Từ thời Ân Thương đến đời Tống, rùa luôn có sắc thái tôn quý thần bí, đồng thời có mối quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người.. Nhưng đến thời Nguyên trở đi, thân phận con rùa đã
Trang 1Hàm nghĩa văn hóa của chữ "Quy"
Thứ năm, 03 Tháng 11 2011 08:24 Quản trị viên
GV Huỳnh Chương Hưng
Chúng ta đều biết, rùa là con vật được người Trung Quốc thời cổ đại tôn sùng và ưa thích Từ thời Ân Thương đến đời Tống, rùa luôn có sắc thái tôn quý thần bí, đồng thời có mối quan hệ mật thiết với cuộc sống của con người Lục Du, thi nhân đời Nam Tống lúc về già đã tự đặt mình tên hiệu là Quy Đường, ông lại còn dùng mai rùa để làm mũ đội Nhưng đến thời Nguyên trở đi, thân phận con rùa đã dần bị giảm giá trị trở thành con vật mà ai cũng không thích Và chữ “Quy”
đã trở thành từ dùng để thoá mạ Tư liệu sớm nhất mà chúng ta biết được về điều đó chính là nhờ hai câu thơ trong bài “Phế gia tử tôn thi” trong tập “Xuyết Canh lục” quyển 28 của Đào Tông Nghi, một học giả cuối đời Nguyên đầu đời Minh
“Trạch quyến giai vị xanh mục thố
Xá nhân tổng tác súc đầu quy”
(Người trong nhà đều là thỏ trơ mắt
Bọn xá nhân hết thảy đều là rùa rút cổ)
Theo truyền thuyết dân gian, con thỏ nhìn mặt trăng mà có chửa, cho nên : “Xanh mục thố” dùng
để chỉ con gái không chồng mà chửa Còn “Súc đầu quy” là để chỉ bọn đàn ông nhát gan, để vợ mình thông dâm với kẻ khác, đồng nghĩa với từ “Vương bát” ngày nay Vương Sĩ Chân đời Thanh cho rằng việc kỵ huý chữ Quy là bắt đầu từ đời Minh Cách nói này chưa chính xác Nguyên nhân vì sao chữ “Quy” lại trở thành từ dùng để thoá mạ? Nhìn chung có hai cách giải thích :
Một : Theo Tạ Tại Hàng người thời Minh đã viết trong “Ngũ tạp trở” rằng : Vì rùa không có khả năng giao phối, để mặc cho con cái giao phối cùng với rắn Vì thế gọi chồng của người đàn bà là Quy
Hai : Theo “Trung Quốc dân tục đại quan” quyển hạ (NXB Quảng Đông _ Lữ Du 1988) cho rằng :
Đời Đường bọn đàn ông con trai ở Nhạc Hộ (loại kỹ viện của các quan) đều vấn khăn xanh trên đầu, mà đầu rùa cũng có sắc xanh Vì thế dùng “Quy” để chỉ bọn đàn ông ở kỹ viện và loại đàn ông có vợ ngoài tình
Với hai cách giải thích chúng ta thấy chưa thoả đáng Vì rằng :
Với truyền thuyết về rùa chỉ có khả năng giao phối với rắn thì từ thời Hán đã lưu hành rộng rãi;
mà khả năng nguồn gốc của truyền thuyết đó có thể đã xuất hiện vào thời Tiên Tần
Trong “Thuyết văn” Hứa Thận đã viết rằng :
“Thiên địa chi tính, quảng kiên vô hùng, quy miết chi loại dĩ xà vi hùng”
(Mang đặc tính của trời đất, mai rộng không có con đực Các loài rùa, ba ba đều lấy rắn làm con đực) cho nên thể chữ Triện của chữ “Quy” chúng ta thấy có chữ “xà” ở trong đó Điều này đã cho thấy từ thời Tiên Tần đã có quan niệm rùa lấy rắn làm con đực
Với Nhị thập bát tú, bốn loài động vật được xem là đại biểu, tức tứ tượng gồm:
