1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

chuong 7 Tâm lý học Dạy Học Và GIáo Dục

69 3K 25

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 640,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác, tâm lý học dạy học hiện đại cho rằng, hoạt động dạy của thầy có hai mục đích: mục đích cao nhất và cuối cùng là hình thành ở học sinh hệ thống tri thức khoa học và những k

Trang 1

CHƯƠNG 7 TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC VÀ GIÁO DỤC

MỤC TIÊU

- Giải thích được bản chất, qui luật tâm lý của các quá trình dạy học và giáo dục

- Thu thập, phân tích được các tư liệu lý luận và thực tiễn về đời sống tâm lý, tìm được cách thức để giải quyết các bài tập tình huống sư phạm của nhiệm vụ học tập và rèn luyện

7.1 TÂM LÝ HỌC DẠY HỌC

Dạy học là hoạt động cốt lõi của nhà trường vì nhà trường là môi trường sống được xây dựng để thực hiện quá trình dạy học Ngược lại, dạy học là quá trình giáo dục trẻ em đặc biệt diễn ra trong môi trường nhà trường Trong nhà trường, các nội dung giáo dục chủ yếu (đức, trí, thể, mỹ và lao động) được thực hiện thông qua hoạt động dạy học

Để thực hiện quá trình dạy học một cách hiệu quả, người thầy giáo phải nắm vững các hiện tượng tâm lý nảy sinh và diễn biến trong quá trình này, các đặc trưng bản chất và qui luật vận động của chúng Chuyên ngành tâm lý học dạy học ra đời và phát triển nhằm đáp ứng đòi hỏi đó của hoạt động sư phạm Tâm lý học dạy học vận dụng những tri thức của tâm lý học đại cương và tâm lý học phát triển vào việc nghiên cứu các hiện tượng tâm lý nảy sinh và phát triển trong quá trình dạy học Từ đó tìm ra những cách thức tác động phù hợp với tâm lý học sinh để nâng cao không ngừng hiệu quả của quá trình này Do trong tâm lý học đại cương và tâm lý học phát triển hiện nay có nhiều trường phái với quan điểm khác nhau nên trong tâm lý học dạy học cũng có nhiều tác giả với quan điểm tiếp cận khác nhau Những quan điểm này đều có mặt mạnh, những thành tựu, đóng góp nhất định và những nhược điểm của mình Trong đó, tâm lý học dạy học theo tiếp cận tâm lý học hoạt động là lý thuyết có giá trị to lớn, có ảnh hưởng quan trọng tới lĩnh vực dạy học hiện nay của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng

Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động chung giữa thầy và trò Hoạt động này được cấu thành từ hai hoạt động có quan hệ gắn bó vỡi nhau đó là hoạt động dạy và hoạt động học Hoạt động dạy là hoạt động do người thầy với tư cách là chủ thể thực hiện với mục đích trực tiếp là hoạt động học của học sinh qua đó thực hiện mục đích cuối cùng là sự phát triển tâm lý ở trẻ Hoạt động dạy là hoạt động do trò là chủ thể thực hiện dưới sự hướng dẫn, tổ chức của hoạt động dạy nhằm lĩnh hội tri thức khoa học, kĩ năng,

Trang 2

kỉ xảo tương ứng và thái độ tích cực nhằm phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chính mình Vì vậy, tâm lý học dạy học có hai lĩnh vực nghiên cứu: tâm lý học hoạt động dạy và tâm lý học hoạt động học Hai lĩnh vực này có đối tượng cụ thể khác nhau nhưng đều có mục tiêu chung là xây dựng cơ sở tâm lý cho hoạt động dạy học

7.1.1 Tâm lý học hoạt động dạy

7.1.1.1 Khái niệm hoạt động dạy

Để xã hội tồn tại và phát triển, các thế hệ đi trước luôn phải truyền lại cho thế hệ sau những kinh nghiệm xã hội lịch sử mà loài người đã sáng tạo và tích luỹ cho đến thế

hệ mình cho thế hệ sau Nhờ đó, trẻ em khi lớn lên có được vốn văn hóa xã hội để tiếp tục tồn tại với tính cách là một con người và phát triển xã hội Việc người lớn truyền thụ cho thế hệ sau kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài người được gọi là sự dạy

Trong một thời kì dài của loài người việc dạy được thực hiện bởi hầu hết người lớn trong xã hội: ông bà dạy cháu, cha mẹ dạy con, anh chị dạy em… Mọi yếu tố của văn hóa của cộng đồng đều được dạy: dạy đi, dạy nói, dạy cách ăn mặc, lao động, cách thức ứng xử… Kiểu dạy này được thực hiện trong cuộc sống hằng ngày, mọi nơi mọi lúc, noii dung dạy là những cái mà trẻ em còn thiếu, còn yếu, còn sai sót so với người lớn Việc dạy mang tính tự phát, không phải là một quá trình tổ chức có chương trình, kế hoạch… Người dạy không cần và không có trình độ chuyên nghiệp nên việc dạy chỉ dựa trên kinh nghiệm và cũng chỉ dạy được trẻ những kinh nghiệm sống, lao động thông thường, đơn giản, rời rạc và không hệ thống

Khi tri thức, hiểu biết của loài người được đúc kết thành lý luận; đặc biệt là từ khi khoa học ra đời thì việc dạy theo kiểu ngẫu nhiên không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển của trẻ em và sự phát triển xã hội nữa Khi đó, việc dạy trở thành một hoạt động chuyên biệt - hoạt động dạy của một loại lao động chuyên biệt - thầy giáo và được thực hiện trong một môi trường chuyên biệt - môi trường nhà trường

Trong xã hội hiện đại, việc dạy trẻ bằng kinh nghiệm của người lớn nói chung vẫn còn và vẫn cần thiết nhưng không còn đóng vai trò quyết định nữa mà hoạt động dạy đã đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền thụ nền văn hóa cho thế hệ sau Trong nhà trường, thầy giáo giúp cho trẻ em hình thành năng lực người ở trình độ cao thông qua việc dạy trẻ

hệ thống tri thức khoa học, các kĩ năng và kĩ xảo tương ứng, giúp trẻ hình thành thái độ tích cực đối với cuộc sống và các hoạt động theo mục tiêu, nội dung, kế hoạch, phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức xác định, có cơ sở khoa học

Trang 3

Hoạt động dạy là hoạt động chuyên biệt của người thầy tổ chức và điều khiển hoạt động học của học sinh nhằm giúp chúng lĩnh hội nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển tâm lý

và hình thành nhân cách Tâm lý học về hoạt động dạy dựa trên khái niệm về nó để xác định vấn đề hàng đầu là bản chất của hoạt động dạy

7.1.1.2 Bản chất của hoạt động dạy

Hiện nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về bản chất tâm lý của hoạt động dạy Theo quan điểm tâm lý học hiện đại, hoạt động dạy có những đặc trưng bản chất cơ bản sau:

+ Tổ chức quá trình tái tạo tri thức của học sinh Khác với quan niệm của dạy học truyền thống cho rằng dạy là thầy truyền thụ kiến thức cho trò Tâm lý học dạy học hiện đại cho rằng học trò không thể có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo bằng cách tiếp thu từ thầy một cách trực tiếp mà phải bằng cách tái tạo lại chúng theo con đường mà nhân loại đã trải qua Với quan niệm này, bản chất hoạt động dạy không còn được hiểu là truyền thụ mà là hướng dẫn, tổ chức và điều khiển học sinh tự mình tìm kiếm, khám phá, tái tạo lại tri thức

đã có của nhân loại cho chính bản thân mình Đương nhiên để làm được như vậy, người thầy phải nắm vững tri thức dạy, con đường mà nhân loại đã đi qua để phát hiện ra nó, sử dụng những tri thức đó như là phương tiện, chất liệu để tổ chức và điều khiển người học hoạt động để lĩnh hội chúng

+ Khác với dạy học truyền thống, dạy học hiện đại quan niệm, cốt lõi của hoạt động dạy là phải tạo được hoạt động học tập tính cực của học sinh Nghĩa là thầy phải khơi dậy được tính tích cực học tập của trò, phải làm cho trò vừa ý thức được đối tượng cần chiếm lĩnh, hình thành nhu cầu chiếm lĩnh, biết cách chiếm lĩnh, chủ động tích cực tìm kiếm, khám phá đối tượng Thầy phải là người tổ chức và điều khiển, động viên, khích lệ, tạo điều kiện… để trò tích cực thực hiện các hành động học tập nhằm chiếm lĩnh đối tượng Theo đó, sự lĩnh hội tri thức khoa học thực sự chỉ có thể là kết quả của những hành động học tập tích cực Cho nên chính tính tích cực của học sinh quyết định chất lượng học tập Như vậy hoạt động dạy phải có tính chất động viên, khích lệ, thúc đẩy, tạo điều kiện để hình thành được ở trò động cơ học tập tích cực

+ Hoạt động dạy luôn thống nhất, gắn bó chặt chẽ với hoạt động học

Hoạt động dạy do thầy thực hiện có chức năng tổ chức điều khiển quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, nó phải phù hợp với hoạt động học của học sinh Dạy để học sinh học chứ không phải dạy để mà dạy

Trang 4

Hoạt động học do học sinh thực hiện, có chức năng hành động tích cực thì mới lĩnh hội được tri thức và kinh nghiệm mà xã hội loài người đã tích lũy được Hoạt động học cần có sự chỉ đạo, tổ chức, điều khiển của hoạt động dạy của thầy giáo “không thầy

đố mày làm nên”

Vì vậy, hoạt động dạy và hoạt động học gắn bó rất chặt chẽ với nhau, thống nhất biện chứng với nhau Hiệu quả của hoạt động dạy thể hiện ở hoạt động học và kết quả học của trò Ngược lại, hoạt động học của trò thực hiện như thế nào lại do hoạt động dạy của thầy qui định

Như vậy, bản chất của hoạt động dạy là quá trình hướng dẫn, tổ chức, điều khiển quá trình tái tạo tri thức của học sinh, động viên, khích lệ, tạo điều kiện cho học sinh tích cực hành động chiếm lĩnh tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo để phát triển tâm lý và hình thành nhân cách Bản chất của hoạt động dạy không phải là quá trình thông báo, truyền thụ kiến thức cho học sinh Tất nhiên trong tổ chức và điều khiển học sinh học tập thầy

có thông báo và truyền thụ tri thức như đó không phải là yếu tố quyết định

7.1.1.3 Mục đích của hoạt động dạy

Mục đích cuối cùng của hoạt động dạy của thầy là giúp trẻ lĩnh hội nền văn hóa

xã hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách của chúng Tuy nhiên, mục đích này không thể thực hiện một cách trực tiếp mà chỉ có thể đạt tới thông qua quá trình hoạt động học tích cực của trò - đó là là mục đích trực tiếp của hoạt động dạy của thầy Chỉ khi hoạt động dạy của thầy tạo được hoạt động học tích cực của trò thì trẻ mới chiếm lính được tri thức khoa học thực sự, kĩ năng và kĩ xảo tương ứng, phát triển được tâm lý, hình thành nhân cách của họ Giáo dục truước đây hầu như chỉ mới chú ý đến mục đích cuối cùng của hoạt động dạy, vì vậy hoạt động dạy được coi như là quá trình thầy truyền thụ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo còn học sinh thì tiếp thu chúng để tạo ra sự phát triển của chính mình Những nghiên cứu tâm lý học nửa cuối thế kỉ 20 cho thấy, học sinh chỉ có thể lĩnh hội được tri thức khoa học, phát triển tâm lý trong dạy học bằng quá trình hoạt động tích cực của chính các em Trên cơ sở đó, giáo dục hiện đại coi hoạt động học tích cực là mục tiêu trực tiếp của hoạt động dạy Vì vậy, tích cực hóa hoạt động học của trò là mục tiêu hàng đầu của hoạt động dạy của thầy Nói cách khác, tâm lý học dạy học hiện đại cho rằng, hoạt động dạy của thầy có hai mục đích: mục đích cao nhất và cuối cùng là hình thành ở học sinh hệ thống tri thức khoa học và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng; nhưng mục đích này chỉ có thể thực hiện được thông qua mục đích trực tiếp: tạo ra được hoạt

Trang 5

động học tích cực của trò Hai mục đích này của hoạt động dạy học có quan hệ biện chứng với nhau trong hoạt động dạy học của nhà trường

7.1.1.4 Động cơ hoạt động dạy

Hoạt động dạy là một loại hoạt động đầy khó khăn, phức tạp, để thực hiện được mục đích nó cần được thúc đẩy bởi một hệ động cơ mạnh mẽ Cũng như các nghề thuộc lao động tinh thần khác, động cơ hoạt động dạy rất phức tạp và đa dạng bao gồm hai loại chính:

- Động cơ tinh thần là những thúc đẩy có giá trị tinh thần: đạo đức, sự tôn vinh của

xã hội, long yêu trẻ, yêu nghề… Những động cơ này có vai trò cơ bản lâu dài trong việc thúc đẩy hoạt động nghề nghiệp của giáo viên

