- Tiếp thu cách viết nghị luận văn chương của Hoài Thanh để sáng tạo trong bài viết cá nhân.. * Đặt vấn đề: Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất của văn học Việt Na
Trang 1Tiết 106, 107
Đọc văn
MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA
(trích)
- Hoài
Thanh-I MỤC TIÊU BÀI HỌC
1 Kiến thức
Thông qua bài học, giúp học sinh (HS):
- Phân tích được quan niệm của Hoài Thanh về thơ mới mà điều cốt yếu là “tinh thần thơ mới”
- Có một cái nhìn tổng quan về phong trào thơ mới trên cơ sở so sánh nó với thơ cũ
- Thấy rõ nghệ thuật nghị luận văn chương khoa học, chặt chẽ, thấu đáo và cách diễn đạt tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc của tác giả
2 Kĩ năng
- Kĩ năng đọc hiểu một tác phẩm phê bình văn học
- Kĩ năng làm việc cá nhân, sáng tạo
- Tiếp thu cách viết nghị luận văn chương của Hoài Thanh để sáng tạo trong bài viết cá nhân
3 Thái độ
- Nâng cao năng lực thẩm mĩ, giúp HS biết cảm thụ cái đẹp của ngôn ngữ văn chương
- Trân trọng, yêu quý những thành tựu, tinh hoa văn học dân tộc và có cách nhìn, đánh giá đúng đắn về phong trào thơ mới
- Hiểu và đồng cảm với nỗi niềm của các nhà thơ mới
II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
- Phương pháp phân tích, bình giảng, đàm thoại, gợi mở
- Phương pháp tổ chức thảo luận, vấn đáp
Trang 2III CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ
1 Giáo viên
- Đọc SGK, SGV, TLTK, “Thi nhân Việt Nam”.
- Rút kinh nghiệm từ bài trước, soạn giáo án bài mới
2 Học sinh
- Học thuộc bài cũ, hoàn thành bài tập đã giao ở tiết học trước.
- Đọc SGK, SBT,TLTK để củng cố bài cũ và chuẩn bị bài mới
- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi ở SGK
IV NỘI DUNG LÊN LỚP
1 Ổn định tình hình lớp: 1 phút.
2 Kiểm tra bài cũ: 7 phút.
Hình thức kiểm tra: vấn đáp.
Câu hỏi kiểm tra bài:
- Em hãy nêu những luận điểm chính trong đoạn trích “Về luân lí xã hội nước
ta” của Phan Châu Trinh?
- Em hãy phân tích những điểm tiến bộ và hạn chế trong quan điểm tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh?
- Theo em, bài chính luận này có những đặc sắc gì về mặt nghệ thuật?
3 Dạy bài mới: 80 phút.
* Đặt vấn đề:
Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất của văn học Việt
Nam hiện đại “Cuộc đời của Hoài Thanh từ thuở thiếu thời cho đến lúc trái tim
ngừng đập là một chuỗi dài của những cuộc tìm kiếm đầy thích thú, mê say cái hay và
vẻ đẹp của văn chương Như một nhà địa chất cần mẫn và yêu nghề, Hoài Thanh đã phát hiện được không ít vàng ngọc của thơ ẩn trong lớp bụi thời gian hoặc trong các mạch chìm nổi của cuộc đời, nhất là trong hiện tại” (Từ Sơn) Hoài Thanh đã để lại
cho đời rất nhiều những tác phẩm phê bình văn học tài hoa và tinh tế, mà đỉnh cao là
cuốn “Thi nhân Việt Nam” Đoạn trích “Một thời đại trong thi ca” là đoạn trích tiêu
biểu cho tài năng thẩm bình văn học của con người tài hoa này
Trang 3THỜI
GIAN
HOẠT ĐỘNG CỦA
15’
5’
Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm
hiểu chung về cuộc đời, sự nghiệp
của tác giả và một số nét chính về
tác phẩm.
Hình thức tổ chức: vấn đáp, thuyết
trình
- GV: Dựa vào phần tiểu dẫn ở SGK,
em hãy cho biết một vài nét về cuộc
đời và sự nghiệp của Hoài Thanh?
HS trả lời câu hỏi
- GV yêu cầu HS làm rõ:
+ Hoài Thanh xuất thân trong một gia
đình như thế nào?
+ Ông sinh ra và lớn lên ở đâu?
+ Gia đình và quê hương có ảnh
hưởng gì đến con người và ngòi bút
sáng tác của Hoài Thanh?
