1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Bài tập nhqt chương9,10 nhóm6

8 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài tập nhqt chương9,10 nhóm6
Tác giả Nhóm 6: Ngô Huy Hoàng, Nguyễn Hồ Ngọc Ngân, Nguyễn Phú Cường, Lâm Ngọc Hân, Nguyễn Minh Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế Tài chính
Thể loại Bài tập
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 23,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành viên nhóm 6 Ngô Huy Hoàng Nguyễn Hồ Ngọc Ngân Nguyễn Phú Cường Lâm Ngọc Hân Nguyễn Minh Anh Chương 9 Câu 1 Tỷ lệ vốn trên tài sản thấp – ít có khả năng thua lỗ (các hiệp hội tín dụng có tổng vốn.

Trang 1

Thành viên nhóm 6:

- Ngô Huy Hoàng

- Nguyễn Hồ Ngọc Ngân

- Nguyễn Phú Cường

- Lâm Ngọc Hân

- Nguyễn Minh Anh

Chương 9

Câu 1:

Tỷ lệ vốn trên tài sản thấp – ít có khả năng thua lỗ (các hiệp hội tín dụng có tổng vốn cổ đông chiếm 6,87% tổng tài sản - - vốn cổ đông chiếm 4,91% tổng tài sản của tất cả các ngân hàng ở Canada) Tỷ lệ tiền mặt trên tài sản thấp – có thể yêu cầu bán tài sản sinh lời để đáp ứng các nghĩa vụ tiền gửi Tỷ lệ nợ có nhu cầu cao và nợ ngắn hạn trên tổng nợ (tiền gửi) - có thể yêu cầu phải bán tài sản vội vàng đối với các tài sản sinh lãi không rõ ràng và không thanh khoản với các khoản lỗ do bán cháy có khả năng lớn để trả cho những người gửi tiền đang hoạt động

- Biến động kinh tế vĩ mô, cả bên ngoài và trong nước

- Bùng nổ cho vay, giá tài sản sụt giảm và dòng vốn chảy vào tăng mạnh (Chile đầu những năm 1980)

- Tăng nợ ngân hàng với kỳ hạn lớn hoặc chênh lệch tiền tệ

- Chuẩn bị không đầy đủ cho tự do hóa tài chính, cho phép các ngân hàng chấp nhận rủi ro quá mức trong các lĩnh vực mà họ có ít hoặc không có chuyên môn (các nước Bắc Âu vào cuối những năm 1980)

- Sự tham gia mạnh mẽ của chính phủ và kiểm soát yếu đối với hoạt động cho vay liên kết (Indonesia và Hàn Quốc vào cuối những năm 1990)

- Yếu kém trong kế toán, công bố thông tin, khung pháp lý (Châu Á năm 1997-1998)

- Các ưu đãi bị bóp méo đối với chủ sở hữu, người quản lý, người gửi tiền và người giám sát (Trung và Đông Âu vào những năm 1990)

- Chế độ tỷ giá hối đoái mở cho sự biến động đáng kể

Câu 2:

Các nước đang phát triển có nguy cơ khủng hoảng ngân hàng hơn các nước phát triển Vì:

- Nghiên cứu của Latter (1997) cho rằng nguyên ngân gây ra khủng hoảng ngân hàng có thể được phân thành 3 loại chính: (1) chính sách kinh tế vĩ mô; (2) chính sách kinh tế vi mô; và (3) chiến lược và hoạt động của từng ngân hàng => Các nước đang phát triển thì không có thế mạnh là những yếu tố này

- Xung đột, bất ổn chính trị hoặc xã hội kéo dài khiến cho việc thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, đời sống văn hóa khó khăn Chính phủ thiếu những biện

Trang 2

pháp bảo vệ những ngành công nghiệp non trẻ,đất nước không kinh tế để đầu tư

cơ sở hạ tầng Sự bóc lột của các nước phát triển, nền kinh tế đóng cửa và thiếu quyết tâm mở rộng giao lưu với thế giới bên ngoài cùng với đo việc nhà nước quản lý ngặt nghèo, thuế má nặng nề, không khuyến khích đầu tư khiến cho kinh

tế đất nước trở nên lạc hậu, kém phát triển

Câu 3:

- Cần phải chấp nhận các biện pháp thắt lưng buộc bụng để tránh sụp đổ tài chính, mặc dù các biện pháp này có những hiệu ứng suy thoái đối với sản xuất đầu ra