- Động cơ vật chất liên quan đến đời sống vật chất mà chủ yếu là tiền lương, tiền thưởng với tư cách là sự trả công để tái sản sinh sức lao động xã hội theo nguyên tắc kinh

tế thị trường

Với các nghề khác, loại động cơ thứ hai đóng vai trò cơ bản còn loại động cơ thứ nhất đống vai trò hỗ trợ Tuy nhiên, đối với nghề thầy động cơ của hoạt động dạy cho đến nay người ta vẫn chủ yếu chú ý đến loại động cơ thứ nhất mà ít chú ý đến loại động cơ vật chất - thực tiễn, trực tiếp Lao động dạy học gần như nó được mặc định: đạo đức, cao quí, là cống hiến… nên không được tính toán theo kiểu kinh tế thị trường Quan niệm như vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dạy của một số đông giáo viên và đặt ra những khó khăn cho thanh niên trong việc lựa chọn nghề sư phạm Thực ra, đây là một cách nghĩ đã trở thành truyền thống được bắt nguồn từ dạy học cổ truyền trong nền văn minh nông nghiệp Khi đó, do không đánh giá được giá trị lao động tinh thần nên người

ta nói không trả công cho lao động trí óc nói chung, lao động dạy học nói riêng mà trả bằng giá trị tinh thần, bằng sự tôn vinh Sang thời đại văn minh công nghiệp và hiện nay

là văn minh tri thức, mặc dù có sự thay đổi nhưng lao động dạy do tính đặc thù của mình vẫn chưa được đánh giá theo kinh tế thị trường Đây là vấn đề còn nhiều bàn cãi và chắc còn lâu mới có sự nhất trí, tuy nhiên việc tạo động cơ cho hoạt động dạy đòi hỏi phải có những thay đổi về cách nhìn đối với vấn đề

7.1.1.4 Những hành động dạy cơ bản

Hoạt động dạy cũng được cấu thành từ các hành động với mà mỗi hành động có một mục đích cụ thể của mình Sau đây là một số hành động dạy cơ bản:

Trang 6

- Thiết kế bài dạy: bài dạy được hiểu là một quá trình dạy có mục đích là hình thành ở học sinh một khái niệm môn học Để thực hiện hoạt động dạy thành công, trước hết người thầy phải thiết kế được bài dạy mà mục đích là lập được bản kế hoạch dạy học chi tiết (trước đây gọi là soạn bài) Hành động thiết kế bài dạy gồm nhiều việc làm cụ thể với những sản phẩm cụ thể Bao gồm:

+ Xác định mục đích bài dạy: khái niệm khoa học mà học sinh phải lĩnh hội và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng mà học sinh phải hình thành được khi bài dạy kết thúc Phải xác định sản phẩm mà học sinh cần phải có được và tiêu chuẩn cụ thể của sản phẩm

đó (mức độ nắm khái niệm và hình thành kĩ năng kĩ xảo) Đây cũng chính là yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ đối với mỗi bài học Một việc làm quan trọng là phải xác định được vị trí, vai trò của khái niệm sẽ hình thành trong hệ thống tri thứccủa học sinh và chuẩn bị để học sinh sẽ sử dụng nó như là công cụ để lĩnh hội khái niệm tiếp theo của môn học

+ Xác định nội dung dạy và học: trên cơ sở mục đích, xác định nội dung dạy, tức

là chỉ ra các việc làm, thao tác mà thầy và trò phải thực hiện theo một lô gic nhất định và những quy định chặt chẽ phải tuân theo khi thực hiện các công việc để học sinh lĩnh hội được khái niệm Có nghĩa là người giáo viên phải thiết kế ra hành động mà học sinh thực hiện trong quá trình học

+ Xác định phương tiện dạy và học: cung cấp phương tiện và điều kiện để học sinh thực hiện họat động học tập, đó chính là tài liệu, sách vở, đồ dùng học tập, thiết bị thí nghiệm phù hợp với nội dung học tập Các phương tiện này có thể do nhà trường cung cấp, có thể do học sinh và giáo viên tự làm, tự sưu tầm Phương tiện dạy quan trọng nhất của người thầy là vốn tri thức và ngôn ngữ Tuy nhiên, khác với dạy học truyền thống ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là phương tiện truyền thụ, trong dạy học hiện đại ngôn ngữ là phương tiện cơ bản để người thầy giáo hướng dẫn và tổ chức học trò thực hiện các nội dung hoạt động

+ Xác định phương pháp dạy: Trên cơ sở mục tiêu, nội dung, phương tiện dạy học

và trình độ của học sinh, thầy phải xác định phương pháp dạy tức là phương pháp tác động phù hợp để học sinh thực hiện hoạt động học một cách hiệu quả Việc lựa chọn được phương pháp dạy phù hợp là công việc rất quan trọng đối với việc thực hiện nội dung dạy Phương hướng chung của dạy học hiện đại là phương pháp dạy phải đảm bảo phát huy được tính tích cực của học sinh

Trang 7

+ Xác định quá trình thực hiện bài dạy trải theo thời gian tuyến tính trong đó phải qui định được từng việc làm của thầy và trò trong bài học dạy vào những khoảng thời gian hợp lý

- Tổ chức điều khiển hoạt động học của học sinh: là quá trình thực hiện bài dạy, hiện thực hóa kế hoạch dạy học đã thiết kế Quan trọng là tổ chức được hệ thống việc làm của học sinh theo thiết kế

- Kiểm tra quá trình dạy: khác với dạy học truyền thống việc kiểm tra thực ra là đánh giá sau mỗi tiết học hoặc bài học Dạy học hiện đại quan niệm kiểm tra là quá trình hành động đi song song với hành động tổ chức nhằm phát hiện các lỗi, các sai lệch, các

hở sót trong quá trình hành động học của mỗi học sinh để kịp thời sửa chữa để đảm bảo cho học sinh làm đúng nhờ đó chắc chắn lĩnh hội được tri thức qui định hình thành Bên cạnh quá trình kiểm tra, người thầy phải hướng dẫn để hình thành khả năng tự kiểm tra hành động học cho học sinh

- Điều chỉnh: trong quá trình dạy có thể xuất hiện những yếu tố mới, những khó khăn và sai lầm của học sinh…làm cho hành động dạy nếu cứ thực hiện theo đúng kế hoạch sẽ không đảm bảo chất lượng Khi đó, người thầy phải điều chỉnh hành động để việc dạy phù hợp với tình hình mới, giúp đỡ các học sinh gặp sai lầm, khó khăn để các

em có được hành động đúng

- Đánh giá và hướng dẫn học sinh tự đánh giá là hành động dạy quan trọng trong

đó người thầy đưa học sinh vào các tình huốn khác nhau mà để giải quyết chúng, học sinh phải dùng kiến thức đã học để giải quyết Qua đó xác nhận kết quả học tập, đem kết quả này đối chiếu với mục tiêu đã đề ra Trên cơ sở đánh giá xác định hành động dạy tiếp theo Trong đánh giá, hai việc làm cơ bản nhất là xác định được tiêu chí đánh giá mức độ nắm vững kiến thức của học sinh và khách quan hóa được việc đánh giá để đảm bảo kết quả đánh giá phản ánh được cái đã hình thành ở học sinh sau quá trình học

7.1.1.5 Những yếu tố quy định sự thành công của họat động dạy

Hoạt động dạy chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan Cơ bản là:

- Các yếu tố chủ quan quy định thành công trong hoạt động dạy:

+ Trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của người giáo viên là yếu tố có tác động quan trọng đối với thành công của hoạt động dạy, vì nó quy định nội dung và phương pháp dạy học của người thầy giáo Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người thầy giáo thể hiện ở:

Trang 8

- Khả năng hiểu và đánh giá đúng trình độ của học sinh Đó là khả năng của người giáo viên hiểu được đúng cái đã có, cái chưa có và cái đang hình thành ở học sinh Khả năng xác định nội dung, cách thức, con đường tác động phù hợp với đặc điểm tâm lý học sinh để đảm bảo dạy học hiệu quả, nắm bắt nhanh chóng và chính xác diễn biến tâm lý của học sinh, phát hiện các vấn đề tâm lý nảy sinh ở học sinh trong quá trình dạy học

- Khả năng nắm vững nội dung dạy, đánh giá, phân tích và phát triển chương trình dạy Đây là điều kiện cơ bản, yêu cầu người giáo viên phải nắm vững những nội dung chủ yếu của môn học, chương trình tổng thể, chương trình cấp học, lớp học Đánh giá được chương trình, phân tích được cấu trúc lô gic của chương trình, xác định được những nội dung cơ bản, then chốt của chương trình Trên cơ sở đánh giá và phân tích chương trình, người giáo viên hiện đại phải phát triển được chương trình chung thành chương trình dạy học cho từng lớp, từng học sinh Việc phát triển chương trình dạy học trước hết

là cụ thể hóa để phù hợp với địa phương, vùng miền và trình độ của học sinh sau đó là nâng cao chương trình một cách thường xuyên để nó đáp ứng được sự phát triển không ngừng của tri thức môn học Năng lực phát triển chương trình là một yêu cầu quan trọng đối với người giáo viên hiện vì nó đảm bảo cho hoạt động dạy luôn phát triển, phù hợp với học sinh và sự phát triển của khoa học

- Khả năng nắm vững, đánh giá, lựa chọn và chế biến tài liệu dạy Trong dạy học hiện đại, vai trò của tài liệu dạy khác với dạy học truyền thống, nó không được coi là chuẩn mực nữa mà đó là sự cụ thể hóa chương trình dạy (vì vậy có thể có nhiều bộ tài liệu dạy cho một chương trình) mà thầy và trò phải thực hiện Tuy nhiên, tài liệu vẫn là phương tiện dạy học quan trọng Để sử dụng nó hiệu quả, trước hết người thầy phải đánh giá, phân tích được các tài liệu, nắm được cái trung tâm, cái cơ bản trong mỗi tài liệu hiện

có để trên cơ sở đó lựa chọn tài liệu dạy phù hợp nhất đối với chương trình dạy, đặc điểm

và trình độ của thầy và của trò Với tài liệu dạy đã được lựa chọn, thầy giáo phải chế biến

nó bằng việc sắp xếp, bổ sung, lược bỏ bớt nội dung để nó phù hợp với đặc điểm học sinh, điều kiện của hoạt động dạy học Bản chất của chế biến tài liệu dạy là giáo viên xây dựng một tài liệu dạy của riêng mình vừa đảm bảo nội dung chương trình qui định, vừa phù hợp với đặc điểm thực tế

- Khả năng lựa chọn phương tiện, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Sau khi đã xác định nội dung dạy học cụ thể cho một bài học ở từng lớp học, thầy giáp phải lựa chọn được phương tiện dạy học hợp lý Phương tiện dạy học có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo và nâng cao hiệu quả dạy học Trong dạy học, giáo viên phải sử

Trang 9

dụng một hệ thống các phương tiện khác nhau gồm: các phương tiện tinh thần: tri thức, kĩ năng; phương tiện ngôn ngữ: lời nói, chữ viết; phương tiện vật chất: tài liệu, đồ dùng thực hành thí nghiệm Trong đó vốn tri thức và ngôn ngữ của thầy có vai trò quan trọng hàng đầu Mỗi phương tiện lại yêu cầu những cách thức thao tác riêng của mình - đó chính là phương pháp Việc lựa chọn và thực hiện đúng phương pháp sử dụng các phương tiện dạy hiện có là yêu cầu quan trọng để dạy có chất lượng Việc tiếp theo khi lựa chọn nội dung, phương tiện và phương pháp dạy học là xác định hình thức tổ chức dạy học, mỗi nội dung, phương tiện và phương pháp lại phải được tổ chức dưới một hình thức tổ chức dạy học tương ứng Khi đó bài dạy mới đảm bảo hiệu quả cao

- Hoạch định những hành động cần thiết của học sinh trong giờ học là một yêu cầu quan trọng đối với người giáo viên Theo đó, trên cơ sở thiết kế bài dạy, người giáo viên phải xác định được hệ thống việc làm mà học sinh phải thực hiện, cách thức hướng dẫ, kiểm tra để các em thực hiện đúng hành động qui định Ngoài ra, thầy còn phải hình dung

ra những tình huống có thể xảy ra làm cho bài dạy không diễn ra theo thiết kế và cách xử

lý hiệu quả Trong đó quan trọng là những tình huống mà học sinh không làm đúng hướng dẫn

- Có các kỹ năng dạy học thuần thục Hoạt động dạy học đòi hỏi một hệ thống rất nhiều kĩ năng cụ thể đa dạng Trong đó có những kĩ năng chung như kĩ năng ngôn ngữ trong sáng, diễn đạt vấn đề một cách rõ ràng, ngắn gọn để học sinh nắm chắc công việc phải thực hiện, kĩ năng giao tiếp sư phạm lôi cuốn được học sinh tham gia vào hoạt động một cách tích cực Bên cạnh đó, mỗi môn học, thậm chí từng bài học có thể yêu cầu những kĩ năng có tính chuyên biệt