+ Đặc điểm trong nghệ thuật thẩm
bình văn chương của Hoài Thanh là
gì?
- GV chốt ý, ghi bảng
HS chép bài vào vở
- GV: Giới thiệu về tác phẩm “Thi
nhân Việt Nam” (giới thiệu sách).
I Tìm hiểu chung:
1 Tác giả Hoài Thanh(1909-1982)
- Hoài Thanh sinh năm 1909, tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyên
- Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
- Thời đi học tham gia nhiều phong trào yêu nước Tháng 8/1945, ông tham gia cách mạng và làm Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc ở Huế Là Đại biểu Quốc hội (1960 -1964)
- Là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Lối phê bình thiên về thưởng thức và ghi nhận ấn tượng,
“lấy hồn tôi để hiểu hồn người”.
- Tác phẩm chính:
+ “Văn chương và hành động” (1936) + “Thi nhân Việt Nam” (1942).
+ “Nói chuyện Thơ kháng chiến”
(1950)
+ Phê bình và tiểu luận” (3 tập: 1960,
1965, 1971)
- Được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ
thuật năm 2000.
Trang 45’
- GV: Dựa vào SGK và hiểu biết
của bản thân, em hãy nêu vài nét về tác
phẩm “Thi nhân Việt Nam”?
HS trả lời
GV nhận xét
- GV: Tiểu luận “Một thời đại
trong thi ca” nằm ở vị trí nào trong
“Thi nhân Việt Nam”?
HS trả lời
- GV mở rộng: Tiểu luận “Một thời đại
trong thi ca”, đặt ở phần đầu của
cuốn“Thi nhân Việt Nam”, sau câu thơ
đề từ “Của tin gọi một chút này làm
ghi” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du),
sau bài viết “Cung chiêu anh hồn Tản
Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) –
người đã dạo những bản đàn mở đầu
cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương
sắp sửa”, 2 bài thơ của Tản Đà; và
trước phần hợp tuyển của các nhà thơ
mới
- GV: Em hãy nêu vị trí của đoạn trích
“Một thời đại trong thi ca” trong bài
tiểu luận cùng tên?
HS trả lời
- GV yêu cầu một học sinh đọc đoạn
trích
HS đọc đoạn trích
2 Tác phẩm “Thi nhân Việt Nam” và tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”.
- “Thi nhân Việt Nam” là bản tổng kết
một sự kiện văn học lớn: phong trào
thơ mới - “cuộc cách mạng trong thi
ca” Việt Nam đầu thế kỉ XX Tác
phẩm có giá trị khoa học, là áng văn phê bình bất hủ
- Tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, nằm ở phần đầu của cuốn“Thi nhân
Việt Nam” Đây là bài tiểu luận hết sức
công phu, tổng kết một cách toàn diện, sâu sắc và đầy sức thuyết phục về phong trào thơ mới
3 Đoạn trích “Một thời đại trong thi ca”
a Vị trí: nằm cuối phần tiểu luận cùng
tên mở đầu cho “Thi nhân Việt Nam”.
Trang 522’
GV nhận xét cách đọc Cần kết hợp
nhiều giọng đọc: có đoạn trầm ngâm,
suy nghĩ, có đoạn rõ ràng, mạch lạc, có
đoạn duyên dáng, bay bổng…
- GV: Đoạn trích này thuộc thể
loại nào?
HS trả lời câu hỏi
- GV giới thiệu yêu cầu và đặc điểm
của một tác phẩm nghị luận nói chung
và một tác phẩm nghị luận văn chương
nói riêng
-GV: Em hãy chia bố cục đoạn trích và
nêu nội dung chính của từng phần?
HS chia bố cục và phát biểu
GV nhận xét, ghi bảng
HS chép bài
Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh
đọc hiểu đoạn trích.
Hình thức: Vấn đáp, thuyết trình.
-GV: Khi xác định tinh thần thơ mới
chúng ta thường gặp khó khăn gì?
Câu hỏi gợi ý:
+Em đánh giá như thế nào về hai câu
thơ được tác giả trích dẫn ở phần đầu
đoạn trích?
“Người giai nhân: bến đợi dưới cây
b Thể loại: nghị luận văn chương.
c Bố cục: 3 phần:
- P1: “Bây giờ hãy” “nhìn vào đại
thể”: Nêu vấn đề đi tìm tinh thần thơ
mới, những khó khăn và phương pháp thực hiện
- P2: “Cứ đại thể” “một lòng tin đầy
đủ”: Phân tích, lí giải nội dung tinh
thần thơ mới và bi kịch của nó.
