽ xua tan cái tâm sự u uất ấy và làm bừng lên trong tâm hồn “cô” những tia nắng vui tươi Chúng ta hãy lắng nghe khúc tụng ca của nhà thơ:

Trang 4

Cô gái Việt Nam ơi!

Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.

Cổ ngôn có câu “Thi khả dĩ hứng” (thơ có thể làm hứng khởi con người), thì quả vậy

Hồ Dzếnh đã mang hết tâm huyết để thực hiện cái công việc thật lớn lao, thật cao thượng: thay

thế những hiện thực ảm đạm, đáng buồn của cô gái Việt Nam (được diễn đạt bằng những từ lận đận, u uất, già, héo, khổ cực) bằng một hiện thực hoàn toàn mới mẻ, chói ngời, thắm đẹp, được diễn đạt bằng những từ ngữ trang trọng, thân thương và đầy khích lệ: nạm vàng, lòng cô gái Việt Nam, tươi

Hành động bằng văn chương nghệ thuật ấy của nhà thơ Hồ Dzếnh nào khác gì hành động “cứu khổ ban vui” của các đấng Phật, Tiên!

“Cảm xúc” chỉ là một bài thơ dung dị, mềm mại như nước, nhưng qua đó chúng ta đã có thể thấy được trái tim, trí tuệ, hồn thơ và nghệ thuật thơ đích thực của Hồ Dzếnh

đã đăng báo Giáo Dục và Thời Đại số 93 ngày 5-8-2003)

Kiều Văn

THƠ CAO BÁ QUÁT _

KIỀU VĂN

Trang 5

Ông chỉ đỗ đến cử nhân nhưng trên thực tế, Cao Bá Quát đã trở thành một nho sĩ kiệt hiệt của thời đại Vua Tự Đức đã phải khen:

Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán.

(Với văn của Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thì văn thời đời Tiền Hán coi bằng không)

Còn những người sùng bái ông thì gọi ông là Thánh Quát!

Danh bất hư truyền, Cao Bá Quát là người con trác việt mà non sông Việt Nam đã sản sinh ra: một con người toàn diện với trái tim vô cùng nhân hậu, tâm hồn đằm thắm, với hồn thơ và tài năng văn chương lỗi lạc, với nhãn quan vô cùng sâu sắc của một hiền triết am tường chân tướng của thời đại, với tầm vóc và cốt cách của một bậc đại hùng đại đức Ông đã để lại trên thi đàn Việt Nam cổ kim một tên tuổi bất hủ, đồng thời để lại một trang sử chói lọi chống chính quyền phong kiến thối nát

Mặc dù đại sự “thay đổi thời cục” không thành, Cao Bá Quát đã thực thi một sứ mạng lịch sử: dùng tất cả sức mạnh “hích” lịch sử tiến lên phía trước! Sự phủ nhận triệt để của ông với chính

Trang 6

quyền phong kiến đương thời là một sự cảnh báo nghiêm khắc, là lời tiên tri cực kì chuẩn xác: chỉ vài ba năm sau khi ông từ trần, triều đình Tự Đức, vì cố tình cưỡng lại cú hích ấy, không tiếp nhận lời cảnh báo ấy, không chịu lột xác, đã dần đi đến chỗ bại vong, rốt cuộc phải đầu hàng nhục nhã trước thực dân Pháp, chịu để mất nước và trở thành bù nhìn cho kẻ xâm lược

Những trăn trở, đớn đau của Cao Bá Quát với số phận của đất nước ta thời ấy sao mà giống với những trăn trở đớn đau của thi hào Puskin với số phận của nước Nga dưới chế độ Sa hoàng đến thế!

Có lẽ vì vậy mà cả hai thiên tài, đồng thời là hai nhân vật anh hùng ấy đều phải ngã xuống

vì mũi tên hòn đạn của những thế lực phản động!

