Theo Ph.Ăng-ghen : “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” Khi nhấn
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Ý thức là một phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó là hình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng con người mới có Ý thức của con người là cơ năng của cái “ khối vật chất đặc biệt phức tạm mà người ta gọi là bộ óc con người” (theo Lê-nin)
Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng to lớn không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cự hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo của ý thức mà biểu hiện ra là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưởng.
Trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều không ngừng nâng cao khả năng nhận thức cho bản thân mình Vì vậy, ý thức luôn biểu hiện và có vai trò rất quan trọng trong đời sống của mỗi con người Nhưng ý thức có từ đâu và hiện hữu như thế nào cũng là một câu hỏi khiến chúng ta phải suy nghĩ rất nhiều vì chưa thể tìm được một câu trả lời chính xác Vì vậy, để giải đáp cho những thắc mắc về sự xuất hiện và tồn tại của ý thức, nhóm
1 sẽ thảo luận về chủ đề: "Quan điểm của duy vật biện chứng về nguồn gốc và bản chất của ý thức”.
Các thành viên trong nhóm:
Trang 3NỘI DUNG Trang
B QUAN ĐIỂM CỦA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ Ý THỨC 9
II Nguồn gốc của ý thức theo quan điểm của duy vật biện chứng 9
III Bản chất và kết cấu của ý thức theo quan điểm của duy vật biện chứng 12
A PHÉP DUY VẬT BIỆN CHỨNG
I Khái niệm phép duy vật biện chứng
Trang 4Phép biện chứng duy vật
do C Mác và Ph.Ăng-ghen
xây dựng trên cơ sở kế thừa có
phê phán hạt nhân hợp lý trong
phép biện chứ ng của
G.W.Ph.Hê-ghen, là phép biện
chứng dựa trên nền tảng của
chủ nghĩa duy vật, xuất phát từ
biện chứng khách quan của tự
nhiên và xã hội
Theo Ph.Ăng-ghen : “Phép
biện chứng chẳng qua chỉ là
môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”
Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, Ph.Ăng-ghen còn đưa
ra một định nghĩa khác về phép biện chứng duy vật: “phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý về sự phát triển trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hê-ghen, V.I.Lê-nin cho rằng, trong số những thành quả đó thì thành quả chủ yếu là phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện, học thuyết về tính tương đối của nhận thức của con người, nhận thức này phản ánh vật chất luôn luôn phát triển không ngừng
II Quy luật và vai trò của phép duy vật biện chứng
Phép biện chứng duy vật là lý luận khoa học về các mối
liên hệ phổ biến về sự vận động, phát triển của mọi sự vật,
hiện tượng, là những quy luật chung nhất, phổ biến nhất của
duy Phép biện chứng duy vật bao gồm hai nguyên lý cơ
bản; sáu cặp phạm trù và ba quy luật cơ bản
1 Hai nguyên lý cơ bản của phép duy vật biện chứng
a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến:
Thế giới có vô vàn các sự vật, hiện tượng nhưng chúng tồn tại trong mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau; tức là chúng luôn luôn tồn tại trong sự quy định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm biến đổi lẫn nhau Mặt khác, mỗi sự vật hay hiện tượng của thế giới cũng là một hệ thống, được cấu thành từ nhiều yếu tố, nhiều mặt… tồn tại trong mối liên
hệ ràng buộc lẫn nhau, chi phối và làm biến đổi lẫn nhau
Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng rất đa dạng, muôn hình, muôn vẻ Có mối liên
hệ bên trong là mối liên hệ giữa các mặt, các yếu tố trong một sự vật hay một hệ thống
Có mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa vật này với vật kia, hệ thống này với hệ
Trang 5thống kia Có mối liên hệ chung, lại có mối liên hệ riêng Có mối liên hệ trực tiếp không thông qua trung gian lại có mối liên hệ gián tiếp, thông qua trung gian Có mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên; mối liên hệ cơ bản và không cơ bản…
