Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Trang 1ĐẠO ĐỨC
I HỒ CHÍ MINH VÀ NỀN ĐẠO ĐỨC MỚI Ở VIỆT NAM
1 Đạo đức - một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mạng
a) Những vấn đề chung về đạo đức, đạo đức cách mạng.
- Một số vấn đề chung về đạo đức
+ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những nguyên tắc, chuấn mực, định hướng giá trị được xã hội thừa nhận, có tác dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và toàn xã hội
+ Với mỗi cá nhân, ý thức và hành vi đạo đức mang tính tự giác, xuất phát
từ nhu cầu bên trong, đồng thời chịu tác động của dư luận xã hội và của những người xung quanh
+ Đạo đức xã hội bao gồm: ý thức ĐĐ, hành vi ĐĐ và quan hệ ĐĐ
+ Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp, do đó đạo đức của giai cấp thống trị chi phối đạo đức xã hội
+ Hành vi đạo đức bắt nguồn từ ý thức đạo đức, nên đạo đức thường tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, nhận thức của mỗi cá nhân Tuy nhiên, không phải
cứ trình độ cao là có đạo đức và ngược lại, điều này do sự khác biệt và có khoảng cách giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức, giữa nhận thức và hành động của mỗi người
- Bản chất đạo đức cách mạng.
+ Đạo đức CM (đạo đức mới) mang bản chất GCCN, phục vụ sự nghiệp
CM, nhằm lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giải phóng người lao động.
+ Đạo đức mới, là đạo đức nhằm phục vụ sự nghiệp cách mạng với mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người
Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức cũ và đạo đức mới khác nhau nhiều Đạo đức
cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời”.
- Đặc trưng đạo đức mới.
+ Đạo đức mới luôn thống nhất với chính trị và phục vụ cho sự nghiệp
chính trị Lênin viết: “Cái gì phục vụ cho sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản, cái ấy là đạo đức”
+ Đạo đức và pháp luật có quan hệ chặt chẽ với nhau, pháp luật nhằm duy trì và bảo vệ các giá trị đạo đức, còn đạo đức bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh trong cuộc sống
+ Đạo đức thống nhất với tài năng, đức là gốc của tài, tài là sự thể hiện của đức trong hiệu quả hành động
+ Ý thức đạo đức, giáo dục đạo đức thống nhất với hành vi đạo đức và thực hành đạo đức
b) Đạo đức là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của HCM
- Hồ Chí Minh là nhà cách mạng luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức, viết nhiều về đạo đức cách mạng ở mọi thời kỳ cách mạng;
+ Bàn về đạo đức và quan hệ đạo đức Người có gần 50 bài và tác phẩm + TP: Đường cách mệnh, Sửa đổi lối làm việc, Đạo đức cách mạng, Nâng
Trang 2cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân
- HCM quan tâm vì Người coi ĐĐCM là nền tảng, cái gốc của người CM + Đối với con người, có sức mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có ĐĐCM mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng + Nó đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi con người
- Về mục đích: HCM quan tâm nhiều đến vấn đề đạo đức nhưng không có
ý định xây dựng nên một học thuyết đạo đức của riêng mình mà chỉ nhằm một
mục tiêu nhất quán là phục vụ cho sự nghiệp cách mạng: “Về nội dung viết mà các cô, chú gọi là “đề tài” thì tất cả những bài Bác viết chỉ có một đề tài chống Thực dân Đế quốc, chống phong kiến địa chủ, tuyên truyền ĐLDT và CNXH”.
- Phương pháp diễn đạt: Súc tích, dễ hiểu, dễ đi vào quần chúng HCM phê
phán: “Nhiều người tưởng mình viết gì nói gì người khác cũng hiểu được cả, thật
ra không phải như thế Dùng cả đoạn chữ Hán, từng đống danh từ lạ, nói hoặc viết theo cách Tây, mỗi câu dài dằng dặc, thì quần chúng làm sao hiểu được…”
- Phạm vi và đối tượng đề cập: Rộng lớn và phong phú
- HCM xem xét đạo đức trên cả hai phương diện: lý luận và thực tiễn
- Bản thân Người là một mẫu mực về đạo đức cách mạng và Người đã nêu gương đạo đức cách mạng với Đảng, dân tộc, nhân dân
2 Nguồn gốc hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
a) Truyền thống đạo đức của dân tộc
- Truyền thống trọng đạo đức.
