1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Một thời đại trong thi ca

15 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 53,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tiếp thu cách viết nghị luận văn chương của Hoài Thanh để sáng tạo trong bài viết cá nhân.. * Đặt vấn đề: Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất của văn học Việt Na

Trang 1

Tiết 106, 107

Đọc văn

MỘT THỜI ĐẠI TRONG THI CA

(trích)

- Hoài

Thanh-I MỤC TIÊU BÀI HỌC

1 Kiến thức

Thông qua bài học, giúp học sinh (HS):

- Phân tích được quan niệm của Hoài Thanh về thơ mới mà điều cốt yếu là “tinh thần thơ mới”

- Có một cái nhìn tổng quan về phong trào thơ mới trên cơ sở so sánh nó với thơ cũ

- Thấy rõ nghệ thuật nghị luận văn chương khoa học, chặt chẽ, thấu đáo và cách diễn đạt tài hoa, tinh tế, giàu cảm xúc của tác giả

2 Kĩ năng

- Kĩ năng đọc hiểu một tác phẩm phê bình văn học

- Kĩ năng làm việc cá nhân, sáng tạo

- Tiếp thu cách viết nghị luận văn chương của Hoài Thanh để sáng tạo trong bài viết cá nhân

3 Thái độ

- Nâng cao năng lực thẩm mĩ, giúp HS biết cảm thụ cái đẹp của ngôn ngữ văn chương

- Trân trọng, yêu quý những thành tựu, tinh hoa văn học dân tộc và có cách nhìn, đánh giá đúng đắn về phong trào thơ mới

- Hiểu và đồng cảm với nỗi niềm của các nhà thơ mới

II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

- Phương pháp phân tích, bình giảng, đàm thoại, gợi mở

- Phương pháp tổ chức thảo luận, vấn đáp

Trang 2

III CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ

1 Giáo viên

- Đọc SGK, SGV, TLTK, “Thi nhân Việt Nam”.

- Rút kinh nghiệm từ bài trước, soạn giáo án bài mới

2 Học sinh

- Học thuộc bài cũ, hoàn thành bài tập đã giao ở tiết học trước.

- Đọc SGK, SBT,TLTK để củng cố bài cũ và chuẩn bị bài mới

- Soạn bài theo hệ thống câu hỏi ở SGK

IV NỘI DUNG LÊN LỚP

1 Ổn định tình hình lớp: 1 phút.

2 Kiểm tra bài cũ: 7 phút.

Hình thức kiểm tra: vấn đáp.

Câu hỏi kiểm tra bài:

- Em hãy nêu những luận điểm chính trong đoạn trích “Về luân lí xã hội nước

ta” của Phan Châu Trinh?

- Em hãy phân tích những điểm tiến bộ và hạn chế trong quan điểm tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh?

- Theo em, bài chính luận này có những đặc sắc gì về mặt nghệ thuật?

3 Dạy bài mới: 80 phút.

* Đặt vấn đề:

Hoài Thanh là một trong những nhà phê bình xuất sắc nhất của văn học Việt

Nam hiện đại “Cuộc đời của Hoài Thanh từ thuở thiếu thời cho đến lúc trái tim

ngừng đập là một chuỗi dài của những cuộc tìm kiếm đầy thích thú, mê say cái hay và

vẻ đẹp của văn chương Như một nhà địa chất cần mẫn và yêu nghề, Hoài Thanh đã phát hiện được không ít vàng ngọc của thơ ẩn trong lớp bụi thời gian hoặc trong các mạch chìm nổi của cuộc đời, nhất là trong hiện tại” (Từ Sơn) Hoài Thanh đã để lại

cho đời rất nhiều những tác phẩm phê bình văn học tài hoa và tinh tế, mà đỉnh cao là

cuốn “Thi nhân Việt Nam” Đoạn trích “Một thời đại trong thi ca” là đoạn trích tiêu

biểu cho tài năng thẩm bình văn học của con người tài hoa này

Trang 3

THỜI

GIAN

HOẠT ĐỘNG CỦA

15’

5’

Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm

hiểu chung về cuộc đời, sự nghiệp

của tác giả và một số nét chính về

tác phẩm.