Vì vậy, nếu các quốc gia ngoài khu vực châu Âu (eurozone) bị buộc phải thực hiện các biện pháp thắt lưng buộc bụng, các quốc gia có khả năng (như Mỹ, Anh, Đức và Nhật Bản) nên cung cấp các gói kích thích kinh tế ngắn hạn và trì hoãn nỗ lực thắt lưng buộc bụng của mình Bên cạnh đó, cần thành lập các ngân hàng phát triển để tài trợ vốn phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng công cộng

- Trong khi các chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu hạn chế ảnh hưởng của nợ vượt mức cho phép và tình trạng không trả được nợ hơn là hạn chế tình trạng không có tính thanh khoản, thì việc sử dụng chính sách nới lỏng tín dụng sẽ có hiệu quả hơn là chính sách nới lỏng định lượng (Quantitative Easing) Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) nên đảo ngược quyết định sai lầm của mình để tăng lãi suất Bên cạnh đó, các ngân hàng trung ương của Mỹ, Nhật Bản, Anh và Thụy Sỹ cần tăng cường nới lỏng chính sách tiền tệ và tín dụng

- Để hồi phục tăng trưởng tín dụng, các ngân hàng, nhất là các ngân hàng châu Âu cần tăng cường vốn dựa trên nguồn tài chính công từ các chương trình mở rộng châu Âu Để tránh một cuộc khủng hoảng tín dụng, các ngân hàng nên cho phép hoãn nợ trong ngắn hạn Mỹ và EU nên tập trung giải quyết vấn đề vốn để tài trợ cho hoạt động của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

- Cần cung cấp thanh khoản lớn cho các chính phủ để trả nợ nhằm tránh sự đổ vỡ

và ảnh hưởng lan truyền trên thị trường tài chính khiến các quốc gia mắc nợ không tiếp cận thị trường, mà điều đó có thể đưa rủi ro thanh khoản trở thành rủi

ro quốc gia Tuy nhiên, ngay cả khi đã có sự hỗ trợ thanh khoản, các chính phủ cũng mất nhiều thời gian để khôi phục lại lòng tin Đến nay, Ý và Tây Ban Nha đang phải đối mặt với rủi ro không tiếp cận được tới thị trường

- Vấn đề nợ không thể giải quyết bởi tăng trưởng, tiết kiệm hoặc lạm phát Vấn đề này cần được xử lý một cách bền vững thông qua cơ cấu lại nợ, giảm nợ hoặc chuyển nợ thành vốn góp (vốn chủ sở hữu) Các giải pháp trên có thể áp dụng cho cả vấn đề nợ quốc gia, nợ doanh nghiệp hay nợ của gia đình

- Ngay cả khi Hy Lạp và các quốc gia khác trong EU được giải phóng khỏi nợ, tăng trưởng kinh tế sẽ chưa hồi phục cho đến khi năng lực cạnh tranh được khôi phục lại Có 3 khuyến nghị khôi phục năng lực cạnh tranh trong khu vực EU, gồm (i) giảm mạnh giá trị euro so với đôla Mỹ; tuy nhiên, lựa chọn này khó thực hiện do đôla Mỹ hiện đang ở mức thấp; (ii) giảm mạnh chi phí lao động trên một

Trang 3

đơn vị sản phẩm thông qua đẩy mạnh cải cách cơ cấu và tăng năng suất đi cùng tăng lương; chiến lược này tỏ ra không hợp lý khi mà phải mất đến 15 năm các quốc gia khác mới có thể khôi phục năng lực cạnh tranh bằng Đức; (iii) thực hiện giảm phát 30% trong 5 năm liên tục; tuy nhiên, nếu lựa chọn này là khả thi, giảm phát sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề thanh khoản vì lúc này sẽ tăng 30% trong giá trị thực của nợ

