Song một thực tế mà chúng ta đều biết là hiện nay, trong cáccấp học mà đặc biệt là bậc Tiểu học, phần lớn học sinh viết văn rất khôkhan.Việc học tập phân môn này không hề đơn giản, phải
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU I.Lí do chọn đề tài.
Đất nước ta đang trong thời kì đổi mới Sự phát triển kinh tế, xã hội đangđặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với hệ thống giáo dục các cấp Trong đógiáo dục tiểu học được xác định là bậc học nền tảng thế nên nền có vững chắcthì hiệu quả đào tạo ở các bậc học trên mới đạt yêu cầu Vì vậy muốn xây dựngnền tảng vững chắc ở bậc tiểu học người giáo viên phải xây dựng những kiếnthức cơ bản đạt yêu cầu cho từng môn học được quy định trong chương trình.Môn Tiếng Việt là môn học chính có tầm quan trọng trong chương trình ở tiểuhọc trong đó có tập làm văn Đây công việc mang tính chất thực hành tổng hợp.Việc dạy tập làm văn rất quan trọng , nó góp phần rèn luyện cho học sinh nănglực sử dụng tiếng việt, tạo điều kiện cho các em giao tiếp trong cuộc sống hàngngày và học tập tốt các môn học khác
Mục tiêu của cả người dạy và người học là “ có cảm xúc” trong mỗi tiếthọc văn Người giáo viên giúp cho các em cảm nhận được cái hay cái đẹp trongcác bài văn, bài thơ, cuộc sống xung quanh và thể hiện “cái đẹp” đó bằng ngônngữ giàu hình ảnh Song một thực tế mà chúng ta đều biết là hiện nay, trong cáccấp học mà đặc biệt là bậc Tiểu học, phần lớn học sinh viết văn rất khôkhan.Việc học tập phân môn này không hề đơn giản, phải có sự phối hợp chặtchẽ giữa quá trình giảng dạy của giáo viên và sự tiếp thu kiến thức của học sinhthì kết quả làm văn của các em mới đạt mức độ nhất định Nhưng đối với họcsinh tiểu học đang ở giai đoạn tiếp thu kiến thức bằng phương pháp trực quansinh động, các em thường viết những gì mình thấy, mình nghe, còn việc tưởngtượng qua trí nhớ thì vẫn còn hạn chế Chính vì vậy mà khi diễn đạt một nộidung miêu tả, tường thuật hay viết thư các em thường “quên” các bước liên kếttrong một bài văn để diễn đạt thật trình tự và lôgic Đó chính là những khó khăngặp phải khi dạy tập làm văn cho học sinh đặc biệt là các em ở thành phố có kĩnăng sống và vốn từ vựng rất ít
Qua thực tế dạy Tập làm văn nhiều năm ở lớp 4, tôi nhận thấy bài viết củacác em hầu như chỉ diễn đạt nội dung Câu văn chỉ mang tính chất thông báo
Trang 2chứ chưa có hình ảnh, chưa có cảm xúc Đây là điều tất nhiên, vì ở lứa tuổi nàyvốn sống và vốn kiến thức của các em còn hạn hẹp Đứng trước thực tế đó, tôirất băn khoăn và trăn trở: “ Làm thế nào để giúp các em yêu thích môn văn? Đểgiúp các em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, của cảnh vật, thiênnhiên, đất nước? Giúp các em có cơ hội bộc lộ cảm xúc của cá nhân, mở rộngtâm hồn và phát triển nhân cách cho các em?”.
Trả lời câu hỏi này, tôi đã cố gắng dùng mọi khả năng và kinh nghiệm củamình để khơi dậy những tiềm năng văn học đang ẩn dấu trong mỗi học sinh
Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày “ Một số biện pháp dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 4- trong Trường tiểu học”.
II Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Trong quá trình dạy học, môn Tiếng Việt ở chương trình hiện hành đượcthể hiện bởi nhiều phân môn khác nhau, mỗi phân môn mang một nhiệm vụkhác nhau Ví dụ phân môn tập đọc có nhiệm vụ cung cấp những tác phẩm vănhọc cho học sinh, hướng các em tìm hiểu để cảm thụ tác phẩm, rèn cho học sinh
kỹ năng đọc, nghe…môn Luyện từ và câu có nhiệm vụ rèn luyện cho học sinhnhững kỹ năng sử dụng cấu trúc ngữ pháp, cách dùng từ đặt câu… môn Kểchuyện rèn cho các em kỹ năng thể hiện cách trình bày… tất cả các phân môn
đó đều mang những chức năng riêng biệt
Nhưng phân môn Tập làm văn ra đời lại có một nhiệm vụ đặc biệt quantrọng Nó rèn luyện tổng hợp cho tất cả các phân môn trên, vừa cung cấp kiếnthức, vừa rèn luyện kỹ năng tập viết vừa rèn luyện kỹ năng dùng từ đặt câu…rèn luyện tất cả các yếu tố thuộc các phân môn đã cung cấp cho tập làm văn.Nói cách khác phân môn Tập làm văn ra đời đã góp phần thực hiện hoámục tiêu quan trọng bậc nhất hiện nay của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy họcsinh sử dụng tiếng việt trong đời sống sinh hoạt , trong quá trình lĩnh hội các trithức khoa học và tích luỹ kiến thức phục vụ cho cuộc sống hiện tại và tương lai.Chính vì thế mục đích của đề tài là nghiên cứu, đề xuất những biện pháp dạyTập làm văn lớp 4 - trong trường tiểu học
Trang 3III Khách thể và đối tượng:
Học sinh lớp 4 trong Trường Tiểu học
Một số biện pháp dạy Tập làm văn cho học sinh lớp 4- trong Trường tiểu học”
IV Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn giảng dạy phân môn tập làm vănđặc biệt là vấn đề bồi dưỡng năng lực viết tập làm văn của học sinh
Nghiên cứu trong chương trình Tiếng Việt lớp 4 về năng lực viết văn củahọc sinh lớp 4- trong Trường tiểu học
Nghiên cứu thông qua các tài liệu tham khảo, mạng Internet
Chương trình phân môn tập làm văn lớp 4
V Nhiệm vụ nghiên cứu.
Tìm hiểu cơ sở lý luận của giờ Tập làm văn
Tìm hiểu thực trạng của việc dạy Tập làm văn
Hệ thống hóa các vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
Một số giải pháp đề xuất để nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tậplàm văn
VI Phương pháp nghiên cứu.
* Khi nghiên cứu và thực nghiệm đề tài này tôi căn cứ vào các tài liệuchuẩn sau:
Sách Tiếng việt nâng cao lớp 4
Tài liệu bồi dường: Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học TiếngViệt ở lớp 4
Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
* Ngoài ra để thực hiện nội dung của đề tài, tôi còn sử dụng một số phươngpháp cơ bản như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 4- Phương pháp điều tra quan sát: Thông qua dạy- hướng dẫn học sinh họctập làm văn, khảo sát chất lượng học sinh, tìm hiểu thực trạng việc dạy phânmôn Tập làm văn ở khối lớp 4 Trường Tiểu học
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi với giáo viên trong khối vềnhững khó khăn, thuận lợi khi dạy phân môn tập làm văn ở lớp 4, tham khảosáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Kiểm nghiệm tính khả thi của đề tài
và tác dụng của những ý kiến đề xuất về dạy tập làm văn cho học sinh lớp 4 theohướng phát huy tính tích cực của học sinh Dạy thử nghiệm lớp 4 trong trườngTiểu học mình làm chủ nhiệm
VII Ý nghĩa khoa học của đề tài:
- Vận dụng những kinh nghiệm thực tế và phương pháp dạy học mới kếthợp với những biện pháp đã có trước đây vào giảng dạy tốt Tập làm văn chohọc sinh lớp 4- trong Trường tiểu học”
