Một số nhà văn không têntuổi được triều đình nâng đỡ đã ghen ghét Corneill, vu cáo ông "ăn cắp văn của Tây ban nha, thiếu đạo đức khi cho Simen hứa hôn với kẻ đã giết cha mình”.v.v… Nhận
Trang 1PHẦN I: VĂN HỌC CỔ ĐIỂN THẾ KỈ 17- CHỦ NGHĨA CỔ ĐIỂN
PHÁPCHƯƠNG I – KHÁI QUÁT
Văn học thế kỉ XVII là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học thành văn của nhân dân, dân tộc Pháp Nhiều tác giả, nhiều tác phẩm xuất sắc trong thời kì này vẫn sống khá mạnh
mẽ trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật hiện đại của thế giới
1 – NƯỚC PHÁP TRÊN ĐƯỜNG TIẾN TỚI MỘT QUỐC GIA THỐNG NHẤT HÙNG MẠNH.
1.1 – Đến cuối thế kỉ 16 nước Pháp nghèo nàn bị chia cắt bởi nhiều lãnh chúa phong kiến Chiến tranh tôn giáo và phong kiến liên miên và tàn khốc: cuộc viễn chinh sang Italia vừa chấm dứt thì nội chiến tôn giáo đẫm máu giữa đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành xảy ra suốt hơn 30 năm (1562 – 1598) Chế độ phong kiến cát cứ trở thành vật chướng ngại lớn trên bước đường đi tới của lịch sử dân tộc Pháp
Trong khi đó, giai cấp tư sản Pháp hình thành từ thế kỉ 16 đang lớn dần lên nhờ phương thức kinh doanh tư bản Giai cấp tư sản khao khát giành lấy chính quyền, tuy có ưu thế về chính trị nhưng chưa thể lật đổ g/c phong kiến thống trị Họ quay ra dựa vào nhà nước phong kiến tập quyền để mở rộng kinh doanh G/c phong kiến đang sa sút nhưng vẫn cố giữ chính quyền, tự biết còn đủ mạnh để ngăn trở tư sản Mặt khác, g/c phong kiến cũng muốn lợi dụng khả năng kinh tế tư bản để tồn tại Tình trạng đó tạo ra thế quân bình tạm thời giữa quí tộc và tư sản dưới hình thức Nhà nước quân chủ chuyên chế
1.2- Nền quân chủ chuyên chế Pháp trải qua ba triều đại dòng họ Bourbon
Vua Hăngri IV lên ngôi giữa cảnh hoang tàn của nước Pháp sau chiến Hăngri thực hiện đương lốì cứng rắn xen kẽ mềm dẻo về chính trị, tôn giáo nhằm củng cố chính quyền trung ương.Năm 1598 vua ban hành pháp lệnh Năngtơ bảo đảm tự do tín ngưỡng và tự do chính trị Vua bị
ám sát, con trai là Louis 13 lên ngôi giữa lúc bọn lãnh chúa phong kiến lại nổi lên khắp nơi
Vua Lui 13 (1610-1643) dựa vào Giáo chủ Risơliơ nắm quyền tể tướng, tiếp tục sự nghiệp của Hăngri 4, quyết tâm xây dựng một nhà nước dân tộc thống nhất, phát triển nhiều mặt chiếm
vị trí cao trên trường quốc tế Risơliơ kiên quyết bảo vệ thống nhất quốc gia, trấn áp Tin Lành và các lãnh chúa địa phương ngoan cố, mở mang thêm lãnh thổ, đặt Pháp viện tối cao dưới quyền vua, ban bố chính sách đặc quyền cho giai cấp tư sản phát triển kinh tế, đẩy mạnh công thương, qui định thuế khóa thống nhất, chiếm thêm thuộc địa.Thống nhất hoạt động văn hóa tư tưởng dưới sự lãnh đạo tập trung của nhà nước chuyên chế
Lui 14 (1643 – 1715) lên ngôi lúc 15 tuổi Nhà nước do giáo chủ Mazaranh lãnh đạo thực
sự Giáo chủ cho tăng thuế, bán quan chứclấy tiền nuôi quân đội tham gia chiến tranh Trung Âu
1618 -1648 Chính sách đó khiến nhân dân bất bình , nhất là nông dân và nghị viện đều căm giận Kết quả là một cuộc nội chiến nổ ra ở Paris và một số tỉnh miền Bắc, miền Đông nước Pháp Giai cấp tư sản và quí tộc, do quyền lợi ích kỉ, cuối cùng đã phản bội, bỏ mặc quần chúng
Trang 2khiến khởi nghĩa thất bại Năm 1661, Mazaranh chết, Lui mới thực sự nắm chính quyền Vua tuyên bố “nhà nước chính là ta !” và khẳng định sự tập trung quyền lực cao độ trong tay nhà vua.Người ta gọi thế kỉ 17 là “thế kỉ của Louis 14″ hoặc “thế kỉ vĩ đại” (đại thế kỉ).
Năm 1803, Conbe chết, sinh ra sự chuyển biến mới của đời sống vật chất tinh thần nước Pháp cuối thế kỉ này: chính sách kinh tế của Conbe bị vứt bỏ, nền kinh tế suy sụp vì gánh nặng chiến tranh chống Hà Lan và Anh Hủy bỏ pháp lệnh Năngtơ, khủng bố tàn bạo những người dị giáo, đi xâm lược láng giềng
Nhận xét chung về Nhà nước quân chủ thế kỉ 17: Một mặt nhà nước là nhân tố lịch sử tiến
bộ tích cực góp phần thống nhất đất nước, khôi phục và mở mang văn hóa dân tộc Mặt khác, nền quân chủ chuyên chế vẫn là hình thức thống trị ựa trên sự liên minh giai cấp tạm thời giữa hai g/c bóc lột Nó vừa hòa giải vừa đối kháng với nhau, lại vừa đàn áp và bóc lột nhân dân Càng về cuối thế kỉ, nhà nước thoái hóa, phản động và trở thành đối tượng bị phê phán của lịch sử
Tính hai mặt của chính thể quân chủ chuyên chế Pháp, do đặc điểm lịch sử, khiến cho hìnhthức nhà nước này có thể chia làm hai thời kì diễn biến chính, mỗi thời kì thể hiện một mặt đối lập:
- Trước vụ La Frôngđơ: chống phân cát, tiến tới ổn định và phát triển, phù hợp với yêu cầu của lịch sử, được quần chúng ủng hộ
- Sau La Frôngđơ, nhất là sau khi Lui XIV thực sự nắm quyền bính: nhà nước đượccủng cố vững chắc Sau 1683: bắt đầu thoái hóa, phản động, trở thành đối tượng phê pháncủa lịch sử
2 – ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC RỘNG LỚN CỦA TRIẾT HỌC GAXĂNGĐI VÀ TRIẾT HỌC ĐÊCAC
TRONG TINH THẦN PHÁP THẾ KỈ 17
Cùng ra đời vào nửa đầu thế kỉ 17, mỗi học thuyết có cống hiến riêng Triết học duy vật của Gaxăngđi và triết học duy lí của Đêcac có điểm chung, đều là thành tựu văn hóa tư tưởng của một thế kỉ lớn, đều có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của thời đại
Gaxăngđi:1592-1655 Nhà toán học, nhà khoa học lớn hiểu biết nhiều về vật lí thiên văn
Hoạt động trong nhóm bác học, thường tổ chức kín đáo những cuộc hội thảo khoa học quan trọng với tinh thần tự do, chống chủ nghĩa ngu dân của các thế lực phong kiến và tôn giáo Ông
đề xướng “cảm giác luận duy vật”: cho rằng con người có thể nhờ cảm giác để nhận thức thế giới ,”cảm giác không bao giờ lừa dối” Tin tưởng vào cảm giác, đánh giá cao cảm giác, G chốnglại “duy lí luận” của Đêcac và bác bỏ triết học kinh viện duy tâm trung cổ Về đạo đức học, ông
tập trung ca ngợi niềm vui sướng cuộc đời và sự trong sáng tâm hồn Theo ông hạnh phúc con
người là ở sức khỏe thể xác và sự thanh tĩnh tâm hồn Các nhà văn tiến bộ của thế kỉ 17 đã chịu ảnh hưởng triết học G như : nhà hài kịch Môlie, nhà ngụ ngôn La Fônten, nhà văn La Bruye…
Đêcac:1596-1650: Là nhà triết học và khoa học lớn có ảnh hưởng mạnh mẽ và lâu dài đến
thời đại và lịch sử dân tộc Pháp Trong tiểu luận triết học nổi tiếng Bàn về phương pháp (1637)
ông đề cao vai trò lí trí trong nghiên cứu khoa học và xác định nhiệm vụ của mình là “bàn về phương pháp hướng dẫn tốt lí trí và tìm tòi chân lí trong khoa học” Theo ông, lí trí có thể đem
Trang 3lại sự hiểu biết tất cả những gì mà giác quan con người không đạt tới Ánh sáng của lí trí có thể rọi thấu (nhận thức) được thế giới tự nhiên một cách vô hạn Chỉ có lí trí là có thực và đáng tin cậy, lí trí là quan tòa tối cao của chân lí.
Tư tưởng triết học Descartes là thành tựu lớn của tư tưởng Pháp thế kỉ 17, sản phẩm tiến
bộ của khoa học và của ý thức hệ tư sản đang trưởng thành Nó đặt cơ sở cho thế giới quan khoa học của thời đại Trước hết nó tích cực chống phong kiến và tôn giáo Thời ấy, ông đã bị Nhà thờ
và những kẻ cuồng tín lên án chỉ trích, thù ghét Triết học Descartes cũng còn có nhược điểm không nhỏ: tính cách mạng nửa vời vừa duy tâm vừa duy vật (nhị nguyên luận)
3 – TÌNH HÌNH VĂN HỌC VÀ CHỦ NGHĨA CỔ ĐIỂN PHÁP THẾ KỈ 17
3.1 Ba dòng văn họctác động qua lại lẫn nhau:
3.1.1 – Dòng văn học kiểu cách :tiếng nói của tầng lớp qúi tộc phong kiến thất thế Bị sa
sút về chính trị, giai cấp quí tộc ra sức vớt vát bằng những vinh quang giả tạo bằng hình thức vănnghệ Họ tụ tập ở các xa-lông (phòng khách quí tộc) bàn chuyện văn chương nghệ thuật Những salon nổi tiếng trở thành những trung tâm văn hóa quí tộc đối lập với cung đình của vua Lui 13 Nhân vật chính là kiểu “con người quí tộc hào hoa phong nhã” với ngôn ngữ chau chuốt khác hẳn với ngôn ngữ thô mộc của đời sống thường ngày Nội dung chính là đào sâu tâm lí trình bày dục vọng quanh co phức tạp kì thú của “tâm hồn quí tộc” Cảm hứng chủ đạo của dòng văn học kiểu cách là phản ứng lại cuộc sống mới, rút vào cố thủ trong văn chương kiểu cách Họ không đóng góp được bao nhiêu cho văn học và bị công kích từ nhiều phía Tuy nhiên dòng này cũng
có ảnh hưởng ít nhiều đến trào lưu văn học cổ điển chính thống của thế kỉ, nó đòi hỏi sự chọn lọcngôn ngữ cao,khai thác thếgiới nội tâm của con người với nhiều cung bậc rất tinh tế
3.1.2 – Dòng văn học hiện thực dung tục đối lập với dòng văn học kiểu cách gồm truyện
và thơ Đó là văn chương cười cợt nghịch ngợm khôi hài thô lỗ của những người tự do cố ý chế giễu văn học quí tộc kiểu cách salon Dòng văn này phác họa những bức tranh cuộc sống hiện thực, phơi bày thực trạng những thế lực lỗi thời, bộc lộ khát khao xã hội lí tưởng tốt đẹp- đó là tính tích cực tiến bộ của nó Tuy nhiên nó còn nhược điểm là tư tưởng nông cạn tầm thường đôi khi rơi vào vô chính phủ, tầm nhìn cuộc sống hạn chế Dòng này có ảnh hưởng tới nhà hài kịch Môlie và nhà văn ngụ ngôn La Fônten
3.1.3 – Dòng văn học cổ điển chủ nghĩa cùng tồn tại song song với hai dòng kia nhưng lại vượt lên một tầm cao rõ rệt Đây là tiếng nói nghệ thuật của bộ phận tiên tiến trong giai cấp tư sản đang lên, tiếng nói mạnh mẽ tích cực và có sức sống lâu dài về sau
3.2 VĂN HỌC CỔ ĐIỂN CHỦ NGHĨA – DÒNG TIÊU BIỂU CỦA THỜI ĐẠI
Văn học cổ điển phát triển liền mạch mạnh mẽ sôi nổi suốt từ những năm 30 đến cuối thế
kỉ có lúc độc chiếm văn đàn Họ có quan điểm mĩ học tiến bộ, tư tưởng chống phong kiến tôn giáo cùng những thói hư tật xấu tư sản và có những đóng góp nghệ thuật mới
Phân biệt các thuật ngữ: chủ nghĩa cổ điển, văn học cổ điển chủ nghĩa Nguyên văn là Classicisme bắt đầu dùng từ thế kỉ 18 để chỉ trào lưu văn học tiến bộ nhất của thế kỉ 17 Lúc đó
Trang 4nhà trường Pháp muốn nêu cao tinh thần dân tộc nên đã dùng văn học ấy đưa vào nhà trường thay thế văn chương Hi Lạp- La Mã bấy lâu vẫn chiếm lĩnh văn đàn và nhà trường Từ đây lần đầu tiên văn học Pháp mới được đưa vào lớp học Nghĩa là từ đây văn học thế kỉ 17 được coi là mẫu mực, do đó phải cho học sinh được học như khuôn mẫu.