- Nguyên nhân của tình trạng thất nghiệp cao và tăng trưởng thấp tại các nền kinh

tế phát triển là từ cơ cấu kinh tế, bao gồm sự gia tăng năng lực cạnh tranh của các thị trường mới nổi Phản ứng thích hợp cho sự thay đổi trên không phải là bảo hộ Thay vào đó, các nền kinh tế phát triển cần có các kế hoạch trung hạn để khôi phục khả năng cạnh tranh và tăng việc làm thông qua tăng đầu tư vào các lĩnh vực đào tạo nhân lực trình độ cao và cải thiện nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở

hạ tầng và các nguồn năng lượng thay thế

- Các nền kinh tế đang phát triển có khoảng trống để sử dụng nhiều công cụ chính sách hơn các nền kinh tế phát triển, họ có thể nới lỏng chính sách tiền tệ hay tài khóa Vì vậy, các nền kinh tế đang phát triển nên hành động vì lợi ích chung của thế giới, ví dụ Trung Quốc cần đẩy mạnh chương trình cải cách của mình, bao gồm tăng giá trị đồng nhân dân tệ nhanh hơn nữa, nhằm thúc đẩy tiêu dùng và nhu cầu trong nước Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) có thể đóng vai trò là người cho vay cuối cùng để hỗ trợ các nền kinh tế mới nổi khi

họ có nguy cơ mất khả năng tiếp cận thị trường

Câu 4: Vai trò của IMF trong ngăn ngừa và quản lý khủng hoảng ngân hàng:

-Giám sát tài chính: IMF giám sát tài chính của các quốc gia thành viên để đảm bảo rằng chính sách tài chính được thực hiện đúng cách và tránh được những rủi ro tiềm

ẩn IMF sử dụng các chỉ số kinh tế để đánh giá tình hình tài chính của các quốc gia và đưa ra khuyến nghị cần thiết để cải thiện tình hình

-Cung cấp tài trợ: IMF cung cấp tài trợ tài chính cho các quốc gia gặp khó khăn trong quản lý tài chính, bao gồm cả những khó khăn trong ngân hàng IMF có thể cung cấp tài trợ để giải quyết các vấn đề ngân hàng và giúp các quốc gia thành viên cải thiện khả năng quản lý tài chính

-Hỗ trợ kỹ thuật: IMF cung cấp các dịch vụ hỗ trợ kỹ thuật để giúp các quốc gia thành viên cải thiện khả năng quản lý tài chính và giải quyết các vấn đề ngân hàng Các dịch

vụ này bao gồm việc cung cấp khuyến nghị về chính sách tài chính và hỗ trợ đào tạo

về quản lý tài chính

-Đối thoại với các quốc gia thành viên: IMF duy trì một mối quan hệ chặt chẽ với các quốc gia thành viên để đảm bảo rằng các quốc gia đang thực hiện các chính sách tài chính đúng cách và để giải quyết các vấn đề ngân hàng IMF cũng cố gắng thúc đẩy

sự hợp tác giữa các quốc gia để giải quyết các vấn đề ngân hàng toàn cầu

Câu 5:

Trang 4

-Câu chuyện LTCM là một ví dụ điển hình về rủi ro hệ thống trong lĩnh vực tài chính LTCM (Long-Term Capital Management) là một quỹ đầu tư của Mỹ được thành lập vào năm 1994, với các nhà kinh tế hàng đầu như Myron Scholes và Robert Merton, người đã đoạt giải Nobel Kinh tế vào năm 1997 Tuy nhiên, vào năm 1998, LTCM đã gặp phải một cuộc khủng hoảng tài chính nghiêm trọng do rủi ro liên quan đến các khoản đầu tư của họ trong các sản phẩm tài chính phức tạp Cuộc khủng hoảng của LTCM đã tác động đến các ngân hàng và các tổ chức tài chính lớn khác, do việc LTCM đã mua các khoản vay từ các ngân hàng để thực hiện các giao dịch của mình Khi LTCM gặp khó khăn trong thanh toán các khoản vay này, các ngân hàng đang cho vay cũng gặp nguy cơ mất tiền Điều này đã gây ra sự bất ổn trong hệ thống tài chính và có nguy cơ lan sang các thị trường tài chính khác

-Đối với cơ quan quản lý, cuộc khủng hoảng của LTCM đã làm cho họ nhận ra rằng các sản phẩm tài chính phức tạp và các chiến lược đầu tư liên quan đến rủi ro hệ thống

có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống tài chính toàn cầu Các cơ quan quản

lý đã đưa ra nhiều biện pháp nhằm tăng cường giám sát và kiểm soát rủi ro hệ thống trong lĩnh vực tài chính, bao gồm việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn về vốn, tăng cường giám sát và đánh giá rủi ro hệ thống, và cải thiện khả năng phòng ngừa và ứng phó với khủng hoảng tài chính Cuộc khủng hoảng của LTCM đã tạo ra sự quan tâm lớn đến vấn đề rủi ro hệ thống trong lĩnh vực tài chính Nó đã góp phần thúc đẩy

sự quan tâm của cộng đồng tài chính và các nhà lãnh đạo chính phủ về việc tăng cường giám sát và quản lý rủi ro trong hệ thống tài chính toàn cầu Nó cũng đã cung cấp cho các cơ quan quản lý và giám sát tài chính một bài học quan trọng về sự cần thiết của việc thực hiện các biện pháp đề phòng và phòng ngừa rủi ro để giảm thiểu tác động của các cuộc khủng hoảng tài chính trên hệ thống tài chính toàn cầu