+ Thái độ tích cực đối với hoạt động dạy học là một trong ba yếu tố tạo nên năng lực dạy học của người giáo viên được cấu thành bởi nhiều phẩm chất nhân cách mà cơ bản là:

- Lòng yêu nghề, yêu trẻ, hứng thú với công việc dạy học

- Mạnh dạn, tự tin, trách nhiệm cao, nhiệt tình giảng dạy

- Cần cù, chịu khó học hỏi đồng nghiệp, tận tuỵ với học sinh, luôn có tinh thần tìm tòi đổi mới, sáng tạo trong dạy học

Các yếu tố khách quan chi phối hoạt động dạy của giáo viên:

- Khả năng học tập, trình độ và thái độ học tập của học sinh Hoạt động dạy của thầy không chỉ phụ thuộc và bản thân thầy mà còn phụ thuộc căn bản vào đối tượng dạy - cái đang phát triển trong tâm lý học sinh và khách thể dạy - bản thân học sinh Để đạt

Trang 10

được hiệu quả, hoạt động dạy của thầy phải phù hợp với chúng Trong đó trước hết là khả năng học tập của học sinh Mỗi học sinh có những khả năng khác nhau đối với việc học tập nói chung và vói từng môn học nói riêng Khả năng học tập là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đối với kết quả học tập của các em Trình độ của các học sinh trong một lớp cũng thường không ngang nhau cũng ảnh hưởng mạnh đến kết quả dạy học Đặc biệt, với những học sinh có trình độ thấp hơn hoặc cao hơn mặt bằng chung đều khó học tập hiệu quả

- Các điều kiện giảng dạy: Hoạt động dạy chịu tác động mạnh mẽ của những điều kiện của nhà trường và xã hội Trong đó trước hết là cơ chế quản lý, với những cơ chế quản lý khác nhau, hoạt động dạy sẽ được thực hiện và có hiệu quả khác nhau Với cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp hoạt động dạy sẽ trở thành xơ cứng, máy móc, kém sáng tạo; ngược lại với cơ chế quản lý dân chủ, hoạt động dạy sẽ trở nên linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả hơn Liên quan đến vấn đề quản lý là môi trường nhà trường Mức độ thân thiện cũng là điều kiện để giáo viên dạy học hiệu quả Các hiện tượng tâm lý xã hội cũng ảnh hưởng tới việc dạy của giáo viên Chẳng hạn như, truyền thống học ứng thí như hiện nay

sẽ làm cho giáo viên luôn luôn hướng việc dạy vào mục tiêu làm sao để học sinh đi thi đạt kết quả cao nhất mà bỏ qua các mặt giáo dục khác Trang thiết bị dạy học với tính chất là phương tiện kỹ thụât có vai trò quan trọng đối với chất lượng và hiệu quả dạy học

- Điều kiện sống và làm việc của giáo viên Người giáo viên trước hết cũng là một con người, với những nhu cầu của cuộc sống bình thường Việc đảm bảo các điều kiện sống và làm việc để thầy yên tâm với hoạt động dạy là một yếu tố đảm bảo và nâng cao chất lượng của hoạt động này Tất nhiên, nghề dạy học không phải là nghề để làm kinh tế nhưng một cuộc sống và điều kiện làm việc quá thiếu thốn về vật chất tinh thần sẽ làm giảm sút chất lượng hoạt động này

7.1.2 Tâm lý học hoạt động học

7.1.2.1 Khái niệm họat động học

Học là một thuật ngữ được dùng nhiều trong cuộc sống hằng ngày nhưng khái niệm học lại được dùng khác nhau trong các trường hợp khác nhau Ví dụ: khỉ học làm xiếc, trâu bò học cày, bừa, đứa trẻ học nói, học sinh học tập… Thực trạng này do khái niệm học được dùng với những nội hàm khác nhau từ rộng nhất cho đến rất hẹp

Mỗi cá thể động vật và con người đều có một hệ thống hành vi năng được thừa kế bằng con đường di truyền sinh học Bản năng là hành vi chung của một loài động vật được hình thành trong lịch sử loài giúp các cá thể của loài đó thích nghi được với môi

Trang 11

trường sống và được ghi vào cơ cấu di truyền Mỗi khi cá thể gặp môi trường sống quen thuộc với loài thì hành vi tương ứng tự nhiên xuất hiện Ví dụ con vịt gặp nước - dù là lần đầu tiên là hành vi bơi sẽ mặc nhiên xuất hiện, giúp nó sống được ở môi trường này Ở các động vật bậc thấp, ít di chuyển do đó môi trường sống hầu như không thay đổi so với

tổ tiên thì chỉ cần hành vi bản năng là đủ Ngược lại, các loài động vật bậc cao di chuyển nhiều, thậm chí là rất xa nơi quen thuộc do đó trong môi trường sống của chúng dễ xuất hiện các tác động không quen thuộc Khi đó, hệ thống hành vi bản năng không còn đủ để

cá thể động vật thích nghi và sống còn trong môi trường sống mới Để tồn tại, các cá thể phải hình thành được cho mình những hành vi mới chưa có trong bản năng mà nhờ nó, chúng thích nghi được với môi trường mới Hành vi mới này có được nhờ nguyên tắc thử

- sai và tập luyện trên cơ sở biến đổi những hành vi đã có trước đó Việc hình thành hành

vi mới, hợp lý ở người và động vật thông qua quá trình luyện tập được gọi là học Như vậy, học với nghĩa rộng nhất có cả ở người và động vật

Tuy nhiên học của người khác về học của động vật khác nhau về bản chất Ở động vật, việc học chỉ dừng lại ở kĩ xảo có tính chất cá thể Các kĩ xảo chỉ được hình thành và tồn tại trên từng cá thể, không thể truyền được từ cá thể này sang cá thể khác Mỗi cá thể động vật khác muốn có kĩ xảo đó thì phải làm lại từ đầu Vì vậy, các động vật dù là động vật bậc cao không thể phát triển quá cao so với hành vi bản năng do tổ tiên để lại Ví dụ con trâu mẹ cày giỏi không thể truyền lại cho con của nó hành vi cày

Ở con người học cũng là hình thành hành vi mới nhưng lượng hành vi cá thể tự hình thành cho mình chiếm tỷ lệ không đáng kể Những hành vi khác với bản năng của con người được hình thành theo con đường khác về bản chất so với kĩ xảo động vật Đó

là ở loài người, khi một cá thể hình thành được một hành vi mới thì nó không giữ cho riêng mình mà truyền lại cho các cá thể khác Nhờ đó các hành vi này được tích lũy lại trong suốt chiều dài lịch sử được gọi là những kinh nghiệm xã hội lịch sử hoặc là hành vi văn hóa Mỗi đứa sau khi sinh ra dần dần hình thành các hành vi văn hóa nhưng không bằng con đường mò mẫm, thử - sai mà bằng con đường lĩnh hội từ người lớn Sự lĩnh hội này cũng thực hiện bằng con đường luyện tập nhưng dưới sự hướng dẫn, tổ chức của những người lớn - những người đã có hành vi đó - thông qua ngôn ngữ Như vậy, việc học của con người là sự lĩnh hội các hành vi văn hóa một cách có ý thức, có ngôn ngữ, có tính tự giác Đây là điểm khác biệt về chất lượng của việc học ở người so với việc học của con vật Tuy nhiên, ở con người hiện đại lại có hai kiểu học khác nhau về chất lượng:

sự học ngẫu nhiên và hoạt động học ở nhà trường

Trang 12

* Học ngẫu nhiên xảy ra khi người ta thực hiện một hành động hoặc giao tiếp có mục đích khác nhưng vẫn lĩnh hội được một hiểu biết, kĩ năng hoặc kĩ xảo mới Ví dụ: Một em bé cầm bát đũa khi mọi người trong gia đình ăn cơm với tư cách là trò chơi nhưng qua đó học được cách ăn bằng bát đũa Một người thợ thủ công lúc đầu đi làm để kiếm ăn nhưng trong quá trình đó học được kĩ năng, kĩ xảo nghề hay đi một ngày đàng học một sàng khôn Nói cách khác, học ngẫu nhiên là trường hợp học là một sản phẩm phụ của quá trình sống và hoạt động của con người Học ngẫu nhiên có các đặc điểm cơ bản:

- Việc học được xảy ra trong một hành động, hoạt động nhằm thực hiện một mục tiêu khác Con người không đặt mục tiêu học nhưng vẫn học được cái mới Việc học xảy

ra mọi nơi, mọi lúc trong cuộc sống

- Những hiểu biết thu được của cách học này mang tính kinh nghiệm, rời rạc, không hệ thống, chỉ đúng với hoàn cảnh cụ thể và thường là đơn giản như: “Học ăn, học nói, học gói, học mở” Vì vậy, học ngẫu nhiên không thích hợp với những kiến thức khoa học mang tính hệ thống chặt chẽ

- Việc học ngẫu nhiên mất rất nhiều thời gian, công sức nên hiệu quả thấp và kết quả rất không chắc chắn Để thành thạo một nghề nghiệp bằng cách học ngẫu nhiên, người ta mất nhiều năm làm việc

* Học theo phương thức nhà trường hay còn gọi là hoạt động học đó là việc học có tính chuyên biệt, có mục đích,có nội dung, có kế hoạch, có phương pháp tích cực, hình thức tổ chức riêng và được tổ chức bởi một loại người lớn chuyên biệt là thầy giáo, thực hiện trong môi trường chuyên biệt là nhà trường Hoạt động học có một số đặc điểm cơ bản:

- Có mục đích trực tiếp là chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Quá trình hành động và giao tiếp trong học tập thực hiện mục tiêu lĩnh hội đề ra trước Để thực hiện mục đích, người học phải thực hiện những nội dung hoạt động và thực hiện chúng theo những cách thức, hình thức tổ chức theo qui định Quá trình học được kiểm tra thường xuyên và kết quả học được đánh giá cụ thể

- Hiệu quả lĩnh hội cao: trong một thời gian ngắn với công sức bỏ ra tối thiểu, học sinh chiếm lĩnh được một hệ thống tri thức khoa học, phức tạp, ở trình độ cao với các kĩ năng và kĩ xảo tương ứng, chuẩn bị cho việc tham gia vào hoạt động lao động chất lượng cao của xã hội hiện đại Điều mà học ngẫu nhiên không thể làm được

Trang 13

- Học tập là hoạt động đặc thù của con người và chỉ có ở con người bởi vì nó được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng họat động nhất định Không chỉ vậy, hoạt động học đóng vai trò chủ đạo đối với sự phát triển của trẻ em hiện đại Một đứa trẻ ngày nay không thể trở thành con người văn minh nếu không học qua nhà trường Học theo phương pháp nhà trường mới gọi là họat động học

7.1.2.2 Bản chất của hoạt động học

- Đối tượng của hoạt động học là tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Trong hoạt động dạy thì giáo viên là chủ thể còn đối tượng là cái đang phát triển trong tâm lý học sinh còn trong hoạt động học thì học sinh là chủ thể, cò n đối tượng lĩnh hội là tri thức khoa học (hoặc dựa trên cơ sở khoa học), kỹ năng, kỹ xảo tương ứng được kết tinh lại trong các môn học Tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng là một loại năng lực người mà các thế hệ trước đã phát hiện ra và để lại trong nền văn hóa hiện đại Trong hoạt động học, học sinh lấy nó làm đối tượng, tác động vào nó đang ẩn tàng trong các khách thể làm cho nó sống lại và chuyển vào trong tâm lý, taọ ra sự phát triển của bản thân chủ thể

Cùng có đối tượng là tri thức khoa học và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng nhưng hoạt động học của học sinh lại có khác biệt căn bản so với hoạt động nghiên cứu khoa học của nhà khoa học Tri thức khoa học mà nhà khoa học nghiên cứu là bản chất, qui luật vận động của thế giới khách quan trước đó loài người chưa biết, nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, con người lần đầu tiên phát hiện ra chúng (gọi là phát minh khoa học) Sản phẩm của hoạt động nghiên cứu khoa học là tri thức, kĩ năng và kĩ xảo tương ứng là cái mới không chỉ với cá nhân nhà khoa học mà còn đối với cả nhân loại Còn tri thức, kĩ năng và kĩ xảo mà học sinh lĩnh hội thì chỉ mới đối với cá nhân học sinh nhưng không mới đối với loài người Nói cách khác, hoạt động học của học sinh nhằm tái tạo lại cái mà các nhà khoa học đã phát hiện ra Tuy nhiên, hoạt động học không phải là sự tiếp thu thụ động tri thức khoa học mà nhà khoa học đã phát hiện ra Để có hiểu biết khoa học thực sự, học sinh phải đi lại con đường mà nhà khoa học đã đi để tìm ra tri thức Chỉ khác

là, nhờ sự dẫn dắt của thầy, học sinh không phải đi theo con đường lịch sử của khoa học

mà đi theo con đường lô gic ngắn nhất và thẳng nhất mà không lặp lại những sai lầm của nhà khoa học với thời gian và công sức ít nhất Ví dụ: để phát hiện ra không khí có N2 và O2, La-voa-di-ê mất nhiều năm nhưng học sinh tiểu học thì có tri thức đó trong một tiết học Tóm lại, nghiên cứu khoa học và hoạt động học là hai hoạt động khác nhau nhưng