- Giúp học sinh biết viết được một bài văn hoàn chỉnh và giàu cảm xúc, có
sử dụng một số " nghệ thuật" cơ bản để viết được bài văn hay
- Gắn nội dung, ý nghĩa của mỗi thể loại văn với thực tế và việc rèn kĩnăng sống cho học sinh
VIII Giới hạn của đề tài:
Thời gian nghiên cứu: 1 năm ( năm học 2017 – 2018 )
IX Cấu trúc của đề tài:
Trang 5B PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ Lí LUẬN - CƠ SỞ THỰC TIỄN
I Cơ sở lý luận:
Việc nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng việt là một trong nhữngnhiệm vụ trọng tâm được đưa lên hàng đầu Cũng như các phân môn khác, tậplàm văn là một phân môn không thể thiếu trong môn Tiếng Việt và cả ngoài đờisống con người, trong nhà trường, đóng góp to lớn trong việc rèn luyện nhâncách, năng lực thẩm mỹ cho học sinh
Yêu cầu đặt ra hiện nay đối với người giáo viên tiểu học là phải làm thếnào để cung cấp đầy đủ kiến thức Ngôn ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, cách gieo vầnnghệ thuật tạo tình huống nghệ thuật xây dựng hình tượng Người giáo viênmuốn hướng dẫn học sinh viết văn tốt phải khai thác tất cả các khía cạnh củavấn đề để học sinh nắm bắt một cách hài hòa chu đáo tác phẩm.Việc bồi dưỡngkhả năng viết văn cho học sinh là không thể thiếu nhằm giúp cho học sinh tạocho mình một công cụ để tiếp nhận thông tin học tập trong nhà trường Tập làmvăn còn trang bị một số kiến thức cơ bản về văn bản nghệ thuật, để hiểu các vănbản nghệ thuật chuẩn bị cho việc học các tác phẩm văn chương ở các lớp tiếptheo
2.Cơ sở thực tiễn:
Thực tế đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh trong trường Tiểu
học ở các thành phố nói riêng còn hạn chế về kĩ năng học tập môn tập làm văn,học sinh còn thụ động, ít phát biểu, khi cần hỏi điều gì các em chậm đứng lên,dẫn đến việc thực hành làm văn còn khô cứng, trình bày bài văn thì chưa rõ bốcục, câu văn thiếu mạch lạc, viết thiếu ý, diễn đạt ý chưa phù hợp, bài văn thiếu
tính sáng tạo Bên cạnh đó, còn tồn tại một số em có kĩ năng sống cũng như
vốn từ vựng còn hạn chế do đó cũng sẽ ảnh hưởng đến việc học Tập làm văn củacác em Trong khi đó thì giáo viên chỉ dành ít thời gian để sửa chữa những saisót cho các em học sinh yếu vì sợ mất thời gian chung cho cả lớp Vì vậy việcdạy và học Tập làm văn là việc làm gặp không ít khó khăn và quả là việc làmđòi hỏi tinh thần trách nhiệm và lòng nhiệt tình cao
Trang 6CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG , NGUYÊN NHÂN I.THỰC TRẠNG LÀM VĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4.
Là trường Tiểu học mới được thành lập và đi vào hoạt động được 2 nămnay trên địa bàn Mục tiêu đề ra cũng như quyết tâm phấn đấu của tập thể nhàtrường tiến tới đạt trường chuẩn Quốc gia mức độ I Bên cạnh đó, địa bàn dân cư
là nơi có nhiều khu chung cư và khu đô thị mới được thành lập Chính vì vậydân cư ở đây tập trung khá đông đúc, dân cư chủ yếu là các tỉnh khác chuyển vềmang theo nhiều phong tục tập quán cũng như văn hóa sinh hoạt khác nhau Họcsinh trong trường phần lớn là con em của người dân mới chuyển đến và từ cáctỉnh khác chuyển về do vậy kiến thức cũng như kĩ năng không đồng đều, đặcbiệt là khả năng viết văn của các em