Câu 6:

-Rủi ro đạo đức có thể đóng một vai trò quan trọng trong các vụ đổ vỡ của ngân hàng

và khủng hoảng tài chính Rủi ro đạo đức thường được hiểu là sự mất đạo đức và tính chất phi đạo đức của một hành động hay quyết định kinh doanh

-Trong ngành ngân hàng, rủi ro đạo đức thường liên quan đến những hành động phi đạo đức của các nhân viên và lãnh đạo ngân hàng, ví dụ như sử dụng thông tin bí mật

để thu lợi ích cá nhân, lừa đảo khách hàng, không tuân thủ các quy định pháp luật và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Khi rủi ro đạo đức được bỏ qua và không được giải quyết đúng đắn, nó có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng, bao gồm mất tiền của khách hàng, thiệt hại cho ngân hàng và nguy cơ gây ra sự mất ổn định tài chính cho hệ thống ngân hàng toàn cầu

→Do đó, việc kiểm soát và giảm thiểu rủi ro đạo đức là cực kỳ quan trọng đối với các ngân hàng và cơ quan quản lý tài chính Các biện pháp kiểm soát rủi ro đạo đức bao gồm tăng cường giám sát, xây dựng các quy định về đạo đức nghề nghiệp và pháp lý, đào tạo nhân viên và lãnh đạo ngân hàng về đạo đức nghề nghiệp, và tăng cường trách

Trang 5

nhiệm xã hội của các tổ chức tài chính Việc thực hiện các biện pháp này sẽ giúp giảm thiểu rủi ro đạo đức và đảm bảo sự ổn định và bền vững của hệ thống tài chính

Chương 10

Câu 1)

Ngân hàng Định giá Quốc tế (Bank for International Settlements - BIS) là một tổ chức tài chính quốc tế có trụ sở tại Basel, Thụy Sĩ BIS được thành lập vào năm 1930 và có nhiệm vụ chính là tăng cường hợp tác tài chính và tiếp tục phát triển hệ thống ngân hàng trên toàn cầu

BIS không thuộc sở hữu của bất kỳ quốc gia nào và hoạt động như một ngân hàng cho các ngân hàng trung ương và tổ chức tài chính khác Nó cung cấp nền tảng cho các ngân hàng trung ương trên thế giới để trao đổi thông tin, hợp tác về chính sách tiền tệ

và giám sát các hoạt động tài chính quốc tế

BIS cũng thực hiện nghiên cứu và phân tích về các vấn đề tài chính và tiền tệ quốc tế, cung cấp thông tin và dữ liệu quan trọng cho các quyết định chính sách của các ngân hàng trung ương và tổ chức tài chính trên toàn cầu

Tổ chức này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy ổn định tài chính toàn cầu và hỗ trợ các hoạt động tài chính quốc tế an toàn và hiệu quả

Câu 2)

Công ước Basel (Basel Accord) là một bộ quy định được thiết lập bởi Hội đồng Giám đốc Ngân hàng Trung ương (Central Bank Governors' Committee) của các nước G10, nhằm đề ra các nguyên tắc và tiêu chuẩn về vốn của các ngân hàng Công ước này nhằm tăng cường ổn định và an toàn trong hệ thống ngân hàng toàn cầu

Công ước Basel ban đầu, được gọi là Basel I, được ra đời vào năm 1988 và tập trung vào việc đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng Nó yêu cầu các ngân hàng duy trì một mức vốn tối thiểu tương ứng với mức rủi ro của các khoản vay mà họ chấp nhận Công ước này đã tạo ra một khung pháp lý quốc tế để giám sát hoạt động ngân hàng và tăng cường khả năng chịu rủi ro của hệ thống ngân hàng