Trang 14

chúng đều thực hiện theo cơ chế phát hiện sáng tạo - cơ chế bằng hoạt động của mình, chủ thể tác động vào khách thể để đối tượng phải bộc lộ và chiếm lĩnh chúng

- Hoạt động học là hoạt động hướng vào làm thay đổi chính bản thân chủ thể Đây

là đặc trưng quan trọng nhất của hoạt động học Trong khi các họat động khác của con người nhằm làm thay đổi đối tượng, biến đối tượng thành sản phẩm, thì hoạt động học của học sinh lại không nhằm vào biến đổi đối tượng mà quá trình tác động vào đối tượng lại làm thay đổi chính bản thân người học Hoạt động học chỉ làm đối tượng chuyển dời

từ các khách thể bên ngoài vào trong đầu óc chủ thể, qua đó chúng nâng cao nhận thức, làm thay đổi suy nghĩ, hình thành được kỹ năng, kỹ xảo, tình cảm… của bản thân người học Cũng có khi hoạt động học làm thay đổi đối tượng, phát hiện được tri thức mới nhưng đây là trường hợp cực kì hãn hữu, nếu có thì nó cũng chỉ là hệ qủa của sự thay đổi chính bản thân người học, đó là khi người học có khả năng sáng tạo Ví dụ, trường hợp Gau-xơ phát hiện ra cách thực hiện phép cộng từ 1 đến 10 một cách ngắn nhất

- Hoạt động học là hoạt động được điều khiển một cách có ý thức Nghĩa là người học phải có ý thức học tập- nhận thức về hoạt động, có thái độ đối với hoạt động và hành

vi tương ứng Quan trọng hơn, hoạt động học phải luôn được sự điều khiển theo ý thức của người học Cụ thể:

Người học phải có mục đích học tập đúng đắn là chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Đó là mục đích quan trọng nhất, các mục đích khác phải trên cơ sở mục đích chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Không để các mục đích khác lấn át mục đích học Trên cơ

sở mục đích học đúng đắn, hình thành được hệ động cơ học tập tích cực

Ví dụ: học sinh phải có mục đích học tập là nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và

để có chúng phải thật tích cực học Mục đích học tập của học sinh không phải là để có điểm số, bằng cấp và thực hiện mục đích này bằng những cách thức

Để thực hiện được mục đích học đã xác định, người học phải tìm phương pháp học tập, lựa chọn phương pháp học tập thích hợp và biết vận dụng phương pháp học tập một cách hiệu quả

Người học phải có sự nổ lực bản thân, ý chí vượt khó, chăm chỉ, tự lực, tự giác hoàn thành các nhiệm vụ học tập, thực hiện các hành động học cần thiết để lĩnh hội được tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đã xác định Việc học chỉ thực sự hiệu quả khi người học tích cực học, người khác học giúp Ngay cả khi thầy tích cực dạy mà trò không tích cực học thì học tập cũng không thể có kết quả

Trang 15

- Hoạt động học còn hướng vào việc lĩnh hội phương pháp học Để lĩnh hội được tri thức khoa học, kĩ năng và kĩ xảo tương ứng, người học phải có phương pháp hoạt động tương ứng - phương pháp học Tuy nhiên, phương pháp học không thể hình thành một cách riêng rẽ, độc lập mà được hình thành trong chính quá trình học tập để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng của học sinh Khi thực hiện hoạt động học để lĩnh hội một tri thức thì đồng thời học sinh lĩnh hội được cách thức chiếm lĩnh chúng Như vậy, trong hoạt động học, học sinh lĩnh hội không chỉ tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng mà còn lĩnh hội được tri thức về hoạt động, các kĩ năng và kĩ xảo học Vì vậy, trong quá trình dạy học, người thầy không chỉ hình thành ở trò hình ảnh của tri thức vào trí nhớ

mà phải hướng dẫn họ sinh thực hiện các thức lĩnh hội tri thức, nghĩa là phải hướng dẫn học sinh tiến hành các thao tác trí tuệ để phát hiện tri thức và vận dụng kiến thức để suy nghĩ sáng tạo Ví dụ: dạy các công thức tính diện tích các hình thì không chỉ dạy học sinh nắm được các công thức đơn thuần mà còn các thao tác trí tuệ: phân tích, tổng hợp, khái quát hóa mà nhân loại đã dùng để phát hiện các công thức đó

* Các cơ chế học của con người

Mặc dù được thể hiện đa dạng nhưng về cơ bản việc học của con người được diễn

ra theo 3 cơ chế chủ yếu: tập nhiễm, bắt chước và nhận thức

+ Học theo cơ chế tập nhiễm Tập nhiễm là sự ảnh hưởng tự phát trong quá trình tương tác lẫn nhau giữa các cá thể trong nhóm trong quá trình sống và hoạt động chung Ảnh hưởng lẫn nhau này dẫn đến sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của các cá thể

đó Đặc trưng cơ bản của tập nhiễm là sự tác động và tiếp nhận một cách vô thức Tập nhiễm là cơ chế học đơn giản và tự nhiên nhất, trong đó người bị tập nhiễm có thể không

ý thức được về sự thay đổi của bản thân Ví dụ: Trẻ bị nhiễm tật nói dối, nói tục khi sống trong môi trường mà người lớn thường nói dối, nói tục Hay một số học sinh bị nhiễm thói ăn chơi, đua đ òi, biếng học khi thường xuyên tham gia các nhóm bạn có đặc điểm này

+ Học theo cơ chế bắt chước

- Bắt chước là cơ chế học mà trong đó cá thể lặp lại những ứng xử, hành vi của các

cá thể khác dựa vào hình ảnh tri giác được hay biểu tượng đã có về chúng Bắt chước là hiện tượng phổ biến ở người và động vật, nó giúp cho cá thể học được kinh nghiệm ứng

xử và lao động

- Mô hình chung của cơ chế bắt chước là: Quan sát hành vi, vật mẫu, ghi nhớ chúng rồi tạo dựng lại trong hành vi của chính mình sau đó lặp lại củng cố hành vi mới

Trang 16

Ví dụ em bé nhìn vào miệng mẹ lúc mẹ nói, bắt chước để phát âm Học sinh lớp 1 bắt chước cô giáo viết chữ

- Cơ chế bắt chước có nhiều mức độ: Bắt chước dựa trên hình ảnh trực quan tức thời khi đang (Trẻ múa theo người lớn - cấp độ tri giác); bắt chước theo biểu tượng đã có

về hành động (người ta nhớ lại cái người khác đã làm để làm theo - cấp độ trí nhớ), bắt chước theo các khái niệm và theo các phương thức (mô phỏng theo cách diễn đạt, cách tư duy, theo lô gic hành động - cấp độ tư duy)…

Cơ chế bắt chước rất phổ biến trong cuộc sống và chiếm ưu thế khi người ta lĩnh hội các tri thức, kĩ năng và kĩ xảo có tính kinh nghiệm Nhưng khi con người cần nhận thức hệ thống tri thức khoa học thì nó không đáp ứng được yêu cầu

+ Học theo cơ chế nhận thức

- Học theo cơ chế nhận thức là sự lĩnh hội các kiến thức về thế giới, các kỹ năng

và phương pháp hành động cũng như các giá trị sống khác qua hoạt động nhận thức (Cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng) của người học nhằm mục đích khám phá thế giới và thoả mãn nhu cầu nhận thức

- Học theo cơ chế nhận thức là quá trình cá nhân dưới sự giúp đỡ của người dạy thâm nhập, khám phá, tái tạo lại, cấu trúc lại thế giới xung quanh, qua đó phát hiện ra và chiếm lĩnh tri thức ẩn tàng trong khách thể Nhờ vậy, kiến thức bản thân được hình thành

và phát triển Với ý nghĩa đó, hoạt động học của học sinh được thực hiện theo cơ chế nhận thức

- Cơ chế nhận thức là cơ chế học cao nhất có mô hình chung là: hành động lĩnh hội (Hiểu) đến hành động nhớ và hành động vận dụng tri thức một cách có hệ thống và sáng tạo vào thực tiễn hoặc để lĩnh hội một tri thức khác Học theo cơ chế nhận thức tuân theo quy luật nhận thức là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn

Tóm lại, bản chất của họat động học là hoạt động tích cực của cá nhân người học dưới sự tổ chức và hướng dẫn của người dạy nhằm chiếm lĩnh các tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng để phát triển tâm lý, hình thành nhân cách

Trang 17

Tâm thế là một trạng thái tâm lý làm nền cho một quá trình hoạt động của con người Nó chuẩn bị cho việc cá nhân sẵn sàng đón nhận hoặc thực hiện một hoạt động nào đó Tâm thế bao gồm cả sự chuẩn bị cho hoạt động, trong đó con người huy động các khả năng cho việc thực hiện hoạt động tâm thế thường thể hiện bằng trạng thái căng thẳng trước khi con người tiếp nhận hoặc thực hiện hoạt động và nó có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực tới hoạt động cá nhân Mức độ hoàn thành công việc phụ thuộc khá nhiều vào tâm thế Tâm thế là điều kiện quan trọng của hoạt động học, vì hoạt động học chịu ảnh hưởng của trạng thái sẵn sàng của cá nhân Giáo viên khó có thể buộc học sinh học tập khi chúng không được chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tốt Sinh viên tiếp thu bài tốt hơn, tích cực hơn nếu đã chuẩn bị trước Tâm thế có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện một công việc quan trọng như học bài mới, thi cử…

- Quy luật luyện tập

Luyện tập là một việc làm cần thiết để nắm vững một tri thức và kỹ năng Luyện tập là việc người học thực hiện lại kiến thức, kĩ năng đã học ở những mức độ khác nhau

Ở mức độ đơn giản nhất là lặp lại nguyên xi cái đã học như học sinh lớp 1 luyện viết khi học chữ Ở mức độ cao hơn là vận dụng để giải quyết một tình huống mới nhưng có cùng bản chất với tình huống học như học sinh vận dụng kiến thức để giải một bài tập Ở mức

độ cao học sinh vận dụng kiến thức để lĩnh hội một kiến thức, kĩ năng mới như khi đã có kiến thức về tính diện tích hình tam giác vận dụng để lĩnh hội công thức tính diện tích hình thang, hình tròn Việc luyện tập sẽ làm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo được cũng cố trở nên vững chắc, ổn định và nâng cao khả năng vận dụng

Một kiến thức, kĩ năng và đặc biệt là một kĩ xảo không được luyện tập sẽ bị quên dần Các nhà TLH Hành vi cho rằng việc luyện tập là củng cố các mối liên hệ giữa kích thích- phản ứng và sự tăng cường mối liên hệ này tỷ lệ thuận với số lần nó xuất hiện và tỷ

lệ thuận với sức mạnh trung bình và khoảng thời gian liên hệ Ngược lại, khi mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng không được thực hiện trong một khoảng thời gian thì sức mạnh của mối liên hệ giảm sút Còn theo lý thuyết phản xạ có điều kiện của I.P Pav-lôp thì độ bền vững của phản xạ phụ thuôc vào số lần và thời gian luyện tập

* Quy luật hình thành và di chuyển các liên tưởng

Những người theo thuyết liên tưởng thì cho rằng, bản chất của học là hình thành một liên tưởng mới, đó là sự xác lập liên hệ giữa kích thích và phản ứng tương ứng Tuy nhiên, liên tưởng không hoàn toàn cố định mà có sự di chuyển, tức là nếu trong điều kiện

có sự tác động đồng thời của nhiều tác nhân kích thích, một trong số đó gây ra phản ứng

Trang 18

thì không chỉ nó mà những kích thích khác cũng có khả năng gây ra chính phản ứng đó

Ví dụ: Giờ học bài X, học sinh vừa được nghe, nhìn hay cô giáo kể cho một câu chuyện vui về A thì sau đó chỉ cần nhìn thấy đối tượng A là học sinh cũng nhớ tới bài X và ngược lại Sự di chuyển các liên tưởng rất quan trọng trong việc củng cố và vận dụng kiến thức Trong quá trình học tập, các tri thức có sự di chuyển liên tưởng theo nhiều kiểu khác nhau: tương tự, tương cận, nhân quả… Sự hình thành và di chuyển của các liên tưởng giúp hệ thống kiến thức con người trở nên vững chắc, trở thành hệ thống và có khả năng vận dụng vào những tình huống khác nhau