Hình thức tổ chức: vấn đáp, thuyết

trình

- GV: Dựa vào phần tiểu dẫn ở SGK,

em hãy cho biết một vài nét về cuộc

đời và sự nghiệp của Hoài Thanh?

HS trả lời câu hỏi

- GV yêu cầu HS làm rõ:

+ Hoài Thanh xuất thân trong một gia

đình như thế nào?

+ Ông sinh ra và lớn lên ở đâu?

+ Gia đình và quê hương có ảnh

hưởng gì đến con người và ngòi bút

sáng tác của Hoài Thanh?

+ Đặc điểm trong nghệ thuật thẩm

bình văn chương của Hoài Thanh là

gì?

- GV chốt ý, ghi bảng

HS chép bài vào vở

- GV: Giới thiệu về tác phẩm “Thi

nhân Việt Nam” (giới thiệu sách).

I Tìm hiểu chung:

1 Tác giả Hoài Thanh(1909-1982)

- Hoài Thanh sinh năm 1909, tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyên

- Xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo ở huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

- Thời đi học tham gia nhiều phong trào yêu nước Tháng 8/1945, ông tham gia cách mạng và làm Chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc ở Huế Là Đại biểu Quốc hội (1960 -1964)

- Là một trong những nhà phê bình văn học xuất sắc nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại Lối phê bình thiên về thưởng thức và ghi nhận ấn tượng,

“lấy hồn tôi để hiểu hồn người”.

- Tác phẩm chính:

+ “Văn chương và hành động” (1936) + “Thi nhân Việt Nam” (1942).

+ “Nói chuyện Thơ kháng chiến”

(1950)

+ Phê bình và tiểu luận” (3 tập: 1960,

1965, 1971)

- Được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ

thuật năm 2000.

Trang 4

5’

- GV: Dựa vào SGK và hiểu biết

của bản thân, em hãy nêu vài nét về tác

phẩm “Thi nhân Việt Nam”?

HS trả lời

GV nhận xét

- GV: Tiểu luận “Một thời đại

trong thi ca” nằm ở vị trí nào trong

“Thi nhân Việt Nam”?

HS trả lời

- GV mở rộng: Tiểu luận “Một thời đại

trong thi ca”, đặt ở phần đầu của

cuốn“Thi nhân Việt Nam”, sau câu thơ

đề từ “Của tin gọi một chút này làm

ghi” (“Truyện Kiều” – Nguyễn Du),

sau bài viết “Cung chiêu anh hồn Tản

Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) –

người đã dạo những bản đàn mở đầu

cho một cuộc hòa nhạc tân kì đương

sắp sửa”, 2 bài thơ của Tản Đà; và

trước phần hợp tuyển của các nhà thơ

mới

- GV: Em hãy nêu vị trí của đoạn trích

“Một thời đại trong thi ca” trong bài

tiểu luận cùng tên?

HS trả lời

- GV yêu cầu một học sinh đọc đoạn

trích

HS đọc đoạn trích

2 Tác phẩm “Thi nhân Việt Nam” và tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”.

- “Thi nhân Việt Nam” là bản tổng kết

một sự kiện văn học lớn: phong trào

thơ mới - “cuộc cách mạng trong thi

ca” Việt Nam đầu thế kỉ XX Tác

phẩm có giá trị khoa học, là áng văn phê bình bất hủ

- Tiểu luận “Một thời đại trong thi ca”, nằm ở phần đầu của cuốn“Thi nhân

Việt Nam” Đây là bài tiểu luận hết sức

công phu, tổng kết một cách toàn diện, sâu sắc và đầy sức thuyết phục về phong trào thơ mới

3 Đoạn trích “Một thời đại trong thi ca”

a Vị trí: nằm cuối phần tiểu luận cùng

tên mở đầu cho “Thi nhân Việt Nam”.