Qua thực tế giảng dạy và nghiên cứu khảo sát chất lượng môn tập làm văncủa học sinh khối lớp 4 của trường trong năm học 2017 - 2018 Bản thân tôi đãnhận thấy: Hầu hết học sinh được sinh ra và lớn lên trong môi trường đô thị nênvốn Tiếng Việt của các em còn hạn chế, đặc biệt là những từ ngữ liên quan đếnmôi trường tự nhiên và xã hội nên các em làm văn theo kiểu liệt kê chứ bài vănchưa có cảm xúc, hình ảnh chưa biết kết hợp sử dụng các biện pháp nghệ thuật
và các yêu tố khác trong bài văn
Nên ngay từ đầu năm học 2017 - 2018, trong phạm vi nghiên cứu, tôi đãthống kê chất lượng bài làm tập làm văn của học sinh cả khối 4 trong trường tôidạy cụ thể như sau:
Lớp Sĩ số HS Bài mức 3
(9- 10)
Bài mức 2(7-8)
Bài mức 1(5-6)
Bài điểmdưới 5
II, NHỮNG NGUYÊN NHÂN
Trang 71 Về phía học sinh
- Do khả năng tư duy của học sinh Tiểu học còn dừng lại ở mức độ tư duyđơn giản trực quan nên việc làm văn của học sinh còn gặp nhiều khó khăn Chấtlượng cảm thụ văn học của học sinh chưa đồng đều dẫn đến chất lượng làm vănchưa cao
- Vốn sống và vốn kiến thức văn của học sinh nhất là học sinh còn hạn chếđặc biết là các em học sinh trái tuyến ở các tỉnh khác chuyển về Đa số các em
là con em có bố mẹ có điều kiện tuy nhiên ý thức mua sách báo cho con emmình đọc còn rất ít nên văn nói và viết của học sinh còn khô khan bí từ,chưa biếtcách dùng từ, đặt câu, sử dụng các kiểu câu, mẫu câu trong bài văn Hơn nữakhông ít em chưa có thói quen đọc sách, ham đọc sách vì thế các em ít có sự say
mê với các tác phẩm văn học
- Chính vì những khó khăn và hạn chế nêu trên nên chất lượng làm văn củahọc sinh lớp chưa đạt kết quả như mong muốn
2.Về phía giáo viên
- Giáo viên chưa hình thành cho học sinh thói quen tập trung chú ýquan sát, sử dụng các giác quan, chưa biết vừa đọc vừa tưởng tượng ra khungcảnh, cuộc sống hay sự vật mà đề bài yêu cầu
- Bài giảng có nghiên cứu kĩ, có đầu tư trong giờ lên lớp, nhưng có hạnchế ở phần tiếp thu của học sinh là do các em còn xem nhẹ phần tìm hiểu yêucầu của đề và phần lồng ghép hình ảnh,cảm xúc của người viết
- Chưa thực sự khai thác hết thế mạnh của các phương pháp dạy học tích
cực và những kĩ thuật dạy học mới vào bài dạy trong từng bài học
Từ những nguyên nhân trên nên tôi mới tìm ra giải pháp để giúp học sinhhọc tốt phân môn tập làm văn lớp 4 Thật đáng mừng qua một thời gian áp dụngchất lượng làm văn của học sinh đã được nâng cao một cách rõ rệt Tôi xinmạnh dạn chia sẻ cùng các bạn đồng nghiệp
CHƯƠNG III
Trang 8MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN CHO HỌC SINH
LỚP 4- TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC
Với mục đích đề tài cùng với những nguyên nhân nêu trên nên bản thântôi đã có những biện pháp và việc làm cụ thể để nâng cao hiệu quả giờ dạy tậplàm văn trước hết người giáo viên phải thực hiện tốt những hoạt động sau đây:
I Những điều giáo viên cần lưu ý khi dạy Tập làm văn lớp 4.
1 Cung cấp các kiến thức văn học.
Từ ngữ là nhân tố cơ bản để xây dựng câu văn, đoạn văn, bài văn Nó cómột vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng Hiểu, sử dụng đúng, sử dụng hay mới
có thể diễn đạt và diễn đạt tốt nội dung, ý kiến của mình Vậy mà vốn từ của các
em rất ít Điều này khiến tôi suy nghĩ rất nhiều Những kiến thức lơ mơ, thiếuvốn từ làm thế nào có thể viết văn hay được Bằng mọi cách phải bổ sung vàovốn từ ít ỏi của các em bằng sự phong phú của tiếng Việt Cách làm nhanh nhất
