1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Tố tụng hình sự: A có hành vi trộm cắp quân trang trong kho quân nhu của đơn vị bộ đội, bị bảo vệ phát hiện và đuổi bắt.

17 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 78,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A có hành vi trộm cắp quân trang trong kho quân nhu của đơn vị bộ đội, bị bảo vệ phát hiện và đuổi bắt. Trên đường chạy trốn, A va vào anh C đang đi đường làm đổ xe máy SH của C, xe bị hư hỏng, sửa chữa hết 4.580.000 (bốn triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng). Sau khi điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra công an huyện K, tỉnh H nơi A cư trú xác định số quân trang mà các đối tượng trộm cắp của quân đội trị giá 70 triệu đồng nên đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2, Điều 138, Bộ luật hình sự.

Trang 1

MỤC LỤC

ĐỀ BÀI

A có hành vi trộm cắp quân trang trong kho quân nhu của đơn vị bộ đội, bị bảo vệ phát hiện và đuổi bắt Trên đường chạy trốn, A va vào anh C đang đi đường làm đổ xe máy SH của C, xe bị hư hỏng, sửa chữa hết 4.580.000 (bốn triệu năm trăm tám mươi ngàn đồng) Sau khi điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra công an huyện K, tỉnh H nơi A cư trú xác định số quân trang

mà các đối tượng trộm cắp của quân đội trị giá 70 triệu đồng nên đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2, Điều 138, Bộ luật hình sự

1 Theo anh (chị), quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can của cơ quan điều tra huyện K đúng hay sai?

2 Khi kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát thấy việc điều tra không đúng thẩm quyền nên đã yêu cầu cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển vụ án cho cơ quan điều tra trong quân đội Hãy nhận xét yêu cầu đó của VKS?

3 Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, cơ quan điều tra phát hiện trước

đó A và bạn là D còn lừa đảo chiếm đoạt của người khác 150 triệu đồng (vụ

án này thuộc thẩm quyền điều tra công an huyện K) Cơ quan điều tra giải quyết thế nào?

4 Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra còn thiếu một số chứng cứ quan trọng VKS phải giải quyết thế nào?

Trang 2

5 Trong giai đoạn chuyển bị xét xử, A bỏ trốn khởi nơi cư trú Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà giải quyết thế nào? Tại sao?

6 Tại phiên toà sơ thẩm, A yêu cầu thay đổi thẩm phán chủ toạ phiên toà vì cho rằng thẩm phán có mối quan hệ thân thiết với C là nguyên đơn dân sự trong vụ án, Hội đồng xét xử giải quyết thế nào? Tại sao?

7 Toà sơ thẩm đã xử phạt A 2 năm tù A còn bị tuyên phải bồi thường cho

C số tiền là 3.800.000 (ba triệu tám trăm ngàn đồng) Anh C không đồng ý với mức bồi thường và đã tới Toà án cấp phúc thẩm để trực tiếp kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại đối với A Toà án cấp phúc thẩm giải quyết thế nào? Tại sao?

8 Giả sử sau khi xét xử sơ thẩm, A không kháng cáo, tại phiên toà phúc thẩm xác định có căn cứ tăng nặng hình phạt với A, Hội đồng phúc thẩm giải quyết thế nào? Tại sao?

9 Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, có căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm Ai có thẩm quyền kháng nghị, thủ tục và thời hạn kháng nghị như thế nào?

10 Trong thời gian chấp hành hình phạt tại trại giam, A đã trốn khỏi trại giam Giám thị trại giam ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với

A về tội trốn khỏi nơi giam giữ theo Điều 211 BLHS Hãy nhận xét quyết định của giám thị trại giam

BÀI LÀM

1 Theo anh (chị), quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can của cơ quan điều tra huyện K đúng hay sai?

Theo khoản 1, Điều 100 BLTTHS năm 2003, chỉ được khởi tố vụ án hình

sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm Ở đây A đã có hành vi trộm cắp quân trang trong kho của quân nhu của đơn vị bộ đội có giá trị lên tới 70

Trang 3

triệu đồng, hành vi của A đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 2 Điều 138 BLHS năm 1999

Tuy nhiên theo khoản 2, Điều 3, Pháp lệnh Tổ chức Tòa án quân sự năm

2002 đã quy định Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử đối với những trường hợp phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội, cụ thể ở đây là thuộc về tòa án quân sự khu vực

Cũng theo khoản 1, Điều 15, Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự năm 2004 quy định thẩm quyền của cơ quan điều tra hình sự trong quân đội nhân dân như sau:

“Cơ quan điều tra hình sự khu vực điều tra các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại các chương từ Chương XII đến Chương XXIII của Bộ luật hình sự khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân

sự khu vực, trừ các tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương”

Tội trộm cắp tài sản của A được quy định tại Điều 138, Chương XIV, BLHS năm 199 Do đó thẩm quyền điều tra vụ án này thuộc về Cơ quan điều tra hình sự trong Quân đội nhân dân cấp khu vực, hay nói cách khác công an điều tra huyện K đã điều tra không đúng thẩm quyền Vì vậy, quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can của cơ quan điều tra huyện K

là sai

2 Khi kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát thấy việc điều tra không đúng thẩm quyền nên đã yêu cầu cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển vụ án cho cơ quan điều tra trong quân đội Hãy nhận xét yêu cầu đó của VKS?

Để xử lý trường hợp Cơ quan điều tra tiến hành điều tra vụ án không thuộc thẩm quyền của mình, Điều 116, BLTTHS năm 2003 đã quy định, Cơ quan điều tra có trách nhiệm đề nghị bằng văn bản với Viện kiểm sát cùng cấp ra quyết định chuyển vụ án cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền tiến hành

Trang 4

điều tra Nhận được đề nghị của Cơ quan điều tra, trong thời hạn ba ngày, Viện kiểm sát căn cứ và ra quyết định chuyển vụ án nếu thấy đề nghị đó là đúng pháp luật

Trong trường hợp Cơ quan điều tra cùng cấp không đề nghị chuyển vụ án nhưng qua kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp mình, thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành các thủ tục để Viện kiểm sát ra quyết định chuyển vụ án cho cơ quan có thẩm quyền

Trên cơ sở đó, trong trường hợp này, khi kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát thấy việc điều tra không đúng thẩm quyền thì phải yêu cầu Cơ quan điều tra công an huyện K tiến hành các thủ tục, cụ thể là phải có công văn đề nghị Viện kiểm sát chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra trong quân đội, trong thời hạn ba ngày kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của Cơ quan điều tra công an huyện K, Viện kiểm sát đang thụ lý kiểm sát điều tra vụ án phải ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan điều tra trong quân đội; chứ không thể yêu cầu Cơ quan điều tra công an huyện K ra quyết định chuyển

vụ án cho Cơ quan điều tra trong quân đội

3 Trong quá trình điều tra vụ án hình sự, cơ quan điều tra phát hiện trước đó A và bạn là D còn lừa đảo chiếm đoạt của người khác 150 triệu đồng (vụ án này thuộc thẩm quyền điều tra công

an huyện K) Cơ quan điều tra giải quyết thế nào?

Căn cứ tại khoản 1, Điều 127, BLTTHS năm 2003 có quy định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, như sau:

“Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can.”

Trang 5

Căn cứ vào Điểm c, Khoản 3, Điều 11, Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP quy định chi tiết về Thay đổi hoặc quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can (Điều 127):

“Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong trường hợp

bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội khác nhau, được thực hiện như sau:

c Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau nhưng được phát hiện không cùng một thời điểm thì phải ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can riêng đối với từng hành vi phạm tội đó và tùy từng trường hợp mà xem xét để quyết định nhập vụ án theo quy định tại Điều 117 của BLTTHS Ví dụ: Nguyễn Văn B phạm tội trộm cắp bị bắt quả tang vào ngày 15/8/2005, sau khi điều tra vụ án về vụ trộm cắp được một tháng, Cơ quan điều tra phát hiện được B còn có hành vi cướp tài sản vào ngày 15/7/2005, thì ngoài quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra còn phải ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can đối với B về hành vi cướp tài sản.”

Như vậy, do A thực hiện hai hành vi phạm tội khác nhau ở hai thời điểm khác nhau bao gồm hành vi trộm cắp tài sản đã được ra quyết định khởi tố

và hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được phát hiện trong quá trình điều tra vụ án, nên trong trường hợp này, ngoài quyết định khởi tố vụ án, khởi tố

bị can đối với A về hành vi trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định bổ sung khởi tố vụ án, khởi tố bị can riêng đối với A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Vì vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản và vụ án trộm cắp quân trang là hai vụ

án khác nhau, không có tính liên quan, nên không thể nhập vụ án hình sự

để tiến hành điều tra Vì vậy cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân phải chuyển vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản này cho cơ quan điều tra công an huyện K để điều tra tiếp

Trang 6

4 Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát thấy rằng hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra còn thiếu một số chứng cứ quan trọng Viện kiểm sát phải giải quyết thế nào?

