1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

bài tập nhóm tố tụng hình sự

18 253 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 30,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A có hành vi đánh B là quân nhân đóng tại địa phương gây tỉ lệ tổn thương cơ thể là 47%. Sau khi điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra công an huyện K, tỉnh H nới A cư trú đã ra quyết định khỏi tố vụ án hình sự và khỏi tố bị can đối với A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự (hình phạt cao nhất đến 10 năm tù). Câu hỏi: 1.Theo anh (chị), quyết định khỏi tố vụ án hình sự và khỏi tố bị can của Cơ quan điều tra huyện K có đúng hay sai? 2. Khi kiểm sát điều tra, viện kiểm sát thấy việc điều tra không đúng thẩm quyền nên đã yêu cầu cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển vụ án cho cơ quan điều tra trong quân đội. Hãy nhận xét việc yêu cầu đó của VKS? 3. Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra quân đội đã phát hiện trước đó A và bạn là C còn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác 250 triệu đồng (vụ án này thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K). Cơ quan điều tra quân đội giải quyết thế nào? 4. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra còn thiếu chứng cứ giúp xác định nhân thân của bị can, VKS phải giải quyết thế nào? 5. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, A bỏ trốn mà không biết rõ A ở đâu, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa giải quyết thế nào? Tại sao? 6. Tại phiên tòa sơ thẩm, A yêu cầu thay đổi thẩm phán chủ tọa phiên tòa vì cho rằng thẩm phán có mối quan hệ thân thiết với KSV thực hành quyền công tố tại phiên tòa, Hội đồng xét xử giải quyết thế nào? Tại sao? 7. Tòa án sơ thẩm đã xử phạt A 6 năm tù; buộc bị cáo phải bồi thường cho B số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Anh B kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với A. Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết thế nào nếu chỉ có căn cứ giảm nhẹ hình phạt với A? 8. Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX xác định hành vi của A phạm vào khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự (có mức hình phạt tù đến 14 năm) thì giải quyết thế nào? 9. Giả sử sau phiên tòa sơ thẩm, A kháng cáo xin giảm hình phạt, nếu xét thấy cần tăng nặng hình phạt với A, HĐXX có được sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt với A không? 10. Khi bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật, có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Ai có thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị như thế nào?

Trang 1

CÂU HỎI TÌNH HUỐNG

A có hành vi đánh B là quân nhân đóng tại địa phương gây tỉ lệ tổn thương

cơ thể là 47% Sau khi điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra công an huyện K, tỉnh

H nới A cư trú đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự (hình phạt cao nhất đến 10 năm tù).

Câu hỏi:

1.Theo anh (chị), quyết định khỏi tố vụ án hình sự và khỏi tố bị can của Cơ quan điều tra huyện K có đúng hay sai?

2 Khi kiểm sát điều tra, viện kiểm sát thấy việc điều tra không đúng thẩm quyền nên đã yêu cầu cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển vụ

án cho cơ quan điều tra trong quân đội Hãy nhận xét việc yêu cầu đó của VKS?

3 Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra quân đội đã phát hiện trước đó A và bạn là C còn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác 250 triệu đồng (vụ án này thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K) Cơ quan điều tra quân đội giải quyết thế nào?

4 Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra còn thiếu chứng cứ giúp xác định nhân thân của bị can, VKS phải giải quyết thế nào?

5 Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, A bỏ trốn mà không biết rõ A ở đâu, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa giải quyết thế nào? Tại sao?

6 Tại phiên tòa sơ thẩm, A yêu cầu thay đổi thẩm phán chủ tọa phiên tòa vì cho rằng thẩm phán có mối quan hệ thân thiết với KSV thực hành quyền công tố tại phiên tòa, Hội đồng xét xử giải quyết thế nào? Tại sao?

7 Tòa án sơ thẩm đã xử phạt A 6 năm tù; buộc bị cáo phải bồi thường cho B

số tiền là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) Anh B kháng cáo yêu cầu tăng nặng hình phạt, tăng mức bồi thường đối với A Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết thế nào nếu chỉ có căn cứ giảm nhẹ hình phạt với A?

Trang 2

8 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, HĐXX xác định hành vi của A phạm vào khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự (có mức hình phạt tù đến 14 năm) thì giải quyết thế nào?