Dân tộc Việt Nam luôn đòi hỏi mỗi người phải tu dưỡng đạo đức để giữ làng, giữ nước Quá trình đó hình thành đạo lý làm người của dân tộc Việt Nam Nhân dân ta đã lưu truyền và đặt lên hàng đầu việc tuyên dương những tấm gương hy sinh bất khuất vì độc lập tự do của Tổ quốc như: Thánh Gióng,
hai Bà Trưng, Bà Triệu đến các anh hùng nghĩa sĩ đã hy sinh vì dân, vì nước.
- Truyền thống yêu quý con người, đề cao tình người, cưu mang đùm bọc lẫn nhau trong khó khăn, hoạn nạn.
+ Dân tộc Việt Nam yêu quý con người, đề cao: tình cha mẹ yêu thương con cái, tình nghĩa vợ chồng, tình anh em, bè bạn, tình thày trò, tình làng nghĩa xóm, tình đồng bào, đồng chí
+ Đề cao lối sống tình nghĩa thuỷ chung và luôn nhấn mạnh: tình trước, nghĩa sau, tình sâu nghĩa nặng, luôn cưu mạng, đùm bọc lẫn nhau
- Truyền thống gắn kết cộng đồng
+ Người Việt Nam đã quen sống gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm, tối lửa tắt đèn có nhau, “lá lành đùm lá rách” trong khó khăn, hoạn nạn + Lòng yêu nhà với yêu quê hương, yêu đất nước thống nhất với nhau
- Truyền thống đề cao đức tính cần cù, giản dị, tiết kiệm
+ Do điều kiện địa lý, thời tiết chi phối tạo nên cho con người Việt Nam đức tính cần cù, tiết kiệm và luôn phê phán thói xa hoa, lười biếng, khoác lác
+ Truyền thống đó được đúc kết: “Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu” Hay: “Nắng mưa là việc của trời, đào mương chống hạn việc người nông dân”
b) Hồ Chí Minh tiếp thu những tinh hoa đạo đức của nhân loại
Trang 3- Những yếu tố tích cực trong đạo đức Nho giáo.
+ Coi trọng tu dưỡng đạo đức, đề cao sức mạnh của đạo đức, cho rằng từ thiên tử đến thứ dân ai cũng phải lấy tu thân làm đầu
+ Không coi đạo đức là bản chất tự nhiên mà là cái con người phải ra sức
tu dưỡng, rèn luyện công phu, bền bỉ mới đạt được
+ Yêu cầu những người cầm quyền càng phải thực hành đạo đức để làm
gương cho mọi người noi theo Mạnh Tử nói: Bậc quốc trưởng trước hết phải giữ mình cho ngay thẳng, sau đó thiên hạ mới quy thuận mình.
- Những tư tưởng tiến bộ của đạo đức Phương Tây.
+ Thứ nhất: tư tưởng đạo đức cơ đốc giáo
Nét nổi bật của đạo đức cơ đốc giáo: Lòng nhân ái, thương người, tinh thần khoan dung, không cố chấp
* Chúa Giêxu luôn răn dạy: hãy sống trong sạch, thuỷ chung, không tham lam, trộm cắp, không dối trá, phải an ủi, cứu giúp người hoạn nạn, đói khát,
* Hồ Chí Minh viết: “Tôn giáo Giêxu có ưu điểm là lòng nhân ái cao cả”.
* Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã nhận rõ mặt tiêu cực của đạo đức cơ đốc giáo khi nó bị giai cấp thống trị lợi dụng để ru ngủ con người, kêu gọi thỏa hiệp với kẻ thù, trông chờ vào chúa, thủ tiêu đấu tranh
+ Thứ hai: truyền thống nhân văn Phương Tây (CNNV phục hưng)
* Ưu điểm của chủ nghĩa nhân văn phục hưng là: Đề cao con người, chống lại mọi sự khinh rẻ đối với con người, từ đó đề xuất tư tưởng về quyền tự do, bình đẳng, dân chủ Nhiều TP về nhân quyền, nhân đạo, dân chủ ra đời, đặt cơ
sở lý luận cho việc đấu tranh bảo vệ quyền con người
* Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy mặt trái của lá cờ Tự do, Bình đẳng, Bác ái thông qua sự đối lập giữa tư tưởng đạo đức mà giai cấp tư sản rêu rao với thực trạng đầy rẫy áp bức, bất công của xã hội tư sản
* Hồ Chí Minh đã tiếp thu những tư tưởng tiến bộ của đạo đức Phương Tây, nhưng Người cũng thấy rằng nó chưa thoả mãn được lý tưởng chính trị và đạo đức của Người trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng triệt để con người
c) HCM tiếp thu, vận dụng tư tưởng và tấm gương đạo đức Mác- Lênin
- Hồ Chí Minh tiếp thu tư tưởng đạo đức học Mác - Lênin.
+ Người được thức tỉnh bởi tư tưởng vĩ đại của Mác về vai trò và sức mạnh của con người trong cải tạo tự nhiên và xã hội
* Chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng: “Sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân tự đảm nhiệm lấy”.
Điều đó cũng có nghĩa là: sự nghiệp giải phóng con người phải do chính con người tự làm lấy Đây chính là bước ngoặt của tư tưởng nhân văn nhân loại
mà trước đó chưa có nhà tư tưởng nào phát hiện được
+ HCM tìm thấy tư tưởng về chủ nghĩa QTVS trong học thuyết MLN
* Điều mà Hồ Chí Minh rất khâm phục trong tư tưởng của Lênin là: sau khi giải phóng nhân dân mình, Lênin còn muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức khác nữa Đây chính là nét mới, vĩ đại trong tư tưởng đạo đức nhân loại mà phải đến thời đại cách mạng vô sản mới có được
- HCM đã tìm thấy trong tấm gương đạo đức Mác, Lênin những phẩm
Trang 4chất cao cả làm đẹp cho chủ nghĩa cộng sản và cho những người cách mạng chân chính.
+ Trong bài Lênin và và các dân tộc phương Đông, Hồ Chí Minh đã viết:
“Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại
và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu á và đã khiến cho trái tim của họ hướng về Người, không gì ngăn cản nổi”.
Tóm lại: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh được hình thành từ sự kế thừa, chắt lọc tinh hoa đạo đức nhân loại và tư tưởng đạo đức Mác - Lênin, cùng với Mác- Lênin, tạo nên một cuộc cách mạng trên lĩnh vực đạo đức
3 Phạm vi bao quát trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
- Đạo đức được Hồ Chí Minh xem xét một cách toàn diện:
Đối với mỗi đối tượng trong xã hội; Trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người; Trên mọi phạm vi từ hẹp đến rộng; Trong cả ba mối quan hệ chủ yếu của con người: đối với mình, đối với người và đối với công việc
- Suốt cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn kiên trì tu dưỡng rèn luyện đạo đức; trong 24 năm với cương vị là chủ tịch nước, Người luôn kiên trì giáo dục cán bộ, đảng viên, cán bộ đạo đức mới, đạo đức cách mạng
- Trước lúc đi xa, trong Bản Di chúc Người viết: Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.
II NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
1 Vị trí đạo đức trong đời sống con người và xã hội
- Đạo đức cách mạng là nền tảng của người cách mạng
+ Mọi việc thành hay bại chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức
cách mạng hay không: Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân.
+ Sự nghiệp cách mạng mới với những lý tưởng và khát vọng cao đẹp Nhưng lại rất nặng nề phải xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới HCM dạy:
“Đây là là một công việc to tát mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì”.
Người nhấn mạnh: “Làm cách mạng để để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài gian khổ Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”.