Ý nghĩa phương pháp luận: phải có quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử –
cụ thể, phải xem xét kỹ các mối liên hệ bản chất, bên trong sự vật, hiện tượng; cần tránh cách nhìn phiến diện, một chiều, chung chung trong việc nhận thức, giải quyết mọi vấn đề trong thực tiễn cuộc sống và công việc
b Nguyên lý về sự phát triển:
Mọi sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển không ngừng Vận động và phát triển không đồng nghĩa như nhau Có những vận động diễn ra theo khuynh hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Có khuynh hướng vận động thụt lùi, đi xuống nhưng nó là tiền đề, là điều kiện cho sự vận động đi lên Có khuynh hướng vận động theo vòng tròn, lặp lại như cũ
Phát triển là khuynh hướng vận động từ thấp lên cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng; là quá trình hoàn thiện về chất và nâng cao trình độ của chúng Phát triển là khuynh hướng chung của thế giới và nó có tính phổ biến, được thể hiện trên mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy
Trong tự nhiên có phát triển của giới vô sinh và hữu sinh Trong xã hội, có phát triển của tiến trình lịch sử xã hội loài người Xã hội loài người ở thời đại sau bao giờ cũng phát triển cao hơn, tiến bộ hơn xã hội thời đại trước về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá… Phát triển trong tư duy là nhận thức con người ngày càng rõ hơn, khám phá ra những điều bí ẩn của thế giới vô cùng, vô tận Nhận thức của từng người là có hạn, nhận thức của con người là vô hạn Nhận thức của thế hệ sau, bao giờ cũng kế thừa, phát triển và có những biểu hiện cao hơn thế hệ trước
Nguyên nhân của sự phát triển là do sự liên hệ và tác động qua lại giữa các mặt, các yếu tố bên trong của sự vật, hiện tượng, không phải do bên ngoài áp đặt, càng không phải
do ý muốn chủ quan của con người quy định Con người chỉ có thể nhận thức và thúc đẩy hiện thực phát triển nhanh, hoặc chậm lại mà thôi
Ý nghĩa phương pháp luận: Nguyên lý về sự phát triển giúp chúng ta nhận thức
sự vật, hiện tượng theo xu hướng vận động phát triển, tránh được cách nhìn phiến diện với tư tưởng định kiến, bảo thủ Là cơ sở khoa học để hình thành tư tưởng lạc quan trước những khó khăn, thất bại trong công việc và cuộc sống, vững tin vào tương lai
2 Những quy luật cơ bản của phép duy vật biện chứng
a Về nhận thức quy luật:
Trang 6Quy luật là những mối liên hệ bản chất, tất nhiên, bên trong, có tính phổ biến và được lặp đi, lặp lại giữa các mặt, các yếu tố trong cùng một sự vật, hiện tượng, hay giữa các sự vật hiện tượng
Trong thế giới khách quan có nhiều quy luật khác nhau Có những quy luật chung, phổ biến tác động trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy Có những quy luật riêng, quy luật đặc thù chỉ tác động một hay một số mặt trong một lĩnh vực nào đó Dù là quy luật tự nhiên hay quy luật xã hội đều có tính khách quan
Quy luật tự nhiên diễn ra một cách tự phát, thông qua tác động của lực lượng tự nhiên Quy luật xã hội, được hình thành và tác động thông qua hoạt động của con người Quy luật xã hội thường biểu hiện ra như một xu hướng, không biểu hiện theo quan hệ trực tiếp, có tính xác định với từng việc, từng người Các sự kiện trong đời sống xã hội nếu xảy ra trong thời gian càng dài, không gian càng rộng, lặp đi, lặp lại thì tính quy luật của nó biểu hiện càng rõ
Tác động của quy luật xã hội phụ thuộc vào nhận thức và vận dụng của con người Con người là chủ thể của xã hội và của lịch sử Không có con người thì không có xã hội
và do đó cũng không có quy luật của xã hội, Quy luật của xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động của con người Con người không thể sáng tạo ra quy luật hay xoá bỏ quy luật theo ý muốn chủ quan của mình