Trang 5

22’

GV nhận xét cách đọc Cần kết hợp

nhiều giọng đọc: có đoạn trầm ngâm,

suy nghĩ, có đoạn rõ ràng, mạch lạc, có

đoạn duyên dáng, bay bổng…

- GV: Đoạn trích này thuộc thể

loại nào?

HS trả lời câu hỏi

- GV giới thiệu yêu cầu và đặc điểm

của một tác phẩm nghị luận nói chung

và một tác phẩm nghị luận văn chương

nói riêng

-GV: Em hãy chia bố cục đoạn trích và

nêu nội dung chính của từng phần?

HS chia bố cục và phát biểu

GV nhận xét, ghi bảng

HS chép bài

Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh

đọc hiểu đoạn trích.

Hình thức: Vấn đáp, thuyết trình.

-GV: Khi xác định tinh thần thơ mới

chúng ta thường gặp khó khăn gì?

Câu hỏi gợi ý:

+Em đánh giá như thế nào về hai câu

thơ được tác giả trích dẫn ở phần đầu

đoạn trích?

“Người giai nhân: bến đợi dưới cây

b Thể loại: nghị luận văn chương.

c Bố cục: 3 phần:

- P1: “Bây giờ hãy” “nhìn vào đại

thể”: Nêu vấn đề đi tìm tinh thần thơ

mới, những khó khăn và phương pháp thực hiện

- P2: “Cứ đại thể” “một lòng tin đầy

đủ”: Phân tích, lí giải nội dung tinh

thần thơ mới và bi kịch của nó.

- P3: Còn lại: cách các nhà thơ mới giải quyết bi kịch của mình

II Tìm hiểu đoạn trích

1 Nguyên tắc xác định thơ mới và thơ cũ

- Khó khăn:

+ “…trời đất không phải dựng lên

cùng một lần”, “hôm nay phôi thai từ hôm qua và trong cái mới vẫn còn rớt lại ít nhiều cái cũ”: Thơ mới và thơ cũ

không có sự phân biệt rạch ròi dễ nhận ra

Trang 6

Tình du khách: tình qua không buộc

chặt”

“Ô hay! Cảnh cũng ưa người nhỉ!

Ai thấy ai mà chẳng ngẩn ngơ?”

+ Hai câu thơ được tác giả trích dẫn

với dụng ý gì?

- GV chốt ý: Tác giả trích dẫn hai câu

thơ: một câu thơ hiện đại lại chứa đựng

những hình ảnh mang tính ước lệ, đậm

chất cổ điển, một câu thơ trung đại lại

mang màu sắc hiện đại Đó là một cách

gợi mở rất khéo của tác giả, nó đặt ra

trong tâm trí độc giả một dấu chấm hỏi

về cái ranh giới đích thực giữa hai thời

đại thơ ca

- GV: Để giải tỏa sự vướng mắc trong

nhận thức của độc giả, Hoài Thanh đã

xác lập những nguyên tắc cốt yếu khi

đi tìm tinh thần thơ mới Đó là nguyên

tắc gì?

HS trả lời

-GV: Tại sao phải thực hiện nguyên tắc

đó?

HS trả lời

GV chốt ý, ghi bảng

HS ghi bài vào vở

- GV: Em thấy các nguyên tắc mà Hoài

+ “Khốn nỗi cái tầm thường cái lố

lăng chẳng phải của riêng thời nào”:

Trong thơ mới, thơ cũ đều có những bài hay, bài dở, bài hay ít, bài dở

nhiều

=> Bằng những câu văn giả định, cảm thán, với một giọng điệu thân mật, gần gũi, thiết tha, bức xúc mà chân thành, tác giả đã nêu lên được cái khó khăn trong việc xác định tinh thần thơ mới

- Quan điểm của Hoài Thanh:

+ “sánh bài hay với bài hay”: Căn cứ

vào cái hay, không căn cứ vào bài dở

+ “phải nhìn vào đại thể”: Phải căn cứ

vào cái chung, cái đại thể, không căn

cứ vào cái cục bộ, tiểu tiết

- Lí do:

+ Vì chỉ có bài hay mới nói lên được tinh thần của thơ ca đích thực

+ Vì các thời đại thơ ca luôn nối tiếp

nhau“Hôm nay phôi thai từ hôm qua,

và trong cái mới vẫn còn rơi rớt ít nhiều cái cũ.”