Đông phương là Thương Long
Trang 2Nam phương là Chu Tước
Tây phương là Bạch Hổ
Bắc phương là Huyền Vũ
Huyền Vũ chính là hình tượng rắn rùa giao hợp Ở bài “Viễn du” trong “Sở từ”, Hồng Hưng Tổ đời Tống đã bổ chú rằng :
“Thuyết giả viết: Huyền Vũ vị quy xà Vị tại Bắc phương; cố viết Huyền, thân hữu lân giáp, cố viết Vũ “Văn tuyển”chú vân : “Quy dữ xà giao viết Huyền Vũ””
(Có thuyết cho rằng : Huyền Vũ là rùa rắn Ở tại phương Bắc, cho nên gọi là Huyền, thân có vảy mai, cho nên gọi là Vũ Ở sách “Văn tuyển”, chú rằng “rùa và rắn giao hợp gọi là Huyền Vũ”) Quan niệm về Tứ tượng đã có từ giai đoạn đầu thời chiến Quốc Điều này cũng nói lên rằng cách nói rùa lấy rắn làm con đực đã có từ rất lâu Thế nhưng từ thời Tiên Tần mãi cho đến đời Tống, giá trị của con rùa vẫn cứ được xem trọng Chỉ đến thời Nguyên, giá trị của nó mới bị giảm sút Còn như cho nguyên nhân là do bởi bọn đàn ông con trai ở Nhạc hộ thời Đường vấn khăn xanh
mà ra thì cũng chưa có bằng chứng xác đáng Vả lại việc kỵ huý bắt đầu từ đời Nguyên, thế thì trước đó, đời Đường, đời Tống tại sao lại không kỵ huý?
Giá trị về thân phận của rùa bị suy giảm và chữ “Quy” trở thành từ dùng để thoá mạ là do những nguyên nhân sau :
Thứ nhất :
Rùa từ chỗ thần bí trở thành phàm tục, đó là kết quả của việc thần quyền và mê tín từ chỗ hưng thịnh đi đến chỗ suy tàn Điều này có tính tất yếu trong lịch sử
Thời đại Ân Thương là thời đại mà quỷ thần phiếm loạn, mê tín thịnh hành Bất kỳ sự việc lớn nhỏ nào, người thời Ân cũng đều hỏi ý kiến các vị thần linh Chính vì thế, rùa đã trở thànhmột loại thần khí đắc dụng bởi vì họ đã phát hiện đặc tính sống lâu của loài rùa Chữ “Quy” (con rùa)
và chữ “Cửu” (lâu dài) thời thượng cổ có âm đọc tương đồng và đều thuộc vận mẫu “Kiến” Lưu Hướng trong “Dịch _ Hệ từ nghĩa” đã viết rằng :
“Quy chi ngôn cửu Quy thiên tuế nhi linh, dĩ kỳ trường cửu, cố năng biện cát hung dã”
(Quy được gọi là Cửu Quy sống ngàn năm nên linh thiêng Vì sống trường cửu nên phân biệt được cát hung)
Trong “Luận Hành - Bốc Phệ” cũng ghi rằng :
“Khổng Tử viết “PhùThi chi vi ngôn Kỳ dã, Quy chi vi ngôn Cựu dã” Minh cô nghi chi sự đương vấn kỳ cựu dã”
(Khổng Tử bảo rằng : “Bói bằng cỏ Thi gọi là Kỳ, bói bằng mai rùa gọi là Cựu” Muốn rõ những việc mình còn nghi ngờ nên hỏi ở Kỳ Cựu)
Vì sống được lâu nên biết nhiều hiểu rộng, có thể biết được cát hung hoạ phúc
Ngoài ra, loài rùa còn có thể nhịn ăn trong suốt một thời gian dài, đây cũng chính là đặc điểm để giá trị con rùa được nâng cao
Đến thời Chu, đối với uy quyền của Thần Thánh, con người lúc bấy giờ lại sinh ra nghi ngờ và
họ đã chủ trương “Kính đức bảo dân” Từ chỗ kính thiên đạo đi đến trọng nhân sự Đây là một bước tiến lớn về mặt tư tưởng tôn giáo của người thời Chu Vào thời Chu, việc dùng cỏ Thi để bói thay cho cách bói bằng mai rùa vì giản tiện và dễ thực hiện cũng đã phản ánh được lòng tin đối với rùa đã có sự sút giảm