là thông qua môn Tập đọc Tôi cho các em nêu và tập giải nghĩa tất cả những từngữ mà các em chưa hiểu, sau đó tôi chốt lại một từ yêu cầu các em ghi vào “ sổtừ”, tập đặt câu để hiểu chắc chắn, biến từ đó thực sự là vốn từ của mình
Ví dụ: Ở bài Dế Mèn bênh vực kẻ yêu ( Tiếng Việt 4 tập 1A trang 4), tôi
yêu cầu các em sau giờ học phải bổ sung vào vốn từ của mình các từ ngữ vàhình ảnh
* Chị Nhà Trò : “bé nhỏ lại gầy yếu” “cánh non nớt lại ngắn chùn chùn” “sống thui thủi” “bị đe doạ” : “đánh” “vặt cánh vặt chân ăn thịt”…
Chị là hiện thân của sự yếu đuối, bất hạnh và bị bóc lột trong xã hội
- Cảm xúc của bản thân : thương cảm, xúc động
* Bài “Người ăn xin” – Tuốc-Ghê-Nhép”
“ Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không
có cả một chiếc khăn tay Trên người tôi chẳng có tài sản gì Người ăn xin vẫnđợi tôi Tay vẫn chìa ra run lẩy bẩy”.Tôi chẳng biết làm cách nào Tôi nắm chặtlấy bàn tay run rẩy kia
Trang 9- Ông đừng giận cháu, cháu không có để cho ông cả”
Trình bày suy nghĩ của em về nhân vật cậu bé được miêu tả trong đoạn văn
trên Hành động “Lục tìm hết túi nọ túi kia”
“Nắm chặt lấy bàn tay run rẩy”
Lời nói : “Ông đừng giận cháu …”
Cậu bé là một con người có tấm lòng nhân hậu thương cảm và muốn giúp
đỡ ông lão ăn xin nghèo khổ dù ông lão và cậu là hai con người ở hai hoàn cảnhkhác nhau
- Ý nghĩa : Ca ngợi những con người giàu lòng nhân ái
- Cảm xúc của bản thân : yêu quý – cảm phục – học tập
Cứ như vậy qua môn Tập đọc học sinh tích lũy được “ vốn liếng” từ không
hề nhỏ Ngoài ra cuối mỗi tiết Tập đọc tôi thường cho học sinh tìm những câuvăn hay trong bài, những câu văn mang tính nghệ thuật cao và nhận xét về cáchviết văn để các em đưa vào văn bản của mình
2 Luyện điền từ, chọn từ.
Với dạng bài này tôi cho các em luyện tập ở các tiết “Luyện tập xây dựngđoạn văn”, giúp các em lựa chọn các câu văn hay để viết đoạn văn, vừa khiếncho các tự giác trong giờ học vừa phát huy được vốn từ đã tích lũy được ở cáclớp dưới
* Điền từ để câu văn giàu hình ảnh:
- Hương thơm sực lên, toả hương (nồng nàn)khắp mọi nơi
- Hoa Cúc (lộng lẫy) cánh hoa vàng (rực rỡ)
- Bầu trời xanh (thăm thẳm), mây trắng (bồng bềnh) trôi
- Ánh nắng ( chói trang) xuyên qua kẽ lá
- Cánh đồng lúa chín vàng trông như một tấm thảm ( khổng lồ)
- Khuôn mặt của bà nhân hậu ( hiền từ) như bà tiên trong chuyện cổ tích.Việc chọn từ điền vào câu văn, giáo viên nên để học sinh thoải mái, không
ép hay áp đặt Sau mỗi lần để học sinh chọn điền tôi cũng để học sinh khác bình
Trang 10luận, nhận xét xem câu nào hay hơn Các em học chưa tốt môn văn có thể họchỏi được nhiều từ, câu của các bạn giỏi Bài tập này đa dạng, dễ cho ví dụ Giáoviên nên khuyến khích và động viên làm tốt Nếu với những câu quá khó giáoviên có thể gợi ý.
3 Dạy viết câu có kết cấu đơn giản.
Câu văn là một bộ phận của bài văn Vì vậy, muốn có một đoạn văn haythì phải có các câu văn hay Muốn viết được câu văn hay, ngoài việc sử dụngcác dạng câu quen thuộc Ai làm gì? Ai thế nào? Ai là gì? câu khiến, câu hỏi,câu cảm, dùng từ chính xác Dạy những loại câu này đối với học sinh khôngkhó Ta chỉ cần hướng dẫn tốt qua tiết Luyện từ và câu Xác định các yêu cầu cơbản học sinh cần nắm được, và thường xuyên củng cố cho học sinh
Câu phải có hai bộ phận chính: Chủ ngữ và vị ngữ
- Chủ ngữ trả lời câu hỏi: Ai? Cái gì? Con gì? Vật gì?
- Vị ngữ trả lời câu hỏi: Làm gì? Như thế nào? Là gì?