Sau đó, vào năm 2004, Basel II được công bố nhằm cải thiện và mở rộng Basel I Basel II tập trung vào việc định rõ các phương pháp đánh giá rủi ro và quản lý vốn của ngân hàng Nó cho phép các ngân hàng sử dụng các mô hình nội bộ để đánh giá rủi ro tài sản và điều chỉnh mức vốn tương ứng

Trang 6

Sau sự bùng nổ của khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Basel III được phát triển nhằm tăng cường quản lý rủi ro và tăng cường vốn của các ngân hàng Basel III tăng cường khả năng chịu rủi ro và yêu cầu các ngân hàng duy trì mức vốn dự phòng cao hơn, cũng như áp đặt các hạn chế mới về đòn bẩy tài chính và quy định về thanh khoản

Những yếu tố thúc đẩy sự tiến triển của Công ước Basel bao gồm:

a Sự cần thiết của một quy định quốc tế: Hệ thống ngân hàng trở nên ngày càng liên kết và phụ thuộc vào nhau, do đó việc thiết lập một quy định quốc tế đã trở nên cần thiết để tăng cường ổn định và tránh rủi ro toàn cầu

b Khủng hoảng tài chính: Sự cố về tín dụng năm 2008 đã khiến cho những điểm yếu

và hạn chế của Basel II trở nên rõ rệt Khủng hoảng tài chính đã cho thấy rằng các ngân hàng cần có mức vốn dự phòng đủ để đối phó với các rủi ro không mong muốn

Do đó, áp lực từ sự kiện này đã thúc đẩy việc phát triển Basel III, nhằm tăng cường sự

ổn định và khả năng chịu rủi ro của hệ thống ngân hàng toàn cầu

Ngoài ra, các yếu tố khác cũng đã góp phần đẩy mạnh quá trình tiến hóa của Basel Accord Đó là sự tăng trưởng và phát triển của thị trường tài chính toàn cầu, sự tăng cường sự quan tâm đối với quản lý rủi ro tài chính, và sự tăng cường hợp tác quốc tế trong việc đảm bảo sự ổn định và an toàn trong hệ thống ngân hàng

Trong tổ chức Bank for International Settlements (BIS), các quốc gia thành viên và các ngân hàng trung ương đã làm việc cùng nhau để đưa ra các bộ quy định Basel Sự tham gia tích cực của các quốc gia và các ngân hàng trung ương, cùng với sự nhất quán trong việc thấy được lợi ích của việc tăng cường an toàn và ổn định tài chính, đã làm nổi lên sức mạnh đằng sau sự phát triển của Basel Accord

Tóm lại, Basel Accord là một quy định quốc tế quan trọng nhằm tăng cường an toàn

và ổn định trong hệ thống ngân hàng toàn cầu Nó đã tiến hóa từ Basel I đến Basel II

và Basel III, với các yếu tố thúc đẩy bao gồm khủng hoảng tài chính, sự phát triển của thị trường tài chính và tinh thần hợp tác quốc tế

Câu 3)

Một trong những biện pháp quan trọng được đề xuất bởi Công ước Basel là đủ vốn (capital adequacy) Đủ vốn được hiểu là mức độ đáng tin cậy và đủ sức mạnh của vốn

mà một ngân hàng cần có để đối phó với rủi ro tài chính mà nó phải đối mặt trong hoạt động kinh doanh

Trang 7

Đủ vốn được coi là quan trọng vì nó có hai mục tiêu chính Thứ nhất, nó đảm bảo rằng các ngân hàng có đủ khả năng trả lại tiền gửi của khách hàng trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính hoặc thua lỗ Việc có đủ vốn giúp ngân hàng duy trì tính thanh khoản và sự tin tưởng của người gửi tiền

Thứ hai, đủ vốn giúp giảm thiểu rủi ro và ổn định hệ thống ngân hàng Khi các ngân hàng có mức đủ vốn, khả năng chịu rủi ro của họ tăng lên, và do đó họ có khả năng ứng phó tốt hơn với các sự kiện bất ngờ hoặc biến động tài chính Điều này giúp bảo

vệ khỏi sự lây lan rủi ro trong hệ thống ngân hàng và ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế

Về mặt giám sát ngân hàng quốc tế, đủ vốn liên quan mật thiết đến việc quản lý rủi ro

và an toàn tài chính toàn cầu Công ước Basel đặt ra các tiêu chuẩn vốn tối thiểu mà các ngân hàng trung ương phải tuân thủ Các ngân hàng trung ương thường được yêu cầu báo cáo về mức đủ vốn của mình và đánh giá rủi ro để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn này

