Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam...6 II.. MỞ ĐẦUỞ Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I Khái quát về ly hôn có yếu tố nước ngoài 3
1 Ly hôn 3
2 Ly hôn có yếu tố nước ngoài 3
3 Cơ sở pháp lý điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài 4
4 Phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 5
5 Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam 6
II Quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài 6
III Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật ly hôn có yếu tố nước ngoài 10
1 Những hạn chế của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài 10
2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài 11
KẾT THÚC 12
PHỤ LỤC 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 2BẢNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đi đôi với sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội giữa nước ta với các nước khác trên thế giới ngày càng
mở rộng; phát triển thì cũng kéo theo nó là vấn đề về hôn nhân có yếu tố nước ngoài nói chung cũng như ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng ngày một gia tăng Trong pháp luật về hôn nhân và gia đình của các nước có quy định về li hôn có nhiều điểm khác nhau, thậm chí ở một số nước pháp luật còn cấm li hôn Do đó có thể nói li hôn là một trong những vấn đề phức tạp trong các quan hệ về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
NỘI DUNG
I Khái quát về ly hôn có yếu tố nước ngoài
1 Ly hôn
Ly hôn mang bản chất xã hội và tính giai cấp sâu sắc, vì vậy ở mỗi chế độ xã hội khác nhau, giai cấp thống trị đều thông qua nhà nước và bằng quy định hôn nhân nói chung, ly hôn nói riêng phù hợp với lợi ích của giai cấp mình Theo quy định của pháp luật Việt Nam, ly hôn được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cụ thể như Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình Khoản 14, Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án
Như vậy, ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng được công nhận hoặc quyết định của Tòa án.
2 Ly hôn có yếu tố nước ngoài
Khoản 25, Điều 3 Luật hôn nhân và gia đinh 2014 quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan
hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ
Trang 4để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”
Theo đó, quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài 3 dấu hiệu cơ bản sau yếu tố nước ngoài:
Chủ thể có ít nhất một bên là người nước ngoài;
Giữa công dân Việt Nam với nhau nhưng vào thời điểm ly hôn có 1 bên ở nước ngoài;
Có tài sản là bất động sản ở nước ngoài
3 Cơ lý điều sở pháp chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài
3.1 Pháp luật trong nước
- Hiến pháp;
- Bộ luật dân sự;
- Luật Hôn nhân và gia đình;
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác
3.2 Điều ước quốc tế
Nội dung của các Điều ước quốc tế về ly hôn có yếu tố nước ngoài thường không quy định cụ thể việc điều chỉnh quan hệ này mà chủ yếu quy định nguyên tắc chọn pháp luật áp dụng Hay nói cách khác, các quy phạm được quy định trong các Điều ước quốc tế về ly hôn thường là các quy phạm xung đột
3.3 Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự được hình thành trong một thời gian dài, được áp dụng khá liên tục và một cách có hệ thống, đồng thời được sự thừa nhận của đông đảo các quốc gia.Tập quán quốc tế chỉ có thể là nguồn của pháp luật khi được pháp luật trong nước quy định áp dụng hoặc được các quốc gia liên quan quy định trong Điều ước quốc tế hoặc do thỏa thuận của các bên chủ thể tham gia quan hệ Tư pháp quốc tế
Trang 53.4 Mối quan hệ giữa các loại nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu
tố nước ngoài
a)Nguồn luật trong nước
Nguồn pháp luật trong nước điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được coi là nguồn luật cơ bản và phổ biến, dựa trên những cơ sở:
Chủ thể trong quan hệ ly hôn nói chung và quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng là những con người cụ thể, vì vậy pháp luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của một người trong đó có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ ly hôn được dựa trên dấu hiệu quốc tịch hoặc dấu hiệu nơi cư trú