- Quy luật hiệu quả

Bất kỳ hành động nào mà con người thực hiện trong tình huống nhất định có thể gây ra một sự thoả mãn ở chủ thể thì khi tình huống đó xuất hiện trở lại, sự xuất hiện của hành động tương ứng có xác xuất lớn hơn hành động không tạo sự thõa mãn hoặc gây ra

sự khó chịu cho chủ thể Trong học tập, một kiến thức, kĩ năng thõa mãn nhu cầu chủ thể

sẽ được chủ thể lĩnh hội tốt hơn Vì vậy, khơi gợi ở học sinh nhu cầu, hứng thú với tri thức và dạy học phù hợp với nhu cầu, hứng thú nhận thức cuảt học sinh là một yêu cầu căn bản của dạy học hiện đại

7.1.2.4 Hình thành hoạt động học

Học sinh không thể học tập hiệu quả nếu không thực hiện được hoạt đoọng học Tuy nhiên, hoạt động học không có trước ở học sinh khi trẻ bước vào nhà trường và cũng không thể hình thành nó một cách riêng rẽ, độc lập Vì vậy, trong quá trình dạy học, bên cạnh việc tổ chức cho học sinh lĩnh hội, thầy còn phải tổ chức hình thành hoạt động học cho trò Vận dụng thành tựu lý luận của A.N.Leonchev về hoạt động tâm lý vào lĩnh vực dạy học cho thấy, hoạt động học cũng có cấu trúc cơ bản bên trong gồm các yếu tố: động

cơ học tập, mục đích học tập, các hành động học, và các thao tác và phương tiện, điều kiện học Trong đó trung tâm của hoạt động học là các hành động học Hoạt động học không tự nhiên có mà là kết quả của quá trình hình thành lâu dài với không ít khó khăn trởi ngại Sự hình thành hoạt động học là kết quả tổng hợp của sự hình thành các yếu tố

bộ phận Vì vậy, để hình thành hoạt động học cho học sinh phải hình thành được ở trẻ các yếu tố các yếu tố cấu thành của nó Sự hình thành các yếu tố và bản thân hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào kiểu hoạt động dạy của thầy Với những kiểu dạy khác nhau, học sinh sẽ hình thành được những kiểu hoạt động học khác nhau

- Hình thành động cơ học tập

Trang 19

Bất kì hoạt động nào của con người cũng cần phải có một sự định hướng và một

sự thúc đẩy để vượt qua những khó khăn, trở ngại gặp phải trong quá trình thực hiện Cái định hướng và thúc đẩy hoạt động con người được gọi là động cơ hoạt động Động cơ hoạt động xuất hiện khi có sự gặp gỡ giữa đối tượng hoạt động với nhu cầu của chủ thể Động cơ bao giờ cũng gắn với một hoạt động nhất định và mang đậm ý nghĩa chủ thể (mỗi người có động cơ riêng, khác nhau khi thực hiện một hoạt động giống nhau thậm chí là thực hiện chung một hoạt động vì người ta có nhu cầu khác nhau) Một hoạt động

có thể có thể được thúc đẩy bởi nhiều động cơ khác nhau Các động cơ cùng tham gia thúc đẩy một hoạt động kết hợp với nhau tạo thành một hệ động cơ trong đó mỗi động cơ

có vai trò và thứ bậc khác nhau Mỗi hệ động cơ bao giờ cũng có một động cơ mạnh nhất đóng vai trò chủ đạo còn những động cơ khác đóng vai trò hỗ trợ

Hoạt động học của học sinh là một hoạt động xảy ra trong một thời gian dài và phải vượt qua nhiều khó khan, trở ngại vì vậy nó cần phải được định hướng và thúc đẩy bởi một hệ động cơ học tập mạnh mẽ Động cơ học tập là những đối tượng (hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo) của hoạt động này phù hợp với nhu cầu, hứng thú của học sinh trở thành vật kích thích, thúc đẩy các em học tập, rèn luyện nhằm chiếm lĩnh chính nó Những đối tượng đó được chủ thể ý thức và có khả năng thõa mãn nhu cầu và trở thành cái thúc đẩy chủ thể học tập Ví dụ: Một học sinh cố gắng học vì khi học tốt sẽ được thưởng, ngược lại một học sinh khác thì học để khỏi bị trừng phạt

Cũng giống như các hoạt động khác, vì học sinh có nhiều nhu cầu khác nhau liên quan tới học tập nên hoạt động học cũng có thể được thúc đẩy bởi nhiều động cơ khác nhau Việc phân loại động cơ hoạt động học cũng có nhiều cách khác nhau Căn cứ vào đối tượng tạo ra động cơ, người ta phân động cơ học tập thành hai loại cơ bản:

- Động cơ hoàn thiện tri thức (động cơ bên trong) Loại động cơ này do chính bản thân hoạt động học gây ra Khi đó, chính những yếu tố ở bên trong hoạt động học trở thành đối tượng có khả năng thõa mãn nhu cầu nào đó của chủ thể và thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động Các yếu tố của hoạt động học thường trở thành động cơ là:

Bản thân đối tượng học (nội dung môn học) gắn liền với nhu cầu của học sinh Nghĩa là chính tri thức khoa học, kĩ năng và kĩ xảo của môn học làm cho học sinh khao khát chiếm lĩnh vì sự ò mò , ham hiểu biết về nó và dẫn học sinh tới sự say mê, cố gắng khắc phục khó khăn, tích cực vươn lên trong học tập Ví dụ, có những học sinh tích cực học văn đơn giản là vì yêu thích văn thơ, thấy văn thơ hay; cũng có học sinh say mê giải

Trang 20

toán vì yêu thích môn toán và cảm thấy vui sướng khi học được một kiến thức hay có được một kĩ năng giải toán mới…

Ý nghĩa thiết thực của tri thức, kĩ năng kĩ xảo đối với cuộc sống và hoạt động của người học cũng là động cơ học tập mạnh mẽ Có thể ban đầu, bản thân tri thức học không gây hứng thú, nhu cầu của bản thân nhưng việc chiếm lĩnh được nó có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động và cuộc sống của bản thân Khi đó, người học phải cố gắng và phải chiếm lĩnh cho được tri thức, kĩ năng và kĩ xảo mới Ví dụ, một người tích cực học ngoại ngữ vì công việc đòi hỏi phải sử dụng được nó Thông thường, tri thức ở đây ban đầu có

ý nghĩa là một phương tiện để con người thõa mãn nhu cầu công việc, cuộc sống nhưng

về lâu dài nó trở thành đối tượng của nhu cầu, hứng thú của chủ thể

Một yếu tố khác là đối tượng trở thành động cơ bên trong của hoạt động học đó là chính bản thân hành động học Khi đó, nhu cầu của chủ thể là nhu cầu về bản thân hành động chứ không phải là sản phẩm (bản thân tri thức) Nhu cầu này xuất hiện khi hành động trở thành thói quen, nó được thõa mãn khi chủ thể thực hiện hành động Ví dụ, được học, đi học là niềm vui Một học sinh có thể hứng thú khi giải toán hoặc một học sinh có thói quen đọc thì sẵn sàng đọc bất kì một tờ giấy có chữ nào

Phương pháp dạy học của giáo viên cũng là một yếu tố có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động học của học Cách dạy của người thầy có thể hấp dẫn tạo sức cuốn hút HS tích cực học tập hoặc ngược lại Tuy nhiên, sự cuốn hút này nhiều khi là tạm thời, vấn đề là thầy có khơi dậy được nhu cầu, hứng thú của học sinh với tri thức hoặc bản thân hành động học hay không

Nhìn chung, động cơ bên trong của hoạt động học gắn với nhu cầu nhận thức của bản thân học sinh

- Động cơ quan hệ xã hội (động cơ bên ngoài) Là lọai động cơ mà lực thúc đẩy là các quan hệ của học sinh với người khác chứ không phải do bản thân tri thức hoặc hành động học Khi đó, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chỉ là phương tiện để học sinh đạt được mục đích khác ngoài học tập Ví dụ như: sự thi đua, khen thưởng, trách phạt, đe dọa, sự hài

lò ng của cha mẹ, sự khâm phục của bạn bè Động cơ quan hệ xã hội gắn với nhu cầu vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu, nhận thức, nhu cầu được tôn trọng và thừa nhận… của chủ thể Các động cơ quan hệ xã hội cũng có tác dụng thúc đẩy học sinh cố găng vươn lên trong học tập, tích cực học tập

Cả động cơ bên trong và động cơ bên ngoài đều tham gia vào thú đẩy hoạt động học của người học Chúng kết hợp với nhau tạo nên hệ động cơ của hoạt động học ở học

Trang 21

sinh Vấn đề là ở chỗ, động cơ nào đóng vai trò chủ đạo trong hệ động cơ học tập, những động cơ khác nhau đóng vai trò chủ đạo sẽ tạo ra những tình huống học khác nhau

Nếu động cơ bên trong đóng vai trò chủ đạo thì tình huống học của học sinh sẽ là tình huống hấp dẫn bởi mục đích, học sinh sẽ học tập vì sự lôi cuốn của bản thân tri thức hoặc hành động học Sự lôi cuốn đó giúp học sinh vượt qua các chướng ngại trong quá trình học tập một cách tự giác Vì vậy, tình huống học này không gây ra sự căng thẳng tâm lý cho học sinh và đó là tình huống học tối ưu Động có bên trong có tính chất bền vững, lâu dài và nhiều ưu điểm nhưng nó nhiều lúc không đáp ứng được những đòi hỏi của hoạt động học ở những thời điểm mà con người phải nỗ lực rất cao để đạt kết quả tối

đa như là các kì thi.Vì vậy, hệ động cơ tốt nhất là hệ động cơ có động cơ bên trong đóng vai trò chủ đạo đồng thời có những động cơ bên ngoài mạnh mẽ Ngược lại, khi động cơ bên ngoài đóng vai trò chủ đạo thì tình huống học là tình huống cưỡng bách có mụch đích Trong tình huống này, bản thân tri thức hay hành động học không có sự hấp dẫn với

mà chỉ là phương tiện để chủ thể đạt tới một mục đích khác nên người học phải nỗ lực cố gắng rất nhiều để vượt qua những trở ngại bên trong và bên ngoài của hoạt động học Người học lại học dưới áp lực nặng nề của mục đích bên ngoài vì vậy, tình huống học này thường gây ra sự căng thẳng, mệt mỏi về thể chất và tâm lý Sự căng thẳng, mệt mỏi

đó có thể dẫn tới một hiện tượng là người học sẽ cố gắng tìm cách để thoát ly ra khỏi hoạt động học với các biểu hiện: lười học, bỏ học, quay cóp để có điểm số, bằng cấp mà không phải học Trong trường hợp bị áp lực nặng nề, một số học sinh do nỗ lực cố gắng chịu đựng trong một thời gian dài dẫn đến bị các rối nhiễu tâm lý thậm chí các bệnh tâm thần

Tóm lại: nhu cầu, hứng thú, mong muốn của cá nhân người học là nguồn gốc của động cơ hoạt động học do đó muốn tạo động cơ phải xuất phát từ nhu cầu của họ như: Nhu cầu vật chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu nhận thức, nhu cầu được tôn trọng và thừa nhận Tuy nhiên, những nhu cầu, hứng thú học tập thực sự của học sinh không có sẵn từ đầu mà nó được hình thành trong chính quá trình học tập của học sinh Khi mới đến trường trẻ em chỉ mới có nhu cầu nhận thức mang tính trực quan (sự tò mò), cảm tính thông thường cùng với sự thu hút bề ngoài của nhà trường Trong khi đó, đối tượng học của nhà trường là tri thức khoa học hoặc các hiểu biết trên cơ sở khoa học - có bản chất khác hẳn với hiểu biết thông thường vì vậy chúng không phù hợp với nhu cầu học sinh đang có Để học sinh có động cơ học tập, nhà trường phải biến đổi nhu cầu nhận thức thong thường của học sinh thành nhu cầu, hứng thú đối với tri thức nhà trường Nói cách

Trang 22

khác, trong quá trình dạy học thầy giáo không chỉ dạy kiến thức khoa học, kĩ năng và kĩ xảo tương ứng mà phải hình thành được ở học sinh nhu cầu, hứng thú về chúng của học sinh để từ đó hình thành động cơ học tập của các em

Để tạo được động cơ học tập đích thực cho học sinh, người giáo viên phải sử dụng nhiều cách thức khác nhau Cụ thể:

- Cách thức quan trọng nhất là trong quá trình giảng dạy, thầy phải phát huy được tính tích cực học tập của học sinh, thực hiện vai trò tổ chức, hướng dẫn cho học sinh tự lực nhận thức và giải quyết vấn đề, tự mình khám phá ra tri thức và chiếm lĩnh chúng Khi đó, hành động và kết quả khám phá (tri thức) sẽ thúc đẩy nhu cầu hành động khám phá tiếp theo dần dần dẫn đến nhu cầu, hứng thú, say mê học Đó là cách tạo động cơ bên trong của hoạt động họccủa học sinh Bởi vì những tri thức mà học sinh tự tìm ra được hoặc những bài toán mà HS tự làm được, nhất là lại thêm sự cố gắng, nó sẽ làm cho các

em phấn khởi, tự tin, thêm yêu thích môn học và sẽ cố gắng học hơn nữa Ngoài ra, thầy phải sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại như: giải quyết vấn đề, tổ chức hoạt động nhóm, trải nghiệm sáng tạo…để củng cố và phát triển nhu cầu, hứng thú học tập của học sinh Khi đó động cơ bên trong sẽ dần hình thành và đóng vai trò chủ đạo Ngược lại, nếu thầy dạy theo kiểu áp đặt, truyền thụ… và học sinh luôn ở thế bị động -tiếp thu, học thuộc thì sẽ không hình thành được nhu cầu học tập thực sự của trẻ Khi đó, động cơ bên ngoài

sẽ chiếm vai trò chủ đạo

- Để hệ động cơ học tập của học sinh mạnh mẽ, hoàn thiện thầy giáo cũng có thể dùng các hình thức khuyến khích, thi đua, khen thưởng, động viên… để hình thành những động cơ bên ngoài đóng vai trò hỗ trợ, giúp học sinh tích cực học tập hơn Tuy nhiên, việc sử dụng các biện pháp này phải rất thận trọng và ở một mức độ nhất định để chúng không trở thành động cơ chủ đạo, gây ra những hiện tượng không lành mạnh như: học tập vì điểm số, gian lận trong thi cử, bệnh thành tích…

- Hình thành mục đích học tập

Theo quan niệm của A.N Leonchiev: Mục đích là một cái gì đó mà cá nhân ý thức được nó và đang cố gắng vươn tới, hoàn thành Mục đích là mô hình tâm lý của sản phẩm hoạt động được hình dung trước trong đầu chủ thể Nói cách khác, trước khi hoạt động thực sự để tạo ra sản phẩm, con người đã tạo ra một sản phẩm trong tâm lý của mình bằng hoạt động tinh thần Mục đích có vai trò định hướng, điều khiển, điều chỉnh và đánh giá hoạt động Tâm lý học dạy học Mác xít đã vận dụng lý luận về mục đích hoạt động vào lý luận hoạt động học Theo đó:

Trang 23

- Mục đích học tập chính là hệ thống khái niệm, tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của môn học, mục tiêu học tập có ý nghĩa là: định hướng, điều khiển, điều chỉnh, đánh giá hoạt động học của học sinh Mục đích học cũng giúp huy động những cố gắng nỗ lực, tăng sự kiên trì, thúc đẩy sự sáng tạo… của các em

- Khác với các hoạt động khác của con người, mục đích chỉ là mô hình tâm lý của sản phẩm, là sản phẩm của hoạt động tinh thần, sau khi đã hình thành mục đích đóng vai trò định hướng, điều khiển và điều chỉnh, đánh giá sản phẩm Ở hoạt động học mục đích

và sản phẩm là một Quá trình hoạt động học tạo ra mục đích đồng thời cũng tạo ra chính sản phẩm (tri thức, kĩ năng, kĩ xảo) Trước khi bắt tay vào hoạt động, người học không hình dung được kết qủa học tập mà sẽ chiếm lĩnh từng bộ phận riêng lẻ rồi dần dần chiếm lĩnh một khái niệm, tri thức tiến tới toàn bộ hệ thống khái niệm, tri thức môn học Khi đạt mục đích môn học thì đồng thời cũng có sản phẩm - tri thức cần chiếm lĩnh Nói cách khác, mục đích học được hình thành trong chính quá trình học sinh thực hiện hành động học Vì vậy, khác vói các hoạt động khác, trò không thể tự mình thực hiện toàn bộ hoạt động mà luôn cần có sự tổ chức và hướng dẫn của thầy Chỉ khi đạt tới trình độ cao, người học mới có khả năng tự học Tuy nhiên, không phải cứ tham gia hoạt động học là

sẽ hình thành được mục đích học Mục đích học tập chỉ xuất hiện khi học sinh tham gia một cách tích cực hoạt động học tập Trong quá trình đó, mục đích xuất hiện dưới dạng khái quát, người học chỉ hình dung sơ bộ, chung nhất về cái mình sẽ phải chiếm lĩnh Sau

đó dần dần mục đích dần sáng đi vào mục đích cụ thể, chi tiết Khi hoạt động học xây dựng được mục đích đầy đủ thì đó cũng chính là sản phẩm mà nó cần đạt tới Trước khi bắt đầu một môn học, một môn học, giáo viên sẽ giới thiệu kết quả mà học sinh cần đạt tới và những việc cần làm Khi đó học sinh chỉ mới hình dung ban đầu, sơ bộ về mục đích Dưới sự dẫn dắt của thầy, trò mới làm rõ dần từng vấn đề cơ bản (nhũng đặc điểm của khái niệm), sau đó tiếp tục đi sâu, làm rõ từng đặc điểm… Cuối cùng, học sinh nắm được toàn bộ khái niệm - mục đích học chính thức hình thành, đồng thời đó cũng là sản phẩm của hoạt động học

Trong lý thuyết hoạt động học, người ta thường phân mục đích học thành: mục đích xa, trừu tượng, thường khó kiểm soát, đ òi hỏi phải kiên trì và quyết tâm cao trong một thời gian dài mới có thể đạt tới được; mục tiêu gần, cụ thể, rõ ràng, dễ đánh giá, khả năng thực hiện của học sinh cao hơn hơn và dễ tạo tính tích cực hơn vì nó vừa sức với, dễ tạo ra sự quan tâm thường xuyên hơn so với mục tiêu trừu tượng Mục đích xa thường là

Trang 24

mục đích có tính tổng thể mà để đạt tới nó cần phải thực hiện các bộ phận của nó là mục đích gần

- Để hình thành mục đích học tập cho học sinh, trong quá trình dạy học người thầy giáo có thể thực hiện qui trình chung:

Trước hết, hình thành ở học sinh mục đích xa, trừu tượng: giới thiệu môn học, chương, bài học một cách khéo léo, rõ ràng để học sinh có thể hình dung sơ bộ về cái mình cần đạt tới chính là bước đầu hình thành mục đích học tập Sau đó giới thiệu chương trình của môn học, của chương các kết quả cần đạt được qua các bước của một bài học

Ở từng bài học: giới thiệu bài học với kết quả cần đạt của bài (khái niệm môn học), các kết quả cần đạt được qua các bước của bài học (các đặc điểm, các nội dung của khái niệm)

Ở từng vấn đề, định hướng rõ cái cần đạt và cách thức đạt tới Cần chú ý đến vấn

đề chuyển tiếp giữa các ý, các thành phần để chúng liên kết lại thành một chỉnh thể (khái niệm) trong đầu óc học sinh

Kiểm tra và đánh giá mức độ hình thành khái niệm ở học sinh Khi đó mục đích hoạt động học chính thức hình thành đồng thời cũng là sản phẩm

- Hình thành phương tiện học: để thực hiện hoạt động học có kết quả, học sinh phải sử dụng nhiều phương tiện học khác nhau Trong đó có những phương tiện vật chất, bên ngoài, có sẵn như sách vở, đồ dùng học tập, dụng cụ thí nghiệm , những phương tiện ngôn ngữ, kí hiệu Các loại phương tiện này có vai trò quan trọng không thể thiếu nhưng không quyết định chất lượng học tập Khác với dạy học truyền thống, trong dạy học hiện đại, phương tiện có ý nghĩa quyết định là vốn kiến thúc, kĩ năng kĩ xảo đã có ở học sinh - phương tiện tinh thần Chúng chính là phương tiện để học sinh sử dụng trong quá trình thực hiện hoạt động học nhằm chiếm lĩnh tri thức mới Không có tri thức cũ, nền tảng thì người ta không thể lĩnh hội được tri thức mới Tuy nhiên, phương tiện học này không có sẵn mà chúng chính là các tri thức - mục đích học - kết quả của hoạt động học trước đó Nói cách khác, có một quá trình chuyển hóa giữa mục đích và phương tiện trong hoạt động học Một khái niệm, kĩ năng và kĩ xảo vốn là một mục đích học mà để chiếm lĩnh nó, người học học phải sử dụng phương tiện là một kiến thức đã hình thành trước đó để chiếm lĩnh Sau khi đã được hình thành, nó lại trở thành phương tiện để chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kỉ xảo tiếp theo Ví dụ, công thức tính diện tích hình tam giác

là mục đích học khi học sinh chưa có nó Nhưng khi đã chiếm lĩnh được thì học sinh lại

Trang 25

sử dụng nó làm phương tiện để chiếm lĩnh công thức tính diện tích hình tứ giác, hình tròn Việc tổ chức, hướng dẫn để học sinh sử dụng các kiến thức, kĩ năng, kỉ xảo đã có

để giải quyết tình huống học nhằm lĩnh hội kiến thức mới là một trong những khác biệt của dạy học hiện đại so với dạy học truyền thống Muốn vậy, kiến thức của người học phải đảm bảo trở thành một hệ thống, không được để có những chỗ hổng vì chúng sẽ làm cho học sinh không thể lĩnh hội được một cách chắc chắn kiến thức tiếp theo

- Hình thành các thao tác học: Giống như mọi hoạt động khác, chủ thể phải có các thao tác hợp lý mới sử dụng được phương tiện để tác động vào đối tượng một cách có kết quả Thao tác là cách thức sử dụng phương tiện của chủ thể và bị qui định bởi chính phương tiện, mỗi phương tiện có các thao tác riêng tương ứng Với phương tiện vật chất thì có thao tác tay chân: tương ứng với bút có các thao tác viết, thước thì có các thao tác

kẻ, đo Với phương tiện ngôn ngữ thì có nghe, nói, đọc, viết Với phương tiện tinh thần, chủ thể có các thao tác nhận thức: tri giác, trí nhớ, ngôn ngữ, tưởng tượng và tư duy Trong đó giữ quan trọng nhất là các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa, phân loại, hệ thống hóa và cụ thể hóa Các thao tác học cũng không có sẵn ở học sinh mà là kết quả của một quá trình học tập lâu dài Hình thành ở học sinh hệ thống thao tác của hoạt động học là một nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên Muốn vậy, trong quá trình dạy học, thầy không được áp đặt mà phải tổ chức, hướng dẫn học sinh sử dụng các phương tiện học để chiếm lĩnh tri thức mới theo đúng cách của

Trang 26

Phân loại hành động học theo hình thức dựa trên lý thuyết hình thành hành động trí óc của P.Ia.Galperin Theo đó, để hình thành một khái niệm khoa học, cá nhân phải thực hiện lần lượt ba hình thức hành động: vật chất, lời nói và tinh thần

- Hình thức hành động vật chất: Chủ thể trực tiếp dùng các thao tác tay chân (vật chất) như tháo lắp, chuyển dời, sắp xếp lên các sự vật hiện tượng cụ thể làm cho thuộc tính (lôgic khái niệm) của sự vật hiện tượng bộc lộ ra ngoài Hành động vật chất là hình thức hành động đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng nhất đối với việc hình thành khái niệm

Ví dụ học sinh lớp 1 dùng tay để đếm các que tình, gộp các nắm que tính lại thành một tổng thể rồi đếm tổng thể (thực hiện lô gic của phép +)

- Hình thức hành động lời nói: dùng lời nói và các hình thức mă hoá, nghĩa là dùng

ký hiệu âm thanh hoặc là lời nói để diễn đạt lôgic của khái niệm đã được phát hiện Học sinh không còn dùng tay nữa mà dùng lơì nói diễn đạt lại hành động gộp và đếm vừa thực hiện: tay trái có 3 que tính, tay phải có 5 que tính, gộp lại thành một nắm; đếm được 8 que tính Hình thức hành động lời nói được thực hiện qua các bước: nói to, nói khẽ và nói thầm Lời nói to là lời nói mà những người khác cùng nghe được vì vậy, thầy giáo vẫn còn kiểm soát được hành động của học sinh Sau khi đảm bảo hành động nói to đúng, học sinh chuyển sang hành động với lời nói khẽ là lời nói vẫn phát ra âm thanh nhưng chỉ có chủ thể mới nghe được còn những người khác thì không Sau đó chuyển sang hành động với lời nói thầm là lời nói không còn phát ra tiếng nhưng các cơ quan phát âm vẫn hoạt động Đến đây, hành động với lời nói kết thúc và hành động học chuyển sang hình thức cao nhất của nó với lời nói bên trong

- Hình thức hành động tinh thần: hành động học được thể hiện dưới hình thức chủ thể thực hiện hành động lời nói nhưng các cơ quan phát âm không hoạt động nữa (ngậm miệng nói) - đó là lời nói bên trong- chính là sự suy nghĩ của chủ thể Đến đây, lôgíc khái niệm được chuyển hẳn vào trong đầu óc chủ thể và hoạt động học đạt được mục đích Từ đây chủ thể có thể dùng khái niệm như một phương tiện để giải quyết vấn đề thực tế hoặc chiếm lĩnh khái niệm mới Lời nói bên trong có đặc điểm cơ bản:

Là hình thức của tư duy thao tác, con người tư duy tức là con người đang tự nói với bản thân mình, đang thực hiện một quá trình hành động trong bình diện trí óc với thao tác, phương tiện, đối tượng đều ở dạng tinh thần

Diễn ra một cách tự động, quá trình hành động với ngôn ngữ bên trong diễn ra hầu như hoàn toàn tự động như một dòng chảy tự to, ít chịu sự tác động của ý chí con người (người ta khó bắt tư duy dung lại khoặc chuyển sang đối tượng khác…) Để kiểm soát

Trang 27

được tư duy, bắt nó theo ý mình con người phải trải qua một quá trình luyện tập khó khăn

và lâu dài (tập thiền)

Khác với lời nói bên ngoài phải đầy đủ, lời nói bên trong được rút gọn một cách tối đa, thường mỗi câu chỉ còn vị ngữ

Như vậy, đề lĩnh hội một khái niệm môn học, học sinh phải lần lượt thực hiện ba hình thức hành động cơ bản: hành động vật chất, hành động với lời nói và hành động tinh thần Trong đó hành động vật chất và hành động với lời nói to là hành động mà thầy giáo còn trực tiếp kiểm tra được để phát hiện những sai sót của trò để kịp thời điều chỉnh Khi hành động đã chuyển sang dạng lời nói bên trong thì chỉ có thể đánh giá nó một cách gián tiếp

Các loại hành động học theo lôgic nhận thức

V.V.Davưdov đã vận dụng một cách tổng hợp thành tựu của nhiều lý thuyết Tâm

lý học, đặc biệt là lý thuyết Tâm lý học của L.X.Vưgotxky, A.N.Leonchiev, P.Ia.Galperin, J.Bruner, ông cho rằng hoạt động học được thực hiện bằng 4 hành động cụ thể sau đây

- Hành động phân tích là hành động học đầu tiên nhằm phát hiện ra nguồn gốc xuất phát cũng như cấu trúc lôgíc của khái niệm Trong hành động này, dưới sự hướng dẫn của thầy, trò dùng các thao tác tay tác động lên khách thể (sự vật thật hoặc vật thay thế) để làm khái niệm đang ẩn tàng trừu tượng trong đó bộc lộ ra dưới dạng một lô gic hành động cụ thể và chiếm lĩnh nó Ví dụ, học sinh dùng tay để xác lập hai nắm que tính (bộ phận) sau đó gộp lại thành một nắm mới (tổng thể) rồi đếm để biết lượng que tính của nắm mới Bằng hành động này, lô gic của phép cộng đã được bộc lộ và học sinh nắm được nó: xác lập và đếm lượng các bộ phận, gộp các bộ phận thành một tổng thể, đếm tổng thể để biết lượng của nó Hành động phân tích chỉ được thực hiện trên một số lượng khách thể nhất định vì vậy kết quả của nó chỉ mang tính cụ thể còn khái niệm bao giờ cũng mang tính khái quát, là lô gic hành động cho một lớp vô số các khách thể có cùng bản chất Vì vậy nó cần phải được khái quát hóa Quá trình khái quát hóa logic hành động

đã được phát hiện trong dạy học truyền thống được thực hiện bằng con đường kinh nghiệm (qui nạp không hoàn toàn) Ví dụ học sinh khái quát hóa bằng việc thực hiện hết phép cộng 1+1, 1+2, 2+1, 2+2… nhưng không thể học hết mọi phép cộng và quan trọng

là không nắm được bản chất của phép cộng Khi gặp một tình huống cộng mới, học sinh vẫn có thể thực hiện đúng nhưng không thể chắc chắn Quan trọng hơn, học sinh học phép cộng mất rất nhiều thời gian (3 năm) Dạy học theo chiến lược hành động học của

Trang 28

V V Davưdov thực hiện khái quát hóa logic khái niệm hoàn toàn khác Đó là sau khi phát hiện logic này, học sinh sẽ khái quát hóa nó bằng hành động mô hình hóa

- Hành động mô hình hóa là hành động học mà học sinh dùng để diễn đạt một cách trực quan lôgíc khái niệm đã phát hiện được và đưa nó lên tầm khái quát hóa cao nhất dưới dạng các mô hình Các mô hình là cầu nối giữa để chuyển khái niệm từ hình thức vật chất bên ngoài thành hình thức tinh thần trong đầu óc chủ thể Hành động mô hình hóa có sản phẩm là các mô hình của khái niệm với 3 mức độ khái quát khác nhau Cụ thể:

Mô hình gần giống vật thật, là mô hình mà các vật thật cầm nắm được được thay thế bằng hình ảnh của chúng, học sinh không hành động trực tiếp bằng tay lên những hình ảnh đó được nữa Ví dụ thay cho que tính thật là hình ảnh các nhóm que tính trong việc học khái niệm cộng, trừ Mặc dù vẫn là hình ảnh trực quan, nhìn thấy được của các que tính nhưng học sinh không thể gộp (hay tách) chúng bằng tay nữa mà chỉ có thể làm điều đó trong trí óc Mặc dù tính trừu tượng và khái quát của lọai mô hình này cò n thấp vì chỉ có giá trị đối với một trường hợp cụ thể (ví dụ 5 que tính gộp với 3 que tính) nhưng

mô hình có thể biểu đạt được toàn bộ quá trình, vị trí các yếu tố và quan hệ của chúng trong hành động Với mô hình này, khái niệm đã rời khỏi các khách thể (vật thật) chứa đựng chúng

Mô hình biểu trưng là mô hình mà hình ảnh của vật thật được thay thế bằng các dấu hiệu biểu trưng (hình ảnh que tính được thay thế bằng các dấu x, ô vuông) Mô hình biểu trưng vẫn thể hiện trực quan lô gic khái niệm nhưng đã có tính khái quát cao hơn Vì các dấu hiệu biểu trưng không còn gắn với vật cụ thể (que tính, viên sỏi) mà thay thế cho bất kì sự vật thật nào (viên phấn, con gà, con vịt, bàn, ghế…) Vì vậy, lô gic khái niệm đã trở nên khái quát áp dụng cho một lớp tình huống khác nhau có cùng bản chất [(x x x) (x

x x x x)] => [x x x x x x x x] Tuy nhiên, mô hình này vẫn bị giới hạn ở một lớp trường hợp là 3 sự vật gộp với 5 sự vật còn không áp dụng được với các phép gộp có lượng phần

tử khác Mô hình này thể hiện trong các biểu đồ trong môn địa lý, hình vòng tuần hoàn ở môn sinh vật, mô hình cấu tạo phân tử trong môn hóa học, mô hình đoạn thẳng để mô tả quan hệ toán học của đề toán

Mô hình mã hóa: Là loại mô hình có trình độ khái quát cao nhất Lọai mô hình này

có tính chất quy ước, nó diễn tả một cách cô đọng nhất lôgíc của khái niệm Khi đó, mô hình không còn biểu đạt một cách trực quan lô gic khái niệm nữa mà được gửi vào các kí hiệu mà chỉ có người nắm vững qui ước mới hiểu được ý ngĩa của mô hình Ví dụ: các công thức trong toán học, vật lý, các chữ viết như lô gic phép cộng được diễn đạt bằng

Trang 29

công thức a + b =c với a và b là các bộ phận, + là thao tác gộp vào, c là tổng thể được gộp

tư a và b, dấu = là quan hệ giữa a gộp b với c Với mô hình mã hóa, lô gic khái niệm đạt tới mức cao nhất, áp dụng được cho mọi trường hợp khác nhau có cùng bản chất (gộp vào trong trường hợp a + b + c) Khi đó lô gic khái niệm đã không còn tính trực quan nữa và lọt hẳn vào đầu óc con người, trở thành phương tiện của tư duy Người học nắm được mô hình kí hiệu là đã có được khái niệm Mô hình mã hóa có 2 mặt: hình thức kí hiệu và nội dung hành động Nắm được kí hiệu (hiểu công thức, định nghĩa ) là chỉ mới nắm được hình thức; chỉ khi chủ thể thực hiện được lô gic của khái niệm thì mới thực sự nắm được khái niệm

- Hành động cụ thể hóa: Mô hình kí hiệu mà học sinh đã nắm được có đăẹc tínhlà khái quát và rút gọn đến mức độ tối đa Đó là cách thức giải quyết chung nhất cho một lớp tình huống có cùng bản chất Tuy nhiên, không phải cứ nắm được khái niệm là mặc nhiên chủ thể giải quyết được các tình huống này bởi vì cái bản chất trong mỗi tình huống thường bị che lấp bởi những cái riêng, cái không bản chất mà chỉ khi gạt được chúng chủ thể mới sử dụng lô gic khái niệm đã có để giải quyết Do đó, để sử dụng được các khái niệm vào thực tiễn, người học cần phải được luyện tập vận dụng chúng vào các tình huống khác nhau Hành động học mà người học vận dụng lô gic khái niệm vào giải quyết các tình huống cụ thể khác nhau có cùng bản chất được gọi là hành động cụ thể hóa Thực chất, hành động cụ thể hóa đồng thời là hành động để hình thành kĩ năng tương ứng với kiến thức đã học Trong quá trình học tập, sự vận dụng khái niệm trong hành động cụ thể hóa cũng có thể có nhiều mức độ khác nhau như: Đơn giản nhất là tìm được tình huống tương tự, lấy ví dụ minh họạ, nhận dạng được tình huống…cao hơn là vận dụng có suy luận, vận dụng để giải quyết các tình huống giả định (giải các bài tâp) Cao hơn nữa là vận dụng có tính sáng tạo, vận dụng vào giải quyết các tình huống của thực tiễn cuộc sống và hoạt động, vận dụng để lĩnh hội các khái niệm mới

Như vậy hành động học của học sinh trong hoạt động dạy học không chỉ đơn giản

là nghe giảng, ghi nhớ và ghi chép rồi trình bày lại kiến thức mà giáo viên đã truyền thụ

mà là một quá trình hành động tích cực của người học nhằm tác động lên đối tượng, làm

nó bộc lộ ra khỏi khách thể, khái quát hóa và chuyển nó thành hình thức tinh thần trong đầu óc của chính mình rồi đưa nó vận dụng vào thực tiễn

Các hành động học này có một qui trình chung giống nhau nhưng khi áp dụng để lĩnh hội mỗi khái niệm cụ thể lại rất khác nhau nên khi dạy học mỗi khái niệm, thầy phải hình thành hành động học tương ứng cho học sinh Muốn vậy, thầy phải hướng tới học

Trang 30

sinh, điều khiển quá trình hoạt động học của các em Trong quá trình dạy học người thầy phải biết đưa học sinh vào tình huống học, nêu câu hỏi, gợi ý, thiết kế qui trình hành động học cho học sinh đến mức thao tác và tổ chức, hướng dẫn học sinh tự mình thực hiện các hành động Nói các khác, thầy giáo là người thiết kế ra hành động học và tổ chức để học sinh thực hiện một cách tích cực các hành động học theo thiết kế Với những học sinh các lớp lớn và trong các tình huống học không quá khó khăn, thầy có thể nêu ra các qui trình hành động học trên lớp hoặc hành động tự học ở nhà để học sinh tư thực hiện còn thầy chỉ thực hiện chức năng kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá Đây là mức độ cao của việc thực hiện hành động học nhằm bước đầu hình thành năng lực tự học cho học sinh

7.1.3 Hình thành khái niệm, kỹ năng, kỹ xảo trong dạy học

7.1.3.1 Hình thành tri thức khoa học (Khái niệm) trong dạy học

a Khái niệm về khái niệm

Khái niệm là một nội dung căn bản của các khoa học nghiên cứu về nhận thức lý tính của con người Quan niệm về khái niệm của các khao học vừa có những điểm chung

cơ bản vừa có những điểm cụ thể riêng biệt do góc nhìn vấn đề khác nhau

- Ở mức độ tổng quát nhất, triết học quan niệm: Khái niệm là hình thức của tư duy trừu tượng, là kết quả của quá trình khái quát hóa và tách biệt (trong tư tưởng) các đối tượng thuộc về một lớp nào đó theo một số dấu hiệu đặc trưng nhất định của các đối tượng này Trong đó, dấu hiệu - đó là cái làm cho ta so sánh được đối tượng này với đối tượng khác Đó là sự hiện hữu hay thiếu vắng các tính chất nhất định nào đó ở đối tượng, hoặc là sự hiện hữu hay thiếu vắng quan hệ nào đó giữa đối tượng với các vật thể khác Dấu hiệu mà đối tượng tất yếu phải có, không thể thiếu, gọi là dấu hiệu cơ bản Dấu hiệu

mà đối tượng có thể có, cũng có thể không có, gọi là dấu hiệu không cơ bản

Nói các khác, khái niệm là hiểu biết của loài người về dấu hiệu chung và bản chất của một một loạt sự vật, hiện tượng nào đó