3.2.1 Những nguyên lí mĩ học cổ điển chủ nghĩa
Tac phẩm Nghệ thuật thơ của Boileau là cuốn sách lí luận văn học viết bằng thơ – được
coi là bộ luật thơ của chủ nghĩa cổ điển, nhà văn Boalô được coi là nhà lập pháp của phương thức sáng tác và trào lưu văn học này Từ đó rút ra ba tiêu chuẩn của classicisme là :
+ Tôn sùng lí trí (theo Đêcac – chủ ngĩa duy lý)
+ Theo mẫu mực tự nhiên ( theo Gaxăngđi – chủ nghĩa duy cảm)
+ Theo mẫu mực cổ đại (Hi – La truyền thống, nhắc lại từ Phục Hưng)
Nhìn chung, các nhà cổ điển chủ nghĩa chỉ coi trọng hiệu quả thực tế của sáng tác nghệ thuật mà không thích lí luận trừu tượng Theo họ, vui là hiểu biết tự nhiên, vui là được thanh lọc cảm xúc, vui gắn bó hơn với đất nước dân tộc đang lớn dậy trong khi đang gạt bỏ những trở ngại của cái cũ và phê phán ngay những cái xấu thói hư mới, nhằm khẳng định một tương lai tự do, dân chủ và nhân đạo
3.2.2 Hai giai đoạn tương phản của chủ nghĩa cổ điển :
Giai đoạn trước 1660: Nước Pháp đã thống nhất nhưng chưa ổn định, chế độ quân chủ chuyên chế đang được củng cố Văn học cổ điển là tiếng nói ủng hộ nhà nước phong kiến tập quyền vì nhà nước này đang khuyến khích sự phát triển tư bản chủ nghĩa đưa nước Pháp đến thống nhất quốc gia Trong giai đoạn này có sự kiện đáng chú ý nữa là cuộc cải cách ngôn ngữ lịch sự của Malecbơ, tác phẩm văn của Paxcan và kịch Cornây
Giai đoạn sau 1660 :Thời kì phát triển toàn diện rực rỡ của chủ nghĩa cổ điển Nổi bật là: Thơ châm biếm của Boalô, thơ ngụ ngôn của La Fônten, bi kịch của Raxin, hài kịch Môlie và văn tiểu luận của La Bruye
Nhìn chung văn học chính thống giai đoạn này là tiếng nói phản kháng chế độ phong kiến độc tài, đả kích giai cấp quí tộc và chế giễu những thói xấu tư bản chủ nghĩa
CHƯƠNG II - BI KỊCH CỔ ĐIỂN PHÁP
CORNÂY và RAXIN - HAI KHUÔN MẶT TIÊU BIỂU
Trang 5Bi kịch là thể loại nghệ thuật phát triển nhanh mạnh và liên tục, đạt tới tột đỉnh vinh quang
và gây nhiều chấn động lớn Corneill và Racine là hai gương mặt khác nhau đại biểu ưu tú cho hai thời kì và hai phong cách khác nhau của bi kịch cổ điển Pháp
I – Pie Cornây (1606 -1684) người mở đường vinh quang cho bi kịch Pháp
Ông được coi là người khai sinh nền nghệ thuật sân khấu Pháp Trước ông, nền kịch dân gian Pháp còn rất non nớt, chưa có tổ chức, chưa có qui tắc sáng tác chưa thành một loại hình nghệ thuật hẳn hoi, chỉ giải trí thuần túy với tiếng cười dễ dãi Trên sân khấu chuyên nghiệp đã
có một số cây bút đáng chú ý nhưng nhìn chung kịch chuyên nghiệp chưa có những giá trị lớn vềnội dung, ý nghĩa cũng như về nghệ thuật biểu hiện Phải chờ đến Corneill kịch mới thỏa mãn được đòi hỏi của công chúng nghệ thuật và chiếm lĩnh sân khấu Pháp C còn được coi là người dọn lối cho hàng loạt sáng tác viết theo phương hướng của chủ ngĩa cổ điển Pháp
Corneill- người anh hùng của những bi kịch anh hùng – sinh tại Ruăng xứ Normăngđi trong một gia đình công chức Sau khi tốt nghiệp trường dòng, anh học luật và đỗ luật sư (1624) Corneill say mê thơ ca và sân khấu, năm 1629 anh viết vở kịch đầu tay “Mêlitơ” Năm 1635
chuyển sang viết vở bi kịch đầu tiên là Mêđê Dù Corneill cố gắng sáng tạo cho hình tượng nhân
vật chính Mêđê có tính người hơn thời cổ đại nhưng vở kịch vẫn chưa thu được kết quả mong đợi Sau đó chuyển sang đề tài Tây ban nha, Corneill viết một số bi hài kịch trong đó nổi bật như
ngôi sao là Lơxit (1637) Vở kịch châm ngòi cho một cuộc bút chiến nảy lửa, lôi cuốn hầu khắp
mọi tầng lớp xã hội chú ý, xôn xao Tể tướng Risơliơ không tán thành cách lựa chọn và giải quyết vấn đề của tác giả nên đã ra lệnh cho Viện Hàn lâm mang vở kịch ra kết án một cách bất công Mặc dù vậy quần chúng vẫn nhiệt liệt hoan nghênh kiệt tác của Corneill Chính quyền quân chủ chuyên chế phản ứng quyết liệt, buộc Corneill phải im lặng nghỉ viết một thời gian, lui
về Ruan Thời kì sáng tác thứ nhất của ông kết thúc tại đây
Năm 1640 lấy đề tài từ cổ La mã , ông viết hai vở Orax và Sinna ca ngợi những nhân vật
luôn luôn gạt bỏ lợi ích cá nhân, dù phải tàn nhẫn với cả người thân thích, quyết đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết
Năm 1644, vở kịch Rôđôguyn đánh dấu bước ngoặt mới trong sáng tác của Corneill Vẫn
dựa vào sự kiện thời cổ Hi Lạp , tác giả muốn miêu tả tập trung sự thèm khát quyền lực và yêu đương của một số nhân vật quí tộc phong kiến Những dục vọng ích kỉ này đã vượt lên, đẩy lùi lítrí, dẫn họ đến tội lỗi Tiếc rằng về sau ông lại viết tiếp những vở kịch sút kém, khoa trương giả
tạo Mặt trời bi kịch Corneill bắt đầu lu mờ báo hiệu sự khủng hoảng nghiêm trọng của nhà thơ
trước thời đại và nghệ thuật cung đình Cái mới trong giai đoạn ba này là: bên cạnh đấu tranh nộitâm diễn ra ở người anh hùng dũng cảm luôn luôn gạt bỏ tình cảm riêng tư vì lợi ích quốc gia, xung đột bên trong đã được chuyển ra ngoài thành xung đột hai lực lượng xã hội : chính nghĩa
Trang 6C sáng tác hăng say nhất vào khoảng giai đoạn sáng tác thứ hai (1636-1643) Mượn đề tài
từ văn học cổ đại, C đã làm sống lại lí tưởng anh hùng La Mã thời cộng hòa với những con ngườixuất chúng Ở họ rực sáng tinh thần không sợ hi sinh, dám khắc phục những tình cảm và lợi ích
cá nhân kể cả những tình cảm chính đáng nhất Với C tình cảm và lí trí là hai khía cạnh riêng biệt, đối lập không thể dung hòa trong bản tính con người Tiếng gọi lí trí giục giã con người gác
bỏ tình cảm, khước từ lợi ích riêng Sự giằng co quyết liệt giữa tình cảm và lí trí là một cuộc vật lộn vô cùng đau đớn trong nội tâm Nó là thước đo để định giá phẩm chất và vẻ đẹp của người anh hùng trong bi kịch của C, nó biến bi kịch của C thành “trường học của những tâm hồn dũng cảm” Xem kịch của C người ta có cảm tưởng người anh hùng là người dường như sinh ra và lớnlên chỉ để phụng sự cho chế độ quân chủ chuyên chế Bi kịch của C mang tính chính trị rõ rệt
Nó là tiếng nói đồng tình với kiểu nhà nước phong kiến mới đang đóng vai trò tích cực trong lịch
sử và cần được bảo vệ Chịu ảnh hưởng của triết học duy lí, lí tưởng hóa chế độ phong kiến, C hăng hái góp phần giữ gìn, củng cố nhà nước đó bằng nghệ thuật của mình
Phù hợp với yêu cầu chính trị cấp bách của thời đại , bi kịch của C gây được chú ý đầu tiên Thêm nữa sức hấp dẫn của bi kịch này còn là ở sức mạnh phi thướng về nghệ thuật bộc lộ ở những cốt truyện li kì, những tình huống éo le và căng thẳng, ở hình tượng chói lọi của người anh hùng gang thép, ở một ngôn ngữ rắn rỏi, cô đúc, ở một bút pháp sang sảng tính hùng biện, một mặt phản ánh dược không khí rạo rực, sôi nổi của nửa đầu thế kỉ XVII, một mặt thỏa mãn được nhu cầu thẩm mĩ của công chúng Pháp thời đó Đáng chú ý là bi kịch C cũng như của R saunày không biểu hiện trục tiếp lịch sử , nó mô tả chuyển biến của thời đại thông qua diẽn biến tâm
lí của những nhân vật cụ thể Đó là những bi kịch đầu tiên có ý thức đi sâu vào tâm lí và lấy
“lòng người” làm đối tượng mô tả và biểu hiện Đó là những bi kịch tâm lí
C không sẵn sàng chấp nhận những quy tắc chính thống Trong những trường hợp bất đắc
dĩ mới cố kìm hãm, cố ép mình theo những yêu cầu có tính chất áp đặt của triều đình chuyên chế.Nhưng những trường hợp đó không nhiều, với tính cách của mình C vẫn cứ phá luật để làm theo
ý mình C có những quan điểm mới mể táo bạo khi cầm bút, C có nhiều kiến giải trái ngươc với truyền thống Điều đó thỏa mãn đuọc công chúng nhưng làm cho Risơliơ và nhà nước quân chủ chuyên chế không hài lòng
Vở bi kịch Lơxit
Ra mắt công diễn tại rạp hát Mare thủ đô Paris tháng 12 năm 1636 Thắng lợi của nó thật huy hoàng, công chúng nồng nhiệt chào đón Khi đánh giá những tác phẩm khác, người ta lấy LeCid làm mẫu mực, “đẹp như / hoặc không bằng Le Cid” Vở kịch được trình diễn nhiều lần trướchoàng hậu và tể tướng, nhờ vở kịch, cha của Corneill được phong tước quí tộc
Lấy đề tài từ kịch Tây Ban Nha, sở trường của sân khấu Pháp, Le Cid là tiếng Ả rập nghĩa
là “đức ông” – biệt hiệu của nhân vật chính Rodrigue Rodrigue vốn là nhân vật lịch sử có thật ,
một chiến binh anh hùng có công đánh thắng quân Ả rập nên được binh lính gọi là Đức ông Anh trở thành anh hùng dân tộc, theo đạo Cơ đốc Truyền thuyết dân gian và truyện thơ dân gian
đã kể nhiều về anh… Corneill đã sử dụng tài liệu sưu tầm, sử liệu, chọn lọc chi tiết, thêm vào những chất thời sự nước Pháp để xây dựng thành vở bi kịch điển hình chung của Tây Âu
GỢI Ý PHÂN TÍCH VỞ KỊCH
Trang 7(Tìm hiểu mâu thuẫn dẫn tới xung đột, cách giải quyết xung đột, ai là nhân vật bi kịch ? tính chất của bi kịch là gì ?)
Vở kịch khẳng định thắng lợi oanh liệt của lí trí (ý thức về nghĩa vụ) vượt qua dục vọng cá nhân (tình yêu đôi lứa) và danh dự dòng họ (bổn phận gia đình) Xung đột bi kịch nổ ra từ mâu thuẫn không thể hòa giải được giữa Cái Chung và Cái Riêng, tức là giữa xã hội và cá nhân, lí trí
và tình cảm
Các nhân vật trung tâm có tính cách anh hùng kiểu mới xuất hiện trên sân khấu Họ có sức sống nội tâm mãnh liệt Những đầu óc tỉnh táo sáng suốt có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ – trước hết là nghĩa vụ gia đình Mặt khác họ là những trái tim nồng cháy yêu thương Cả hai nhân vật đều mạnh mẽ, rạch ròi phân minh nhưng đi ngược chiều nhau và mâu thuẫn phát triển dần tới xung đột – phải loại bỏ lẫn nhau ! Tình cảm mặn nồng chính đáng vẫn không làm lu mờ ý thức nghĩa vụ, ý thức danh dự, nó phải khuất phục trước ý chí Nói cách khác, ý thức nghĩa vụ, ý thức danh dự trở thành nền tảng của mọi tình cảm kể cả tình yêu Lí trí thắng lợi làm nên phẩm chất , đức hạnh người anh hùng kiểu mới của thời đại và là tiêu chuẩn của vẻ đẹp mới mẻ của thế kỉ
Rodrigue và Simen đáng yêu đáng kính vì họ đã mang lí tưởng của thời đại Sự kiện chàng Rodrigue đánh thắng quân xâm lược Moore có ý nghĩa quan trọng về tư tưởng nghệ thuật, góp phần giải quyết gỡ nút được ổn thỏa Tư tưởng ấy là: dốc sức giữ gìn đất nước dù phải hy sinh tình nhà và tình yêu đôi lứa Bổn phận gia đình dòng họ tuy lớn lao hơn cá nhân song cũng phải nhường bước cho nghĩa vụ công dân trước vận mệnh quốc gia Rodrigue – người con hiếu thảo, người công dân anh hùng và người tình chung thủy – chàng đã khéo hành động sao cho trọn vẹn.Rodrigue và Simen, họ tự hào vì được chiến đấu hi sinh cho nghĩa vụ lớn lao (gia đình, đất nước) Lí tưởng của họ vấp phải trở lực của tình cảm riêng tư, một tình cảm nồng nhiệt Tình yêu có sức hấp dẫn say người không dễ gì cưỡng lại được Còn lí trí thì đòi họ phải tuân lệnh Cuộc vật lộn nội tâm gây chảy máu tâm hồn nhưng họ đã tự thắng mình, tiến tới thắng lợi vinh quang
Rodrigue chẳng phải ngay từ đầu anh đã đứng hẳn về phía bổn phận gia đình Anh cố gắng tìm cách hòa giải, nhưng thất vọng Khi đã hành động, anh không hối hận Anh nói với Simen:
“Anh sẽ còn làm như thế nếu anh phải làm” – và trái tim yêu thương của anh tan vỡ cùng với nỗiđau đớn của người yêu Anh muốn tìm một cái chết để trọn vẹn đôi đường Nếu không xảy ra cuộc xâm lược của quân Moore thì kết cục kể như thế là xong Khi ra trận anh dồn hết sức chiến đấu, thắng lợi vinh quang trở về Anh quay trở lại với món nợ tình cần phải trả bằng máu
Rodrigue là hình ảnh mẫu mực cao đẹp trọn vẹn của con người lí tưởng của thời đại
Simen yêu say đắm đến mức sẵn sàng chết theo anh nhưng cũng rất phân minh khi giải quyết mối quan hệ cá nhân và gia đình Thù cha cao hơn tình yêu, rồi đến nghĩa vụ công dân cao hơn danh dự gia đình Khi đòi trừng phạt người yêu, cô vẫn thừa nhận anh đã hành động đúng,
“và em cũng phải xứng đáng với chàng” Cô vẫn khâm phục anh là con người cao thượng đáng kính: “anh đã làm bổn phận của một người có danh dự xúc phạm đến em, anh đã tỏ ra xứng đáng với em Thì bằng cái chết của anh, em cũng phải tỏ ra xứng đáng với anh” Lí trí soi sáng mọi hành động của Simen
Trang 8Don Diego cha của Rodrigue, lúc đầu chỉ nghĩ đến thù riêng, sau khi thù đã rửa ông lại tỉnhngộ trở về với lí trí Ông tự nhận tội mình, xin đổi mạng cho con, tích cực bào chữa cho con vì ông nhận thức rằng Rodrigue là tấm lá chắn của nền an ninh đất nước Tây Ban Nha trước kẻ thù bên ngoài Ông giục giã con đi ngay ra tiền tuyến, nhắc con làm tròn bổn phận dù phải hi sinh thân mình.