=> Đây là quan điểm đúng đắn, khoa

học và giàu sức thuyết phục

Trang 7

Thanh đưa ra để xác định tinh thần thơ

mới như thế nào?

HS trả lời

- GV: Em có nhận xét gì về nghệ thuật

lập luận của tác giả trong đoạn này?

 Nhận xét: Lập luận chặt chẽ, thể hiện cái nhìn biện chứng, khách quan, khoa học của tác giả về một vấn đề văn học mới mẻ và phức tạp

(Hết tiết 1- Chuyển tiết 2)

THỜI

GIAN

HOẠT ĐỘNG CỦA

25’ - GV: Hoài Thanh khẳng định

tinh thần thơ mới kết đọng trong một

chữ tôi Đó là phát hiện mới mẻ và

sáng tạo của Hoài Thanh Để làm nổi

bật điều này, tác giả đã triển khai

theo 3 luận cứ chính:

+ Cái ta trong thơ cũ và cái tôi trong

thơ mới

+ Sự phát triển của cái tôi thơ mới.

+ Bi kịch của cái tôi trong thơ mới.

- GV: Cái ta trong thơ cũ và cái

tôi trong thơ mới khác nhau cơ bản ở

điểm nào?

GV gợi ý bằng cách đối sánh các tác

phẩm thơ mới và thơ cũ để học sinh rút

ra nhận xét (yêu cầu HS nhắc lại một

số tác phẩm thơ cũ và thơ mới đã được

học và so sánh)

HS trả lời

GV mở rộng: Trong xã hội cũ, cái tôi

cá nhân bị nhạt nhòa trước cái ta chung

của cộng đồng dân tộc “Xã hội Việt

2 Nội dung của tinh thần thơ mới:

sự khẳng định cái tôi và bi kịch của

cái tôi thơ mới

a Cái ta trong thơ cũ và cái tôi

trong thơ mới

“Cứ đại thể thì tất cả tinh thần thời xưa – hay thơ cũ – và thời nay – hay thơ mới – có thể gồm lại trong hai chữ tôi và ta”.

- Cái ta- thơ cũ:

+ Nghiêng về ý thức cộng đồng

+ Thi nhân xưa không dám dùng chữ

tôi, “không tự xưng”, “ẩn mình sau chữ ta”.

- Cái tôi- thơ mới:

Trang 8

Nam từ xưa đã không có cá nhân”.

Chủ nghĩa phi ngã chi phối văn

chương suốt từ thế kỉ X đến thế kỉ

XIX Hình ảnh của một con người phải

mang tầm vóc của giang sơn “Hoành

sóc giang san cáp kỉ thu”, khát vọng

của cá nhân cũng phải thấu đạt khát

vọng của đất trời (“Đã mang tiếng ở

trong trời đất/ Phải có danh gì với núi

sông”) Ngay đến những năm đầu thế

kỉ XX, Phan Bội Châu chan chứa nhiệt

tình đến thế mà vẫn xuất phát từ thân

nam nhi: “Sinh vi nam tử yếu hi kì”

(Sinh làm nam nhi phải mong chuyện

khác thường)

Nếu các nhà thơ xưa không dám xưng

tôi thì các nhà thơ mới xưng tôi một

cách mạnh mẽ, hào sảng (Dẫn chứng:

“Vội vàng”, “Tương tư”…).