Sau thời Xuân Thu chiến quốc, lòng tin của con người đối với năng lực của bản thân lại càng gia tăng Sự mê tín vào quỷ thần ngày càng sút giảm Tư tưởng Dân là gốc ngày càng lớn mạnh Khổng Tử đã từng nói :
“Vụ dân chi nghĩa, kính quỷ thần nhi viễn chi, khả vị trí hỹ”
(Luận ngữ - Ung Dã)
Trang 3(Cốt ở chỗ làm việc nghĩa cho dân, kính trọng quỷ thần nhưng tránh xa ra, có thể gọi là trí rồi đó…)
Tuỳ Đại phu là Quý Lương cũng đã nói rằng :
“Phù dân, thần chi chủ dã Thị dĩ Thánh Vương tiên thành dân nhi hậu trí lực vu thần” (Tả Truyện - Hoàn công lục niên)
(Dân là chủ của Thần Vì thế bậc Thánh Vương trước tiên phải làm cho dân, sau đó mới hết sức
vì thần)
Đến Tuân Tử càng chỉ rõ rằng :
“Nhật nguyệt thực nhi cứu chi, thiên hạn nhi Vu, bốc phệ nhiên hậu quyết sự Phi dĩ vi đắc cầu
dã dĩ văn chi dã Cố quân tử dĩ vi văn, bách tính dĩ vi thần Dĩ vi văn tắc cát, dĩ vi thần tắc hung » (Tuân Tử - Thiên Luận)
(Nhật thực nguyệt thực thì cầu khấn, trời hạn thì làm lễ cầu mưa, bói rồi sau đó mới quyết định
sự việc (Những việc đó) không phải cốt để có được điều cầu mong mà là để trang sức cho lễ Cho nên bậc quân tử coi đó là việc trang sức cho lễ, mà bách tính coi đó là việc quỷ thần Coi là trang sức thì tốt, mà coi là quỷ thần thì hung)
Từ khi Tuân Tử đề xuất khẩu hiệu “Chế thiên mạng nhi dụng chi” (Thiên luận), đến Vương Sung đời hán viết “Đính quỷ” rồi đến Phạm Chân thời Nam triều đề xuất lý luận “Thần diệt”, tư tưởng
vô thần ngày càng phát triển địa bàn và ảnh hưởng của quỷ thần dần bị thu hẹp Trong tình hình
đó, sự linh thiêng của rùa cũng dần đi xuống
Thứ hai :
Quan niệm về trinh tiết cũng đã trải qua một quá trình lịch sử, từ không đến có, từ phóng túng đến nghiêm nhặt
Trước khi chế độ một vợ một chồng được xác lập, không tồn tại quan niệm trinh tiết.Chỉ sau khi chế độ một vợ 1 chồng được xác lập, quan niệm về trinh tiết mới được hình thành, xuất phát từ yêu cầu kế thừa tài sản tư hữu, duy trì lợi ích của gia tộc, người nối dõi phải là huyết thống của chính mình
Có thể nói quan niệm trinh tiết chính là những chuẩn mực hành vi được xuất hiện nhằm bảo vệ huyết thống thuần nhất
Những quan niệm trinh tiết hoàn toàn không phải từ khi xuất hiện cho đến nay đều mang tính nghiêm túc Ở Trung Quốc từ đời Hán đến đời Đường, quan niệm về trinh tiết đối với mọi người vẫn chưa có sự ràng buộc chặt chẽ Trong các sử sách đều có ghi chép những việc dâm bôn của những người xuất thân từ tầng lớp quý tộc như :
- Quán Đào công chúa - cô của Hán Vũ Đế
- Ngạc Ap cái chủ - chị của Hán Vũ Đế
- Sơn Âm công chúa - chị của Tiền Phế đế thời Nam Triều
- Vương Thái hậu - mẹ của Úc Lâm Vương nhà Tề