Vở bi kịch "Le Cid" là một điển hình sân khấu với đề tài mang tính phi thường đột xuất, cốt truyện phức tạp nhiều biến cố lớn, nhân vật siêu phàm về tính cách, có tính cách quả cảm, ý chí mãnh liệt Hành động kịch chặt chẽ dồn dập, đối thoại và độc thoại sắc bén, khí thế bi hùng của cuộc đọ kiếm nảy lửa Sự thống nhất giữa nội dung và nghệ thuật kịch khiến cho tác phẩm không gây ra sự nghi ngờ của khán giả về sự giả tạo khoa trương mà còn chứa chan ý vị lạc quanthôi thúc công chúng vượt qua tất cả vì sự chiến thắng của lí tưởng cao đẹp
Vở bi kịch Le Cid vừa ra mắt khán giả lập tức thu hút dư luận Paris, gây tiếng vang lớn trên kịch trường Pháp Tên tuổi Corneill nổi như sóng cồn Những nhà văn vốn không ưa thích tác giả đã phải thốt lên: "Mặt trời đã mọc rồi, các ngôi sao hãy lặn cả đi" Về sau có nhà phê bình
đã nhận xét: "Tác phẩm Le Cid không phải chỉ là sự khởi đầu của một người, đó là sự khởi đầu cuả một nền thi ca và là rạng đông của một thế kỉ lớn" Tuy nhiên những lời công kích phê phán tác giả và tác phẩm cũng không ít và chẳng kém phần nặng nề gay gắt Một số nhà văn không têntuổi được triều đình nâng đỡ đã ghen ghét Corneill, vu cáo ông "ăn cắp văn của Tây ban nha, thiếu đạo đức khi cho Simen hứa hôn với kẻ đã giết cha mình”.v.v…
Nhận chỉ thị của giáo chủ tể tướng Richelieu, Viện hàn lâm Pháp đã công bố nhận xét (1638) nhằm chỉ trích vở kịch một cách nghiệt ngã Họ nhằm vào một số chi tiết vụn vặt: không tuân theo qui tắc cổ điển của Aristote - thời gian truyện kịch dài quá 24 giờ (nhà văn Voltaire chỉ
ra điều đó ở câu thứ 1169: lời hoàng hậu nói với Simen) Kịch không đạt duy nhất về hành động:
cả công chúa cũng yêu Rodrigue Kịch đã viết một đoạn tình ca thất luật Kết thúc kịch không phù hợp thể bi kịch và "không giống như thật" Nhà thơ Corneill bị cấm không được viết bài tranh luận trước sự kết án bất công đó Thực chất, lời buộc tội của viện hàn lâm che giấu một thái
độ chính trị- các nhà cầm quyền bất mãn với tư tưởng tự do của Corneill Dưới con mắt của giáo chủ tể tướng và bọn thống trị, Rodrigue người anh hùng lí tưởng của vở kịch đã coi thường pháp luật, thiếu tôn trọng triều đình (đấu kiếm để giải quyết mâu thuẫn cá nhân trong khi pháp luật cấm đấu kiếm) Nào là vở kịch đề cao anh hùng Tây ban nha là trái với tinh thần dân tộc Pháp (hồi đó xung đột chiến tranh giữa Pháp và Tây ban nha còn dai dẳng ác liệt)
Mặc dù Corneill nhiều lúc xa rời qui tắc cổ điển mà các nhà lí luận cung đình đòi hỏi khắt khe, nhưng chính điểm đó là sự lôi cuốn mạnh mẽ nhất đối với nhà văn lãng mạn sau này Phải mất nhiều thời gian tranh luận, hội thảo thăm dò dư luận quần chúng, khi tình hình chính trị thayđổi vở kịch Le Cid mới được chính thức công nhận
Trang 9chiếm lĩnh sân khấu, thay thế cho những tâm hồn cao thượng của thời Corneill, đã phản ánh bước ngoặt phức tạp của lịch sử và văn học, tâm trạng chán chường của những tầng lớp tiến bộ nhất của xã hội Pháp những năm cuối triều vua Louis XIV Racine sáng tác một cách tự nhiên, tài tình khi phản ánh chân thực hiện thực Pháp trong khuôn khổ tù túng của qui tắc cổ điển chủ nghĩa chính thống Nghệ thuật kịch của Racine liên tục đặt ra những vấn đề lí luận mới cho thế kỉXVII và cả những giai đoạn sau nữa
Racine- nhà bi kịch của con người hai mặt- sinh ngày 22 tháng 12 năm 1639 tại Ferte
Milon trong một gia đình công chức khá giả Lên bốn tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, Racine ở với bà nội và cô ruột Cô đi tu, cậu bé cũng theo vào học luôn ở tu viện Po Royal Vài năm sau, cậu bé được gửi tới trường trung học Bove để học các khoa học nhân văn Trở lại Po Royan, Racine tiếp tục thụ giáo những người thầy uyên bác của giáo phái Jeansenis nổi tiếng về sự khắc
kỉ đạo đức, bi quan yếm thế về thế giới và nhân sinh Họ cho anh tiếp xúc với thi ca của Homer, triết học Platon Họ cố gắng làm cho Racine cậu học trò trung học rung động với vẻ đẹp của tiếng Pháp Sự đào tạo có tính chất tôn giáo đạo đức và những kiến thức theo quan điểm
Jeansenis đã đặt cơ sở vững chắc , để lại ảnh hưởng sâu xa trong nhà nghệ sĩ Racine sau này Những ảnh hưởng đó là: cảm quan đen tối về cuộc đời, mầm mống yếu hèn, tội lỗi trong bản chất con người và sự bất lực của nó trước sự xô đẩy của những thế lực thù địch Nnhưng mặt khác đó còn là những ước mơ thầm kín về tự do, dân chủ và nhân đạo, nỗi khát khao hướng về cuộc sống vô thần và những thú vui trần tục Đây là những mâu thuẫn rồi sẽ chi phối cuộc đời vàsáng tác văn học của Racine
Rời khỏi tu viện Po Royal, Racine đi Paris, tiếp xúc với các nhà văn và những người trí thức tiến bộ Anh bắt đầu làm thơ và say mê sân khấu Lo lắng trước con đường đời của Racine , gia đình tìm cách kéo con ra khỏi cái thế giới văn học nghệ thuật đáng lo ngại Racine phải đến thị trấn Undex chuẩn bị nhận chức thầy dòng
Năm 1663 , Racine trở lại Paris, cho xuất bản hai tập thơ "Đức vua bình phục" và"Vinh quang của các thi thần" Racine kết thân với nhà phê bình Boileau và chuyển hẳn sang viết kịch Hai vở đầu tay "Người thành Thebes" và "Alexandre đại đế" được biểu diễn kết quả tốt nhờ đoàn Kịch hoàng gia của Moliere Racine dần dần đoạn tuyệt với tu viện Po Royal
Thắng lợi đầu tiên đem lại niềm tự hào lớn và khẳng định vững chắc vị trí và tài năng của
Racine là vở bi kịch Andromaque được công diễn lần đầu tại triều đình năm 1667 Vở kịch tác
động mạnh đến công chúng Pháp và chia họ thành hai trận tuyến đối lập Nó báo hiệu sự xuất hiện một phong cách bi kịch mới lạ so với bi kịch anh hùng của Corneill giai đoạn trước Sau
đó liên tục trong 10 năm Racine cho ra mỗi năm một vở, vừa dần dần chinh phục khán giả vừa đẩy lùi các khuynh hướng đối lập Racine bị phê phán là "kịch mang tính phi đạo đức" từ những kẻ bất tài đố kị đối lập, thù địch Ông trở nên nản lòng, ngừng sáng tác và trở lại hoà giải với tu viện Jeansenis Năm 1689 theo yêu cầu của hoàng hậu, ông viết vở kịch dựa theo Kinh Thánh dành cho những nữ sinh của nhà tu Saint Sier tập diễn trong nội bộ Vở kịch có một phong vị riêng, dàn đồng ca phụ hoạ, nội dung đề cao lòng nhân ái và sự khoan dung tôn giáo
của nhà vua Sau đó ông viết vở kịch tôn giáo thứ hai Atali" - đây là vở kịch cuối cùng của sự đổi
mới lớn lao táo bạo
Trang 10Sau Atali, Racine soạn cuốn "Lược sử Po Royal" in đậm tư tưởng giáo phái Jeansenis Rồi
ông nghỉ viết lui về giao thiệp với những người Jeansenis Lúc này giáo phái không ủng hộ sự độc đoán của nhà nước chuyên chế nên Racine bị vua Louis XIV nghi ngờ, bỏ rơi Racine chết năm 1699, chôn tại tu viện Po Royal
Bi kịch của Racine được chia làm 3 giai đoạn trong 30 năm sáng tác
Giai đoạn 1- hai vở kịch có nguồn gốc văn học cổ Hi Lạp- La mã, chưa hình thành phong
cách riêng, chỉ là sự nối tiếp bi kịch anh hùng (kiểu Corneill) hoặc bi kịch phong nhã
Giai đoạn 2- bước đi mạnh mẽ dứt khoát lộng lẫy hào quang, liền một mạch từ vở
Andromaque đến Federer Đây là giai đoạn của những vở bi kịch hay nhất Những nhân vật luôn
luôn chất chứa trong lòng nỗi thèm khát cá nhân ghê gớm, thèm khát yêu đương hoặc quyền thế mang tính đen tối, tội lỗi Nó nung nấu ruột gan con người, thôi thúc người ta tìm cách thoả mãn mau chóng bằng mọi giá Nó được miêu tả như một định mệnh khắt khe không rõ nguyên nhân nào thôi thúc Sự thèm khát đó vấp phải trở lực cũng mạnh mẽ chẳng kém- đó là Lí trí luôn cố giữ con người theo lẽ phải Cuộc xung đột âm thầm mà quyết liệt giữa thèm khát tội lỗi và lương tri sáng suốt là xung đột cơ bản trong kịch Racine Kết quả là sự thất bại của Lí trí, gây ra kết cục
đau thương khủng khiếp của nhân vật chính Racine mở ra loại thể mới - bi kịch tâm lí
Bi kịch tâm lí của Racine có giá trị hiện thực và nhân văn sâu sắc Nó phản ánh thực tế
lịch sử sinh động của xã hội Pháp dưới cái nhìn tiến bộ của nhà văn Sang nửa sau thế kỉ XVII, chế độ quân chủ pháp bước vào thời kì ổn định và thịnh vượng khi các thế lực phong kiến cát cứ địa phương đã tê liệt chịu qui phục triều đình của hoàng đế, họ được phong tước và sống bám lấytriều đình Sống nhàn tản, họ vùi đầu vào những chuyện riêng tư trong phạm vi xã hội thượng lưu Người ta thích tỏ ra tế nhị, lịch sự, ăn nói có duyên, hiểu tâm lí, chiều chuộng phụ nữ Yêu đương không chỉ là nhu cầu mà còn là thú vui thời thượng "Con người phong nhã" đã thay thế “con người anh hùng cứu nước” của nửa đầu thế kỉ
Tình trạng ấy phù hợp cuộc sống xa hoa phù phiếm chốn cung đình nhưng rất xa lạ thậm chí đối nghịch với kì vọng của nhân dân và trí thức về một chế độ quân chủ tập trung có khả năng phát huy hơn nữa "sự vĩ đại Pháp"
Là một nghệ sĩ cũng là một quan chức nhiều năm gắn bó với triều đình Louis XIV, Racine
đã thấy và phản ánh được cả một tầng lớp xã hội Pháp vào tác phẩm Những vở kịch tâm lí của Racine đã thoả mãn được cơn khát văn hoá nghệ thuật của thời đại Càng về cuối thế kỉ XVII, chính quyền Louis XIV càng tha hoá và độc đoán, trở nên thù địch với nhân dân Quần chúng bấtbình, các nhà văn nghệ sĩ cổ điển tiến bộ đã dũng cảm tố cáo nạn chuyên chế đó Những vở bi kịch của Racine xây dựng đề tài từ những thèm khát uy quyền địa vị cá nhân đã trở thành vũ khí sắc bén chống cường quyền bạo chúa, phát ngôn lời kết án của lịch sử và nguyện vọng chính đáng của xã hội, đấu tranh cho tự do dân chủ
Trong khi phản ánh cuộc sống hiện thực, Racine để lại những dấu ấn riêng của nghệ sĩ Đó
là tâm hồn nồng nhiệt, dễ bị kích động và những mâu thuẫn bên trong của mình: Sùng đạo nhưng lại say mê vẻ đẹp nhân văn cổ đại Hi Lạp La mã; Ràng buộc với tu viện Po Royal nhưng lại khó dứt ra khỏi cung điện Vua hoa đăng lộng lẫy; Vừa muốn làm nhà giáo dục đạo đức chính
Trang 11thống vừa náo nức muốn làm người thức dậy tâm hồn quần chúng…Hình như có hai con người
đối lập giành giật chiếm giữ con người Racine: một con người lí trí chịu ảnh hưởng tôn giáo và phong kiến, người kia là con người đầy cảm tính luôn hướng về cuộc sống thực tế đầy hấp dẫn,
cám dỗ Tính bi kịch "con người hai mặt" trong cuộc sống của Racine là yếu tố quan trọng làn nên tính bi kịch trong tác phẩm nghệ thuật của ông
Trong tác phẩm, Racine không kết tội, đôi khi có vẻ đồng tình với thèm khát Thật ra , nỗithèm khát là một hiện tượng tâm lý nếu được dẫn đắt thích hợp thì có thể nâng tâm hồn đến với những công việc vĩ đại Những nhân vật bi kịch của Racine thất bại đáng kết tội chẳng phải vì họthèm khát đắm say một con người hay ham mê cái ngai vàng Theo Racine cái khát vọng ấy vốn
là có sẵn trong con người, ở ngoài sự lựa chọn của con người Đó là thèm khát chống phong kiến
để giải phóng bản năng, tự do dân chủ Nó chính là nhu cầu của giai cấp tư sản đang tiến lên Nó
đi tìm một sự quân bình mới, sự thăng bằng của lí trí và tình cảm cảm xúc khiến cho cá nhân có thể phát triển cân đối hài hoà Nhìn thấy được những nét lành mạnh quí hiếm trong các tâm hồn tội lỗi, tác phẩm của Racine in dấu một tinh thần nhân đạo chủ nghĩa chân chính
Giai đoạn 3 - không có nhiều tác phẩm như hai giai đoạn trước , nhưng lại là bước ngoặt
quan trọng đảo lộn cả cuộc sống và nghệ thuật bi kịch
Viết kịch, R đã chọn cho mình một chỗ dựa - văn học cổ Hi Lạp vì theo ông “khiếu thẫm
mĩ của Pari tỏ ra phù hợp với khiếu thẩm mĩ của Aten” R muốn “sáng tác của mình cũng phải chác chắn, cũng phải đầy những lời giáo huấn bổ ích như những nhà thơ cổ đại Để giáo dục đạo đức R chọn bi kịch, bi kịch theo quan niệm riêng của ông Về những quy tắc sân khấu, R chỉ đòi hỏi “làm vui và làm cho xúc động” R nhấn mạnh đến sự đơn giản đơn giản đến cực độ của hànhđộng kịch Với met đề tài không xa lạ với đời sống hằng ngày, với một cốt truyện không li kì, rắcrối, R đã tham gia “tẩy rửa cảm xúc” bằng những bi kịch đặc sắc của mình Luật ba duy nhất không ràng buộc được ông mà còn khiến ông tập trung nhiều thời gian, không gian, hành động