- Trên cơ sở khái niệm của triết học, tâm lý học tiếp cận vấn đề dưới góc độ bản chất tâm lý và sự hình thành khái niệm ở cá nhân Theo cách tiếp cận này, khái niệm là sản phẩm tâm lý có hình thức tồn tại vật chất (bên ngoài) và hình thức tồn tại tinh thần (bên trong) Khái niệm được phân thành hai cấp độ khác nhau về nguồn gốc và bản chất:

Khái niệm kinh nghiệm là những khái niệm xuất hiện trước và được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Nó là kết quả của quá trình khái quát hóa kinh nghiệm (tích lũy qua tri giác, quan sát hoặc hành động thực tiễn theo kiểu thử sai) dựa trên nhận thức cảm tính,

Trang 31

phản ánh những dấu hiệu chung, bề ngoài của một lớp các sự vật hiện tượng Khái niệm kinh nghiệm chưa phản ánh được những dấu hiệu bản chất của các sự vật và hiện tượng

vì vậy nó chỉ gíup con người hành động có kết quả trong những tình huống quen thuộc Khái niệm kinh nghiệm trong nhiều trường hợp có bản chất khác với khái niệm khoa học

Ví dụ khái niệm “củ” bao hàm cả một số loại vật có bản chất hoàn toàn khác như củ (quả) lạc, hạt (quả) thóc, củ (thân cây) gừng…

Khái niệm khoa học là đơn vị cấu thành của nhận thức khoa học của con người và

có bản chất khác với khái niệm kinh nghiệm Khái niệm khoa học phản ánh cái bản chất, qui luật của một lớp các sự vật, hiện tượng của hiện thực; là sản phẩm của sự khái quát hóa khoa học, khác hẳn với khái quát hóa kinh nghiệm Bởi vì cái bản chất, qui luật của

sự vật luôn tồn tại ở dạng ẩn tang trong khách thể, không bộc lộ ra bên ngoài một cách trực quan, cảm tính nên con người không thể trực tiếp nhận thức được chúng Để làm cái bản chất, qui luật của sự vật bộc lộ ra ngoài và chiếm lĩnh nó, nhà khoa học phải bằng hành động thực tiễn tác động đúng cách lên đối tượng Khái nệm khoa học là sản phẩm của hoạt động khoa học Với ý nghĩa là kết quả, khái niệm khoa học phản ánh bản thân các dấu hiệu bản chất sự vật (vật tính) Tuy nhiên, tâm lý học không chỉ tiếp cận nghiên cứu khái niệm dưới góc độ sản phẩm mà còn xem xét bản chất tâm lý và hình thành nó ở mỗi cá nhân Theo tiếp cận này, khái niệm khoa học được xem xét dưới góc độ lô gic biện chứng Theo đó, các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng chỉ được bộc lộ khi con người tác động lên nó bằng một hành động theo một lô gic thao tác chặt chẽ vói các phương tiện là các khái niệm khoa học tiên quyết đã có Nói cách khác, khi thực hiện được lô gic thao tác này lên đối tượng, con người lĩnh hội được khái niệm khoa học tương ứng Vì vậy, khái niệm khoa học có bản chất hành động và được hiểu là một lô gic các thao tác được con người sử dụng để phát hiện các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng Theo đó, sự hình thành khái niệm khoa học là quá trình cá nhân hình thành được một hành động mới theo lô gic của nó và hình thành được một năng lực người mới Khái niệm phải là sản phẩm tâm lý của cá nhân cụ thể

- Vai t ò của khái niệm khoa học: Khái niệm khoa học vừa là sản phẩm của hoạt động (hoạt động nghiên cứu của nhà khoa học; hoạt động lĩnh hội của người học), vừa là phương tiện của hoạt động của con người Mỗi lần có thêm một khái niệm khoa học mới

là một lần cá nhân có thêm thêm sức mạnh tinh thần, có thêm một năng lực hoạt động trí tuệ nói riêng và hoạt động sống nói chung

Trang 32

Khái niệm khoa học là sản phẩm và cũng là phương tiện của tư duy khoa học Ban đầu, quá trình tư duy tạo ra cho con người khái niệm Sau khi đã được lĩnh hội, khái niệm khoa học trở thành phương tiện mà nhờ nó con người có khả năng hành động để giải quyết hiệu quả một lớp các tình huống mà trước đây không giải quyết được Mặt khác khái niệm đã hình thành còn trở thành phương tiện để lĩnh hội những khái niệm mới để

có những năng lực mới Vì thế người ta nói, khái niệm là vũ khí, là sức mạnh để con người hoạt động sáng tạo, cải tạo hiện thực và thích nghi với cuộc sống mới

Đối với khoa học, khái niệm là đơn vị cấu thành của một khoa học Một khoa học thực chất là một hệ thống các khái niệm khoa học được liên kết với nhau theo thứ bậc Về tổng thể, khái niệm là những viên gạch xây nên tòa lâu đài nhận thức khoa học của con người Khái niệm khoa học là cơ sở, là nguyên lý của các công nghệ sản xuất tạo nên sự tiến bộ của xã hội hiện đại

b Bản chất tâm lý của quá trình hình thành khái niệm

Mỗi khái niệm khoa học có 3 hình thức tồn tại: hình thức vật chất là hình thức tồn tại chính thức và nguyên thủy của khái niệm (các dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng), sau khi con người bằng hành động làm nó bộc lộ và chiếm lĩnh nó thì nó tồn tại trong đầu óc con người dưới hình thức tinh thần, để lưu giữ và truyền đạt thông tin cho nhau, con người gửi khái niệm vào các kí hiệu ngôn ngữ Trong 3 hình thức trên, chỉ có hình thức thứ nhất và thứ hai chứa đựng khái niệm còn nội dung thứ ba chỉ có vỏ từ ngữ chứ không có khái niệm thực Trước đây, sự hình thành khái niệm được hiểu là quá trình

mà một người đã nắm được khái niệm dùng ngôn ngữ nói hay viết diễn đạt nó để truyền thụ, còn người cần khái niệm thì tiếp thu (nghe, hiểu định nghĩa, các đặc điểm khái niệm

và mô tả lại được nó) Với việc lĩnh hội khái niệm như vậy, một người có thể hiểu và trình bày được một khái niệm nhưng chưa thể có được năng lực thực hiện hành động tương ứng Tâm lý học hiện đại nhấn mạnh, lĩnh hội được một khái niệm là con người có thêm một năng lực hành động mới, tức là phải nắm và thực hiện được lô gic hành động của khái niệm Với quan niệm như vậy, quá trình hình thành khái niệm là quá trình chuyển chỗ của khái niệm từ các sự vật hiện tượng khách quan vào trong đầu óc (TL) của chủ thể, là quá trình chủ thể bằng hành động tích cực của mình tác động lên đối tượng theo một lô gic thao tác nhất định để làm đối tượng bộc lộ, nhờ đó đó nắm được bản chất của sự vật đồng thời hình thành được một hành động mới

Trong thực tiễn đời sống và dạy học, kết quả của việc lĩnh hội khái niệm ở người học có thể ở những trình độ khác nhau Cụ thể:

Trang 33

Mức 1: nhận biết, nhắc lại được khái niệm đã học như nhận được những sự vật, hiện tượng tương ứng với khái niệm hay nhắc lại định nghĩa, đặc điểm cơ bản của khái niệm Ở mức độ này, học sinh chỉ mới có biểu tượng về khái niệm

Mức 2: hiểu khái niệm đã học, trình bày, giải thích được khái niệm theo cách hiểu của cá nhân Ở mức này, học sinh đã nắm được lô gic hình thức của khái niệm

Mức 3: biết vận dụng khái niệm đã học để giải quyết những tình huống quen thuộc, tương tự trong học tập (giải bài tập), cuộc sống; ở mức độ này, các tình huống mới phải có hình thức không khác biệt với tình huống học (bài toán) Về nguyên tắc, đạt tới mức độ này, người học mới thực sự bước đầu nắm vững một khái niệm ở mức độ hành động (lô gic nội dung)

Mức 4: chủ thể vận dụng được khái niệm để giải quyết được những tình huống khác nhau nhưng có cùng bản chất với tình huống học hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập, cuộc sống và hoạt động một cách linh hoạt, sáng tạo Ở trình độ này, người học đã lĩnh hội được khái niệm ở mức độ nắm vững

Trong quá trình tổ chức cho người học hình thành một khái niệm, người dạy cần đảm bảo những điều kiện cơ bản sau:

- Tổ chức cho người học tác động vào khách thể bằng hành động đúng với lô gic khái niệm, để đối tượng tách ra khỏi khách thể, bộc lộ ra bên ngoài một cách trực quan, cảm tính để người học có và ghi nhớ biểu tượng về nó

- Hướng dẫn người học dùng ngôn ngữ ở các mức độ lời nói khác nhau để diễn đạt

lô gic khái niệm và chuyển nó vào trong đầu óc của chủ thể (dưới dạng lời nói bên trong)

- Tổ chức cho người học vận dụng khái niệm đã học vào giải quyết các tình huống khác nhau có cùng bản chất trong học tập và cuộc sống với độ khó tăng dần

- Để lĩnh hội một khái niệm mới, người học phải có đủ khái niệm cơ sở (làm phương tiện) và phải hoạt động học một cách tích cực

7.1.3.2 Quá trình hình thành khái niệm trong dạy học

Hình thành khái niệm khoa học cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình dạy học Để thực hiện nhiệm vụ này một cách hiệu quả, người giáo viên phải nắm vững và vận dụng được hiểu biết về bản thân khái niệm và bản chất tâm lý của sự hình thành khái niệm Sự hình thành mỗi khái niệm môn học có những điểm riêng biệt nhưng đều phải tuân theo những nguyên tác và qui trình chung Cụ thể:

Nguyên tắc chung của việc hình thành khái niệm trongh quá trình dạy học:

Trang 34

- Xác định chính xác đối tượng cần chiếm lĩnh (khái niệm và lôgíc hành động của khái niệm) và khách thể chứa đựng khái niệm (vật liệu học) Đồng thời phải xác định phương tiện và công cụ chiếm lĩnh

- Phải dẫn dắt học sinh một cách có ý thức đi qua qua tất cả các giai đoạn của quá trình hình thành hành động trí tuệ với khái niệm lĩnh hội

- Thực chất của sự lĩnh hội là sự thống nhất giữa cái tổng thể và cái cụ thể, cho nên trong quá trình hình thành khái niệm phải tổ chức tốt cả hai giai đoạn: chiếm lĩnh cái tổng quát (lô gic khái niệm) và chuyển cái tổng quát vào trong trường hợp cụ thể (dùng lô gic khái niệm để giải quyết các tình huống cụ thể khác với tình huống học

Cấu trúc chung của quá trình hình thành khái niệm Những nguyên tắc của sự hình thành khái niệm được cụ thể hóa thành qui trình hình thành khái niệm Qui trình này được cấu thành từ một hệ thống các bước theo một trình tự chặt chẽ mà học sinh phải thực hiện để lĩnh hội một cách chắc chắn khái niệm môn học Sau đây là các bước cơ bản của qui trình hình thành khái niệm trong dạy học:

Bước 1: Làm nảy sinh nhu cầu nhận thức của HS Nhu cầu nhận thức này là điểm xuất phát và là động lực của sự nhận thức Bước này nhằm hình thành tính tích cực nhận thức của học sinh - mặt chủ thể của động cơ học tập Muốn tạo được nhu cầu nhận thức ở học sinh phải tạo được tình huống có vấn đề và đưa được các em vào hoàn cảnh này Trong đó quan trọng nhất là: học sinh phải nhận thức được vấn đề và từ đó tạo ra mâu thuẫn giữa hoàn cảnh với cái học sinh đã có Mâu thuẫn này phá vỡ sự cân bằng trong hiện trạng nhận thức của người học, trở thành động lực thúc đẩy người học hành động giải quyết vấn đề, lĩnh hội được kiến thức để lập lại cân bằng trong nhận thức ở trình độ cao hơn Mặt khác, người dạy phải làm cho người học ý thức được nhiệm vụ phải thực hiện khi giải quyết vấn đề bằng cách hình thành cho họ biểu tượng về hành động phải thực hiện

Bước 2: Tổ chức cho học sinh hành động với khách thể, nhằm phát hiện đối tượng

- thuộc tính bản chất và mối quan hệ qui luật, qua đó làm bộc lộ lôgíc của khái niệm Ví dụ: Tháo lắp, sắp xếp, làm thí nghiệm, quan sát Cần chú ý là có khi chỉ cần làm sống lại những biểu tượng đã có ở người học về khái niệm

Bước 3: Hướng dẫn người học tách dấu hiệu bản chất ra khỏi dấu hiệu không bản chất, quan hệ qui luật ra khỏi các quan hệ ngẫu nhiên bằng các thao tác tư duy (phân tích,

so sánh đối tượng).Tính chính xác trong lĩnh hội từng khái niệm nói riêng và chất lượng học tập nói chung phụ thuộc vào khâu này

Ngày đăng: 26/05/2018, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w