4 Dạy viết một vài dạng câu có kết cấu phức tạp.
Câu văn cần phải có hình ảnh Có hình ảnh, câu văn sẽ có màu sắc, đườngnét, hình khối, Để câu văn có hình ảnh, các em cần lưu ý sử dụng các từ ngữgợi tả, gợi cảm và các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, điệp ngữ,đảo ngữ, Các hình thức nghệ thuật này sẽ làm cho câu văn trở nên sinh độnghơn rất nhiều
Bởi vậy, ta cần trang bị những kiến thức nâng cao về câu cho những “mầmnon văn học” Tuy nhiên ta không bắt buộc học sinh tiếp thu những gì quá phứctạp không phù hợp với tâm lí lứa tuổi Một số dạng câu có thể dạy là:
Trang 11Ngoài vườn, Bác Hoa đang trồng rau.
Học sinh rất dễ nhầm lẫn “Ngoài vườn” là chủ ngữ nếu chưa tiếp xúc với loạicâu này Bởi vậy, tôi cho học sinh đặt câu hỏi:
+ Câu trên thuộc mẫu câu nào ? Bộ phận nào trả lới cho câu hỏi Ai ?
- Bộ phận " Bác Hoa " Trả lời câu hỏi Ai ? Vậy " Bác Hoa là chủ ngữ
+ Bộ phận nào trả lới cho câu hỏi làm gì ?
Bộ phận " đang trồng rau" Trả lời cho câu hỏi Làm gì ? Vậy " đang trồngrau" là vị ngữ
“Ngoài vườn” là bộ phận gì? học sinh sẽ rút ra đó là bộ phận phụ nói rõ nơiBác Hoa đang làm việc
Tương tự như vậy tôi hướng dẫn học sinh hiểu về trạng ngữ chỉ thời gian,nguyên nhân, mục đích, nơi chốn để học sinh có thể đặt câu:
Ví dụ:- Để có tiền ăn học, Lan đã phải làm việc rất vất vả
- Trên cành cây, Những chùm phượng đã bắt đầu hé nở
- Nhờ chăm chỉ, Mai đã trở thành cháu ngoan bác Hồ
b Câu có nhiều chủ, vị.
- Với cùng một nội dung thông báo, song với mỗi cách viết lại có một cáchhiểu khác nhau
VD: Với nội dung: Con sông chảy qua một cánh đồng, tôi hướng dẫn học
sinh có thể diễn tả bằng nhiều cách như sau :
- Con sông nằm uốn khúc giữa cánh đồng xanh mướt lúa khoai (Vẻ đẹp thuần tuý).
- Con sông khoan thai nằm phơi mình trên cánh đồng xanh mướt lúa khoai
(Vẻ đẹp khoẻ khoắn).
- Con sông hiền hoà chảy qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai.( Vẻ đẹp hiền hoà).
Trang 12- Con sông lặng lẽ dấu mình giữa cánh đồng xanh mướt lúa khoai.(Vẻ đẹp trầm tư).
- Con sông mềm như một dải lụa vắt ngang qua ánh đồng xanh mướt lúa
5 Dạy các biện pháp nghệ thuật.
Một bài văn hay thì trong bài văn không thể thiếu tính nghệ thuật Họcsinh lớp 4 kiến thức về lĩnh vực này còn hiểu lơ mơ, hời hợt Nếu giáo viênkhông dạy, học sinh khó mà nắm bắt được Để đưa nghệ thuật vào trong văn córất nhiều biện pháp Nhưng theo tôi, đối với học sinh ở lứa tuổi này, hai biệnpháp nghệ thuật phù hợp nhất là so sánh và nhân hóa
5.1 Biện pháp so sánh.
Để nhận biết và sử dụng thành thạo biện pháp nghệ thuật này tôi đã hướngdẫn học sinh tìm các câu có các biện pháp so sánh trong các bài Tập đọc , cácbài văn đã học
Ví dụ :
Trái Sầu riêng lủng lẳng dưới cành trông như những tổ kiến
Mùa xuân, phượng ra lá Lá xanh um mát rượi ngon lành như lá me non
Ông mặt trời đỏ như quả cầu lửa đang từ từ nhô lên ở đằng đông
Dòng sông mền như một dải lụa vắt qua cánh đồng xanh mướt lúa khoai
Đám mây mỏng như một dải lụa đang bay qua bầu trời
Ánh nắng vàng như mật ong đang trải khắp cánh đồng
Cây bàng như một chiếc ô khổng lồ toả bóng mát rượi
Bác nông dân khoẻ như một đô vật, nước da như màu đồng hun
5.1.1 Nhận xét những hình ảnh so sánh trong đoạn văn, câu văn.
Trang 13So sánh như vậy giúp các em cảm nhận được điều gì mới mẻ của sự vật?