để miêu tả, biểu hiện những xung đột gay gắt, phức tạp trong tâm lí con người Nhàm tăng cườngkịch tính, R thường bắt đầu câu chuyện vào lúcmâu thuẫn đã chín muồi, tình huống hết sức căng thẳng, các lực lượng đều đã sẵn sàng, chỉ thêm met sự tác đông cũng đủ gây bùng nổ và nhanh chóng kết thúc mâu thuẫn trên dòng thời gian của vở kịch điểm đầu và điểm cuối ở gần sát nhau.Không gian của vở kịch càng được thu nhỏ, càng bị nén chặt thì xung đột càng dữ dội Ngôn ngữđối thoại và độc thoại của R rất phù hợp với tâm trạng, lúc thì dịu dàng, tinh tế, lúc thì sóng gió điên cuồng, lúc thì lạnh lùng sắt đá, tất cả ăn nhịp với nhau trong một hòa điệu chung “Bi kịch của R là một vở opera có tiếng nhạc và không có ban nhạc”
BI KỊCH ANDROMAQUE
Vở kịch được công diễn vào ngày 17/11/1677 Vở kịch gây được tiếng vang lớn nhưng đồng thời nó cũng nhóm lên ở những nhà thơ kình địch của R và những người ủng hộ C những cuộc tranh luận sôi nổi Tác phẩm được lấy đề tài tử “Ênêit” của Viêcgin, vở “Ăngđromac” của Ơripit, “Iliat” của Hôme và “Nhưng người phụ nữ thành Tơroa” của Xenec Tuy dựa vào nhiều nguồn tư liệu khác nhau nhưng R đã sửa đổi nhiều chi tiết khiến cho vở kịch trở nên hợp thời và thõa mãn được công chúng Pháp thế kỉ XVII
Trang 12Dưới bộ áo của một truyền thuyết cổ đại, R đã mang đến cho sân khấu tấn bi kịch của cuộcsống đương thời Dù cho có sự phức tạp bề ngoài, hành động kịch vẫn đơn giản vì động lực của hành động chỉ là những tình cảm, những them khát của con người, không có sự can thiệp của cácthế lực bên ngoài Từ đây, R mở đầu kĩ thuật nắm lấy hành động ở điểm gần nhất so với điểmnút của kịch Bỡi vậy, ông thoải mái tuân theo quy luật Ba duy nhất gò bó của nghệ thuật sân khâu
cổ điển chủ nghĩa
Xét về mặt hình thức, Andromaque là nhân vật chính - nhân vật nữ anh hùng chiến thắng Nàng cố bảo vệ danh dự của chồng và danh dự thành bang công đồng Troie Nàng ứng biến tuỳ thời để bảo vệ sinh mạng con trai - nó cũng là niềm hi vọng của thành bang Nhưng khi chúng ta xét toàn bộ vở kịch, thực sự nàng chỉ là nhân vật chính giả Ý đồ nghệ thuật xây dựng nhân vật này để làm điểm tựa cho bối cảnh, mặt khác để nguỵ trang vượt qua kiểm duyệt và mũi nhọn chỉ trích của triều đình Thực sự những nhân vật còn lại mới là nhân vật bi kịch chính thức
Hành động kịch của Andromaque bề ngoài có vẻ phức tạp quyết liệt song thực tế vẫn là
đơn giản, chưa phải là hành động bi kịch Tuy nhiên nàng vẫn được coi là hình ảnh người vợ
người mẹ đẹp đẽ và cao cả, đáng ngợi ca trên những vần thơ vì tấm gương quên mình… Nàng khéo léo chối từ kẻ cầu hôn, rồi lại nhẫn nhục đến gặp công chúa Ecmion để cầu xin cho con trai nhưng vô hiệu quả Nàng biết khéo léo nhen nhóm hi vọng cho kẻ si tình để kéo dài thời gian Nàng là hình ảnh người vợ, người mẹ lí tưởng biết xử lý hài hoà giữa lí trí và tình cảm
Pyrus mới thực sự là hình ảnh đại diện của con người đương thời nửa sau thế kỉ 17 – con người bị làm mồi cho những thèm khát chuyên chế Anh ta luôn luôn bị mối tình si lôi cuốn Bảnchất của anh hiền lành, quảng đại, khiêm nhường có thể trở nên ông vua tốt của xứ sở Troie mới chinh phục Nhưng vì tuổi trẻ bị cơn thèm khát chiến thắng thúc giục, anh trở nên nóng nảy Hai tính cách: lãnh chúa thô bạo và anh hùng phong nhã giành nhau trong bản thân Pyrus Tuy là kẻ anh hùng chiến thắng, vì say mê sắc đẹp của Andromaque đến nỗi anh hạ mình hết mức cầu xin tình yêu của người phụ nữ yếu đuối Những cuộc đối thoại giữa hai con người thay bậc đổi ngôi: nàng là nữ hoàng còn chàng là kẻ đầy tớ, thật éo le, dồi dào kịch tính Say đắm Andromaque, anh ta quên hết lời hẹn ước hôn nhân với công chúa con vua Menelax Say mê Andromaque, anh khinh rẻ cả đống tro tàn còn âm ỉ cháy ngọn lửa hận thù ở thành Troie Say mê Andromaque, anh
ta dám chống lại cả vương triều tổ quốc Hi Lạp hùng mạnh.Và say đắm Andromaque, anh ta quên cả cảnh giác giữ gìn tính mạng Tình yêu làm anh ta trở nên hung dữ, đáng sợ càng thèm khát ráo riết hơn Anh ta dùng mọi thủ đoạn để chinh phục trái tim Andromaque -người vợ goá, không bận tâm vì cái tang chồng của nàng Và khi nàng chấp thuận lời cầu hôn thì Pyrus lại chứng tỏ là kẻ nam nhi có tình yêu chân chính cao thượng, sẵn sàng từ bỏ tổ quốc Hi Lạp để bảo
vệ đứa con trai của người mình yêu Đó là những tình huống bi kịch thật sự, không hề giản đơn, một chiều và chưa thấu tâm lí như Andromaque
Đôi khi nghe lời cận thần can ngăn, thực ra là do nản chí, Pyrus nổi cơn giận dữ với ngườiđẹp và anh dừng bước lại Nhưng rồi không thể quên được nàng, anh tiến tới dứt khoát hơn Cuộc sống của một đế vương trẻ tràn ngập trong khổ đau dằn vặt với tâm trạng bất an này mới lànội dung chính của vở kịch.Cái chết của Pyrus mang tính tất yếu, khi hết khổ đau nhân vật này không còn lí do để tồn tại
Trang 13Ecmion là nhân vật sáng tạo của Racine từ nguyên mẫu của truyền thuyết Hi Lạp và kịch
cổ của Euripide Nàng là người có địa vị cao, rất dễ hợm hĩnh, kênh kiệu, tự tin Nhưng khi thấy mình chông chênh trong hạnh phúc mong manh trước vị hôn phu dễ thay lòng đổi dạ thì Ecmionchao đảo từ cực này sang cực khác, hoang mang bối rối khủng khiếp , mất hết tự chủ Nóng vội,
nàng đã làm trái với tâm hồn mình và gây tai hoạ không thể cứu vãn Nàng cũng chỉ là một nạn nhân của bi kịch.
Oreste là một tính cách ít thành công hơn, chưa đủ gọi là nhân vật bi kịch Hắn chỉ là con
người thiếu tự chủ nhất thời bị cơn thèm khát tình yêu đẩy vào kết cục bi đát nhục nhã Anh ta
chỉ là một nạn nhân đau khổ của định mệnh (ngụ ý: không hiểu nổi việc mình làm, ngu dốt Khác
với Pyrus hiểu rất rõ hậu quả mà vẫn hành động !)
Vở kịch Andromaque thể hiện rõ nét nhất nghệ thuật bi kịch Racine từ việc lựa chọn đề tài,
xây dựng nhân vật, đênsắp xếp hành động kịch và thực hiện các quy tắc sân khấu Kịch của ông không quá lạ lùng siêu việt phức tạp ngổn ngang mà hấp dẫn khán giả bằng sự miêu tả tinh vi đờisống tình cảm của con người thời đại trong một khuôn khổ hẹp nhất
CHƯƠNG III: MOLIERE (1622-1673) VÀ HÀI KỊCH CỔ ĐIỂN
Moliere "người hề vĩ đại"- một trong những tên tuổi lớn của chủ nghĩa cổ điển Pháp, của lịch sử văn học Pháp và là một trong những nhà viết hài kịch lớn nhất của lịch sử sân khấu thế giới Cả cuộc đời ông là một tấm gương sáng của một nghệ sĩ chân chính luôn luôn bảo vệ chân
lí của thời đại chống các thế lực phản động bảo thủ tiêu cực Hoạt động cùng thời với các nhà thơnhà văn Racine, Boileau, La Fontaine Moliere đem đến cho văn đàn Pháp những cống hiến lớn lao - người sáng lập hài kịch cổ điển và đưa nó tới đỉnh cao xán lạn Là nghệ sĩ ưu tú kết tinh những truyền thống tốt đẹp của nhân dân và dân tộc Pháp, sáng tác của ông chuyển nhanh về phía cuộc sống hiện thực phong phú sôi động trong đó quần chúng lao động đang tiến lên đảm nhiệm vai trò mới của lịch sử Ba trăm năm lẻ đã qua, tiếng cười của Moliere không lúc nào vắngtrên sân khấu Pháp và thế giới trong đó có sân khấu Việt Nam
1- MỘT TÀI NĂNG NẢY SINH TRONG RÈN LUYỆN ĐẤU TRANH GIAN KHỔ
Jean Baptiste Poquelin sinh tại Paris trong một gia đình tư sản - tiểu quí tộc cận thần của nhà vua Ông được dạy dỗ chu đáo ba năm trong trường trung học Clémonde nổi tiếng Lúc ấy ông đã tỏ rõ sở thích văn chương, triết học, chịu ảnh hưởng triết học Gassendy Cha dự định cho ông học luật và thừa kế chức vụ quan hầu của nhà vua nhưng Poquelin lại chọn sân khấu - một nghề nghiệp đương thời coi là thấp kém
Năm 1643, Poquelin quen biết một nữ diễn viên Madelaine Béjart cùng một số bạn thành lập "Đoàn kịch trứ danh" Do thiếu kịch bản và diễn viên giỏi nên đoàn kịch chưa có tăm tiếng mặc dù rất cố gắng Poquelin chọn biệt danh "Moliere" năm 1644 Cuối năm 1645, Moliere cùng với anh em nhà Béjart dời khỏi Paris đi về các tỉnh nhỏ để lưu diễn
Trang 14Suốt 13 năm trời (1645 - 1658) chịu đựng khó khăn thiếu thốn, gánh hát nhỏ chưa nổi tiếngcủa Moliere lang thang hầu khắp nước Pháp Nó giúp ông hiểu biết, tích lũy vốn sống về một xã hội Pháp, lúc ấy đang có cuộc nổi loạn La Frode Nó giúp Moliere kiểm tra lại nhận thức của mình, biết chỗ mạnh chỗ yếu từ đó vạch hướng đi lâu dài Moliere diễn viên, đạo diễn, nhà sáng tác hài kịch và trưởng đoàn kịch đã trưởng thành qua 13 năm gian khổ như thế.
Từ 1650 Moliere đứng đầu gánh hát và bắt đầu xây dựng một số tiết mục đặc sắc Ông bắt tay viết những vở "kịch hề" trong đó vận dụng những kinh nghiệm của loại "kịch mặt nạ Italia"
về kĩ thuật , hành động, tính cách nhân vật Như các vở "Chàng Ngốc" , " Ghen" đã báo hiệu mộttài năng
Thành công của Moliere vang dội đến tận kinh đô Năm 1658 , đoàn kịch Moliere được nhà vua gọi về Pari Moliere ra mắt cung đình với vở hài "Thầy thuốc si tình" Buổi diễn có kết quả tốt, đoàn được giữ lại Paris Năm 1659, Moliere đưa lên sân khấu các vở "Những ả kiểu cách
lố bịch" Tác giả bị bọn quí tộc căm ghét mặc dù ông chỉ đả kích bọn "giả làm quí tộc" Từ đây cuộc đời Moliere chuyển sang giai đoạn xây dựng một nền nghệ thuật sân khấu dân tộc hiện thực
và tiến bộ Những tác phẩm lớn của Moliere ra đời liên tiếp, mỗi vở là một đòn giáng vào giới quí tộc, nhà thờ và chế độ chuyên chế Mặt khác, Moliere còn phải đương đầu với những nhà soạn kịch và diễn viên đố kị thù ghét ông, lên án ông không tôn trọng những qui tắc cổ điển, báng bổ tôn giáo, làm hại khiếu thẩm mĩ của công chúng
Năm 1662 Moliere cho diễn vở "Trường học làm vợ" lên án quan điểm phong kiến vô nhânđạo, trái tự nhiên vô hiệu quả trong việc giáo dục phụ nữ Bọn phản động tức tối, xúm lại công kích Moliere Để trả lời những kẻ thù địch, Moliere viết tiếp hai vở kịch ngắn "Phê bình trường học làm vợ" và "Kịch ứng diễn ở Verseill" (1663) đưa luôn các nhà phê bình đố kị lên sân khấu
mà châm biếm
Trong thời gian 1664 - 1666, Moliere viết ba vở hài kịch lớn với tư tưởng triết học xã hội phong phú "Tactuff", "Don Joan","Anh ghét đời" Là những đòn trí mạng giáng vảo nhà thờ, giai cấp quí tộc thế kỉ 17 Đây là giai đoạn căng thẳng nhất trong cuộc đời nhà văn nghệ sĩ Moliere Sau đó hoạt động nghệ thuật của Moliere giảm bớt sôi nổi với các vở Lão hà tiện (1668),
Trưởng giả học làm sang (1670), Những bà thông thái (1672), Người bệnh tưởng (1673)
Ngày 17-2-1673 trong đêm diễn thứ tư vở "Người bệnh tưởng", đang đóng nhân vật chính Moliere kiệt sức ngã trên sàn diễn Nhà thờ vốn thù ghét Moliere nên đã ngăn cản việc mai táng ông theo nghi thức tôn giáo Vợ ông phải quì phục dưới chân nhà vua hết lời khẩn cầu mới xin được phép chôn cất ông ở nghĩa địa nhà thờ vào lúc đêm khuya
2- NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA MOLIERE VÀO HÀI KỊCH DÂN TỘC PHÁP
Công lao của Moliere trước hết là kế tục và phát huy mạnh mẽ kịch hề dân gian Pháp , sau
đó nâng cao thành hài kịch cổ điển Moliere đã xác định và nâng cao vai trò địa vị hài kịch vốn
bị coi rẻ trong xã hội Pháp Xã hội Pháp vốn chỉ coi trọng bi kịch vì cho nó nghiêm túc, cao quí Moliere chứng minh rằng hài kịch cũng nghiêm túc và là một nghệ thuật chân chính, nó chứa đựng những cái cười thâm thúy, thông minh chớ không phải "rẻ tiền" như người ta chê trách VớiMoliere, hài kịch còn là công cụ đấu tranh xã hội lợi hại chẳng có gì sánh được Hài kịch chứng
Trang 15tỏ tinh thần trách nhiệm xây dựng xã hội lành mạnh phát triển chứ không phải chỉ để mua vui giải trí đơn thuần Tóm lại, nhờ Moliere, hài kịch có vai trò ngang hàng với mọi loại hình nghệ thuật và đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ của thời đại.