- Theo HCM, đạo đức là cái gốc của người cách mạng Vì Đảng ta là Đảng cầm quyền
+ Đối với Đảng cầm quyền thì sai lầm về đường lối và sự suy thoái về đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên đều là những nguy cơ lớn
Vì vậy, Người luôn nhấn mạnh: Đảng phải là đạo đức, là văn minh HCM
Trang 5nhắc nhở: “Không phải viết lên trán chữ cộng sản là được quần chúng yêu mến Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức”.
+ Đạo đức CM là bản chất của chế độ XHCN Trên nền tảng học thuyết
MLN có mục tiêu tốt đẹp và được hiện thực hóa trong xã hội (Chỉ ra nguyên nhân của mọi áp bức đau khổ đó là sự chiếm hữu tư nhân về TLSX… dẫn đến sự tha hóa con người: tha hóa lao động và tha hóa quyền lực chính trị…)
* Hồ Chí Minh vạch rõ: Đạo đức chúng ta xây dựng là đạo đức mới, đạo
đức cách mạng, nó khác đạo đức cũ, đạo đức phong kiến, tư sản “Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất, chân chổng lên trời Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”
* Đạo đức mới đó chính là đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản chủ nghĩa, trong đó có sự kết hợp giữa đạo đức của giai cấp công nhân với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa đạo đức nhân loại
- Đạo đức là vũ khí tinh thần mạnh mẽ trong cuộc đấu tranh vì ĐLDT và CNXH.
+ Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội nên có khả năng tác động tích cực trở lại cải biến tồn tại xã hội
+ Theo HCM đạo đức là thước đo lòng cao thượng của con người Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn gian khổ mấy cũng không lùi bước, chán nản
khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ đựơc khiêm tốn: “Thắng không kiêu, bại không nản”, “Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ…”.
+ Người cách mạng có đạo đức thì mới chống lại có hiệu quả các thói hư
tật xấu, chủ nghĩa cá nhân - bản chất đạo đức của GCTS HCM luôn nhắc nhở quan điểm của Lênin: “Chúng ta nói rằng: đạo đức là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động xung quanh GCVS đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản”.
Như vậy, theo Người, đạo đức có vai trò to lớn đối với hành vi của con người: đạo đức tốt thì hành vi hợp quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội Người không có đạo đức tất yếu hành động trái quy luật Người cũng quan niệm
rằng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nước thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.
- Theo HCM, đạo đức là cái gốc của người cách mạng nhưng không phải xem nhẹ tài năng mà nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau
Quan điểm lấy đức làm gốc của HCM không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đức, coi nhẹ mặt tài, đức là gốc, nhưng đức và tài, hồng và chuyên phải kết hợp, phẩm chất và năng lực phải đi đôi với nhau, không thể có mặt này thiếu mặt kia
Người phân tích, “người nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì Ngược lại, nếu
có tài mà không có đức, thì cũng chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lại nhiều lãi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì như vậy chỉ làm hại cho dân cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ vỡ” Người thực
sự có đạo đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng
Trang 6lực, tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Khi đã thấy sức không vươn lên được thì đối với ai có tài hơn mình, mình sẵn sàng học tập, ủng hộ và nhường
bước để họ vượt lên trước Ý nghĩa “Đức là gốc” chính là ở chỗ đó.
2 Những chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam trong thời đại mới
a) Trung với nước, hiếu với dân.
Đây là chuẩn mực đạo đức chung nhất, bao trùm nhất và quan trọng nhất của người cách mạng Từ xưa đến nay, yêu nước, trung với nước luôn đứng đầu trong bảng giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc
- Trung với nước là trung thành với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, với mục tiêu ĐLDT và CNXH, sẵn sàng chiến đấu hy sinh cho sự nghiệp xây dựng và BVTQ.
Hồ Chí Minh đã phân tích: “Đạo đức, ngày trước chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới, đạo đức cũng phải mới, phải trung với nước, phải hiếu với toàn dân, với đồng bào”
- Hiếu với dân: là phải yêu dân, kính dân, tôn trọng dân, lấy dân làm gốc.
Đề cao tinh thần phục vụ nhân dân, có trách nhiệm trước nhân dân, luôn quan tâm đến đời sống của nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của ND.