Bà như quả ngọt chín rồi
Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng.
(Võ Thanh An)
So sánh bà ( sống lâu, tuổi đã cao) như quả ngọt chín rồi (quả đến độ giàgiặn, có giá trị dinh dưỡng cao) So sánh như vậy để cho người người đọc sự suynghĩ, liên tưởng: Bà có tấm lòng thơm thảo, đáng quý; có ích lợi cho cuộc đời,đáng nâng niu và trân trọng
Dạng bài này không khó đối với học sinh nhưng không phải học sinh nàocũng cảm nhận được cái đẹp, cái mới mẻ trong đoạn văn, đa phần các em chỉnhận ra hình ảnh so sánh
5.1.2 Điền từ thích hợp vào chỗ trống tạo thành câu văn có hình ảnh so sánh gợi tả.
- Nhìn từ xa, cây bàng… một chiếc ô khổng lồ lợp bằng lá xanh tươi
- Những trái chuối cong cong… vầng trăng khuyết
- Những chiếc gai… những chú lính đứng trang nghiêm gác cho nàng côngchúa hoa hồng
Ở dạng bài này tôi hướng dẫn các em chọn các từ sau để điền: như, giốngnhư, tựa, tựa như, tựa hồ, như là, giống hệt
5.1 3 Hãy thêm vế câu để được hình ảnh so sánh thích hợp vào mỗi chỗ trống để mỗi dòng dưới trở thành câu văn có ý nghĩa mới mẻ, sinh động.
- Hoa chuông treo lủng lẳng từng chùm trên cây như (những chiếc đènlồng nhỏ xíu hoặc chùm quả)
- Ngựa lao nhanh trên đường đua tựa như (những mũi tên bay trong gióhoặc những viên đạn rời khỏi lòng súng)
- Đôi cánh mẹ gà xoè ra như (hai mái nhà hoặc chiếc ô dù vững chãi) chechở cho các chú gà con
Trang 14- Ánh mắt dịu hiền của mẹ là (ngọn lửa sưởi ấm cuộc đời con hoặc ngôisao dẫn đường cho con đi lên phía trước).
Với dạng bài này tôi giúp học sinh thường xuyên luyện tập chọn từ điềnthoải mái, không áp đặt Sau đó nhận xét tìm ra những từ ngữ hay nhất, khenhọc sinh để cho học sinh hứng thú học văn
5.2 Biện pháp nhân hóa.
Đây là biện pháp quen thuộc với các em Các em được tiếp xúc từ khi còntrong vòng tay bế bồng của mẹ qua những lời ru cái cò, cái ốc Rồi những câuchuyện cổ tích của bà, của cô giáo, các em đã được tiếp xúc với cả một thế giớiphong phú của nghệ thuật nhân hoá Không cần phải dạy nhiều, ta chỉ cần giớithiệu học sinh sẽ nhanh chóng nhận biết được ngay
Để học sinh thấy được sự ưu việt của biện pháp nghệ thuật này, tôi đã chocác em tự tìm và viết ra các câu nhân hóa như:
Ánh trăng vạch kẽ lá nhìn xuống
Vườn trường khoác một chiếc áo xanh um dệt bằng lá nhãn
Ánh nắng dang rộng vòng tay ôm ấp ngôi nhà
Mặt trời vừa thức dậy ở đằng đông
Những bông hoa đang tươi cười trong nắng sớm
Mấy chú chim đang trò chuyện ríu rít trên cành cây
Học sinh đều nhận thấy vì đã sử dụng biện pháp nhân hóa các sự vật trởnên sinh động, đáng yêu vì đã có những suy nghĩ, tính cách của con người Sau khi các em nắm bắt được tác dụng của biện pháp này, tôi giới thiệucho các em cách nhân hoá sự vật
5.2.1 Gọi tên sự vật.
Chúng ta có thể gọi tên sự vật như khi gọi tên người: Cô trăng, chị gió, bácmặt trời, anh gà trống, chị Mái Mơ, bác mèo mướp, chị chuối tiêu
5.2.2 Gắn suy nghĩ, tính cách, hoạt động của người vào sự vật.
Những cơn gió rón rén bước trên mặt hồ