Không chỉ có vậy, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên khắc phục thái độ tiêu cực thụ động, chờ đợi, bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan, duy ý chí do tách rời và thổi từng vai tr
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO MÔN TRIẾT CÂU 1:
1 ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LÊ NIN
Lênin đã định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
“Vật chất là một phạm trù triết học” Đó là một phạm trù rộng và khái quát nhất, không thể hiểu theo nghĩa hẹp như các khái niệm vật chất thường dùng trong các lĩnh vực khoa học cụ thể hoặc đời sống hàng ngày.
Thuộc tính cơ bản của vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Đó cũng chính là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất và cái gì không phải là vật chất.
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Điều đó khẳng định “thực tại khách quan” (vật chất) là cái có trước (tính thứ nhất), còn “cảm giác” (ý thức) là cái có sau (Tính thức hai) Vật chất tồn tại không lệ thuộc vào ý thức.
“Thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh” Điều đó nói lên “thực tại khách quan” (vật chất) được biểu hiện thông qua các dạn cụ thể, bằng “cảm giác” (ý thức) con người có thể nhận thức được và “thực tại khách quan” (vật chất) chính là nguồn gốc, nội dung khách quan của “cảm giác” (ý thức).
Định nghĩa của Lênin về chật chất đã giải quyết được cả hai mặt của vấn đề cơ bản của triết học theo lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng
2 ĐỊNH NGHĨA VẬT CHẤT CỦA LÊ NIN CÓ Ý NGHĨA
1 Chống lại tất cả các loại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm về phạm trù vật chất như: (Đối chiếu với các quan điểm duy tâm đã học ).
2 Đấu tranh khắc phục triệt để tính chất trực quan, siêu hình, máy móc và những biến tướng của nó trong quan niệm về chất chất của các nhà triết học tư sản hiện đại Do đó, định nghĩa này cũng đã giải quyết được sự khủng hoảng trong quan điểm về vật chất của các nhà triết học và khoa học theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật siêu hình
3 Khẳng định thế giới vật chất khách quan là vô cùng, vô tận, luôn vận động và phát triển không ngừng, nên đã có tác động cổ vũ, động viên các nhà khoa học
đi sâu nghiên cứu thế giới vật chất, tìm ra những kết cấu mới, những thuộc tính mới và những quy luật vận động của vật chất để làm phong phú thêm kho tàng tri thức của nhân loại.
3 Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Trang 2Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, song ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người; vì vậy con người phải tôn trọng tính khách quan, đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình Nếu không tôn trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh chủ quan.
– Ý có thể quyết định làm cho con người hoạt động đúng và thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế giới khách quan Ngược lại, ý thức, tư tưởng có thể làm cho con người hoạt động sai và thất bại khi con người phản ánh sai thế giới khách quan Nếu quá coi trọng tính khách quan sẽ dễ dẫn đến bệnh bi quan.
=> Vì vậy, phải phát huy tính năng động sáng tạo của ý thức đồng thời khắc phụ bệnh bảo thủ trì trệ, thái độ tiêu cực, thụ động ỷ lại hoặc bênh chủ quan duy ý chí.
– Đảng ta đã chỉ rõ: Mọi đường lối chủ chương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan
Đối với hoạt động thực tiễn của bản thân:
– Phát huy năng động, sáng tạo của ý thức trong quá trình học tập và công tác
– Chống bệnh chủ quan duy ý chí, có thái độ tích cực trong học tập và công tác.