- GV: Trong thơ cũ, cái tôi có xuất hiện

hay không? Em hãy nói rõ về biểu hiện

của cái tôi trong thơ cũ?

GV gợi ý:

+ Kể một vài bài thơ thuộc văn học

trung đại đã xuất hiện ý thức cá nhân

và định hướng cho HS nhận thức về

cái tôi trong thơ cũ.

+Lí giải các hiện tượng cá biệt trong

thơ cũ: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du,

Nguyễn Công Trứ…

HS trả lời

+ Nghiêng về ý thức cá nhân

+ Mạnh mẽ xưng tôi, mạnh mẽ thể

hiện cái tôi cá nhân, cá thể

- Trong văn học trung đại:

+“Thảng hoặc họ cũng ghi hình ảnh

họ trong thơ văn”.

+ “Họ cũng dùng chữ tôi để nói chuyện với người khác”.

+ “Nhưng không một lần nào dám dùng chữ tôi để nói chuyện với mình

và với tất cả mọi người”.

=>Có những bậc kì tài để lại dấu ấn của học trong thơ văn, thỉnh thoảng

dùng chữ tôi nhưng nó mờ nhạt, chìm

đắm trong cái chung và không phải cái

tôi với ý nghĩa tuyệt đối.

Trang 9

-GV: Cái tôi với ý nghĩa tuyệt đối xuất

hiện từ khi nào?

Hs trả lời

-GV: Khi mới xuất hiện cái tôi ấy hiện

ra như thế nào ? Tại sao ban đầu người

ta ác cảm nhưng sau đó lại đồng cảm

với cái tôi thơ mới?

HS trả lời

GV mở rộng: Khi cái tôi bắt đầu cất

tiếng nói đầu tiên thì công chúng cảm

thấy khó chịu, bởi vì nó quá lạ lẫm, nó

khiến người ta “dị ứng” Cái tôi mang

dấu ấn của phương Tây, người Việt

Nam, trừ bộ phận Tây học, vẫn còn

mang nặng tư tưởng Nho gia, bảo thủ,

không muốn thay đổi tư duy nhận

thức

- GV: Sau một thời gian tiếp xúc,

thái độ của mội người đối với thơ mới

như thế nào?

HS trả lời

GV nhấn mạnh: Dần dần, người ta

nhận ra cái tôi thật đáng thương và tội

nghiệp, bởi vì thân phận của nó cũng

chính là thân phận của mỗi con người

trên mảnh đất lắm đau thương này, bởi

vì, chính nó đã khơi thấu nỗi niềm của

những con người mất nước, bế tắc

trước thời cuộc

-GV yêu cầu một HS đọc lại đoạn

b Sự vận động của cái tôi thơ mới

- “Không biết đích ngày nào” cái tôi

với ý nghĩa tuyệt đối xuất hiện giữa thi đàn Việt Nam

- Khi mới xuất hiện : “Nó thực bỡ

ngỡ, như lạc loài nơi đất khách” => Mọi người thấy khó chịu, ác cảm

vì “nó mang theo một quan niệm chưa

từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân”.

- Lâu dần: “Nó mất dần cái vẻ bỡ

ngỡ Nó được vô số người quen Người ta còn thấy nó đáng thương.

Mà thật nó tội nghiệp quá”.

=> mọi người quen dần, thương cảm

và bắt đầu yêu thích thơ mới

c Bi kịch của cái tôi trong thơ mới

Trang 10

“Thi nhân ta cơ hồ…một lòng tin đầy

đủ”.

- GV giải thích thuật ngữ bi kịch để

bước đầu định hướng cho HS phân tích

bi kịch của các nhà thơ mới

-GV: Bi kịch đầu tiên của cái tôi thơ

mới là bi kịch của cái tôi bé nhỏ, tội

nghiệp Vậy theo em, vì sao tác giả lại

cho rằng “chữ tôi , với cái nghĩa tuyệt

đối của nó” lại “đáng thương”

và đáng “tội nghiệp”?