Ý nghĩa phương pháp luận: con người nhận thức được quy luật sẽ có thể chủ
động vận dụng quy luật, tạo ra những điều kiện thuận lợi, hoặc hạn chế tác hại của quy luật để phục vụ nhu cầu lợi ích của mình
b Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đổi lập
“Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập” là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản của mọi sự vận động, phát triển và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật
Mặt đối lập là những mặt có tính chất trái ngược nhau nhưng chúng tồn tại trong sự quy định lẫn nhau như cực âm và cực dương của mỗi dòng điện, đồng hóa và dị hóa trong mỗi cơ thể sống, cung và cầu các hàng hóa trên thị trường
Sự vật, hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của các mặt đối lập Từ mặt đối lập mà hình thành mâu thuẫn biện chứng – mâu thuẫn bao hàm sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Các mặt đối lập liên hệ với nhau, thâm nhập vào nhau, tác động qua lại lẫn nhau, làm tiền đề tồn tại cho nhau, bài trừ, phủ định lẫn nhau
Các mặt đối lập trong mỗi sự vật vừa thống nhất lại vừa đấu tranh tác động, bài trừ phủ định nhau Sự đấu tranh đó đưa đến sự chuyển hoá làm thay đổi mỗi mặt đối lập, hoặc cả hai mặt đối lập, chuyển lên trình độ cao hơn hoặc cả hai mặt đối lập cũ mất đi, hình thành hai mặt đối lập mới Do đó, có thể nói: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn gốc và động lực cơ bản của mọi sự vận động và phát triển
Trang 7Sự thống nhất các mặt đối lập là tương đối Bất cứ sự thống nhất nào cũng là sự thống nhất có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, gắn với đứng im tương đối của sự vật Đứng im
là thời điểm các mặt đối lập có sự phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau Đây là trạng thái cân bằng giữa các mặt đối lập
Đấu tranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối vì là các mặt đối lập nó vận động trái chiều nhau, không ngừng tác động, ảnh hưởng đến nhau, làm sự vật, hiện tượng biến đổi, vận động Kết quả của quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập, mặt đối lập chứa đựng các yếu tố tích cực, tiến bộ nhất định thắng lợi và trở thành nguyên nhân, nguồn gốc của sự phát triển
Ý nghĩa của quy luật: Trong nhận thức và thực tiễn phải phát hiện được những
mâu thuẫn của sự vật hiện tượng, biết phân loại mâu thuẫn, có các biện pháp để giải quyết mâu thuẫn thích hợp Phải có quan điểm lịch sử cụ thể khi giải quyết mâu thuẫn
c Quy luật chuyển hoá từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đôi
về chất và ngược lại
“Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại” là quy luật về phương thức cơ bản của mọi sự vận động, phát triển
Mỗi sự vật, hiện tượng đều gồm hai mặt đối lập chất và lượng Chất là chỉ các thuộc tính khách quan, vốn có của các sự vật, hiện tượng; còn lượng là chỉ số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô tồn tại và tốc độ, nhịp điệu biến đổi của chúng
Trong mỗi sự vật, hiện tượng, chất và lượng tồn tại trong tính quy định lẫn nhau, không có chất hay lượng tồn tại tách rời nhau Tương ứng với một lượng (hay một loại lượng) thì cũng có một chất (hay loại chất) nhất định và ngược lại Vì vậy, những sự thay đổi về lượng đều có khả năng dẫn tới những sự thay đổi về chất tương ứng và ngược lại, những sự biến đổi về chất của sự vật lại có thể tạo ra những khả năng dẫn tới những biến đổi mới về lượng của nó Sự tác động qua lại ấy tạo ra phương thức cơ bản của các quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng
Sự thống nhất giữa lượng và chất, được thể hiện trong giới hạn nhất định gọi là độ
Độ là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa lượng và chất mà ở đó đã có sự biến đổi về lượng nhưng chưa có sự thay đổi về chất; sự vật khi đó còn là nó, chưa là cái khác Đến điểm nút, qua bước nhảy bắt đầu có sự thay đổi về chất Sự vật biến đổi hoàn toàn về chất thành sự vật khác
Chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt thường xuyên biến đổi Lượng biến đổi mâu thuẫn, phá vỡ chất cũ, chất mới ra đời với lượng mới Lượng mới lại tiếp tục biến đổi đến giới hạn nào đó lại phá vỡ chất cũ thông qua bước nhảy Quá trình cứ thế tiếp diễn tạo nên cách thức vận động phát triển thống nhất giữa tính liên tục và tính đứt đoạn trong sự vận động phát triển của sự vật
Trang 8 Ý nghĩa cùa quy luật: Con người nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tích lũy
lượng để thực hiện biến đổi về chất (“tích tiểu thành đại”, “góp gió thành bão”) của các sự vật hiện tượng, khắc phục được khuynh hướng chủ quan, duy ý chí, muốn các bước nhảy liên tục Mặt khác, cần khắc phục tư tưởng hữu khuynh, ngại khó khăn, lo sợ không dám thực hiện những bước nhảy vọt khi có đủ điều kiện Trong hoạt động thực tiễn, cần tích cực chuẩn bị kỹ mọi điều kiện chủ quan Khi
có tình thế, thời cơ khách quan thì kiên quyết tổ chức thực hiện bước nhảy để giành thắng lợi quyết định
d Quy luật phủ định của phủ định
“Quy luật phủ định của phủ định” là quy luật về khuynh hướng chung của mọi sự vận động, phát triển
Thế giới vật chất tồn tại, vận động phát triển không ngừng Sự vật hiện tượng nào đó xuất hiện, mất đi, thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác Sự thay thế đó gọi là phủ định Phủ định biện chứng có đặc trưng cơ bản là sự tự phủ định do mâu thuẫn bên trong, vốn có của sự vật; là phủ định gắn liền với sự vận động phát triển Phủ định biện chứng là phủ định có sự kế thừa yếu tố tích cực của sự vật cũ và được cải biến đi cho phù hợp với cái mới Không có kế thừa thì không có phát triển nhưng là kế thừa có chọn lọc Phủ định biện chứng là sự phủ định vô tận Cái mới phủ định cái cũ, nhưng cái mới không phải là mới mãi, nó sẽ cũ đi và bị cái mới khác phủ định; không có lần phủ định nào là phủ định cuối cùng Phủ định biện chứng gắn với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; mỗi loại sự vật có phương thức phủ định riêng Phủ định trong tự nhiên khác với phủ định trong xã hội và cũng khác với phủ định trong tư duy
Sự vật nào vận động phát triển cũng có tính chu kỳ Sự vật khác nhau thì chu kỳ, nhịp điệu vận động phát triển dài, ngắn khác nhau Tính chu kỳ của sự phát triển là từ một điểm xuất phát, trải qua một số lần phủ định, sự vật dường như quay trở lại điểm xuất phát nhưng cao hơn Mỗi lần phủ định là kết quả của sự đấu tranh và chuyển hoá các mặt đối lập Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật trở thành cái đối lập với chính nó Phủ định lần thứ hai sự vật mới ra đời, đối lập với cái đối lập, nên sự vật dường như quay lại cái
cũ, nhưng trên cơ sở cao hơn
Phép biện chứng duy vật khẳng định vận động phát triển đi lên, là xu hướng chung của thế giới, nhưng không diễn ra theo đường thẳng, mà diễn ra theo đường xoáy ốc quanh co phức tạp Trong điều kiện nhất định, cái cũ tuy đã cũ, nhưng còn có những yếu
tố vẫn mạnh hơn cái mới Cái mới còn non nớt chưa có khả năng thắng ngay cái cũ Có thể có lúc, có nơi, cái mới hợp với quy luật của sự phát triển, nhưng vẫn bị cái cũ gây khó khăn, cản bước phát triển
Ý nghĩa của quy luật: Khi xem xét sự vận động phát triển của sự vật, phải xem
xét nó trong quan hệ cái mới ra đời từ cái cũ, cái tiến bộ ra đời từ cái lạc hậu, con người phải tôn trọng tính khách quan, chống phủ định sạch trơn, hoặc kế thừa không có chọn lọc Mỗi người cần bênh vực, ủng hộ cái mới, tin tưởng vào cái
Trang 9mới tiến bộ Khi có những bước thoái trào cần xem xét kỹ lưỡng, phân tích nguyên nhân, tìm cách khắc phục để từ đó có niềm tin tưởng vào thắng lợi
B QUAN ĐIỂM CỦA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VỀ Ý THỨC