Câu 2:
Định nghĩa:
Vật chất:
Vật chất, theo Lênin “là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con người trong cảm giác,được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh lại,
và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Vật chất tồn tại bằng cách vận động và thông qua vận động để thể hiện sự tồn tại của mình.Không thể có vật chất không vận động và không có vận động ở ngoài vật chất.Đồng thời vật chất vận động trong không gian và thời gian.Không gian
và thời gian là hình thức tồn tại của vật chất,là thuộc tính chung vốn có của các dạng vật chất cụ
thể
Ý thức:
Ý thức lẩn phẩm của quá trình phát triển của tự nhiên và lịch sử - xã hội.Bản chất của ý thức
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,là sự phản ánh tích cực,tự giác,chủ động,sáng tạo thế giới khách quan và bộ não người thông qua hoạt động thực tiễn.Chính vì vậy,không thể xem xét hai phạm trù này tách rời,cứng nhác, càng không thể coi ý thức (bao gồm cảm xúc,ý chí,tri thức,….) là cái có trước ,cái sinh ra và quyết định sự tồn tại ,phát triển của thế giới vật chất
Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức:
Vật chất quyết định sự hình thành và phát triển của ý thức.Vật chất là cái có trước,nó sinh
ra và quyết định ý thức: Nguồn gốc của ý thức chính là vật chất : bộ não ngưòi – cơ quan phản ánh thế giơí xung quanh,sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não ngưòi,tạo thành nguồn gốc tự nhiên Lao động và ngôn ngữ(tiếng nói,chữ viết )trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên quyết định sự hình thành,tồn tại và phát triển của ý thức
Tác động trở lại của ý thức Ý thức do vật chất sinh ra và quy định,nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó.Hơn nữa,sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần,phản ánh sáng tạo và chủ động chứ không thụ động,máy móc,nguyên si thế giới vật chất,vì vậy nó có tác động trở lại đối với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Trang 3Ý thức tác động đến vật chất theo hai hướng chủ yếu: Nếu ý thức phản ánh đúng đắn
điều kiện vật chất,hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất.Ngược lại,nếu ý thức phản ánh sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan,do đó:sẽ kìm hãm sự phát triển
của vật chất.
Tuy vậy,sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ
nó không thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được.Và suy cho cùng,dù ở mức độ nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội,trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,đồng thời ý thức xã hội có tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội
Ý nghĩa phương pháp luận:
Do vật chất là nguồn gốc và là cái quyết định đối với ý thức, cho nên để nhận thức
cái đúng đắn sự vật, hiện tượng, trước hết phải xem xét nguyên nhân vật chất, tồn tại xã hội
để giải quyết tận gốc vấn đề chứ không phải tìm nguồn gốc, nguyên nhân từ những nguyên
nhân tinh thần nào.“tính khách quan của sự xem xét” chính là ở chỗ đó Mặt khác, ý thức có
tính độc lập tương đối, tác động trở lại đối với vật chất, cho nên trong nhận thức phải có
tính toàn diện, phải xem xét đến vai trò của nhân tố tinh thần Trong hoạt động thực tiễn, phải xuất phát từ những điều kiện khách quan và giải quyết những nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra trên cơ sở tôn trọng sự thật Đồng thời cũng phải nâng cao nhận thức, sử dụng và phát huy vai trò năng động của các nhân tố tinh thần,tạo thành sức mạnh tổng hợp giúp cho hoạt động của con người đạt hiệu quả cao Không chỉ có vậy, việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên khắc phục thái độ tiêu cực thụ động, chờ đợi, bó tay trước hoàn cảnh hoặc chủ quan, duy ý chí do tách rời và thổi từng vai trò của từng yếu tố vật chất hoặc ý thức
Câu 3:
Khái niệm về mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến:
Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự qui định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới; còn khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, nó thuộc đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng,
đó là các mối liên hệ giữa: các mặt đối lập, lượng và chất, khẳng định và phủ định, cái chung và cái riêng…Như vậy, giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới vừa tồn tại những mối liên hệ đặc thù vừa tồn tại những mối liên hệ phổ biến ở những phạm vi nhất định, nhưng đồng thời cũng tồn tại những mối liên hệ phổ biến nhất, trong đó, những mối liên hệ đặc thù là sự thể hiện những mối liên hệ phổ biến trong những điều kiện nhất định Toàn bộ những mối liên hệ đặc thù và phổ biến đó tạo nên tính thống nhất trong tính đa dạng và ngược lại, tính đa dạng trong tính thống nhất của các mối liên hệ trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.
Tính chất của các mối liên hệ:
Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú là những tính chất cơ bản của các mối liên hệ
Tính khách quan của các mối liên hệ :
Theo quan điểm biện chứng duy vật: các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự qui định lẫn nhau, tác động lẫn nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong chính bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý
Trang 4chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình.