9 Giả sử sau phiên tòa sơ thẩm, A kháng cáo xin giảm hình phạt, nếu xét thấy cần tăng nặng hình phạt với A, HĐXX có được sửa bản án sơ thẩm theo hướng tăng nặng hình phạt với A không?

10 Khi bản án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật, có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Ai có thẩm quyền kháng nghị, thời hạn kháng nghị như thế nào?

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1.Vấn đề 1:Theo anh (chị),quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can của cơ quan điều tra huyện K đúng hay sai?

Trả lời :

Trong trường hợp đề bài đã nêu ta thấy, A có hành vi đánh B là quân nhân đóng tại địa phương gây tỉ lệ tổn thương cơ thể là 47% được quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 với mức hình phạt cao nhất đến 10 năm tù Căn

cứ vào điểm c khoản 1 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về phân loại tội phạm, thì hành vi của A là tội rất nghiêm trọng

Tại khoản 1 Điều 268 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định:

“1 Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những

vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:

a) Các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

b) Các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh;

c) Các tội quy định tại các điều 123, 125, 126, 227, 277, 278, 279, 280, 282, 283,

284, 286, 287, 288, 337, 368, 369, 370, 371, 399 và 400 của Bộ luật hình sự;

Trang 3

d) Các tội phạm được thực hiện ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Tại điểm b khoản 1 Điều 272 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định về

thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự như sau: “b) Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân

sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ”.

Trong trường hợp trên, B là quân nhân đóng tại địa phương bị xâm phạm đến sức khỏe nên Tòa án quân sự khu vực sẽ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Do đó, Cơ quan điều tra quân sự khu vực sẽ có thẩm quyền điều tra vụ án này

Tại khoản 2 Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định: “2 Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố

vụ án hình sự trong trường hợp quy định tại Điều 164 của Bộ luật này.” Do đó, trong trường hợp này Cơ quan điều tra quân sự khu vực sẽ có thẩm quyền khởi tố

vụ án hình sự

Mặt khác, tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 quy định:

“1 Khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi

mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố

bị can.” Do đó, trong trường hợp này Cơ quan điều tra quân sự khu vực sẽ có thẩm

quyền khởi tố bị can đối với A

Như vậy, trong tình huống đề bài đã nêu việc Cơ quan điều tra công an huyện K, tỉnh H nơi A cư trú đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với A về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự

Trang 4

năm 2015 là không đúng với quy định của pháp luật Mà trong trường hợp, thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với A thuộc về Cơ quan điều tra quân sự khu vực

2.Vấn đề 2: Khi kiểm sát điều tra, viện kiểm sát thấy việc điều tra không đúng thẩm quyền nên đã yêu cầu cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển vụ án cho cơ quan điều tra trong quân đội Hãy nhận xét việc yêu cầu đó của VKS?

Trả lời : Yêu cầu này của VKS là không đúng với quy định của pháp luật

Giải thích:

Thực tế cho thấy có rất nhiều trường hợp, khi vụ án xảy ra và thông tin đến với cơ quan chức năng, cơ quan này có thể tiến hành một số hoạt động tố tụng như khám nghiệm hiện trường, khám xét,… nhưng sau đó phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền điểu tra của mình nên do đó đặt ra vấn đề chuyển vụ án để điều tra cho

cơ quan chức năng có thẩm quyền

Như đã trình bày ở câu 1, Cơ quan điều tra quân sự khu vực sẽ có thẩm quyền điều tra vụ án này Do đó, trong trường hợp này, cơ quan điều tra của công

an nhân dân huyện K thực hiện điều tra vụ án này là không đúng thẩm quyền cần phải chuyển vụ án điều tra sang cho cơ quan điều tra quân sự khu vực là cơ quan có thẩm quyền điều tra vụ án này căn cứ theo khoản 1 Điều 169 Theo quy đinh này thì Viện kiểm sát phải ra quyết định chuyển vụ án để điều tra Nhưng việc quyết định chuyển vụ án để diều tra đó phải dựa trên đề nghị chuyển vụ án của cơ quan điều tra khi Cơ quan điều tra cùng cấp xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều

tra:"1 Viện kiểm sát cùng cấp quyết định việc chuyển vụ án để điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Cơ quan điều tra cùng cấp xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra và đề nghị chuyển vụ án;”

Trang 5

Như vậy việc ra quyết định chuyển vụ án để điều tra phải do Viện kiểm sát đưa ra chứ không phải là cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển

vụ án đó cho cơ quan điều tra trong quân đội Mà việc chuyển vụ án đó phải dựa trên đề nghị chuyển vụ án của cơ quan điều tra công an huyện K

3 Vấn đề 3: Trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan điều tra quân đội phát hiện trước đó A và bạn là C còn lừa đảo chiếm đoạt của người khác 250 triệu đồng(vụ

án này thẩm quyền điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K) Cơ quan điều tra quân đội giải quyết như thế nào.