Tục ngữ Việt Nam có câu: “người đôi ba đấng” Theo chúng tôi, để tìm hiểu “chân tướng” của một hiện tượng rất lớn lao, phức tạp – hiện tượng Cao Bá Quát – có lẽ phương pháp tốt hơn cả là

“giải mã” cái bản chất “đấng” ấy của ông, tức là bản chất tính cách anh hùng của ông phát lộ

theo một logic nội tại trải qua các giai đoạn: ra đời, được đào luyện, thử thách trong “lò đời”, và phát triển tới tột bậc Căn cứ nguyên lí “những người có tài trí lỗi lạc, đức độ bao la, khi đem tài đức ấy thi thố ra việc làm, thì là sự nghiệp, khi thổ lộ ra lời nói, thì là văn chương” (Nguyễn Năng Tĩnh), chúng ta có thể thông qua những áng văn chương ông để lại để nghiên cứu toàn diện

về ông

Trên thi đàn Việt Nam kim cổ, ngoài thơ của Nguyễn Công Trứ và một vài thi nhân sau này

như Tú Xương, Tản Đà… thơ Cao Bá Quát đã đặc tả cái tính cách anh hùng ấy hết sức đậm nét.

Sở dĩ ông làm được điều đó bởi vì ông đích thị là người mang cái tính cách ấy (những thi nhân

không có tính cách ấy thì lấy gì mà miêu tả nó?)

Một người sinh sau Cao Bá Quát là Phan Bội Châu đã viết:

Sinh vi nam tử yếu hi kì,

Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di?

(Sinh ra làm trai cần phải hiếm, phải lạ, Không lẽ để cho trời đất tự ý xoay vần?)

Ngay từ khi còn rất trẻ, Cao đã tỏ ra là một đấng nam tử “hiếm, lạ” Cái “chí làm trai” của ông

đã luôn luôn thôi thúc ông tìm đến hoà mình vào với đất trời cao rộng:

Trời đất có núi ấy,

Muôn thuở có chùa này.

Phong cảnh đã kì tuyệt,

Lại thêm ta đến đây.

Ta muốn lên đỉnh núi

Trang 7

Hát vang với nước mây…

(Qua núi Dục Thuý) – Ngô Lập Chi dịch

Nhiều bài thơ biểu đạt cái tráng khí ngất trời của một chàng thanh niên đang nung nấu một lí tưởng cao vời:

Ví không sóng gió phũ phàng

Thì sao biết được dặm trường chí xa?

(Từ Thanh Trì buông thuyền xuôi nam) – Trần Huy Liệu dịch

Sáng lên Hoành Sơn trông,

Chiều xuống Bàn Thạch tắm.

Nhặt hòn đá mỗi nơi,

Núi sông không đầy nắm.

(Tắm ở khe Bàn Thạch) – Hoá Dân dịch

Cùng với thiên nhiên kì vĩ, những tấm gương hiển hách của bao đấng anh hùng trong lịch sử dân tộc đã khích lệ và đào luyện nên khí phách anh hùng của nhà thơ, đúng theo qui luật “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” Những câu thơ Cao viết về đề tài này thật hùng hồn khác thường:

… Phá giặc roi vàng gầm sấm sét,

Lên không ngựa sắt lạ xưa nay.

Công ghi cõi Việt so trời đất,

Oai dẹp quân Ân khiếp cỏ cây.

Miếu cũ thông reo khi gió động,

Tưởng quân thắng trận trở về đây.

(Vịnh Đổng Thiên Vuơng) – Vũ Mộng Hùng dịch

Tiết cứng, lòng trong, khí phách hùng,

Một tay muốn kéo lại vầng hồng.

Trang 8

Cô trung sấm sét không sờn chí,

Thất trảm yêu ma phải rợn lòng…

(Vịnh Chu An) – Vũ Mộng Hùng dịch

Con đường lập danh phổ biến nhất của kẻ sĩ đương thời là… thi đỗ ra làm quan! “Ở đời thì phải chiều đời”, Cao đã cố gắng nhập cuộc Nhưng ác hại thay, chế độ thi cử đương thời không phải

là cái thước có thể đo được những tài năng kiểu như Cao (hoặc Tú Xương sau này) Chính vì vậy

mà “Thánh Quát” lúc trẻ đã nhiều lần… thi trượt:

Đời ta vì chữ danh,

Mười năm uổng miệt mài

Một chút tên trên bảng

Phờ phạc cả con người…

(Viết hôm tiếp được thư nhà) – Hoàng Tạo dịch

Có thể nói, những thất bại về khoa cử giống như “những cú đấm đầu tiên” vào tính cách anh hùng của Cao và nó làm cho chàng thanh niên nhức nhối Thế rồi, do đỗ đạt thấp, Cao chỉ được

nhận một chức quan nhỏ: hành tẩu bộ Lễ (chạy việc vặt trong bộ Lễ) Một tiềm năng lớn lao bị

cột vào một địa vị nhỏ nhoi vô bổ như vậy, khác nào một chú chim đại bàng bị nhốt chặt trong lồng? Phản ứng lại tình trạng đó là những lời thơ cám cảnh:

Cỏ vườn, tên chẳng rõ

Hoa đỏ cháy bên thềm.