Tính phổ biến của các mối liên hệ:
Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác; đồng thời cũng không có bất cứ sụ vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Tính đa dạng, phong phú của mối liên hệ:
Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mac-Lênin không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của các mối liên hệ mà còn nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng của các mối liên hệ Tính đa dạng, phong phú của các mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vai trò, vị trí khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau Như vậy, không thể đồng nhất tính chất và vị trí, vai trò cụ thể của các mối liên hệ khác nhau đối với những sự vật nhất định, trong những điều kiện xác định Đó là mối liên hệ bên trong và bên ngoài, mối liên hệ bản chất và hiện tượng, liên hệ chủ yếu và thứ yếu…
Quan điểm về tính phong phú đa dạng của các mối liên hệ còn bao hàm quan niệm về sự thể hiện phong phú, đa dạng của các mối liên hệ phổ biến ở các mối liên hệ đặc thù trong mỗi sự vật, mỗi hiện tượng, mỗi quá trình cụ thể, trong những điều kiện không gian và thời gian cụ thể
Ý nghĩa phương pháp luận:
-Từ tính khách quan và phổ biến của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần xem xét sự vật trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn như vậy, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện, siêu hình trong nhận thức và thực tiễn
Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ “và quan hệ giao tiếp” của
sự vật đó”
Trang 5- Từ tính chất đa dạng, phong phú của các mối liên hệ đã cho thấy trong hoạt động nhận thức và thực tiễn khi đã thực hiện quan điểm toàn diện thì đồng thời cũng cần phải kết hợp với quan điểm lịch sử - cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể yêu cầu trong việc nhận thức và xử lý các tình huống trong hoạt động thực tiễn cần phải xét đến những tính chất đặc thù của đối tượng nhận thức và tình huống phải giải quyết khác nhau trong thực tiễn; phải xác định rõ vị trí, vai trò khác nhau của mỗi mối liên hệ cụ thể trong những điều kiện cụ thể để từ đó có được những giải pháp đúng đắn và có hiệu quả trong việc xử lý các vấn đề thực tiễn Như vậy, trong nhận thức và thực tiễn không những cần phải tránh và lhắc phục quan điểm phiến diện siêu hình mà còn phải tránh và khắc phục quan điểm chiết trung, ngụy biện
Câu 3: Trình bày và phân tích mối liên hệ phổ biến Ý nghĩa phương pháp luận ( soạn lại theo bài giảng )
KHÁI NIỆM:
Mối liên hệ: Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ: sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới
Ví dụ: giữa cung và cầu (hàng hoá, dịch vụ) trên thị trường luôn luôn
diễn ra quá trình: cung và cầu quy định lẫn nhau; cung và cầu tác động, ảnh hưởng lẫn nhau, chuyển hoá lẫn nhau, từ đó tạo nên quá trình vận động, phát triển không ngừng của cả cung và cầu
Mối liên hệ phổ biến: Tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giơi, các mối liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới
Ví dụ: Ví dụ, mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ phổ biến, tức
cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tính chất đặc thù tuỳ theo từng loại thị trường hàng hoá, tuỳ theo thời điểm thực hiện Khi nghiên cứu cụ thể từng loại thị trường hàng hoá, không thể không nghiên cứu những tính chất riêng có (đặc thù) đó
TÍNH CHẤT: khách quan; phổ biến; đa dạng,phong phú
-Tính khách quan: Sự qui định, tác động, làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật,
hiện tượng là cái vốn có của nó, không phụ thuộc vào ý chí con người
Ví dụ:mối liên hệ ràng buộc và tương tác (theo lực hút - đẩy) giữa các vật thể; mối liên hệ giữa trao đổi chất giữa cơ thể sống và môi trường (đồng hoá - dị hoá); mối liên hệ ràng buộc và ảnh hưởng lẫn nhau giữa cung và cầu hàng hoá trên thị trường; mối liên hệ tất yếu giữa các khái niệm trong quá trình tư duy của con người, đều là những mối liên hệ khách quan, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
-Tính phổ biến: Sự vật, hiện tượng nào cũng là một hệ thống bao gồm những yếu
tố tồn tại trong mối liên hệ với nhau, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau
Trang 6Ví dụ:mỗi cơ thể sống là một hệ thống cấu trúc tạo nên khả năng tự trao đổi chất với môi trường, nhờ đó mà nó tồn tại, phát triển; đồng thời bản thân môi trường sống cũng là một hệ thống được tạo thành từ nhiều yếu tố lớp, phân hệ trực tiếp và gián tiếp…
-Tính đa dạng, phong phú: Giữa các sự vật, hiện tượng hay quá trình khấc nhau có