+ Đây chính là nội dung làm cho tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh khác về bản chất so với đạo đức cũ
+ Đạo đức Nho giáo coi dân là để sai khiến, dân như cỏ rác, còn đạo đức người quân tử như gió, gió lướt đến đâu cỏ rạp đến đó
+ Đối với cán bộ, đảng viên phải suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt của đạo đức cách mạng Phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với dân, phải tận trung, tận hiếu, thì mới xứng đáng vừa là đầy tớ trung thành, vừa là người lãnh đạo của dân; dân là đối tượng để phục vụ hết lòng Phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí để dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước
- Trung với nước phải đi liền hiếu với dân không thể tách rời giữa hai nội dung này
+ Hồ Chí Minh đã nói: Nước là nước của dân, do dân làm chủ, bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân, cán bộ là đày tớ của dân chứ không phải
là quan cách mạng Do đó, trung với nước phải đi liền hiếu với dân
+ Nếu mỗi cán bộ, đảng viên có được đạo đức “trung với nước, hiếu với dân” thì sẽ được dân tin, dân yêu, dân ủng hộ, giúp đỡ nên nhiệm vụ nào cũng sẽ hoàn thành, khó khăn nào cũng sẽ vượt qua
b) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Đây là một trong những chuẩn mực đạo đức rất quan trọng của người cách mạng, đây là khái niệm cũ của đạo đức Phương Đông được Hồ Chí Minh sử dụng và đem lại cho nó một ý nghĩa mới
- Cần: Là siêng năng cần cù, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai, làm việc có kế hoạch sáng tạo, năng suất; không ỷ lại, dựa dẫm
+ Người Tàu đã có câu: Không có việc khó, chỉ e ta không siêng Tục ngữ
có câu: Nước chảy mãi, đá cũng mòn Kiến tha lâu cũng đầy tổ Theo đó cần
Trang 7nghĩa là dù khó khăn mấy, cũng làm được Dao siêng mài thì sắc bén, ruộng siêng làm cỏ thì lúa tốt Siêng học tập thì mau biết, siêng nghĩ ngợi thì hay có sáng kiến, siêng làm thì nhất định thành công, siêng hoạt động thì sức khỏe + “Cần” có nghĩa hẹp và nghĩa rộng
* Với nghĩa hẹp, như tay siêng làm thì hàm siêng nhai
* Nó lại có nghĩa rộng là mọi người đều phải Cần, cả nước đều phải cần
Hồ Chí Minh đã nói: Người siêng năng thì mau tiến bộ, cả nhà siêng năng thì chắc ấm no Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh, cả nước siêng năng thì nước mạnh giầu
+ Muốn cho chữ Cần có nhiều kết quả hơn, thì phải có kế hoạch cho mọi công việc Nghĩa là tính toán cẩn thận, sếp đặt gọn gàng
* Cây gỗ bất kỳ to nhỏ, đều có gốc, có ngọn Công việc bất kỳ to nhỏ, đều
có điều nên làm trước, điều nên làm sau Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước để lại làm sau, điều nên làm sau mà đưa làm tước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít Việc to việc nhỏ muôn việc đều như vậy
Vì vậy siêng năng và kế hoạch phải đi đôi với nhau
* Trong một gia đình, một xưởng máy, một cơ quan, v.v…đã phải có kế hoạch, lai phải phân công cho khéo Phân công cần chú ý: Công việc- việc gì gấp thì làm trước, việc hoãn thì làm sau;
* Nhân tài, người nào có năng lực làm việc gì thì đặt làm việc ấy Nếu dùng không đúng người, người giỏi nghề thợ mộc thì giao cho việc thợ rèn, người giỏi nghề thợ rèn thì giao cho việc thợ mộc, như thế thì hai người đều thất bại cả hai
+ Cần và chuyên lại phải luôn đi đôi với nhau, chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng
vô ích, như thế chẳng khác gì một tấm vải phơi một hôm mà ngâm nước mười hôm, thì ướt hoàn ướt Cần không phải là làm xổi Nếu là cố chết, cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc, Như vậy không phải là cần Lười biếng là kẻ địch của chữ Cần Vì vậy lười biếng cũng là
kể địch của dân tộc
- Kiệm: Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không
xa xỉ, không phung phí, không bừa bãi và không bủn xỉn; cần với kiệm phải đi liền với nhau như hai chân của con người.