Qua việc quản lý và giám sát vốn, các cơ quan giám sát quốc tế như BIS và các cơ quan quốc gia có thể giám sát và đánh giá mức độ ổn định và an toàn của hệ thống ngân hàng toàn cầu Điều này đảm bảo rằng các ngân hàng đủ vốn và có khả năng chịu đựng trong mọi tình huống, từ đó góp phần vào ổn định tài chính toàn cầu

Câu 4) Sự quan trọng của Bankhaus Herstatt đối với sự giám sát ngân hàng quốc tế:

- Sức khỏe tài chính của những ngân hàng những quốc gia khác

- Sự rủi ro lây lan xuyên biên giới khi nó sụp đổ đáng suy ngẫm ảnh hưởng những ngân hàng khác trên thế giới

Câu 5) Ba khu vực cốt lõi chịu trách nhiệm đối với ủy ban liên hiệp các cơ quan giám sát đối với sự giám sát ngân hàng: có chức năng như là sự liên quan cơ bản cho những yêu cầu tối thiểu cho việc giám sát hoạt động ngân hàng quốc tế

Câu 6) Vai trò của IMF trong việc giám sát ngân hàng quốc tế: giám sát tiền tệ quốc tế

và sự phát triển kinh tế toàn cầu để tìm ra rủi ro và đề xuất các chính sách cho sự phát triển và ổn định tài chính

Vai trò của IMF như là người cho vay với phương án cuối cùng trong sự khủng hoảng quốc tế nên được mở rộng vì: những nhà đầu tư sẽ ngày càng thoải mái trong việc mua những chứng khoán như chứng khoán trái phiếu quốc tế chính phủ hoặc cho vay Thêm vào đó, những nhà đầu tư mong đợi IMF giúp đỡ và chịu trách nhiệm đánh giá rủi ro một cách chính xác

Trang 8

Câu 7 Chính phủ và các cơ quan quản lý có thể thực hiện những bước nào để giúp ngăn chặn khủng hoảng ngân hàng? Vai trò của "bad banks " là gì?

● Bán bớt tài sản cho nước ngoài và thắt chặt sự giám sát

● Tiếp cận tập trung

● Tận dụng những ngày lễ để can thiệp ngân hàng

● Khi hiểu rõ bản chất sự việc họ sẽ đưa ra : đóng cửa NH hoặc thanh lý tài sản thực hiện can thiệp tạm thời, thêm vốn và đưa ra cơ chế quản lí mới với mục đích cuối cùng là tư nhân hóa ngân hàng

● Tái cấu trúc

Vai trò của bad banks:

Được thiết lập để mua các khoản nợ xấu và tài sản thanh khoản kém của một tổ chức tài chính khác

Ngân hàng thu nợ xấu được thành lập để nắm giữ và quản lý các tài sản không hiệu quả hoặc độc hại Những tài sản này có thể bao gồm các khoản vay, thế chấp, chứng khoán hoặc các công cụ tài chính khác đã mất giá trị hoặc có nguy cơ vỡ nợ

Mục đích của một ngân hàng xấu là loại bỏ những tài sản độc hại này khỏi bảng cân đối kế toán của ngân hàng mẹ hoặc tổ chức tài chính, nhằm tách biệt tài sản xấu khỏi tài sản tốt và giảm thiểu rủi ro và tổn thất liên quan đến chúng Bằng cách đó, ngân hàng mẹ có thể tập trung vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của mình và lấy lại sức mạnh tài chính cũng như sự ổn định của mình

Câu 8 Bạn có tin rằng các quốc gia Trung và Đông Âu dễ bị đổ vỡ ngân hàng hơn các quốc gia khác không?

● Em đồng ý với quan điểm trên

● Vì những năm 90 các ngân hàng tại đây có nguy cơ phá sản

● 1993 cộng hòa séc bắt đầu bộc lộ rõ nguy cơ rắc rối tới từ hệ thống NH

● 1994 các đổ vỡ NH, dẫn đến chính phủ nắm 90% lĩnh vực NH

● Tại Hungary trải qua cuộc tái cấu trúc NH

● Ngoài ra, tình hình chính trị tại các nước Trung và Đông Âu khá phức tạp

và nhạy cảm hơn các quốc gia khác

Ngày đăng: 19/05/2023, 00:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w