Vì vậy, dù dựa trên dấu hiệu quốc tịch hay nơi cư trú thì hệ thống pháp luật được chọn áp dụng vẫn được coi là hệ thống pháp luật của một quốc gia nhất định
Vì vậy, có thể nhận định, pháp luật trong nước được coi là nguồn luật cơ bản và phổ biến điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
b) Nguồn luật quốc tế
Đối với Điều ước quốc tế Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa quy định rõ ràng về việc điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có vị trí như thế nào trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong nước Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 6 của Luật ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm
2005, trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế
Đối với Tập quán quốc tế Tập quán quốc tế không được coi là nguồn pháp luật bắt buộc áp dụng đương nhiên trong việc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài Thông thường, tập quán quốc tế chỉ được áp dụng trong trường hợp không có quy phạm ghi nhận trong pháp luật trong nước hoặc trong điều ước quốc
tế có liên quan không có quy định hoặc các bên của thể không có thỏa thuận
Trang 64 Phương pháp điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
Hiện nay ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, Tư pháp quốc tế nói chung hay quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng có hai phương pháp điều chỉnh đó là: Phương pháp xung đột; phương pháp thực chất
Hai phương pháp này luôn phối hợp và tác động, bổ sung cho nhau để thiết lập một cơ chế điều chỉnh giải quyết các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
5 Các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật Việt Nam
Các nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài cũng chính là những nguyên tắc điều chỉnh quan hệ ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, được chia thành nguyên tắc chung và các nguyên tắc chuyên biệt
5.1 Các nguyên tắc chung
a) Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia
b) Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế
c) Nguyên tắc đãi ngộ như công dân
d) Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam đối với các quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài
e) Nguyên tắc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật trong nước đối với quan hệ
ly hôn có yếu tố nước ngoài
5.2 Các nguyên tắc chuyên biệt
a) Nguyên tắc áp dụng luật quốc tịch của đương sự
b) Nguyên tắc áp dụng luật nơi cư trú của đương sự
Trang 7c) Nguyên tắc áp dụng nơi có tài sản
d) Nguyên tắc áp dụng luật nơi có tòa án, cơ quan có thẩm quyền đối với các vấn đề phát sinh (gọi tắt là luật tòa án)
II Quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về ly hôn có yếu tố nước ngoài như sau
“1 Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo quy định của Luật này
2 Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt Nam
3 Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
Như vậy, việc lựa chọn pháp luật điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo các trường hợp sau:
Trường hợp 1: công dân Việt Nam ở Việt Nam (nguyên đơn) muốn xin ly
hôn với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài (bị đơn) Người muốn ly hôn ở Việt Nam
Khi giải quyết loại việc này, cần phân biệt như sau:
– Trường hợp biết được địa chỉ của bị đơn ở nước ngoài thông qua thân nhân của họ thì tòa án thông qua thân nhân đó gửi cho bị đơn ở nước ngoài lời khai của nguyên đơn, và yêu cầu họ phúc đáp về tòa án những lời khai hoặc tài liệu cần thiết cho việc giải quyết ly hôn Căn cứ vào lời khai và tài liệu nhận được, tòa xét xử theo thủ tục chung
Trang 8– Trường hợp bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:
+) Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết
+) Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho
bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng
Trường hợp 2: các bên đều là công dân Việt Nam kết hôn ở nước ngoài theo
pháp luật nước ngoài, xin ly hôn ở Việt Nam
Khi giải quyết loại việc này cần phân biệt như sau:
– Các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước đã ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp hoặc đã được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trang 9+) Theo quy định của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28/03 /2013 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước thì việc kết hôn của đương sự cần được ghi chú vào sổ đăng ký Do đó, nếu việc kết hôn của đương sự chưa được ghi chú vào sổ đăng ký thì Toà án yêu cầu đương sự làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký theo quy định của Nghị định này rồi mới thụ lý giải quyết việc ly hôn
+) Trong trường hợp đương sự không thực hiện yêu cầu của Toà án làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng ký mà vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung
– Các bên có giấy chứng nhận kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước chưa ký kết với Việt Nam Hiệp định tương trợ tư pháp cấp và cũng chưa được hợp pháp hoá lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam Theo quy định của Nghị định 24/2013/NĐ-CP thì nếu giấy đăng ký kết hôn của họ chưa được hợp pháp hoá lãnh
sự, việc kết hôn của họ chưa được ghi chú vào sổ đăng ký, thì Toà án yêu cầu đương sự hoàn tất thủ tục hợp pháp hoá lãnh sự và làm thủ tục ghi chú vào sổ đăng
ký rồi mới thụ lý giải quyết Trong trường hợp đương sự không thực hiện các thủ tục đó mà vẫn có yêu cầu Toà án giải quyết, thì Toà án không công nhận họ là vợ chồng; nếu có yêu cầu Toà án giải quyết về con cái, tài sản thì Toà án giải quyết theo thủ tục chung
Trường hợp 3: Người nước ngoài đang ở nước ngoài (nguyên đơn) muốn
xin ly hôn với người Việt Nam ở Việt Nam (bị đơn)
– Người Việt Nam có quốc tịch và đang cư trú tại Việt Nam, thì tòa án thụ lý giải quyết như sau:
+) Trường hợp nguyên đơn là công dân của nước mà Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp thì ưu tiên áp dụng hiệp định để giải quyết trước
+)Trường hợp nguyên đơn là công dân của nước mà Việt Nam chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp thì áp dụng Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014 để giải
Trang 10quyết Trong cả hai trường hợp trên, việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước đó
– Người Việt Nam không có quốc tịch Việt Nam, đang ở Việt Nam, tòa án cũng không thụ lý giải quyết Vì việc này không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án Việt Nam
Trường hợp 4: công dân Việt Nam ở Việt Nam xin ly hôn với người nước
ngoài đang cư trú ở nước ngoài Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ chăm sóc giúp đỡ nhau, cùng xây dựng gia đình hạnh phúc Do đó, trong thời gian 1 năm trở lên, nếu người nước ngoài bỏ về nước không thực hiện nghĩa vụ vợ chồng theo quy định, mà đương sự, thân nhân của họ và các cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước họ, các cơ quan có thẩm quyền mà người đó là công dân), sau khi đã điều tra xác minh địa chỉ của họ theo thủ tục xuất nhập cảnh, địa chỉ mà họ khai khi đăng ký kết hôn theo giấy đăng ký kết hôn… nhưng cũng không biết tin tức, địa chỉ của họ, thì được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ và Tòa án thụ lý giải quyết cho ly hôn
III Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật ly hôn có yếu tố nước ngoài
1 Những hạn chế của pháp luật về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Thứ nhất, Những khó khăn về thủ tục hành chính.
Theo quy định của pháp luật đối với các vụ, việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thì TAND tỉnh, hoặc thành phố nơi nguyên đơn có hộ khẩu thường trú sẽ thụ lý và thời hạn tối đa cho các trường hợp ly hôn này là 4 tháng và có thể gia hạn thêm 2 tháng đối với những trường hợp phức tạp Nhưng trên thực tế việc xét xử đối với những trường hợp này hết sức gian nan Sau hai lần Tòa án ủy thác tư pháp qua Bộ Tư pháp, cơ quan lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài và Tòa án nước ngoài điều tra tống đạt nhưng hết thời hạn 6 tháng không có kết quả trả lời, hoặc trả lời rất chậm Chính
vì vậy việc lấy lời khai, tống đạt các văn bản của Tòa án hoặc xác định tài sản ở nước ngoài là không thực hiện được làm cho vụ án kéo dài, vi phạm thời hạn xét
xử Tòa án phải tạm đình chỉ vì không tìm được địa chỉ hoặc không có lời khai của
bị đơn Nhiều vụ không thể thụ lý giải quyết do công dân Việt Nam xin ly hôn chỉ