những mối liên hệ khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triền của nó
Ví dụ: một người có thể có nhiều mối liên hệ như mối liên hệ trong gia đình
giữ một vị trí trong gia đình (chồng, vợ, con, ) và những mối liên hệ khác ngoài gia đình như bạn bè, đồng nghiệp, đối tác,…
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Quan điểm toàn diện: Đòi hỏi con người khi nhận thức sự vật, hiện tượng phải xem xét tất cả mói liên hệ qua lại giữa cái bộ phận, các yêu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vất đó với sự vật khác
Quan điểm lịch sử cụ thể: Phải xét đến những tính chất đặc thù của các đối tượng nhận thức và của các tình huống trong thực tiễn để giải quyết chúng một cách khác nhau
Phải xác định vị trí, vai trò của từng mối liên hệ trong những tình huống cụ thể để có giải phái thích hợp
pháp luận
Trong lịch sử triết học, quan điểm siêu hình xem sự phát triển là sự tăng lên hay giảm đi thuần túy về số lượng, không có sự thay đổi về chất, hoặc nếu có thay đổi về chất chăng nữa thì chỉ diễn ra theo vòng tròn khép kín Chúng ta có thể lấy một ví dụ minh chứng như sau Đó là Trái Đất hàng phút
số lượng người sinh ra luôn cao hơn số lượng người chết đi Tuy nhiên, Trái Đất vẫn không hề to ra
Đối lập với quan điểm siêu hình, phép biện chứng lại cho rằng phát triển
là quá trình vận động của sự vật theo khuynh hướng đi lên tức là từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Phát triển là vận động mà kết quả là sản sinh ra cái mới, cài trước đó chưa có
Các quá trình phát triển đều có tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
Tính khách quan của sự phát triển biểu hiện ở chỗ đó là quá trình tự giải quyết mâu thuẫn của bản thân sự vật, hiện tượng
Tính phổ biến là diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi sự vật và mọi quá trình vận động
Trang 7Tính đa dang, phong phú tức là mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình phát triển không hoàn toàn giống nhau
Nếu như trong thế giới tự nhiên vô sinh, quá trình phát triển biểu hiện ở chỗ từ quá trình phân giải, hóa hợp các chất vô cơ, đã hình thành sự vật từ giản đơn đến phức tạp, rồi hình thành nên các hành tinh, trái đất và hình thành thế giới tự nhiên nói chung Thì trong thế giới tự nhiên hữu sinh đó chính là từ sự sống đơn bào đến đa bào, từ giống loài động vật bậc thấp đến bậc cao rồi phát triển đến con người
Còn trong xã hội thì phát triển đó là loài người đã trải qua 5 chế độ xã hội ( cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, xã hội tư bản, xã hội chủ nghĩa) Đồng thời xã hội sau tiến bộ sau tiến bộ hơn xã hội trước
Trong tư duy thì đó là con người ngày càng đi sâu vào thế giới vĩ mô, vi
mô khám phá ra nhiều điều bí ẩn, giai đoạn nhận thức sau cao hơn nhận thức của giai đoạn trước
VD: sự trưởng thành của con người kể cả trong sinh lý và tâm lý.
+ Tính khách quan thể hiện ở chỗ sự phát triển ấy là tự nó diễn ra ngay từ khi đứa bé sinh ra thậm chí ngay từ lúc còn ở trong bụng mẹ
+ Tính phổ biến: quá trình diễn ra ở mọi người, hàng trăm triệu, tỉ người đều
có quá trình trưởng thành
+ Tính đa dạng, phong phú: không ai cùng lớn lên cùng nhau, có người béo, người gấy, người cao, người thấp, có người nhận thức được nhiều tri thức ,
có người lại nhận thức kém
Do đó, phát triển có tính phổ biến được thể hiện cả trong tự nhiên, xã hội
và tư duy Nguyên nhân do tác động nội tại của sự vật, hiện tượng chứ không phải do thần linh hoặc ý muốn chủ quan nào
Ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm phát triển: phải đặt sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên của nó
Quan điểm lịch sử- cụ thể: phải nhận thức được tính quanh co, phức tạp của sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển của nó
phương pháp luận
Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy của con người +Quy luật chuyền hóa từ những thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại
+Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa cá mặt đối lập
+Quy luật phủ định của phủ định
Quy luật thống nhát và đấu tranh giữa các mặt đối lập
Mâu thuẫn: mối liên hệ thống nhât, đấu tranh và chuyển hóa lẫn nhau giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật hiện tương hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau
Trang 8Mâu thuẫn là nguồn gốc là động lực của sự phát triển, là hiện tượng khách quan và phổ biến
Mặt đối lập: những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đống thời lại là điều kiện tiền đề tồn tại của nhau Sự tương tác giữa chúng tạo thành mâu thuẫn bên trong sự vật, tạo ra nguồn gốc, động lực của sự vận dộng và phát triển