- Võ Tắc Thiên - đời Đường
Trần Đông Nguyên trong “Trung Quốc phụ nữ sinh hoạt sử” đã nhận xét rằng :
“Thực tế đích trinh tiết quan niệm, Đường thời thượng bất thậm chú trọng”
(Quan niệm trinh tiết thực tế vào thời Đường hãy còn chưa chú trọng lắm)
Nhìn chung, từ đời Đường trở về trước, về mặt lý luận, tuy quan niệm trinh tiết đã được xác lập
từ rất sớm nhưng trên thực tế cuộc sống hoàn toàn không có những quy phạm đạo đức rằng buộc, bắt con người phải tuân thủ một cách nghiêm nhặt Phải đợi đến đời Tống, khi các nha Lý học như Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy đề xướng : “Chết đói là việc nhỏ, thất tiết mới là việc lớn”, quan niệm về trinh tiết mới có những chuẩn tắc ràng buộc chặt chẽ Từ đời Tống trở về sau, cải giá là một sự sỉ nhục, xét sâu xa hơn có liên quan đến việc dâm ô Trong bối cảnh văn
Trang 4hoá như thế, nếu người đàn bà nào tư thông với kẻ khác thì đó là sự sỉ nhục đối với người chồng.
Xã hội cần có một từ để chỉ loại đàn ông như thế và chữ “Quy” đã được chọn để đóng một vai trò không vẻ vang gì
Thứ ba :
Với bản thân loài rùa, sự tôn quý hoặc sút giảm về giá trị của chúng có liên quan mật thiết đến trình độ nhận thức của con người
Thông thường, hễ vật gì lạ thì thiêng, vật gì hiếm thì quý Thời cổ đại dân tộc Hoa Hạ ở phía Bắc Trung Quốc, nơi đó rất ít rùa Những con rùa to lớn mà giai cấp thống trị có được phần lớn là do phương Nam tiến cống Trong các sách vở xưa đều có ghi chép về việc này, chẳng hạn như :
“Quy bất kỳ Nam để (trí)”
(Ân khư bốc từ, Tiền 4.54.4)
(Rùa không phải từ phương Nam đưa đến sao?)
“Hữu lai tự Nam để quy
(Ân khư bốc từ, At 6670)
(Có người từ phương Nam tới dâng rùa)
“Cửu giang nạp tích (hiến) đại quy”
(Thượng Thư - Vũ Cống)
(Vùng Cửu giang dâng lên rùa lớn)
“Cảnh bỉ Hoài di
Lai hiến kỳ sâm
Nguyên quy tượng xỉ
Đại lộ Nam kim”
(Thi – Lỗ tụng – Phán thuỷ)
Đem vàng ở phương Nam tặng biếu rộng rãi nữa) ( Kinh thi (Tạ Quang Phát dịch), tập 3, tr 1783) Thời kỳ Ân Thương, đối với dân tộc Hoa Hạ, rùa là một loài động vật quý hiếm Họ hiểu biết về
nó rất ít khi nghe được hoặc ngẫu nhiên nhìn thấy rùa rắn đấu với nhau, họ tưởng chúng đang giao phối nên mới có hình tượng thần Huyền Vũ Đến khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc, hai miền Nam Bắc giao tiếp với nhau ngày càng nhiều, văn hoá Nam Bắc cũng được giao lưu nhiều,
họ dần nhận thức được rùa cũng có con đực Do bởi rùa thường chỉ giao phối vào ban đêm lúc cuối xuân (1) Khó mà bắt gặp, cho nên mọi người vẫn cứ tin vào thuyết xưa rùa lấy rắn làm con đực
Mọi người quan sát thấy đầu rùa cũng có động tác co duỗi rất giống với dương vật, vì thế họ đã liên tưởng rùa với dương vật và mối liên hệ này không thể tách rời Người xưa còn phát hiện trong miệng rùa không có răng, rất phù hợp để nói “Vô sỉ” “Vô sỉ” không biết sỉ nhục, âm đọc