- P3: Còn lại: cách các nhà thơ mới giải quyết bi kịch của mình
II Tìm hiểu đoạn trích
1 Nguyên tắc xác định thơ mới và thơ cũ
- Khó khăn:
+ “…trời đất không phải dựng lên
cùng một lần”, “hôm nay phôi thai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ”: Thơ mới và thơ cũ
không có sự phân biệt rạch ròi dễ nhận ra
Trang 6Tình du khách: tình qua không buộc
chặt”
Và
“Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ!
Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ?”
+ Hai câu thơ được tác giả trích dẫn
với dụng ý gì?
- GV chốt ý: Tác giả trích dẫn hai câu
thơ: một câu thơ hiện đại lại chứa đựng
những hình ảnh mang tính ước lệ, đậm
chất cổ điển, một câu thơ trung đại lại
mang màu sắc hiện đại Đó là một cách
gợi mở rất khéo của tác giả, nó đặt ra
trong tâm trí độc giả một dấu chấm hỏi
về cái ranh giới đích thực giữa hai thời
đại thơ ca
- GV: Để giải tỏa sự vướng mắc trong
nhận thức của độc giả, Hoài Thanh đã
xác lập những nguyên tắc cốt yếu khi
đi tìm tinh thần thơ mới Đó là nguyên
tắc gì?
HS trả lời
-GV: Tại sao phải thực hiện nguyên tắc
đó?
HS trả lời
GV chốt ý, ghi bảng
HS ghi bài vào vở
- GV: Em thấy các nguyên tắc mà Hoài
+ “Khốn nỗi cái tầm thường cái lố
lăng chẳng phải của riêng thời nào”:
Trong thơ mới, thơ cũ đều có những bài hay, bài dở, bài hay ít, bài dở
nhiều
=> Bằng những câu văn giả định, cảm thán, với một giọng điệu thân mật, gần gũi, thiết tha, bức xúc mà chân thành, tác giả đã nêu lên được cái khó khăn trong việc xác định tinh thần thơ mới
- Quan điểm của Hoài Thanh:
+ “sánh bài hay với bài hay”: Căn cứ
vào cái hay, không căn cứ vào bài dở
+ “phải nhìn vào đại thể”: Phải căn cứ
vào cái chung, cái đại thể, không căn
cứ vào cái cục bộ, tiểu tiết
- Lí do:
+ Vì chỉ có bài hay mới nói lên được tinh thần của thơ ca đích thực
+ Vì các thời đại thơ ca luôn nối tiếp
nhau“Hôm nay phôi thai từ hôm qua,
và trong cái mới vẫn còn rơi rớt ít nhiều cái cũ.”
=> Đây là quan điểm đúng đắn, khoa
học và giàu sức thuyết phục
Trang 7Thanh đưa ra để xác định tinh thần thơ
mới như thế nào?
HS trả lời
- GV: Em có nhận xét gì về nghệ thuật
lập luận của tác giả trong đoạn này?
Nhận xét: Lập luận chặt chẽ, thể hiện cái nhìn biện chứng, khách quan, khoa học của tác giả về một vấn đề văn học mới mẻ và phức tạp
(Hết tiết 1- Chuyển tiết 2)
THỜI
GIAN
HOẠT ĐỘNG CỦA
25’ - GV: Hoài Thanh khẳng định
tinh thần thơ mới kết đọng trong một
chữ tôi Đó là phát hiện mới mẻ và
sáng tạo của Hoài Thanh Để làm nổi
bật điều này, tác giả đã triển khai
theo 3 luận cứ chính:
+ Cái ta trong thơ cũ và cái tôi trong
thơ mới
+ Sự phát triển của cái tôi thơ mới.
+ Bi kịch của cái tôi trong thơ mới.
- GV: Cái ta trong thơ cũ và cái
tôi trong thơ mới khác nhau cơ bản ở
điểm nào?
GV gợi ý bằng cách đối sánh các tác
phẩm thơ mới và thơ cũ để học sinh rút
ra nhận xét (yêu cầu HS nhắc lại một
số tác phẩm thơ cũ và thơ mới đã được
học và so sánh)
HS trả lời
GV mở rộng: Trong xã hội cũ, cái tôi
cá nhân bị nhạt nhòa trước cái ta chung
của cộng đồng dân tộc “Xã hội Việt
2 Nội dung của tinh thần thơ mới:
sự khẳng định cái tôi và bi kịch của
cái tôi thơ mới
a Cái ta trong thơ cũ và cái tôi
trong thơ mới
“Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và thời nay – hay thơ mới – có thể gồm lại trong hai chữ tôi và ta”.