2.1 - TÍNH CỔ ĐIỂN CỦA HÀI KỊCH MOLIERE
Quan điểm nghệ thuật của Moliere là tinh thần duy lí, duy vật của thời đại Theo quan điểm chung của chủ nghĩa cổ điển, hài kịch nhằm đả phá những tệ nạn xã hội và nhược điểm tâm
lí của con người thời đại Lí luận này yêu cầu hài kịch "sửa chữa phong hóa bằng tiếng cười", giúp người có lương tri xa lánh cái sai và thói xấu Moliere viết "Những bài học luân lí nghiêm trang chưa hẳn có tác dụng bằng những nét châm biếm của một bài thơ trào phúng Mô tả
những thói xấu của con người là cách tuyệt diệu để sửa chữa nó" (Lời Tựa vở Tactuff - 1669)
Tuy nhiên, nhiệm vụ hàng đầu của hài kịch là "làm vui" cho khán giả, độc giả Muốn đạt được như thế trước hết phải "theo tự nhiên" Tự nhiên được hiểu là đáy sâu của những tâm hồn kín đáo mà chỉ có những cái nhìn tinh tường mới soi thấu được" (Boileau) "Tự nhiên" còn có nghĩa là theo truyền thống xã hội đã được thừa nhận Moliere nói qua lời một diễn viên "Khi anh
vẽ người, anh phải vẽ theo tự nhiên Nếu anh không làm cho người ta nhận ra những con người của thời đại mình thì anh chẳng làm được gì hết"
Về đề tài: Moliere cho rằng có thể chọn bất kì đề tài nào kể cả cổ đại Hi Lạp - La Mã, miễn
là đề tài ấy có sức thể hiện phong phú Nhưng ông thích lấy ngay đề tài trong đời sống tâm hồn
xã hội Pháp đương thời từ trong cung đình đến thành thị nông thôn nhờ vốn sống những năm giang hồ phiêu dạt khắp nơi tiếp xúc đủ mọi loại người Nhờ vậy Moliere sáng tạo được những tính cách điển hình Chỉ ngoại trừ một mẫu người - kẻ đứng đầu triều đình - mọi loại người Pháp khác đều có mặt trên sân khấu Moliere Tuy vậy nhân vật có mặt thường xuyên là nhân vật quí tộc, ngài hầu tước - hiện thân của chế độ phong kiến lỗi thời Moliere nói đại ý rằng: “trong mọi
vở kịch hề cổ xưa đều có một tên ăn cắp có nhiệm vụ gây cười cho khán giả thì trong các vở kịch
ngày nay luôn luôn phải có một vị hầu tước lố lăng làm trò cười cho công chúng" (Vở Ứng diễn
Nhìn chung, những thói xấu và sai lầm của nhân vật không gây ra những tai họa chết ngườinhưng sẽ phải thất bại Những kẻ ấy cứ tin mình làm đúng, mình nắm lẽ phải và không chịu thừa nhận thực tế khách quan Nhân vật ấy đầy ảo tưởng và trở nên lố bịch hài hước và bị chê cười
Trang 16Biện pháp cường điệu khoa trương nhằm làm tăng cường tính hài đẩy nhân vật tới sát vớiranh giới sự phi lí khó tin Nhưng Moliere không cường điệu tùy tiện bừa bãi mà gắn bó với hiệnthực Đối với khán giả, trước mắt họ là nhân vật cụ thể sinh động tính cách rõ nét và mạnh mẽ khiến họ không thể nhịn được cười.
2.3 – NGHỆ THUẬT GÂY CƯỜI
Sự vĩ đại của Moliere không chỉ là xây đựng tính cách mà còn nghệ thuật gây cười Sự tinh
tế nhạy cảm của nhà tư tượng nhà nghệ sĩ tài ba khiến ông khi quan sát cuộc sống phát hiện ra những khía cạnh hài hước với vẻ ngoài có vẻ trang nghiêm đáng kính ông nhìn thấy thực chất ở đằng sau sự lộng lẫy vàng son cung điện triều đình Louis 14, lối sống hào hoa phong nhã của quítộc nhàn hạ, bộ mặt uy nghi của tôn giáo, ánh lấp lánh của đồng tiền vàng tư bản chủ nghĩa Ông
có cái nhìn của quần chúng lao động và tầng lớp tư sản tiên tiến đang lên Moliere khám phá thấynhững mâu thuẫn kín đáo, những nét kệch cỡm của cái xã hội đang lỗi thời để mà cất tiếng cười tống tiễn nó vào quá khứ
Tiếp thu kế thừa những biện pháp gây cười của nghệ thuật kịch dân gian, nghệ thuật trong con mắt quần chúng (ví dụ cảnh đánh lộn, lầm lẫn, huyên náo…) Hình ảnh người bình dân hiện
ra khỏe khoắn, nhanh nhẹn tự tin với tiếng cười lạc quan, tuy ở địa vị thấp hèn nhưng họ được miêu tả đẹp đẽ chính nghĩa với tiếng nói tích cực của nhân dân
Phát hiện những khía cạnh bi đát của cuộc sống rồi thể hiện dưới hình thức hài kịch- đây làđiểm độc đáo nhất của Moliere Nhiều vở của ông khiến khán giả cười vỡ bụng nhưng sau lại nhận ra dư vị đắng cay đến rơi nước mắt Khác với cái hài của Shakespear cười vui vẻ trong cuộcđời lạc quan , Moliere cười phê phán mong chôn vùi những thói tật, “những hình thái lịch sử” đãhết thời mà còn cố gượng Ông giấu kín sau tiếng cười những điều nghiêm trang của thời đại, những nỗi đau những lo toan về cuộc sống trong thời cai trị độc đoán nghẹt thở của vua Louis
14, tiếng cười của Moliere đậm ý nghĩa triết lí và xã hội
Moliere là nhà hài kịch đầy bản lĩnh nên ông biết dừng lại đúng lúc khi sân khấu của ông
đã nhích dần tới ranh giới bi kịch Chỉ cần dùng một vài tiểu xảo, một lớp hề cũng đủ xua tan những ám ảnh nặng nề u tối … đưa khán giả quay về cuộc sống trước mắt Cái hài hước lố bịch còn nhiều nhưng ông tin vào lương tri quần chúng có thể cải tạo được chúng
2.4 – GIÁ TRỊ HIỆN THỰC TRONG KỊCH CỦA MOLIERE
2.4.1 Tính hiện thực phong phú: Hài kịch Moliere hướng tới met hiện thực phong phú,
bên cạnh những nghịch cảnh là cơ sở của hài kịch Cuộc sống nước Pháp quí tộc tư sản hoá thế
kỉ XVII hiện ra muôn hình muôn vẻ Cuộc sống của người bình dân lao động – những người đang tiến lên đảm nhận vai trò chủ yếu của lịch sử – bắt đầu được miêu tả, tuy chưa phải bối cảnh chính những đã thấp thoảng đằng sau những cảnh đời quí tộc tư sản
2.4.2 Tính chiến đấu: Mặc dù tuân theo quí tắc cổ điển là đặt lợi ích quốc gia dân tộc,
tạm gác cuộc đấu tranh giai cấp một bên, nhưng Moliere không quên đấu tranh giai cấp, ông vẫn đứng về phía nhân dân lao động chống lại cả hai giai cấp đó, tuy có châm trước phần nào cho giai cấp tư sản
Trang 172.4.3 Nhân vật phong phú: Đủ mọi loại người trong xã hội quí tộc- tư sản hiện lên với
những chân dung ngộ nghĩnh hài hước che khuất những thói xấu Cả một quần chúng lao động, không chỉ có mặt cơ bản là lương thiện cũng có những bình dân nhếch nhác đáng cười chê Chỉ trừ hình ảnh nhà vua lúc này trở thành biểu tượng dân tộc quốc gia, ngoài ra không thiếu một ai,
kể cả hình ảnh những tu sĩ đạo đức giả, một thế lực uy quyền đầy bí ẩn, một thứ ‘siêu quyền lực”
Nhân vật tiêu cực đương nhiên phải là nhân vật trung tâm: quí tộc gàn dở, dối trá, văn hóa rỗng tuếch, thầy tu đầy âm mưu, lừa bịp Tư sản lớp trên tham lam ích kỉ học đòi sang trọng như quí tộc Quan chức cao cấp huênh hoang bất nhân bất nghĩa.v.v
Nhân vật tích cực: hầu hết là người bình dân có lương tri sáng suốt, sống theo lẽ tự nhiên, luôn luôn chiến thắng trong các nghịch cảnh tuy rằng họ cũng có những nhược điểm nhất định 2.5 HÀNH ĐỘNG KỊCH MOLIERE
Hành động kịch của Moliere khá đơn giản, mỗi lúc một tăng mạnh hơn xoay quanh những thói giả dối kệch cỡm Sự thái quá của những hành động trái tự nhiên nảy sinh xung đột, không phức tạp gay gắt đến mức phải có giải pháp quyết liệt như bi kịch Với ông chỉ cần một biện pháp nhỏ đủ khiến cái hài phải hiện nguyên hình Màn chót của xung đột lại diễn ra nhẹ nhàng cùng với tiếng cười
3 – MỘT SỐ HÀI KỊCH TIÊU BIỂU CỦA MOLIERE
Sau 30 năm sáng tác và biểu diễn, Môlie để lại khoảng 40 hài kịch, gồm hài kịch phong tục, hài kịch tính cách và hài kịch ballet Được nhắc tới nhiều nhất là các vở hài tính cách: Tactuff, Don Juan, Người Ghét Đời, Trưởng Giả Học Làm Sang, Lão Hà Tiện … Loại hài kịch tính cách có khả năng tồn tại lâu bền qua nhiều thời đại vì nó cung cấp những “hằng số tính cách” bên cạnh ý nghĩa lịch sử của nó
CHẾ GIỄU QUÍ TỘC:
Những ả kiểu cách lố bịch, vở ra mắt đầu tiên tại cung Peutie Bourbon.Tác giả chế giễu
thói cầu kỳ, rởm đời, kiểu cách của bọn quý tộc: Madelon và Catos Do nhiễm phải thứ văn hoá quý tộc kiểu cách mà hai cô gái Madelon và Catos trở thành những cô gái cầu kỳ Họ đã cự tuyệthai chàng trai đến cầu hôn, đơn giản là hai anh chàng này không theo mốt yêu đương quý tộc Bị
sỉ nhục hai anh tìm cách trả thù bằng cách cho hai tên đày tớ cải trang thành quý tộc đến cầu hôn.Trong lúc hai cô bị mê hoặc bởi vẻ bề ngoài của hai anh quý tộc thì hai ông chủ hiện ra, bắt hai anh lột hết hoá trang để lộ nguyên hình đầy tớ Hai cô gái bị một vố tưng hửng đến mức phải xấu
hổ ê chề Vở hài kịch được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt, còn bọn quý tộc thì trở nên cay
cú, gầm ghè, hậm hực!
Don Juan: Hình tượng Don Juan rất quen thuộc trong văn học dân gian và văn học viết
Tây Ban Nha và cũng khá quen thuộc với công chúng phương Tây Đến Moliere, Don Juan trở nên một hình tượng nghệ thuật sắc sảo giáng một đòn nặng vào chế độ phong kiến và tôn giáo Don Juan hấp dẫn trước hết ở diện mạo thể chất, trí tuệ và tư tưởng tự do vô thần Mặt khác y
Trang 18cũng tham tàn, phóng đãng và trơ trẽn như những kẻ quí tộc hết thời Hai mặt trên xen kẽ chi phối nhau khiến cho nhân vật này rất sống động phong phú Bổ sung và đối lập với Don Juan làanh đầy tớ Saganaren một kẻ hèn nhát, ngốc nghếch, bẻm mép và thường kết tội ông chủ Don Juan.