HS trả lời

GV mở rộng: Nội dung của thơ mới là

bày tỏ nỗi niềm giao cảm với thiên

nhiên, con người, với tình yêu và cả

tôn giáo, cốt sao giãi bày được sự cô

đơn, nỗi buồn của người cầm bút

-GV: Đoạn văn nào thể hiện rõ nhất bi

kịch “mất bề rộng”? Hãy chỉ ra những

đại ý của đoạn văn đó?

GV gợi ý:

+ “Bề rộng” là gì? “ Mất bề rộng” là

thế nào?

+ “ Bề sâu” là gì? “Đi tìm bề sâu” là

sao?

+Tại sao tác giả lại nói “càng đi sâu

càng thấy lạnh”?

+ Trong bi kịch chung, các nhà thơ đã

lựa chọn lối đi như thế nào? Bi kịch

riêng của từng người ra sao?

HS trả lời

- GV khẳng định: Đoạn văn:

-Bi kịch của cái tôi bé nhỏ, tội nghiệp:

+ Nó “mất hết cốt cách hiên ngang

ngày trước”.

+ “Chữ ta với họ to rộng quá”.

+ Nó “rên rỉ”, “nói cái khổ sở”,

“thảm hại”.

- Bi kịch “mất bề rộng”:

“ Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhưng càng đi sâu càng thấy lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng

Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”

+ Nguyên nhân bi kịch: “mất bề

rộng”- cái tôi không tìm được tiếng

nói chung với tất cả mọi người

+ Con đường vượt thoát: “đi tìm bề

Trang 11

“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ

tôi…cùng Huy Cận” đã khái quát

chính xác, sâu sắc những biểu hiện

chung, riêng, gần nhau và khác nhau

của tinh thần thơ mới với phong cách

- tư tưởng của các nhà thơ tiêu biểu

Đặc sắc của đoạn văn: ngắn gọn, khái

quát, cụ thể, không những chỉ ra

nguyên nhân mà còn thấy cả tiến trình

và báo trước kết quả của tinh thần thơ

mới

-GV: Hoài Thanh viết: “Phương Tây

đã giao hồn ta lại cho ta Nhưng ta

bàng hoàng vì nhìn vào đó ta thấy

thiếu một điều, một điều cần hơn trăm

nghìn điều khác: Một niềm tin đầy

đủ” Tại sao các nhà thơ mới lại :

“mất đi một niềm tin đầy đủ”?

HS trả lời

-GV: Em hãy nhận xét về văn phong

và cách lập luận của Hoài Thanh trong

đoạn này?

HS trả lời

GV nhận xét và bổ sung ý

sâu” – đào sâu vào cái tôi cá nhân.

+ Mỗi nhà thơ lựa chọn một con

đường vượt thoát khác nhau “thoát

lên tiên”, “phiêu lưu trong trường tình”, “điên cuồng”, “đắm say”…

+ Kết quả: “động tiên đã khép, tình

yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ” Và “Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”

=> “ Chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn

và nhất là xôn xao như thế”.

- Bi kịch : mất “một lòng tin đầy đủ”:

+ Cứ đi tìm bề sâu, cái tôi cực đoan

rồi bàng hoàng nhận ra ta thiếu một

điều: “một lòng tin đầy đủ”

+ Không còn có thể nương tựa vào

một cái gì không di dịch như cái ta

thuở trước

=>“Thơ mới nói lên cái bi kịch đang diễn ra ngấm ngầm dưới những phù hiệu dễ dãi trong hồn người thanh niên”.

 Nhận xét: Nhận định xác đáng, tinh

tế, câu văn mềm mại uyển chuyển, giọng văn đồng cảm, chia sẻ Tác giả còn khắc hoạ bi kịch bằng hình ảnh so sánh độc đáo tinh tế Việc chỉ ra bi

kịch của cái tôi thơ mới thể hiện đóng

góp xã hội quan trọng của Hoài Thanh

Ngày đăng: 18/05/2018, 15:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w