+ Tại sao phải kiệm: Hồ Chí Minh nói: “Cần mà không kiệm” thì làm chừng nào xào chừng ấy cũng như một cái thùng không có đáy; nước chảy vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không Kiệm mà không cần cũng như cái thùng chỉ đựng được một lít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”.
+ Tiết kiệm cách như thế nào? Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra: dùng một cái phong bì hơn 2,3 lần Người nói: “Trung bình, cái phong bì là 180 phân vuông giấy Mỗi ngày các cơ quan, đoàn thể và các tư nhân trong cả nước ta ít nhất cũng dùng hết một vạn cái phong bì, tức là 180 thước vuông giấy Mỗi tháng là 5.400 thước Mỗi năm là 64.800 thước vuông giấy Nếu ai cũng tiết kiệm dùng cái phong bì 2 lần, thì mỗi năm chỉ tốn một nửa giấy, tức là còn 32.400 thước
Trang 8vuông Còn lại 32.400 thước vuông thì để dành cho các lớp bình dân học vụ, thì chẳng tốt sao? Hơn thế nữa, nhờ sự tiết kiệm giấy, mà tiền bạc và công phu làm giấy có thể thêm vào việc kiến thiết khác, thì càng ích lợi hơn nữa…” Cái ví dụ
ấy rất rõ rệt, đối với giấy như thế, đối với mọi thứ vật liệu khác đều như thế
+ Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, thời giờ cũng cần phải kiết kiệm như của
cải Của cải nếu hết còn có thể làm thêm Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được Có ai kéo lại ngày hôm qua được không? Muốn kéo lại thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ, không nên chậm rãi Không nên nay lần, mai lữa Tiết kiệm thời giờ làm cũng là Kiệm là Cần Bất kỳ nghề gì, việc gì, khi đã làm thì phải hăng hái chăm chỉ, chuyên chú
Tiết kiệm thời giờ của mình là tiết kiệm thời giờ của người, không nên ngồi lê, nói chuyện phiếm, làm mất thời giờ người khác
+ Tiết kiệm không phải là bủn xỉn Khi không nên tiêu xài, thì một đồng
xu cũng không tiêu Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng Như thế mới là Kiệm Việc đáng tiêu mà không tiêu là bủn xỉn, chứ không phải là Kiệm
+ Tiết kiệm phải quyết không xa xỉ Việc đáng làm trong một giờ mà kéo dài hai, ba giờ là xa xỉ Hao phí vật liệu là xa xỉ Vì vậy xa xỉ là có tội với Tổ quốc với đồng bào Theo Người, Tiết kiệm nghĩa là, một giờ làm xong công việc của hai, ba giờ Một người làm hai, ba người Một đồng dùng bằng giá trị hai, ba
đồng Cho nên muốn tiết kiệm có kết quả tốt thì phải khéo tổ chức Ví dụ “nếu một nhà 10 người, mỗi người nấu riêng một nồi cơm, thì tốn biết bao nhiêu nồi, bao nhiêu củi và nước, bao nhiêu công phu Góp nhau lại nấu chung một nồi, thì lợi biết bao nhiêu Vì vậy, góp sức làm công việc và hợp tác xã, là cách tiết kiệm tốt nhất”.
+ Nếu toàn dân thi đua Tiết kiệm: Các cơ quan tiết kiệm tiền công của công để đỡ tốn ngân quỹ; chiến sỹ thi đua tiết kiệm thuốc đạn, bằng cách bắn phát nào trúng phát ấy; công nhân thi đua kiết kiệm nguyên liệu; học sinh thi đua tiết kiệm bút giấy; đồng bào hậu phương thi đua tiết kiệm tiền bạc và lương thực, để giúp đỡ bộ đội; mỗi người thi đua tiết kiệm thời giờ,v.v… thì kết quả thi đua tiết kiệm cũng bằng kết quả thi đua tăng gia sản xuất Một mặt chúng ta thi đua Kiệm, mặt khác, chúng ta thi đua Cần Kết quả Cần cộng kết quả Kiệm là bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới Kết quả chữ Cần, chữ Kiệm to lớn như vậy đó, cho nên cho nên
người yêu nước thì phải thi đua thực hành tiết kiệm.