CHÂM BIẾM TƯ SẢN
Trưởng giả học làm sang, sáng tác 1670 Truyện xảy ra tại Paris Lão Jurdin giàu có nhờ
thừa kế cửa hàng buôn bán lớn của cha mẹ Khao khát trở thành nhà quí tộc, lão mướn hai người hầu nhưng chẳng biết sai bảo điều gì Lão lại mời các thầy dạy nhạc, thầy khiêu vũ về nhà Rồi thầy dạy đấu kiếm, thầy triết học Lão nhờ thầy triết học dạy nguyên âm, phụ âm và cách viết bức thư tình để gửi cho bà hầu tước Dorimen Lão thuê thợ may chuẩn bị bộ đồ quí tộc, khi áo may hoa ngược lão tức giận nhưng nghe giải thích quí tộc ăn mặc như vậy thì lão lại hài lòng Bà
vợ chất phác can ngăn lão nhưng vô hiệu Bá tước Dorent lợi dụng lão để lấy tiền xài khi nhận làm cố vấn ái tình cho lão với bà hầu tước mà bà ta lại là nhân tình của y Những quà tặng của lão Jourdin nhờ y chuyển cho nữ hầu tước lại trở thành quà của y Mộng trở thành quí tộc khiến lão mê muội khiến lão không chịu gả con gái Lucin cho anh chàng Cleant vì chàng không phải con nhà quí tộc Anh đầy tớ Covien bày mưu cho Cleon đóng giả hoàng tử Thổ nhĩ kì phong tước quí tộc Thổ nhĩ kì cho lão để lão đồng ý gả Lucine cho hoàng tử
Lão hà tiện: Vở kịch tiêu biểu để đả kích giai cấp tư sản là “Lão hà tiện” Tác giả lấy đề
tài từ tác phẩm “Cái nồi” của Plote, nhà viết kịch nổi tiếng La Mã cổ đại Tác phẩm dựng lên câuchuyện về một người nghèo khổ tự nhiên phát hiện được cái nồi vàng, không dám tiêu pha, chỉ nghĩ đến việc chôn giấu và luôn luôn lo lắng sợ có người lấy trộm Đến khi cho con gái làm của
hồi môn thì cái tâm trạng lo sợ đó khỏi hẳn Đến Moliere vẽ lên được một điển hình về lão hà tiện với tất cả cái lố bịch, khả ố của một tên tư sản hám tiền, cho vay nặng lãi, mất hết tính
người
H’Arpagon là sản phẩm của một thời đại mà sự tha hoá của đồng tiền đã huỷ hoại ở con người lão tình cha con, tình yêu, tình chủ tớ, tình đồng loại như thế nào Sự tha hoá của đồng tiền:”Đồng tiền là năng lực đã bị tha hoá của loài người” (Marx)
Nét độc đáo nhất ở nhà hài kịch vô song này là sự phát hiện ra những khía cạnh bi đát của cuộc sống rồi biểu hiện nó dưới hình thức hài kịch Đằng sau những trận cười lại là một dư vị đắng cay, tê tái đến mức có thể làm rơi nước mắt Moliere cười để phê phán, để góp sức chôn vùinhững thói tật “những hình thái lịch sử” đã hết thời, và để sửa chữa những tính cách chủ quan phi lý, đầy ảo tưởng, mâu thuẫn với chiều hướng phát triển tự nhiên của sự việc
Tiếng cười của Moliere không chỉ làm rơi mặt nạ những kẻ giả dối mà còn giấu kín ở bên trong những vấn đề nghiêm trang nhất, những vấn đề lớn của xã hội, những nỗi đau, những mối
lo toan về cuộc sống trong những năm nghẹt thở dưới nền độc đoán của Lui XIV Cho nên tiếng cười của Moliere có ý nghĩa triết lý
Vở kịch được công diễn lần đầu ngày 9/9/1668 trên sân khấu hoàng cung Ban đầu không được khán giả tán thưởng nhiều vì lời kịch viết bằng văn xuôi, không hợp với thị hiếu thẩm mĩ quen thuộc của công chúng Pháp thế kỉ 17, cũng còn vì tính chất khoa trương cường điệu quá
Trang 19đáng của tính cách nhân vật “lão hà tiện” Nghĩa là nhân vật này không giống “như thật”, và tiếng cười có vẻ đắng cay Chỉ có một số nhà phê bình văn học như Boileau tích cực ủng hộ Dầndần về sau vở kịch đã chinh phục được quần chúng bằng nội dung xã hội sâu xa và nghệ thuật gây cười đặc sắc của nó Từ bấy đến nay, “Lão Hà Tiện” vẫn là một trong những kiệt tác hàng đầu của Moliere
Vở kịch này mượn đề tài từ vở “Cái nồi” của Plaude nhà hài kịch La Mã cổ đại [250 - 184 trCN] Vở kịch cổ đại không miêu tả lão già hà tiện và ham giàu, Pluade chỉ xoáy vào tâm trạng người giàu lo mất của Moliere sửa đổi ít nhiều, tạo cho vở kịch một bộ mặt mới Với Moliere, lão H’Arpagon là một lão già rất giàu và rất mê vàng Quí tiền hơn con cái, lão keo kiệt tới mức con trai Cleante phải mượn một người bạn đến vay nợ lão để có tiền tiêu xài Lão định cưới cho con trai một bà góa giàu có và tính cách gả con gái Elise cho Anselme- một ông già góa vợ giàu
có vì ông ta không đòi của hồi môn Còn lão thì đang theo đuổi một cô gái nghèo trẻ đẹp tên Mariane mà không muốn bỏ tiền ra, lại còn dò la xem nhà cô có của hồi môn hay không Con gáilão là Elise đang yêu chàng trai Valere Anh ta đành phải giả làm người giúp việc cho nhà lão để được gần gũi người yêu Anh đầy tớ La Flech lấy trộm cái tráp bạc của lão và chỉ chịu trả lại với điều kiện ông chủ đồng ý cho Cleante cưới Mariane (họ đang yêu nhau nhưng lão không biết) vàcho Elise lấy Valere Vở kịch kết thúc vui vẻ nhờ cuộc đoàn tụ bất ngờ: ông lão góa vợ Anselme nhận được con trai là Valere và con gái Mariane sau nhiều năm thất lạc Hai nhà kết thông gia
Vở kịch kết thúc, mọi người hoan hỉ, riêng H’Acpagon :”Còn ta, mau đi thăm cái tráp yêu quý của ta”
Phân tích hài kịch Lão hà tiện
Lão già H’Arpagon giàu có nhờ cho vay nặng lãi Tiền bạc của lão luân chuyển và sinh sôi nảy nở Lão thực là điển hình những mầm mống tiền thân cho giới tư sản tài chính Nhân vật nàykhông luẩn quẩn trong nhà chật hẹp, lão là con người của thời đại vàng đang giành lấy thế lực thống trị tất cả “Mối tình” của lão đã đẩy lão vào tình trạng xung đột vừa hài hước vừa bi thảm –cha con xỉ vả nhau vì tiền và tình Anh con trai mong cha chết sớm Cũng vì tiền mà cô Mariane sinh ra nhu nhược, bà mối Frosine lanh lợi hóa ra điêu ngoa gian trá
Lão giàu có nhưng lại keo kiệt, chắt chiu từng xu nhỏ Bỏ mặc con thiếu thốn, với kẻ hầu
hạ lão tìm mọi cách cướp lại tiền công Chẳng những thế, lão còn coi rẻ tình yêu hôn nhân của hai đứa con Lão chẳng những không muốn bỏ tiền cho đám cưới con mà còn muốn ép duyên con để kiếm lợi Con trai lão hư hỏng lão chẳng thèm quan tâm, còn dạy con khi thắng cờ bạc thìđem cho vay lãi Khi thấy con đi vay lãi lấy tiền xài thì lão mắng con là ngu ngốc
Lí tưởng đồng tiền của lão phơi ra lộ liễu nhất khi lão mất cái tráp bạc Lão cảm thấy cô đơn hoàn toàn – lão cảm thấy đời chẳng còn ý nghĩa gì nữa
Xây dựng A, M đã mô tả nét tính cách cơ bản của nhân vật, làm cho A trở thành met điển hình đọc đáo tiêu biểu cho thói hà tiện Mọi thói khác đều xoay quanh thói hà tiện và do thói hà tiện sinh ra và có tác dụng làm nổi bật tính xấu này Đó là met thành công xuất sắc của M gắn liền với phương pháp điển hình hóa của chủ nghĩa cổ điển
Trang 20Tính cách của A có một ý nghĩa lịch sử không thể chối cãi, nó cũng không cứng nhác, khô khan, đơn điệu Tính cách ấy gây cười, vì về bản chất, nó trái tự nhiên, đầy những ảo tưởng khôi hài Nó chứa đầy mâu thuẫn và những mâu thuẫn ấy được phóng đại lên nhiều lần qua cử chỉ, ngôn ngữ, trở thành lố lăng, kịch cỡm.
Vạch trần thói xấu của giai cấp tư sản ngay trong giai đoạn lịch sử đầu tiên của nó, M đã
có cay nhìn rất tinh, rất tiến bộ Hơn nữa Mcó met cay nhìn đúng đối với quần chúng lao động,
đó lag bác Jăc, là La Flesơ… Tuy thân phận hèn mọn nhưng họ có những phẩm chất tốt đẹp: thật thà, nhân hậu, thông minh, linh lợi… nhiều khi chính họ đã cứu vãn, xoay chuyển tình hình, đemlại chiến thắng cho chân lí, chính nghĩa
PHÊ PHÁN NHÀ THỜ TRUNG CỔ với vở Tactuff
Các vở tiêu biểu có ngụ ý phê phán nhà thờ như “Trường học làm vợ”, “Phê phán trường
học làm vợ”, “Kịch ứng tác ở Verseille”, nổi tiếng hơn cả là vở Tactuff Đây là vở kịch gây ra nhiều xôn xao và bị ngược đãi một thời gian Tactuff đựơc diễn lần đầu tiên tại cung điện
Verseille (12.5.64), rồi bị cấm, bị Nhà thờ công kích dữ dội, đòi đốt tác phẩm và thiêu tác giả Mãi đến năm năm sau 1669 vở kịch lại ra mắt công chúng và được hoan nghênh nhiệt liệt nhờ sựủng hộ của bạn bè trong đó có Boileau
Tactuff là vở kịch bằng thơ gồm năm hồi Vở kịch diễn ra tại nhà Oron, một tư sản goá vợ, giàu có và sùng đạo Lần đầu tiên gặp nhau ở nhà thờ, Tactuff đã được lòng Oron, được lão đưa
về sống trong gia đình và hết mực tin cậy Đến nỗi lão giao cả tráp tài liệu bí mật cho gã, hứa gả con gái Marian cho gã, và làm chúc thư giao toàn bộ tài sản cho gã Enmia “vợ kế”, Marian “congái”, Đamix “con trai”, và cả Dorine “người đầy tớ gái” của lão khuyên can nhưng không được
Đamix bắt quả tang Tactuff tán tỉnh mẹ của mình và tố cáo với cha hành động của Tactuff nhưng
vì quá tin gã mà lão đuổi con trai ra khỏi nhà và buộc Marian lấy Tactuff Enmia quyết định lập mưu vạch mặt Tactuff, bằng cách cho chồng nấp dưới gầm bàn để mắt thấy tai nghe sự thật
Oron đã muộn màng khi nhận ra bộ mặt của tên đạo đức giả Ngay lúc ấy Tactuff trở mặt đuổi
Oron ra khỏi nhà và tố giác Oron với chính quyền Thời may có lệnh của nhà vua bắt giữ Tactuff.Gia đình Oron thoát nạn Vấn đề được đặt ra trong vở kịch này là Moliere chỉ vạch mặt kẻ đạo đức giả hay cả tôn giáo ? Cha cố Bourdalue thừa nhận: “Dù cho Tactuff là tên sùng đạo giả thì vởkịch cũng chẳng kiêng dè gì tôn giáo và các nhà chân tu”
Tactuff xuất hiện với vẻ của một nhà tu hành, cũng áo gai, cũng cầu nguyện và làm dấu
thánh Khi thấy Dorine, người đầy tớ gái, Tactuff tỏ ra là một chân tu thật sự vội rút khăn đưa cho Dorine: “Chao ôi ! Lạy chúa tôi, xin chị hãy cầm lấy cái khăn này, rồi hẵng nói Chị che cái ngực của chị lại Tôi không sao nhìn được, những thứ ấy làm tổn thương linh hồn và làm nảy nở những ý nghĩ tội lỗi !”Trước mặt Dorine, Tactuff ra vẻ là một con người đạo đức nhưng khi gặp
Enmia thì lại ra sức tán tỉnh, dở trò bậy bạ
Và khi bị lột mặt nạ thì gã liền vứt cái đạo đức giả tôn giáo để lấy cái đạo đức giả chính trị
Vở kịch của M đã thẳng thắn vạch trần bộ mặt bọn thầy tu thiên chúa giáo, bọn giả mộ đạo, giả đạo đức vô cùng xấu xa, tàn ác Tôn giáo là công cụ lừa bịp, ngu dân và đàn áp thói tự dotư tưởng là thói đọc đoán, chuyên chế về tinh thần
Trang 21Đề tựa vở kịch, m ra sức biện bạch rằng ông cố phân biệt người chân tu với kẻ giả đạo, rằng ông chỉ công kích những kẻ đọi lốp tôn giáo Trong thực tế, T bịp bợm, dâm ô, hung ác đã
bị lột mặt nạ Song, vở kịch không dừng lại ở đáy Cay khéo của M là ở chỗ làm người ta không phân biệt được đau là thật, đâu là giả mà chỉ thấy hiện lên bong tối ghê rợn của tôn giáo
Ở hai hồi đầu, T chưa xuất hiện, chưa trực tếp tham gia vào xung đột T gây bất hòa trong gia đình O, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhắc đến T, O cũng chỉ lặp lại 1 câu: “Tội nghiệp thân ông” O đã mất lí trí, đây là kết quả tai hại của niềm tin mù quáng do tôn giáo gây ra Sau này, khi xuất hiện với nhữnghành vi thủ đoạn xảo quyệt, T làm cho gia dinhd O thẻmối loạn Vaitrò tên lừa đảo chỉ có tính chất hổ trợ, chính sự ngu dân, thói chuyên chế về tinh thần của tôn giáo mới có tác dụng quyết định
Còn T mới ló mặt lên sân khấu, mỗi lời nói mỗi cử chỉ đạo mạo quá mức, đều khiến những đầu óc sáng suốt phải băn khoăn Yvờ lấy khăn tay bảo Dôrin che ngực nhưng lại tán tỉnhEnmia 1 cách bỉ ổi.Khi mượn danh chúa để mê hoặc, lừa đảo người khác, y đã mất lòng tin ở mọi người Người ta dễ phẫn nộ khi y ép O gả con gái cho y “theo ý chúa”, y chiếm đoạttài sản của O là ví “Chúa ko muốn để của cải ấy rơi vào tay Đamix cho Đ làm bậy” Đến khi y dựa vào lối biện luận của nhà thờ để lung lạc con người thì ta không biết đâu là giả đạo, đâu là chân tu nữa.Qua vở kịch này, tôn giáo bị coi như là met thế lực phản động đầy nguy hiểm, phải loại trừ
nó ra khỏi cuộc sống
Đánh vào nhà thờ, tôn giáo, M đồng thời đả kích luôn cả chế độ chuyên chế T chuyên chế
cả trong tình yêu để chiếm đoạt được tâm hồn và thể xác của người yêu Ngoài ra bằng việc chiếm đoạt những bí mật chính trị của Ô và âm mưa đi tố giác vói chính quyền, T đã tỏ rõ bản chất mật thám của y T là hiện thân của mối đe dọa khủng khiếp của chế độ chuyên chế có trái tim đã và bàn tay sắt
Về phía các nhân vật khác, O thể hiện rõ hậu quả tai hại của chính sách nô dịch về tinh thần do giáo hoi tiến hành O vốn ko phải là người xấu, nhưng do ảnh hưởng của tô giáo mà đã trở nên mê muội, gàn dở Để được toàn tâm toàn ý “vì đạo”, Ô chảng thiết gì đến gia đình, vợ con.Tôn giáo đã tàn nhẫn hủy hoại tất cả những tình cảmtự nhiên, cơ bản nhất của con người
Đôrin là hình ảnh người bình dân mưu trí dũng cảm chống lại những thế lực hắc ám Đ đã sớm phát hiện râcí vẻ đáng ngờ của T, thấy rõ nguyên nhân gây ra sự đổ vỡ trong gia đình Ô Đ
đã chủ động cung Đamix chóng lại T, khuyên bảo O, động viên Marian cưỡnglại việc ép gã cho
T trong đấu tranh, Đ luôn lạc quan, tươi tắn Đ là người phát ngônnhững quan điểm của quần chúng lao động và của Mtrong cuộc đấu tranh chung vì tiến bộ xã hội
Tính chất hài kịch của tác phẩm được thể hiện trước hết ở tính cách của hai nhân vật trungtâm Ô u mê, mù quáng met cách hết sức khôi hài O khác nào met thứ bù nhìn đờ đãn, mặc cho
T tùy ý giật dây Ngôn ngữ cử chỉ của O đầy tính ương gàn, lố bịch Đối lậpvới O là tên T cáo già nham hiểm Dù cố che đậy, T vẫn để lộ sự dối trá nực cười T thể hiện tập trung thói đạo đứcgiả - đặc điểm tiêu biểu của xã hộ thượng lưu Pháp thời kì này Sự cường điêuh tính cách, sự tương phản giữa các tính cách cũng là cơ sở của cay cười trong hài kịch Môlie Nó tăng thêm tính phê phán của tiếng cười châm biếm
Trang 22Đối với nhưng quy tắc sáng tác cổ điển chủ nghĩa vở kịch không có những quy phạm đáng kể T bị công kích nặng nề vì những lí do chính trị xã hội.Lý luận của Tactuff làm cho hư thật lẫn lộn, chân nguỵ khó phân Puskin cho rằng : “Tactuff là tác phẩm bất hủ Tài năng hài kịch của Moliere đã đạt đến cường độ cao nhất của nó”.