- Cái ta- thơ cũ:
+ Nghiêng về ý thức cộng đồng
+ Thi nhân xưa không dám dùng chữ
tôi, “không tự xưng”, “ẩn mình sau chữ ta”.
- Cái tôi- thơ mới:
Trang 8Nam từ xưa đã không có cá nhân”.
Chủ nghĩa phi ngã chi phối văn
chương suốt từ thế kỉ X đến thế kỉ
XIX Hình ảnh của một con người phải
mang tầm vóc của giang sơn “Hoành
sóc giang san cáp kỉ thu”, khát vọng
của cá nhân cũng phải thấu đạt khát
vọng của đất trời (“Đã mang tiếng ở
trong trời đất/ Phải có danh gì với núi
sông”) Ngay đến những năm đầu thế
kỉ XX, Phan Bội Châu chan chứa nhiệt
tình đến thế mà vẫn xuất phát từ thân
nam nhi: “Sinh vi nam tử yếu hi kì”
(Sinh làm nam nhi phải mong chuyện
khác thường)
Nếu các nhà thơ xưa không dám xưng
tôi thì các nhà thơ mới xưng tôi một
cách mạnh mẽ, hào sảng (Dẫn chứng:
“Vội vàng”, “Tương tư”…).
- GV: Trong thơ cũ, cái tôi có xuất hiện
hay không? Em hãy nói rõ về biểu hiện
của cái tôi trong thơ cũ?
GV gợi ý:
+ Kể một vài bài thơ thuộc văn học
trung đại đã xuất hiện ý thức cá nhân
và định hướng cho HS nhận thức về
cái tôi trong thơ cũ.
+Lí giải các hiện tượng cá biệt trong
thơ cũ: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du,
Nguyễn Công Trứ…
HS trả lời
+ Nghiêng về ý thức cá nhân
+ Mạnh mẽ xưng tôi, mạnh mẽ thể
hiện cái tôi cá nhân, cá thể
- Trong văn học trung đại:
+“Thảng hoặc họ cũng ghi hình ảnh
họ trong thơ văn”.
+ “Họ cũng dùng chữ tôi để nói chuyện với người khác”.
+ “Nhưng không một lần nào dám dùng chữ tôi để nói chuyện với mình
và với tất cả mọi người”.
=>Có những bậc kì tài để lại dấu ấn của học trong thơ văn, thỉnh thoảng
dùng chữ tôi nhưng nó mờ nhạt, chìm
đắm trong cái chung và không phải cái
tôi với ý nghĩa tuyệt đối.
Trang 9-GV: Cái tôi với ý nghĩa tuyệt đối xuất
hiện từ khi nào?
Hs trả lời
-GV: Khi mới xuất hiện cái tôi ấy hiện
ra như thế nào ? Tại sao ban đầu người
ta ác cảm nhưng sau đó lại đồng cảm
với cái tôi thơ mới?
HS trả lời
GV mở rộng: Khi cái tôi bắt đầu cất
tiếng nói đầu tiên thì công chúng cảm
thấy khó chịu, bởi vì nó quá lạ lẫm, nó
khiến người ta “dị ứng” Cái tôi mang
dấu ấn của phương Tây, người Việt
Nam, trừ bộ phận Tây học, vẫn còn
mang nặng tư tưởng Nho gia, bảo thủ,
không muốn thay đổi tư duy nhận
thức
- GV: Sau một thời gian tiếp xúc,
thái độ của mội người đối với thơ mới
như thế nào?
HS trả lời
GV nhấn mạnh: Dần dần, người ta
nhận ra cái tôi thật đáng thương và tội
nghiệp, bởi vì thân phận của nó cũng
chính là thân phận của mỗi con người
trên mảnh đất lắm đau thương này, bởi
vì, chính nó đã khơi thấu nỗi niềm của
những con người mất nước, bế tắc
trước thời cuộc
-GV yêu cầu một HS đọc lại đoạn
b Sự vận động của cái tôi thơ mới
- “Không biết đích ngày nào” cái tôi
với ý nghĩa tuyệt đối xuất hiện giữa thi đàn Việt Nam
- Khi mới xuất hiện : “Nó thực bỡ
ngỡ, như lạc loài nơi đất khách” => Mọi người thấy khó chịu, ác cảm
vì “nó mang theo một quan niệm chưa
từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân”.
- Lâu dần: “Nó mất dần cái vẻ bỡ
ngỡ Nó được vô số người quen Người ta còn thấy nó đáng thương.