Theo Khoản 1, Điều 168, BLTTHS 2003, quy định:

“Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy: Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;”

Trước hết, cần phải hiểu “chứng cứ quan trọng đối với vụ án” trong điều

luật quy định bao gồm những gì? Theo đó, trong thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC về Hướng dẫn thi hành các quy

định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung có quy định về “chứng

cứ quan trọng đối với vụ án” tại Khoản 1 Điều 1: “Chứng cứ quan trọng đối với vụ án quy định tại khoản 1 Điều 168 và điểm a khoản 1 Điều 179 BLTTHS là chứng cứ quy định tại Điều 64 của BLTTHS dùng để chứng minh một hoặc nhiều vấn đề quy định tại Điều 63 của BLTTHS và nếu thiếu chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.”

Như vậy, chứng cứ quan trọng là chứng cứ dùng đề chứng minh một hay nhiều vấn đề quy định tại Điều 63, BLTTHS 2003 cụ thể là:

“Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:

Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;

Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;

Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;

Trang 7

Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.”

Tuy nhiên, để tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án, trong giai đoạn truy tố, nếu thấy hồ sơ điều tra của cơ quan điều tra còn thiếu một số chứng

cứ quan trọng, Viện kiểm sát chỉ trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung nếu xét thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng có ý nghĩa quyết định đến nội dung vụ án mà Viện kiểm sát không tự bổ sung được (Khoản 1, Điều 168,

BLTTHS) Ví dụ như những chứng cứ liên quan đến việc định tội hoặc ảnh

hưởng đến trách nhiệm hình sự và hình phạt của bị can

5 Trong giai đoạn chuyển bị xét xử, A bỏ trốn khởi nơi cư trú Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà giải quyết thế nào? Tại sao?

Vì A bỏ trốn khỏi nơi cư trú nên không biết bị can này hiện đang ở đâu Do

đó, Thẩm phán được phân công chủ toạ phiên toà sẽ yêu cầu Cơ quan điều

tra ra quyết định truy nã A theo Điều 161, BLTTHS năm 2003: "Khi bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã bị can"

Truy nã bị can là một trong những hoạt động truy bắt đối tượng bỏ trốn do lực lượng Công an nhân dân thực hiện bằng cách áp dụng tổng hợp các biện pháp mà pháp luật cho phép và các biện pháp nghiệp vụ của ngành nhằm phát hiện, bắt giữ bị can đang lẩn trốn hoặc cư trú ở một nơi nào đó

mà Cơ quan điều tra không xác định được, phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử

Việc truy nã bị can sẽ giúp cho công tác truy bắt đối tượng gặp nhiều thuận lợi do huy động được sự tham gia của quần chúng nhân dân và các cơ quan

tổ chức trong xã hội

Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà vẫn không xác định được A đang ở đâu thì Thẩm phán phải ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với A theo Điều 180 và khoản 1, Điều 160 BLTTHS năm 2003

Trang 8

"Nếu không biết bị can đang ở đâu thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra." (Khoản 1, Điều 160)

"Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án khi có căn cứ quy định tại Điều 160 của Bộ luật này; ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và các điểm 3, 4, 5, 6 và 7 Điều 107 của Bộ luật này hoặc khi Viện kiểm sát rút toàn bộ quyết định truy tố trước khi mở phiên toà." (Điều 180).

6 Tại phiên toà sơ thẩm, A yêu cầu thay đổi thẩm phán chủ toạ phiên toà vì cho rằng thẩm phán có mối quan hệ thân thiết với C

là nguyên đơn dân sự trong vụ án, Hội đồng xét xử giải quyết thế nào? Tại sao?