I Khái niệm ý thức
Ý thức theo định nghĩa
của triết học Mác –
Lê-nin là một phạm trù song
song với phạm trù vật chất,
theo đó ý thức là sự phản
ánh thế giới vật chất khách
quan vào bộ óc con người
và có sự cải biến và sáng
tạo Ý thức có mối quan hệ
hữu cơ với vật chất
II Nguồn gốc của ý thức theo quan điểm của duy vật biện chứng
Trên cơ sở khái quát thành tựu của khoa học, của thực tiễn xã hội, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc vật chất, bản chất phản ánh vật chất của ý thức để rút
ra vai trò của ý thức trong mối quan hệ với vật chất
Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng ý thức ra đời là kết quả của quá trình tiến hóa
lâu dài của tự nhiên và xã hội Ý thức có hai nguồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn
gốc xã hội
1 Nguồn gốc tự nhiên của ý thức
Theo quan điểm của duy vật biện chứng, ý thức được thể hiện qua sự hình thành của
bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới khách quan, trong đó thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo Nếu không có sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người và không có bộ não người với tính cách là cơ quan vật chất của ý thức thì sẽ không có ý thức Bộ não người và sự tác động của thế giới khách quan vào bộ não người
là nguồn gốc tự nhiên của ý thức
a Về bộ óc con người
Ý thức là thuộc tính của dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là chức năng của
bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc Bộ não người là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài của giới sinh vật Bộ óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức con người càng phong phú và sâu sắc
Bộ não của động vật chỉ đạt đến trình độ phản xạ, bản năng, tâm lý động vật, trong khi đó bộ óc người có khả năng phản ánh thế giới bằng tư duy trừu tượng
Trang 10b Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo
Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới
khách quan, thông qua hoạt động của các giác quan,
thế giới khách quan tác động đến bộ óc người, hình
thành quá trình phản ánh Phản ánh là sự tái tạo những
đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác
trong quá trình tác động qua lại với nhau giữa chúng
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật
chất, thuộc tính phản ánh của vật chất cũng phát triển
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp:
- Phản ánh vật lý, hóa học: là hình thức phản ánh thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh được thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hóa khi có sự tác động qua lại với nhau giữa các dạng vật chất vô sinh Hình thức phản ánh này mang tính thụ động, chưa có định hướng lựa chọn của vật nhận tác động
- Phản ánh sinh học: là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho giới tự nhiên hữu sinh được thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ Tính kích thích là phản ứng của thực vật và động vật bậc thấp bằng cách thay đổi chiều hướng sinh trưởng, phát triển, thay đổi màu sắc, cấu trúc…khi nhận sự tác động trong môi trường sống Tính cảm ứng là phản ứng của động vật có hệ thần kinh tạo ra năng lực cảm giác, được thực hiện trên cơ sở điều khiển của quá trình thần kinh qua cơ chế phản xạ không điều kiện, khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống
- Phản ánh tâm lý: là phản ứng của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện
- Phản ánh năng động, sáng tạo: là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ óc người Là sự phản ánh có tính chủ động lựa chọn thông tin, xử lý thông tin để tạo ra các thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin
Sự phản ánh này được gọi là ý thức Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh của vật chất
2 Nguồn gốc xã hội của ý thức