NHỮNG CỐNG HIẾN VÀ HẠN CHẾ CỦA CHỦ NGHĨA CỔ ĐIỂN
Thấm nhuần những tư tưởng triết học tiến bộ cách mạng của thời đại như chủ nghĩa duy lí Descartes, chủ nghĩa duy vật – cảm giác luận Gassendy, nhà văn cổ điển đi vào quan sát mô tả hiện thực nên đã phản ánh chân thật, sâu sắc nhiều mặt của đời sống nội tâm con người thời đại –tiêu biểu là quí tộc và tư sản Mỗi tác phẩm là một thế giới riêng về tâm lí, dục vọng của quí tộc thượng lưu trước những bước ngoặt lịch sử khó khăn phức tạp, qua đó gợi lên một thái độ nhận thức ở người đọc Văn học cổ điển chủ nghĩa đã làm được chức năng giáo dục quần chúng
Văn học cổ điển đã đáp ứng được đòi hỏi của lịch sử, khắc phục tình trạng phân tán cục bộtùy hứng của một tình hình văn học nghệ thuật Pháp vô tổ chức, mở đầu hình thành nền văn học dân tộc, góp phần củng cố xây dựng đất nước thống nhất, vững mạnh, đảm bảo quyền tự do dân chủ dựa trên một lí trí sáng suốt phù hợp qui luật khách quan
Văn học cổ điển đã có những sáng tác độc đáo – những bức tranh tâm lý tinh vi đa dạng, những tính cách điển hình bất hủ, những thể loại nghệ thuật già dặn giàu sức biểu hiện, những
vẻ đẹp cổ điển phù hợp và nâng cao khiếu thẩm mĩ của một thế kỉ lớn
Tuy nhiên, do quá thiên về lí trí, thiên về sự thể hiện đời sống bên trong của những lớp người sống loay hoay chốn cung đình và thành thị nên nhà văn chưa quan tâm đến hoàn cảnh xã hội rộng rãi và đời sống bình thường của con người, coi nhẹ vai trò của quần chúng lao động Vìcòn thiếu cảm hứng lịch sử nên văn học cổ điển chủ nghĩa chưa phản ánh được đầy đủ hiện thực nước Pháp trong thế kỉ 17 sôi động Những điển hình nghệ thuật thường có tính biệt lập, trừu tượng do tính cách bị tách rời khỏi hoàn cảnh, không được giải thích bằng hoàn cảnh và vận động theo hoàn cảnh Mặt khác, tính cách cổ điển hầu như chỉ có giá trị tự nó chứ không gây tác động ảnh hưởng gì đến hoàn cảnh
Phần II: VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ 18
Trước thế kỉ 18 chưa từng có giai đoạn nào văn học hào hứng sôi động như thời kì này Đây là giai đoạn chuyển mình quan trọng của văn học Tây Âu và thế giới
Trang 23Chế độ phông kiến tồn tại ở phương tây trong một thời gian rất dài từ sau khi đế quốc La
Mã sụp đổ Đến nay, nó hết vai trò tiến bộ lịch sử và cản trở xã hội tiến lên Giai cấp tư sản từ khi ra đời đã bước vào cuộc đấu tranh chống PK dai dẳng trong nhiều thế kỉ và ngày càng trở nêngay gắt.Thế kỉ XVIII các nước phương Tây mang met nét chung là thời kì diễn ra cuộc đấu tranhquyết liệt chống PK Cachá mạng Pháp được xem như hồi chuông báo tử cho chế độ phong kiến trên phạm vi toàn châu Âu
Chế độ phong kiến kết hợp với chính sách ngu dân của Giáo hội từ bao đời vẫn kìm hãm nhân dân trong vòng ngu tối Các triết gia, các nhà hoạt động xã hoi, các nhà văn tiến bộ của thế
kỉ XVIII ở hầu khắp các nước đã dấy lên met phong trào mạnh mẽ đề cao lí trí, dùng ánh sáng của lí trí để xua tan bong tối, soi tỏ chân lí, giải phóng tư tưởng cho mội người, tạo điều kiện chohọc tiếp xúc vớ văn hóa, khoa học, nghệ thuật
Thuật ngữ Ánh sáng chỉ rõ vai trò tiến bộ lịch sử của giai cấp tư sản so với giai cấp PK già cõi trong thời đại cách mạng tư sản bằng cách gợi lên sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối
Nó cũng nêu bật ý nghĩa tiến bộ của phong trào tư tưởng và của nền văn học ánh sáng thế kỉ XVIII
Tình hình nước anh và đặc điểm văn học Anh
1 Nước Anh thế kỉ XVIII
So với các nước châu Âu, giai cấp tư sản Anh ra đời và phát triển khá sớm Từ thế kỉ XV, nước Anh đã trở thành điển hình cho sự tích lũy nguyên thủy cho chủ nghĩa tư bản Cách mạng
tư sản Anh nổ ra từ năm 1648 nhưng mãi đến năm 1688 giai cấp tư sản mới thật sự lật đổ chế độ phong kiến, thành lập nước quân chủ lập hiến Cách mạng tư sản Anh là met cuộc cách mạng không triệt để, sau khi giành đượ chính quyền, giai cấp tư sản dưa đất nước tiến lên con đương phát triển tư bản chủ nghĩa nhưng đồng thời ại thỏa hiệp với giai cấp phong kiến
Song song với sự trì trệ về chính trị là sự phát triển kinh tế nhanh chóng theo hướng tư bản chủ ngĩa Giai cấp tư sản anh đã tạo nên một bước ngoặt phát triển công nghiệp mạnh mẽ chưa từng thấy Tất nhiên kèm với đó, mối quan hệ bót lột tư bản chủ nghĩa cũng tăng lên, quần chúnglao động càng bị đẩy nhanh đến tình trạng bị bần cùng hóa
Tình hình đó tác động rõ rệt đến văn học tính chất chống phong kiến vẫn chưa lu mờ trongđời sống văn học cũng như trong nhiều lĩnh vực hoạt động tinh thần khác của đát nước mẫu nhân vật chính không phải là kiểu nhân vật “chiến sĩ”, phê phán, đập phá xã hoi cũ như ở Pháp
mà lại là những cá nhân bình thường Các tác phẩm ít đề cập đến những vấn đề chính trị, xã hoi rộng lớn, gay gắt mà hướng vào mô tả đời sống riêng tư với các phong tục, đạo đức các nhà văn quan niệm rằng đề cập đến việc giáo dục đạo đức con người trong cuộc sống bình thường là con đường tốt nhất tác động dến đời sống xã hoi của thời đại mình
Bên cạnh tính chất chống phong kiến nền văn học Anh thế kỉ này còn có khuynh hướng phơi bày nhưng mặt hạn chế của bản thân giai cấp tư sản khuynh hướng ấy mới đầu xuất hiện lẻ
tẻ, nhưng sang nữa sau thế kỉ thì ngày càng trở nên rõ nét hơn
Trang 24Daniel Defoe và tiểu thuyết du ký “Robinson Crusoe”
1 Tác giả: ĐIFÔ (1660-1731)
a) Một chuỗi dài những bước thăng trầm
Cuộc đời của Đ là một chuỗi dài những bước thăng trầm, những cuộc phiêu lưu chẳng khác gì cuộc đời của các nhân vật trong tác phẩm của ông
Đ sinh ra trong met gia đình theo Thanh giáo, ngay từ nhỏ ông đã được gia đình gởi đến trường học do Mortơn để chuẩn bị sau này trở thành luật sư Đó là trường học của những người theo giáo phái li khai không thừa nhận giáo lí của giáo hoi chính thống ở Anh lúc bấy giờ
Tuy nhiên , Đ không muốn đi theo con đường mà gia đình đã lựa chọn mà dấn thân vào con đường kinh doanh Có những lúc làm ăn phát đạt giàu to nhưng cũng lắm khi thua lỗ sạch túi Rên bước đường kinh doanh, ông đã đặt chân đến nhiều nước lục địa như Pháp, Italia, Đức, Tây an Nha, Bồ Đào Nha… Đầu óc kinh doanh và những bước thăng trầm của Đ là hình ảnh thu nhỏ của giai cấp tư sản Anh vàonhững năm cuối thế kỉ XVII
Đ cũng không tham gia không kém sôi nổi vào các hoạt động chính trị tiến bộ của thời đại.hoạt động kinh doanh và chính trị quyện chặt lấy nhau tạo nên tính cách của Đ và chi phối ngoài bút sáng tác của ông Trong lĩnh vực chính trị ông cũng trải qua nhiều phen thành bại Mấy năm cuối đời, Đ sống trong cảnh túng thiếu, bệnh tật
b) Một ngòi bút không biết mệt mỏi
Có thể nói hầu hết các sự kiện lớn xảy ra ở Anh và một phần ở cả Châu âu trong giai đoạn cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII chúng ta đều tìm thấy tiếng vang trực tiếp trong sự nghiệp sáng tác đa dạng gồm một số tiểu thuyết, những bài văn đả kích, những tác phẩm bàn luận bàn vềcác vấn đề chính trị, kinh tế…
Đ viết “Người Anh đúng nòi” để chống lại luận điệu của những kẻ chống lại chính quyền mới của Uyliam Orêngiơ Tác phẩm toát lên tinh thần dân chủ chốngphong kiến, xuất hiện kịp thời và có tiến vang rộng rãi trong quần chúng Ông viết “khảo luận về các dự án” đề xuất nhiều
dự án cải cách tiến bộ thuộc các lĩnh vực khác nhau Với tác phẩm “Người thương nhân Anh toàn diện”, “ Nhà quý phái Anh toàn diện”, Đ đã kín đáo đánh vào cái đặc quyền văn học mà chế
độ phong kiến dành cho giới quý tộc; người thương nhân Anh lúc này phải đồng thời trở thanhgf người có trình độ văn hóa… Những tác phẩm trên trở thành tiếng nói của giai cấp tư sản Anh thế
kỉ Ánh sáng Đ dưới góc độ này xuất hiện như met nhà văn Ánh sáng
Đ bước vào thể loại tiểu thuyết khá muộn Năm 1719 khi đã 59 tuổi, ông mới xây dựng cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Rôbinxơn Cruxô Liên tiếp sau đó là met số cuốn khác: thủ lĩnh
Xingơntơn (1720), Môn Flanđơcs (1722), Đại tá Jăc (1722)… Những tác phẩm ấy nhanh chóng đưa đến cho Đ vinh quang thực sự, Nhất là Rôbinxơn Cruxô Ông được đánh giá là một trong những người sáng lập ra nền tiểu thuyết của Anh và của cả Châu Âu Engels đã viết về Điđơrô:
Trang 25“Nếu như có một người nào đó đã cống hiến trọn cuộc đời mình cho chân lý và lẽ phải, thì người
đó chính là Điđơrô” Và Cac Mac coi Điđơrô là nhà văn mà mình yêu thích
TÁC PHẨM
1 Robinson trước khi ra đảo – phác thảo nhân vật của thời đại
Khác với những chuyện phiêu lưu cùng thời, nhân vật Robinson không phải trải qua nhiều biến cố khác nhau Chỉ sau một vài sự kiện, tiểu thuyết dừng lại ở đảo hoang và triển khai phần lớn tác phẩm cho đến kết thúc Ngày Robinson đặt chân lên đảo có thể xem là cột mốc ranh giới đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời và cả trong tính cách của anh
Robinson đã được xây dựng thành một mẫu người tiêu biểu của thời đại Ðây là hình tượngtầng lớp trung lưu ở nước Anh thế kỉ 18 trong đó có bản thân nhà văn Tài năng và công phu sáng tạo nghệ thuật của Defoe chính ở chỗ khác nhau giữa người mẫu Selkirk và Robinson Robinson không phải là Selkirk- một thuỷ thủ rủi ro lâm nạn- mà là một sự hoá thân Nhà văn đã biến anh thuỷ thủ kia thành một hình tượng nghệ thuật, mang tầm vóc và ý nghĩa thời đại
Tầng lớp trung lưu ở Anh thế kỉ 18 là một quần thể phức tạp Những yếu tố tích cực và tiêu cực, tiến bộ và hạn chế xen kẽ nhau Một mặt, tầng lớp này có tâm tư, hoài bão gắn liền với giai cấp tư sản thời ánh sáng với tất cả những ưu nhựơc điểm do lịch sử qui định Mặt khác, nó chưa mất liên hệ với quảng đại nhân dân, và về nhiều mặt nó vẫn cất lên tiếng nói cho quyền lợi
và nguyện vọng của những người lao động Do đó, Robinson là một hình tượng phong phú không đơn điệu
Robinson thích đi phiêu lưu đây đó, bất chấp gian nguy chẳng phải chỉ như một khách du lịch bình thường ham chuộng phong cảnh lạ, hoặc một nhà thám hiểm say mê phát kiến khoa học Các chuyến đi của anh về sau ngày càng gắn liền với mục đích kinhdoanh với những tàu buôn Robinson đã “trở thành một lái buôn thực thụ” như chính anh đã thú nhận Anh được chia lời lãi, anh tính toán, càng nhiều lãi càng ham, có khi đã sướng run lên khi nghĩ đến chuyến hàng
có thể sẽ phất to Thậm chí Robinson còn tham gia cả vào việc buôn bán nô lệ
Trong giai đoạn tan rã của chế độ phong kiến, nền kinh tế công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy giai cấp tư sản các nứơc đua nhau đi tìm những thị trường mới Kiểu người ham thích đặt chân đến những miền núi non xa lạ như Robinson trở thành mẫu người của thời đại Trung tâm của tiểu thuyết là chuyện Robinson từ khi đắm tàu dạt vào đảo hoang Trong những năm dài dằng dặc sống nơi đây, hình ảnh Robinson cá nhân tư sản bước đầu dấn thân vào con đường kinh doanh ở phần đầu đã lu mờ và nhường chỗ cho một Robinson mới với ý nghĩa, tính cách khác hẳn