Mà thật nó tội nghiệp quá”.
=> mọi người quen dần, thương cảm
và bắt đầu yêu thích thơ mới
c Bi kịch của cái tôi trong thơ mới
Trang 10“Thi nhân ta cơ hồ…một lòng tin đầy
đủ”.
- GV giải thích thuật ngữ bi kịch để
bước đầu định hướng cho HS phân tích
bi kịch của các nhà thơ mới
-GV: Bi kịch đầu tiên của cái tôi thơ
mới là bi kịch của cái tôi bé nhỏ, tội
nghiệp Vậy theo em, vì sao tác giả lại
cho rằng “chữ tôi , với cái nghĩa tuyệt
đối của nó” lại “đáng thương”
và đáng “tội nghiệp”?
HS trả lời
GV mở rộng: Nội dung của thơ mới là
bày tỏ nỗi niềm giao cảm với thiên
nhiên, con người, với tình yêu và cả
tôn giáo, cốt sao giãi bày được sự cô
đơn, nỗi buồn của người cầm bút
-GV: Đoạn văn nào thể hiện rõ nhất bi
kịch “mất bề rộng”? Hãy chỉ ra những
đại ý của đoạn văn đó?
GV gợi ý:
+ “Bề rộng” là gì? “ Mất bề rộng” là
thế nào?
+ “ Bề sâu” là gì? “Đi tìm bề sâu” là
sao?
+Tại sao tác giả lại nói “càng đi sâu
càng thấy lạnh”?
+ Trong bi kịch chung, các nhà thơ đã
lựa chọn lối đi như thế nào? Bi kịch
riêng của từng người ra sao?
HS trả lời
- GV khẳng định: Đoạn văn:
-Bi kịch của cái tôi bé nhỏ, tội nghiệp:
+ Nó “mất hết cốt cách hiên ngang
ngày trước”.
+ “Chữ ta với họ to rộng quá”.
+ Nó “rên rỉ”, “nói cái khổ sở”,
“thảm hại”.
- Bi kịch “mất bề rộng”:
“ Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng
Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”
+ Nguyên nhân bi kịch: “mất bề
rộng”- cái tôi không tìm được tiếng
nói chung với tất cả mọi người
+ Con đường vượt thoát: “đi tìm bề
Trang 11“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ
tôi…cùng Huy Cận” đã khái quát
chính xác, sâu sắc những biểu hiện
chung, riêng, gần nhau và khác nhau
của tinh thần thơ mới với phong cách
- tư tưởng của các nhà thơ tiêu biểu
Đặc sắc của đoạn văn: ngắn gọn, khái
quát, cụ thể, không những chỉ ra
nguyên nhân mà còn thấy cả tiến trình
và báo trước kết quả của tinh thần thơ
mới
-GV: Hoài Thanh viết: “Phương Tây
đã giao hồn ta lại cho ta Nhưng ta
bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy
thiếu một điều, một điều cần hơn trăm
nghìn điều khác: Một niềm tin đầy
đủ” Tại sao các nhà thơ mới lại :
“mất đi một niềm tin đầy đủ”?
HS trả lời
-GV: Em hãy nhận xét về văn phong
và cách lập luận của Hoài Thanh trong
đoạn này?
HS trả lời
GV nhận xét và bổ sung ý
sâu” – đào sâu vào cái tôi cá nhân.
+ Mỗi nhà thơ lựa chọn một con
đường vượt thoát khác nhau “thoát
lên tiên”, “phiêu lưu trong trường tình”, “điên cuồng”, “đắm say”…
+ Kết quả: “động tiên đã khép, tình
yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ” Và “Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”
=> “ Chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn
và nhất là xôn xao như thế”.
- Bi kịch : mất “một lòng tin đầy đủ”:
+ Cứ đi tìm bề sâu, cái tôi cực đoan
rồi bàng hoàng nhận ra ta thiếu một
điều: “một lòng tin đầy đủ”
+ Không còn có thể nương tựa vào
một cái gì không di dịch như cái ta
thuở trước
=>“Thơ mới nói lên cái bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi trong hồn người thanh niên”.
Nhận xét: Nhận định xác đáng, tinh
tế, câu văn mềm mại uyển chuyển, giọng văn đồng cảm, chia sẻ Tác giả còn khắc hoạ bi kịch bằng hình ảnh so sánh độc đáo tinh tế Việc chỉ ra bi
kịch của cái tôi thơ mới thể hiện đóng
góp xã hội quan trọng của Hoài Thanh