Ai cũng đều biết rằng, trong việc tu thân tề gia luôn nhớ đến 8 chữ : Hiếu, Đễ, Trung, Tín, Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ Vì Sỉ là chữ đứng hàng thức 8, cho nên đã có hiện tượng mượn từ “Vong bát” (quên chữ thứ 8) để thay cho từ “Vô sỉ” “Vong bát” chính là “Vô sỉ”
và rùa lại có thêm biệt danh là “Vong bát” Đàn ông có vợ không trinh tiết cũng bị gọi là “Vong
Trang 5Để thấy được tác dụng thúc đẩy quá trình rùa bị giáng xuống phàm tục khi con người đã biết rõ
về tập tính của nó, chúng ta có thể so sánh giữa rùa với ba con vật còn lại trong Tứ linh
Tứ linh tức : Lân, Phụng, Quy, Long Bốn con vật này nguyên trước đây là những động vật có
Trong “Xuân thu” Ai Công năm thứ 4 cũng ghi rằng :
- Còn Phụng, là một loại chim lớn
Trong Bốc từ có ghi “Hoạch phụng” (Bắt được chim Phụng) (Giáp : 3112) Trong “Trung đỉnh” thời Sơ Chu cũng có khắc bài minh “Quy sinh phụng vu vương”
- Chữ Long, trong Giáp cốt văn cũng đã xuất hiện Từ góc độ hình dáng của chữ mà xem xét :
“Đó là một loại động vật bò sát, hình dạng giống rắn, thân tương đối dài”
Trong Bốc từ cũng có ghi “Hoạch long” (Hậu : 41.2)
Ở “Tả truyện” chiêu công năm thứ 29 ghi rằng :
“Cổ giả súc long Cố quốc hữu Hoạn long thị, hữu Ngự long thị” (Ngày xưa nuôi rồng Cho nên trong nước có họ Hoạn Long, họ Ngự Long)
Về sau Lân, Phụng, Long đã dần thoát khỏi thế giới phàm tục, tiến vào thế giới thần bí, về hình dáng cũng đã tổng hợp những đặc điểm của nhiều loài khác Chính vì thần bí nên luôn mang màu sắc linh thiêng, chỉ có Quy do bởi được dùng trong việc bói toán nên không thể thoát ly thế giới phàm tục Và sự hiểu biết của con người về rùa ngày càng tăng, cho nên tính chất linh thiêng của
Nhưng nguyên nhân được xem là trực tiếp về việc rùa bị kiêng kỵ đó là bởi tồn tại tập tục đội
Ở Trung Quốc từ thời cổ đại đã có tập tục này Ban Cố trong “Bạch Hổ thông -Ngũ hình” đã ghi rằng vào thời thượng cổ “Phạm mặc giả mông cân” (Kẻ phạm tội Mặc phải đội khăn) Mặc tức Mặc hình - thích dấu hiệu lên mặt - là một trong năm loại hình phạt của ngày xưa Thời
đó những ai phạm tội Mặc sẽ đội khăn vấn đầu màu đen Đầu có vấn khăn đen là một sự sỉ nhục Thời Tiên Tần đám hạ dân bị gọi là “Kiềm thủ” (Đầu đen), có liên quan đến tập tục này
Từ đời Hán trở về sau, đầu vấn khăn xanh là biểu thị kẻ tiện nhân Đời Nguyên quy định rõ, bọn đàn ông con trai ở kỹ viện phải vấn khăn xanh để phân biệt Khăn xanh vấn đầu đó được gọi là “Thanh đầu cân” hoặc “Lục đầu cân” Đời Minh theo chế độ quy định của đời Nguyên, vẫn bắt bọn đàn ông con trai ở kỹ viện vấn khăn xanh Ngày nay gọi bọn đàn ông mà vợ không trinh tiết là “Kẻ đội mũ xanh” chính là bắt nguồn
Trên mai rùa rất dễ bị rêu xanh bám, loại rùa này được gọi là “lục mao quy” hoặc “Thanh mao quy”