2 Robinson trên đảo hoang- “người lao động chân chính”
Cảnh ngộ vô cùng gian nan ở hòn đảo không khuất phục được Robinson Vừa đặt chân lên đảo, anh bắt tay ngay vào cuộc đấu tranh quyết liệt với hoàn cảnh, và không chịu để một khoảnh khắc cho những ý nghĩ tuyệt vọng đen tối len lỏi vào tâm hồn mình Ðơn độc một thân trước thiên nhiên hoang vu, nhiều lần phải đương đầu khó khăn tưởng chừng không thể nào khắc phục
Trang 26được, nhưng anh đã vượt qua tất cả Trong tay thiếu thốn dụng cụ nên mỗi việc làm cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu cũng đòi hỏi ở Robinson những nổ lực và ý chí phi thường quá sức tưởng tượng: vào rừng chặt cây về làm cọc rào quanh nhà để chống thú dữ, mỗi cọc phải làm mất một ngày, hàng rào phải mất gần cả năm mới xong Anh làm một tấm ván mặt bàn mất bốn mươi hai ngày; hai tháng để làm được mấy cái vại để đựng lương thực; đóng chiếc thuyền đầu tiên để đựng lương thực; đóng chiếc thuyền đầu tiên để vựơt biển mất năm tháng Anh san phẳngmặt đất thoai thoải từ chỗ đóng xuồng ra mặt nước, nhưng rồi không làm cách nào cho xuồng hạ thuỷ được Chỉ còn một cách đào một cái lạch Anh tính toán rằng muốn đào được cái lạch đó phải mất trên mười năm Anh bỏ xuồng, đi tìm một địa điểm gần sát nước biển, đóng một cái xuồng khác, đào một cái lạch khác, dài nửa dặm sâu bốn bộ, rộng sáu bộ sẽ hoàn thành trong hai năm Robinson đẽo một cái cuốc bằng gỗ, vỡ đất gieo hạt lúa mì Do thiếu thốn kinh nghiệm trồng lúa lại thêm hạn hán và chim chóc phá hoại, vụ đầu tiên mất mùa Anh không sờn lòng, kiên trì làm vụ khác Cứ như thế từ chỗ may mắn còn sót lại mười ba hạt lúa sau bốn năm ròng
rã, trồng và gặt hái dành dụm từng hạt, anh đã gặt được một số lúa và được “vuốt ve cái bánh mìđầu tiên “do tự tay mình làm ra” “Tôi quyết chí không bao giờ chán nản bất cứ công việc gì “ Robinson kể “Khi đã thấy rằng việc ấy có thể làm được thì tôi làm bằng xong mới thôi”
Mỗi nỗ lực của Robinson không chỉ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu, anh luôn luôn có ý thức phấn đấu làm cho đời sống trên đảo ngày một tốt đẹp hơn: chỗ ở phải khang trang, quần áo mũ phải đàng hoàng, đồ ăn uống tử tế Khác xa với nguyên mẫu là thuỷ thủ Selkirk sau bốn năm ở đảo hoang khi được cứu thoát đã gần trở thành “người rừng”, Robinson diễn ra theo chiều hướngngược lại
Không thể cho rằng nhà văn đã xây dựng Robinson thành một nhân vật phát huy mọi nghị lực và khả năng để làm giàu, đúng như yêu cầu của thế giới quan tư sản thời đại Robinson chính
là sự khẳng định chân lí cao đẹp, niềm tin của nhà văn vào những phẩm chất cao quí của người lao động Nghị lực và trí tuệ, tinh thần dũng cảm và khả năng lao động của họ có thể chiến thắng thiên nhiên phục vụ lợi ích con người Tầm vóc “Robinson trên đảo hoang” rõ ràng có những phẩm chất cao hơn giai cấp tư sản ngay cả khi giai cấp này còn có vai trò tiến bộ lịch sử
Anh hưởng thụ thành quả vật chất do chính bàn tay lao động của mình tạo ra, trong khi giaicấp tư sản thời đó dù có một số đức tính tốt như ý chí khắc phục khó khăn coi thường nguy hiểm,
có công đóng góp vào sư phát triển kinh tế dất nước nhưng vẫn tồn tại trong quỹ đạo bóc lột sức lao động của người khác, Robinson lại là người có lòng tốt, sẵn sàng hi sinh thân mình cứu giúp những người hoạn nạn Anh đã cứu sống hai cha con thứ Sáu, viên thuyền trưỏng và mấy người
da trắng Nếu trước khi ra đảo anh đã có lần bán đứa bé da đen Sury cho một thuyền trưởng Bồ Ðào Nha chuyên môn bán nô lệ thì khi ra đảo anh đã có điều kiện thay đổi quan niệm về người
da đen tên là Thứ Sáu Tuy anh vẫn coi mình là ông chủ và người da đen là đầy tớ nhưng tình cảm thật sự của hai người là tình bạn thân thiết Và nhờ vậy, cuộc sống mấy năm cuối trên đảo xaxôi bớt đi nỗi cô độc
3 Robinson “vừa thống nhất vừa đối lập”
Tính cách phân đôi của Robinson, con người tư sản và con người lao động vừa là thống nhất vừa là đối lập, xét theo những góc độ, bình diện khác nhau Trong loại truyện phiêu lưu, nhân vật thường chỉ đóng vai trò dẫn dắt như sợi chỉ đan kết các sự kiện vốn được coi là trung
Trang 27tâm hấp dẫn người đọc, nhà văn ít quan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật Còn ở tiểu thuyết này, Robinson đã được nhà văn dụng công xây dựng thành một hình tượng nghệ thuật độcđáo
Tính cách phức tạp của Robinson thể hiện trong thế giới quan, đó là sự giằng co của Thanhgiáo và ảnh hưởng của tiết học duy vật Ðó cũng chính là sự giằng co trong tư tưởng tác giả Vừađặt chân lên đảo ít lâu, nhìn thấy những mẫu lúa mì mọc lên lơ thơ trước của lều anh sung sướng nghĩ có lẽ “trời thương nên sinh ra lúa mì để nuôi sống mình đây” Nhưng rồi anh cố gắng nhớ ra
có lần đã giũ bao tải đựng lúa vốn dành cho chim, vịt ăn đã bị chuột nhằn hết chỉ còn toàn trấu.Anh đã hiểu ra rằng “ chẳng có phép lạ gì xảy ra trong chuyện này cả” Ðến năm thứ mười tám, khi phát hiện những dấu chân lạ trên bãi cát anh kinh hoàng như thấy “ma quỷ hiện hình” Nhưng chẳng bao lâu tình trang mê tín ấy tan đi, anh phân tích và khẳng định có người lạ mới xâm nhập hòn đảo, vội vàng củng cố chỗ ở, phòng ngự và chuẩn bị vũ khí Tuy vậy đôi khi do côđơn anh vẫn sống với một tin tôn giáo mơ hồ, tin vào vai trò của một Ðấng tối cao nào đó đang tồn tại
Sự tồn tại một tính cách đối lập trong nhân vật Robinson chỉ rõ sự phân biệt giữa hai giai đoạn Trước khi ra đảo hoang, anh mang đậm tính cách tư sản Khi ở trên hòn đảo vắng vẻ chỉ cóRobinson đối diện với thiên nhiên , nơi đây vắng bóng quan hệ tư bản chủ nghĩa và cả đời sống
xã hội anh trở thành Robinson khác tuy vẫn còn chút Robinson cũ Robinson trên đảo mới thực
sự chiếm đựoc cảm tình của bạn đọc Khi nhân vật cởi bỏ bộ quần áo kì dị và chiếc mũ da dê tự làm để khoác trở lại bộ đồ bình thường đúng mốt thời trang của người tư sản ở phần cuối của tác phẩm thì cũng là lúc hứng thú của người đọc tan biến
Sự đối lập giữa “hai Robinson” khiến người đọc liên tưởng đến quan điểm triết học của
J.J.Rousseau về con người tự nhiên và con người xã hội Theo Rousseau, con người tự nhiên tốt
đẹp bao nhiêu thì xã hội làm cho nó hư hỏng bấy nhiêu Lí thuyết của ông bắt nguồn từ lòng cămghét những quan hệ phong kiến và tư sản đang chi phối xã hội Pháp thế kỉ 18 Còn Defoe với
tiểu thuyết của mình thì vừa nghiêng hẳn sang phía Robinson người lao động nhưng vừa giữ lấy chút tình cảm với Robinson- nhà doanh nghiệp.
4 Robinson – vai trò cá nhân
Cuộc sống của Robinson trên đảo hoang trải qua những chặng đường khác nhau Thoạt đầu, anh kiếm ăn bằng cách hái quả, săn bắn chim thú và bắt cá đó là những sản phẩm của thiên nhiên Sau đó anh thuần dưỡng dê rừng, tiến hành chăn nuôi trồng trọt Khi có thêm Thứ Sáu, mối quan hệ giữa hai người giống như quan hệ thời phong kiến gia trưởng Vào những năm cuối cùng, trên đảo đã có đông người hơn Khi Robinson về nước, bỏ lại số thuỷ thủ phạm tội nổi loạncướp tàu Những người này sẽ phải tổ chức cuộc sống chung Có nhà nghiên cứu nhận xét rằng,
về mặt nào đó hòn đảo của Robinson gần như diễn lại toàn bộ quá trình của lịch sử nhân loại từ thượng cổ đến“Khế ước xã hội” hình thức nhà nước lí tưởng của nhiều triết gia Ánh sáng
Qua nhân vật Robinson, tác giả chỉ ra rằng: cơ sở của sự phát triển xã hội không phải là những chiến công hoặc tài năng của bậc vua chúa tướng lĩnh mà chính là hoạt động sản xuất của những người lao động bình thường
Trang 28Ðó là một cái nhìn tiến bộ Tuy nhiên, ở đây cũng bộc lộ mặt hạn chế rõ rệt khi nhà văn đánh giá cá nhân như là xuất phát điểm của lịch sử nhân loại Thực tế là từ thời kì xa xưa nhất con người đã sống thành xã hội Chỉ sau quá trình phát triển lâu dài của lịch sử , cá nhân riêng tư mới xuất hiện Nó là sản phẩm sự tan rã của xã hội phong kiến và sự hình thành những lực lượngsản xuất mới Cá nhân là kết quả chứ không phải là xuất phát điểm của lịch sử.
Dù D.Defoe có dụng ý hay không, trong Robinson Cruchot, vai trò cá nhân, xét theo ý nghĩa khách quan của tác phẩm, cũng đã được thổi phồng, khoa trương quá đáng Tác phẩm có thể gây ấn tượng lệch lạc ở độc giả, rằng một cá nhân sống tách rời tập thể, cộng đồng xã hội vẫn
có thể tồn tại, phát triển thậm chí phong lưu nữa
Tuy nhiên bằng hình tượng nghệ thuật, Defoe cũng đã phần nào chỉ ra được rằng con người không thể tồn tại đơn độc ngoài tập thể xã hội Bản thân Robinson trên đảo hoang chắc sẽ không tồn tại được lâu bền nếu không có trong tay các vật dụng cần thiết như: búa, rìu, đá mài, đinh, thanh sắt, súng đạn, hạt lúa giống và nhiều thứ khác mà Robinson thu vét từ chiếc tàu đắm vốn là kết quả công sức, trí tuệ của rất nhiều người Ngoài ra còn phải kể đến những thứ trừu tượng không kém quan trọng đó là vốn liếng kinh nghiệm, kiến thức mà Robinson đã thừa hưởngcủa cả nhân loại đúc kết và truyền qua nhiều thế hệ; Nhờ cái vốn đó mà Robinson biết dựng nhà, chống thú dữ, trồng trọt chăn nuôi và làm nhiều việc khác
*
Mặt hạn chế vừa phân tích trên kia thực ra không che lấp đựơc những giá trị lớn của cuốn tiểu thuyết Defoe đã xây dựng được một hình tượng nghệ thuật có sức sống lâu dài, có ý nghĩa tiến bộ Ðó là một đóng góp đáng kể là phong phú thêm cho loại truyện phiêu lưu nói riêng và tiểu thuyết nói chung
Robinson là một tác phẩm có tác dụng tốt đặc biệt đối với lứa tuổi thiếu niên Tiểu thuyết này bồi dưỡng cho các em tinh thần yêu lao động, kính trọng con người, rèn luyện cho các em ý chí quyết tâm hành động, khắc phục khó khăn, kiên trì bền bỉ, dũng cảm tự lực và biết phát huy sáng kiến Tình tiết của truyện với lối văn trong sáng, giản dị cũng phù hợp với tuổi trẻ Nhà triết
học, nhà văn Pháp J.J.Rousseau đánh giá cao Robinson Cruchot Ông viết: “Nhưng vì nhất thiết
chúng ta cần đến sách, nên theo ý kiến tôi, có một cuốn sách cung cấp thiên khái luận hay nhất
về giáo dục tự nhiên Ðó là cuốn sách đầu tiên em Ê min của tôi sẽ đọc; trong một thời gian dài,
tủ sách của em chỉ có một cuốn sách duy nhất ấy thôi Quyển sách kì diệu ấy là cuốn gì thế ? Aristote chăng ?- Không phải, đó là cuốn Robinson Cruchot của Daniel Defoe”
VÔN-TE
Voltaire để lại một di sản các tác phẩm đồ sộ bao gồm tiểu thuyết, kịch, thơ, luận văn và các công trình nghiên cứu khoa học và sử học Ông còn viết nhiều sách, rất nhiều tờ rơi và trên
20000 thư từ trao đổi
Quan điểm về tôn giáo: Qua các tác phẩm Voltaire thể hiện quan điểm rằng không cần
đức tin để tin vào Chúa Ông tin vào Chúa nhưng là niềm tin lý tính Ông cũng phản đối đạo
Ki-tô quyết liệt nhưng không nhất quán Một mặt ông cho rằng Giê-su không tồn tại và các sách