Trả lời: Cơ quan điều tra quân đội nên đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp ra

quyết định chuyển vụ án sang cho cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện K

Giải thích:

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra được phân định cụ thể tại Điều 163 Các cơ quan điều tra chỉ được tiến hành điều ra các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của mình Theo đó, thẩm quyền điều tra các cơ quan điều tra căn cứ vào 3 nguyên tắc sau: Nguyên tắc thứ nhất là, thẩm quyền điều tra tuân theo hệ thống tổ chức của Cơ quan điều tra Nguyên tắc thứ hai là, thẩm quyền điều tra tuân theo lãnh thổ Nguyên tắc thứ ba, thẩm quyền điều tra tuân theo phân cấp của Cơ quan điều tra

Việc xác định thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra dựa trên các tiêu chí về sự việc, đối tượng và lãnh thổ, nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc điều tra xác định sự thật Do vậy trước khi tiến hành điều tra, Cơ quan điều tra phải kiểm tra xem đã điều tra đúng thẩm quyền hay chưa

Tại điểm a khoản 1 Điều 169 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về chuyển vụ

án để điều tra như sau:

“1 Viện kiểm sát cùng cấp quyết định việc chuyển vụ án để điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

Trang 6

a) Cơ quan điều tra cùng cấp xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra và đề nghị chuyển vụ án;”

Trong trường hợp thấy vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của mình, cơ quan điều tra phải đề nghị Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho

cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp tục điều tra Chuyển vụ án để điều tra là việc Viện kiểm sát ra quyết định để chuyển một vụ án cụ thể đang được điều tra bởi một cơ quan điều tra này sang một cơ quan điều tra khác cho đúng thẩm quyền điều tra theo quy định của BLTTHS

Trong trường hợp trên, cơ quan điều tra quân đội phát hiện vụ án nếu vẫn tiếp tục điều tra vụ án này sẽ không đúng thẩm quyền nên cần phải chuyển vụ án điều tra sang cho cơ quan điều tra công an huyện K để giải quyết vụ án

4.Vấn đề 4: Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng hồ sơ điều tra của

cơ quan điều tra còn thiếu chứng cứ giúp xác định nhân thân của bị can, VKS phải giải quyết thế nào?

Tại điểm a khoản 1 Điều 245 BLTTHS 2015 quy định:

“Điều 245 Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung.

1.Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu cơ quan điều tra điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:

a)Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;”

Điều 85 BLTTHS 2015 quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự:

“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải chứng minh:

1.Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

Trang 7

2.Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

3.Những tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo

và đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

4.Tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội gây ra;

5.Nguyên nhân và điều kiện phạm tội;

6.Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.”

Theo tình huống, trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra còn thiếu chứng cứ giúp xác định nhân thân của bị can Đây là một trong những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự theo quy định tại khoản 3 Điều 85 BLTTHS nêu trên

Theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP của Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật

Tố tụng hình sự về trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung thì chứng cứ giúp xác định

nhân thân của bị can, bị cáo được hiểu là: “Chứng cứ để chứng minh “đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo” là chứng cứ xác định lý lịch của bị can, bị cáo; nếu

bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại thì phải chứng minh tên, địa chỉ và những vấn đề khác có liên quan đến địa vị pháp lý và hoạt động của pháp nhân thương mại” Đây là một trong những chứng cứ không thể thiếu để đảm bảo giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Vì thế, điểm a khoản 1 Điều 245 BLTTHS quy định: “Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của

Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được” Do đó, Viện kiểm

sát chỉ được trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung khi thỏa mãn cả hai điều kiện: một là thiếu những chứng cứ như nêu trên và hai là Viện kiểm sát không thể

tự mình bổ sung được

Trang 8

Ở tình huống này đã có một điều kiện là thiếu chứng cứ giúp xác định nhân thân của bị can Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP về phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn truy tố để hạn chế việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