Có sắc, được người chuộng,

Không hương, đời lãng quên.

Cành mọc, vẻ xuân đượm,

Quả ra, chẳng thể ăn!

Nét thanh cao riêng giữ,

Xui ta luống thở than!

(Cỏ trong vườn) – Kiều Văn dịch

Trang 9

Cũng như Nguyễn Công Trứ, cái tôi nhân bản của Cao Bá Quát được thể hiện vô cùng sắc nét

trong thơ, làm nên “máu thịt” của một dòng văn chương đích thực về con người, đối lập với thứ văn chương ước lệ vô giá trị vẫn thường xuất hiện đầy dẫy trong mọi thời:

Đời ta vốn là hơi là bụi,

Theo từng cơn gió thổi tơi bời,

Đi về chẳng có định nơi,

Chỉ trong giữa khoảng đất trời mênh mang.

Từ trăm luyện sắt gang cứng rắn,

Khí hào hùng một đấng ngang tàng,

Lưới đời từ độ vấn vương,

Giày vò kể đã nhiều phương giũa mài.

Lòng ta vốn một hai phóng khoáng,

Nỗi lo buồn bỗng vướng như không,

Khác chi chiếc lá vẫy vùng…

(…ở ngục Thừa Thiên) – Vũ Mộng Hùng dịch

Quả thật con người mang tính cách anh hùng ấy đã bị dằn vặt ác liệt vì không tìm được đường tiến thân:

Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng,

Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng!

Nghe ta hát “cùng đồ” một khúc!

Phía bắc núi bắc, núi muôn lớp!

Phía nam núi nam, sóng muôn đợt!

Sao mình anh còn trơ trên bãi cát!

(Đoản ca “Đi trên bãi cát”) – Huệ Chi dịch

Trang 10

“Anh hùng đa nạn”, chính lúc đang ở bước “đường cùng” ấy thì một tai hoạ lớn ập xuống: Cao

bị tù tội chỉ vì lòng “liên tài” (ông đã chữa một chữ trong quyển thi của một thí sinh để cứu thí sinh này khỏi bị rớt uổng) Không còn là chuyện một thư sinh lãnh “những cú đấm” trong thời

“thi trượt” nữa, mà là một nhân tài lỗi lạc, một nhân cách cao cả bị một triều đình phong kiến làm nhục, gìm sâu xuống vũng bùn nhơ:

…Thân tù nằm sấp, vẻ xanh xám,

Như con dê sợ nhìn trước sau…

Bị tra tấn mãi miệng cứng đờ…

Tiếng quan như sét rường nhà rung

Ánh roi như chớp vụt tứ tung,

Giơ lên, rồng quật bờ ao lở,

Ngừng lại, nước dội nồi canh bồng…

(Bài ca “cái roi song”) – Xuân Trang dịch

Nội dung đặc biệt nổi bật trong thơ Cao Bá Quát là những tâm tư, những nỗi uất hận sâu sắc

về thân thế mù mịt, về cảnh sống tù hãm của một con người hào kiệt bất phùng thời Những lời thơ rướm máu tuôn trào dưới ngòi bút của họ Cao tưởng có thể làm đau đớn đến muôn đời:

Con nước mới, giục đêm tàn,

Rét đầu mùa tiễn muộn màng cảnh thu.

Tháng ngày đôi mắt mịt mù,

Giữa đất trời, một anh tù làm thơ.

Trông gươm tựa gối bơ phờ,

Gọi đèn xem lại xác xơ áo cừu.

Xót mình tâm lực cạn đâu,

Mà thân giam hãm mối sầu khôn nguôi!

(Đêm một mình cảm nghĩ) – Hoàng Trung Thông dịch

Chết trong nghiên bút, ta nào phải,

Ngày đăng: 01/06/2018, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w