Trang 6Trong “Tống sử - Nhạc chí nhất”
“Vĩnh Minh ngũ niên, Võ Kỵ Thường Thị Đường Tiềm thướng Thanh mao quy nhất đầu Thất niên lục nguyệt, Bành Thành quận điền trung hoạch Thanh mao quy nhất đầu” (Niêm hiệu Vĩnh Minh năm thứ 5, quan Võ Kỵ Thường Thị là Đường Tiềm dâng lên một con Thanh mao quy Tháng 6 năm thứ bảy, tại quận Banh Thành, bắt được một con Thanh mao quy
Trong bài thơ thứ 8, ở tập “Đông Pha” của Tô Thức có câu :
Thi Nguyên Chi đã chú dẫn lời của Phó Đại Sĩ trong “Kim Cang kinh tụng” :
Lông rùa đã đi vào ngạn ngữ được các văn nhân thường sử dụng, điều này đã nói lên được việc rêu xanh bám trên mai rùa là hiện tượng quen thuộc Nó giống như khăn xanh, rất dễ dàng liên tưởng đến khăn xanh vấn đầu của bọn đàn ông con trai ở kỷ viện Rùa và đàn ông vốn đã có mối liên hệ gắn bó từ rất lâu, giờ lại thêm một tầng liên hệ nữa Xem
ra dùng rùa để chỉ bọn đàn ông mà vợ mình lại thông dâm với kẻ khác là hợp tình hợp lý Như vậy, nguyên nhân chữ “Quy” trở thành từ dùng để thoá mạ bao gồm :
- Hoàn cảnh lớn : đó là sự suy thoái của thần quyền và mệ tín, cũng với diễn tiến của quan niệm
về trinh tiết và nhận thức của con người đối với loài rùa
- Bối cảnh nhỏ : đó là đặc điểm sinh lý của loài rùa cùng những quy định về cách phục sức quan phương
Nếu không có hoàn cảnh lớn, sự tôn quý của loài rùa sẽ không có lý do để suy giảm Và nếu không có bối cảnh nhỏ thì rùa tuy tầm thường nhưng khó trở nên thấp kém Cho nên chỉ có liên
hệ hoàn cảnh lớn và bối cảnh nhỏ lại với nhau mới có thể khiến cho chúng ta có những nhận thức tương đối toàn diện và cách giải thích tương đối đầy đủ về hiện tượng loài rùa từ thân phận cao
Riêng với hình tượng rùa đội bia trong văn hoá, kiến trúc Trung Hoa và Việt Nam, người ta đã mượn ý nghĩa tích cực của nó Nội dung được khắc trên bia đá đều là những việc đáng được mọi người kính trọng và cần được lưu truyền mãi Bia cũng cần phải đứng trên một tấm bệ vững chắc
và mang tính thẩm mỹ cao Với tính chất linh thiêng có từ ngàn xưa, đặc điểm trường thọ và đặc điểm về hình dáng, rùa đã đáp ứng được những yêu cầu về mặt kiến trúc và giá trị văn hoá của một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc bia đá Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà người xưa đã chọn
Tóm lại, có thể thấy rằng, chữ “Quy” và hình tượng rùa đã tồn tại song song hai ý nghĩa văn hoá tích cực lẫn tiêu cực, trái ngược hẳn với Long, Lân hay Phụng Do đó, đặt hình tượng rùa vào trong hoàn cảnh nào để có thể có được một trong hai ý nghĩa đã phân tích trên hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người chúng ta Tuy vậy, cùng với những hình tượng khác,
Trang 7hình tượng rùa vẫn in đậm dấu ấn khá đặc biệt trong văn hoá, văn học Việt Nam và Trung Hoa Quy Nhơn, tháng 12 /2006