“1 Sau khi nhận hồ sơ vụ án và kết luận điều tra, Kiểm sát viên phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, kiểm tra việc chấp hành các thủ tục tố tụng, tính đầy đủ, hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên phải trực tiếp hỏi cung bị can trong các trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 183 của Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu thấy còn thiếu chứng cứ, tài liệu hoặc có vi phạm thủ tục tố tụng mà tự mình có thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phối hợp với Điều tra viên để bổ sung, khắc phục kịp thời; trường hợp không thể bổ sung được thì Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo Viện kiểm sát để xem xét, quyết định.”

Trường hợp Kiểm sát viên thấy những chứng cứ về nhân thân của bị can mà

tự mình có thể bổ sung được thì Kiểm sát viên sẽ phối hợp với Điều tra viên để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ vụ án

Trường hợp Kiểm sát viên không thể bổ sung được chứng cứ này, Kiểm sát viên sẽ báo cáo với lãnh đạo Viện kiểm sát để xem xét, quyết định Sau đó, Viện kiểm sát sẽ ra quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung

5.Vấn đề 5: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, A bỏ trốn mà không biết rõ A ở đâu, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa sẽ giải quyết như thế nào? Tại sao?

Trả lời:

Nếu trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, A bỏ trốn mà không biết rõ A ở đâu, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra

Trang 9

quyết định truy nã bị can, bị cáo Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét mà việc truy nã bị can vẫn chưa có kết quả, thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án

Căn cứ điểm b Khoản 1 Điều 281 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định về trường hợp Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án như sau:

“Không biết rõ bị can, bị cáo đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử; trường hợp này phải yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã bị can, bị cáo trước khi tạm đình chỉ vụ án Việc truy nã bị can, bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 231 của Bộ luật này”

Theo vào Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định:

“1 Khi bị can trốn hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can.

2 Quyết định truy nã ghi rõ họ tên, ngày, tháng năm sinh, nơi cư trú của bị can, đặc điểm nhận dạng bị can, tội phạm mà bị can đã bị khởi tố và các nội dung theo quy định tại Khoản 2 Điều 132 của Bộ luật này; kèm theo ảnh bị bị can (nếu có).

Quyết định truy nã bị can được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo công khai để mọi người phát hiện bắt người bị truy nã.

3 Sau khi bắt được bị can theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã phải ra quyết định đình nã Quyết định đình nã được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo công khai.”

Theo đó ta hiểu: Truy nã có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người bị kết án trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Điều luật quy định

Trang 10

về truy nã bị can trong giai đoạn điều tra Nguyên tắc truy nã bị can phải bảo đảm tính nhanh chóng, kịp thời và phải đúng người, đúng hành vi phạm tội, bảo đảm tôn trọng quyền tự do, dân chủ của công dân theo quy định của pháp luật

Khi có đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu

mà trước đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà không bắt được thì cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra quyết định truy nã; trường hợp chưa có lệnh bắt bị can; bị cáo để tạm giam thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam mà Cơ quan điều tra tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Tòa án ra ngay quyết định truy nã

Quyết định truy nã ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, tội phạm mà bị can đã bị khởi tố và các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 132 của Bộ luật tố tụng hình sự kèm theo ảnh bị can (nếu có) Quyết định truy nã bị can được Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo công khai để mọi người phát hiện, bắt người bị truy nã

Sau khi bắt được bị can theo quyết định truy nã thì Cơ quan điều tra ra quyết định đình nã Quyết định đình nã được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp thông báo công khai

Với quy định này thì khi Toà án tạm đình chỉ vụ án do bị cáo trốn vẫn thuộc thẩm quyền trách nhiệm thụ lý giải quyết của Toà án, Toà án không trả hồ sơ cho Viện kiểm sát Hội đồng xét xử chỉ có văn bản yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo

Trên thực tiễn, nếu Hội đồng xét xử yêu cầu cơ quan điều tra truy nã bị cáo thì thường cơ quan điều tra áp dụng tương tự như trường hợp truy nã bị can, coi Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về truy nã bị can là chuẩn mực pháp lý

Ngày đăng: 08/05/2018, 23:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w