Điều kiện để thay đổi thẩm phán đó gồm có:

Thứ nhất, chủ thể yêu cầu thay đổi phải có quyền yêu cầu thay đổi A là bị

cáo trong vụ án này, thuộc vào trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 43 BLTTHS (gồm có bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ) tức A là người có quyền yêu cầu thay đổi

Thứ hai, trường hợp này rơi vào một trong các trường hợp phải bị thay đổi.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 42, thẩm phán chủ tọa phiên tòa sẽ phải thay đổi nếu chứng minh được thẩm phán đó có quan hệ thân thích với C - Nguyên đơn dân sự trong vụ án (Thẩm phán đó có một trong các quan hệ sau với C:

Là vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; Là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; Là cụ nội, cụ ngoại; là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, ) hoặc có căn cứ rõ ràng để khẳng định thẩm phán đó có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ (Ví dụ: thẩm phán đó và C là anh em kết nghĩa; Thẩm phán là con rể của C;…)

mà có căn cứ rõ ràng chứng minh là trong cuộc sống giữa họ có mối quan

hệ tình cảm thân thiết với nhau, có mối quan hệ về kinh tế, Do đó, cần

Trang 9

xem xét lý do A đưa ra có chính xác hay không và có thuộc trường hợp phải thay đổi hay không

Thứ ba, yêu cầu thay đổi thẩm phán được đưa ra tại phiên tòa nên việc có

thay đổi thẩm phán đó hay không phụ thuộc vào quyết định của Hội đồng xét xử Hội đồng xét xử sẽ biểu quyết tại phòng nghị án Thẩm phán chủ tọa phiên tòa được trình bày ý kiến của mình rồi Hội đồng xét xử sẽ quyết định theo đa số (theo khoản 2 Điều 46 BLTTHS) Nếu phải thay đổi thẩm phán thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa, việc cử thành viên mới sẽ do Chánh án Tòa án quân sự khu vực đó quyết định Nếu không thỏa mãn tất cả các điều kiện trên thì Hội đồng xét xử tuyên bố không chấp nhận yêu cầu của bị cáo, không thay đổi thẩm phán chủ tọa phiên tòa và tiếp tục xét xử

7 Tòa sơ thẩm đã xử phạt A 2 năm tù, A còn bị tuyên phải bồi thường cho C số tiền là 3.800.000 đồng (ba triệu tám trăm ngàn đồng) Anh C không đồng ý với mức bồi thường và đã tới Tòa án cấp phúc thẩm để trực tiếp kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại đối với A Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết thế nào? Tại sao?

Theo đề bài thì anh C không đồng ý với mức bồi thường và đã tới Tòa án cấp phúc thẩm để trực tiếp kháng cáo yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại đối với A Dựa trên Khoản 3, Điều 233, BLTTHS 2003 quy định:

“1 Người kháng cáo phải gửi đơn đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại tạm giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.

Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xử sơ thẩm

về việc kháng cáo Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo đó theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này.”

Trang 10

Theo đó, tòa án phúc thẩm chỉ có thẩm quyền nhận đơn kháng cáo chứ không có thẩm quyền giải quyết trường hợp kháng cáo trực tiếp Vì nhiệm

vụ của tòa án xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định

sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Còn tòa án xét xử sơ thẩm có thẩm quyền xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật đồng thời đơn kháng cáo cũng được ghi vào sổ nhận đơn

ở tòa án sơ thẩm để hoàn tất hồ sơ sau đó gửi lên tòa án xét xử phúc thẩm

Vì vậy kháng cáo trực tiếp phải thực hiện ở tòa án xét xử sơ thẩm Thủ tục của kháng cáo trực tiếp được hướng dẫn cụ thể ở Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ tư "Xét xử phúc

thẩm" của BLTTHS: “Trong trường hợp người kháng cáo đến Toà án cấp

sơ thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì Chánh án Toà án cử một Thẩm phán hoặc một cán bộ Toà án tiếp và giải quyết Nếu người kháng cáo biết chữ và viết được thì hướng dẫn để họ tự viết đơn Nếu họ muốn trình bày trực tiếp thì lập biên bản về việc kháng cáo đó theo đúng quy định tại Điều 95 của BLTTHS” Đồng thời tại tòa án sơ thẩm phải vào sổ

nhận đơn và kiểm tra người làm đơn kháng cáo có thuộc chủ thể có quyền kháng cáo, nội dung kháng cáo có thuộc giới hạn của việc kháng cáo được quy định tại Điều 231, BLTTHS 2003 không và có trong thời hạn kháng cáo theo Điều 234, BLTTHS 2003 không

Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm cần hướng dẫn anh C về thủ tục kháng cáo đồng thời giải thích cho anh C nếu anh muốn thực hiện kháng cáo trực tiếp thì phải thực hiện tại tòa án đã xử sơ thẩm Ngoài ra có thể hướng dẫn anh

C về làm đơn kháng cáo khi đó có thể gửi lên tòa án đã xử sơ thẩm hoặc tòa án cấp phúc thẩm để chuyển cho tòa án đã xử sơ thẩm

Ngày đăng: 23/08/2021, 06:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w