VD: Tế bào chứa chất nguyên sinh, trong đó diễn ra hai quá trính
đồng hóa và dị hóa Đồng hóa là sự kiên kết các chất đưa vào cơ thể đề thành các chất phức tạp, xây dựng chất nguyên sinh mới làm tăng thêm và tích tụ năng lượng Dị hóa là hoặt động phân tách các chất phức tạp thành các đơn chất đơn giản để giải phóng năng lượng, thực hiện các hoạt động bên ngoài của tế bào
Các tính chất chung cảu mâu thuẫn: Khách quan, phổ biến, Đa dạng phong phú
+ Mâu thuẫn có tính khách quan vì nod là cái vốn có trong sự vật, hiện tượng, là bản chất chung của mọi sự vật, hiện tượng
+ Mâu thuẫn có tính phổ biến vì nó tồn tại trong tất cả mọi sự vật, hiện tượng, mọi giai đoạn, mọi quá trình, tồn tại trong cả tự nhiên, xã hội, tư duy
+ Mẫu thuẫn đa dạng, phong phú vì là hiện tượng khách quan, phổ biến Trong các sự vật, hiện tượng khác nhau thì tồn tại những mâu tuẫn khác nhau, trong bản thân mỗi sự vật, hiện tượng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn khác nhau Mỗi mâu thuẫn có vị trí, vai trò và đặc điểm khác nhau đối với sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
Quá trình vận động của mâu thuẫn:
Thống nhất của các mặt đối lập: sự liên hệ, ràng buộc, không tách rới nhau, quy định lẫn nhau cảu các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm tiền
đè tồn tại
Đấu tranh của các mặt đối lập: khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Sự đấu tranh giữa chúng chỉ là tương đối, tạm thời
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
+Phải tôn trọng mẫu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, phân tích dầy đủ các mặt đối lập, năm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và phát triển
+Phải có quan điểm lịch sử cụ thể từng loại mâu thuẫn và có
phương pháp giải quyết phù hợp
phương pháp luận
Chất: tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng, là sự thống nhất huữ
cơ các thuộc tính cấu thành nó, phân biệt nó với cái khác Chỉ hững thuộc
Trang 9tính cơ bản mới hợp thanhfchatas sủa sự vật, hiện tượng Một thuộc tính có thể là cơ bản trong quan hệ này nhưng trong quan hệ khác thì không
Chất của sự vật, hiện tượng được xác định bởi chất và cấu trúc của các yếu tố cấu thành nó
ngữ, có tư duy, biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động
Lượng: là tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng về phương diện số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu cảu các qtrinh vận động, phát triển của chúng Một sự vật có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối
VD: Số lượng người trong một lớp học, vận tốc của ánh sáng
Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
+ Sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng
+ Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn tới sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng
+ Không phải sự thay đổi nào về lượng cũng dẫn đến sự thay đổi về chất
Lượng biến thành chất phải có điều kiện Không phải cứ tăng lên về lượng ở bất
cứ điều kiện nào cũng tạo nên sự thay đổi về chất
Những qui luật cơ bản của phép biện chứng:
+ Chất và lượng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng tạo thành phương thức của vận động và phát triển
VD: Nước biển đổi trạng thái (chất) dưới sự biến đổi của lượng nhiệt độ
+ Chất và lượng tồn tại trong mối quan hệ biện chứng tạo thành phương thức của vận động và phát triển
VD: Khi có sự lớn lên về quy mô vốn trong sản xuất kinh doanh, tất yếu đòi hỏi
cũng phải có sự biến đổi về tính chất quản lí Ngucowj lại, với tính chất mới của tổ chức kinh tế có thể tạo cơ hội lớn nhanh về vốn
Những hình thức bước nhảy:
+ Bước nhảy trong tự nhiên: có tính tự phát, khi lượng biến đỏi đến điểm nút thì bước nhảy thực hiện
+Bước nhảy trong xã hội: Chỉ được thực hiện thông qua hoạt động của con người
Bước nhảy lớn: Làm thay đổi 1 hình thái KTXH
Trang 10Bước nhảy nhỏ: Chỉ làm thay đổi từng lình vực đời sống, một thời kì, một giai đoạn trong một chế độ xã hội
+ Bước nhảy đột biến: Xảy ra trong 1 thời gian ngắn, làm thay đổi toàn bộ XH + Bước nhảy dần dần: Xảy ra trong thời gian dài, làm sự vật biến đổi từ từ
Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Phải coi trong cả phương diện chất và lượng cảu sự vật
Cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đỏi về chất của sự vật Khắc phục tư tưởng nôn nóng, chủ quan, duy ý chí hoặc tư tưởng bảo thủ, trì trệ
Cần linh hoạt vận dụng các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, lình vực cụ thể