- Liêm: Là trong sạch, không tham lam vật chất, địa vị, quyền hành, không tham ô, tham nhũng, luôn giữ gìn, bảo vệ lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.
Chỉ có một thứ ham: ham học, ham làm, ham tiến bộ; trái với liêm là: cậy quyền, cậy thế…
+ Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm, cũng như Kiệm phải đi đôi với chữ Cần Có kiệm với liêm được Vì xa xỉ mà sinh tham lam Tham tiền của, tham địa vị tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là bất liêm
Trang 9* Người cán bộ cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc chôm của công làm của tư Người buôn bán mua một, bán mười, hoặc mua gian bán lậu chợ đen chợ đỏ, tích trữ đầu cơ Người có tiền cho vay cắt cổ, bóp đầu bóp họng đồng bào Người làm nghề nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt đồng bào Người cờ bạc chỉ mong xoay của người làm của mình, tất cả đều là tham lam, đều là bất liêm
Dìm người giỏi để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị Gặp việc phải mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm là tham vật quý Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham uy tử Tất cả đều làm trái với chữ Liêm
* Do bất Liêm mà đi đến trộm cắp, công khai hay bí mật, trực tiếp hay
gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp Cụ Khổng Tử nói “Người mà không Liêm không bằng súc vật” Cụ Mạnh Tử nói: “Ai cũng tham lợi thì nước sẽ nguy”
+ Để thực hiện chữ Liêm cần tuyên truyền và kiểm soát, giáo dục pháp luật từ trên xuống, từ dưới lên
Trước hết là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ Dù to hay nhỏ có quyền mà thiếu lương tâm thì có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp “dĩ công vô tư” Vì vậy cán bộ phải thực hành liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân
- Chính: nghĩa là không tà, là thẳng thắn, đứng đắn; không tự cao, tự đại; không nịnh hót người trên, xem khinh người dưới Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn tức là tà Cần, Kiệm, Liêm là gốc của Chính.
+ Trên quả đất có hàng muôn triệu người Song số người ấy có thể chia
làm hai hạng: Người Thiện và người Ác Người nói: “Làm việc chính là người Thiện, làm việc tà, là người ác Siêng năng (cần), tần tiện (Kiệm), trong sạch (Liêm) chính là Thiện Lười biếng, xa xỉ tham lam là tà, là ác”
+ Một người phải cần, kiệm, liêm, nhưng phải có chính mới là hoàn toàn + Chính biểu hiện qua 3 MQH : đối với mình; đối với người; đối với công việc
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: Bất kỳ tầng lớp nào, địa vị nào, làm nghề nghiệp gì, sự hoạt động của một người trong xã hội có thể chia làm 3 mặt
* Đối với mình, chớ tự kiêu, tự đại Tự kiêu, tự đại là khờ dại Vì mình hay còn nhiều nhiều hay hơn mình Mình giỏi còn nhiều người giỏi hơn mình
Tự kiêu tự đại tức là thoái bộ Sông to biển rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu Cái nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp và nhỏ Người mà tự kiêu tự mãn, cũng như cái chén, cái đĩa cạn
Luôn cầu tiến bộ Không tiến bộ thì là ngừng lại Trong khi mình ngừng lại thì người ta cứ tiến bộ Kết quả là mình thoái bộ, lạc hậu Tiến bộ không giới hạn, mình có gắng tiến bộ thì chắc chắn tiến bộ mãi Đồng thời phải hoan nghênh người khác phê bình mình
* Đối với người, Chớ nịnh hót người trên, chớ xem kinh người dưới Thái
độ phải chân thành khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết phải học người và giúp người tiến bộ, phải thực hành chữ Bắc - Ái
Trang 10* Đối với việc, phải để việc công, việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà Đã phụ trách việc gì, thì quyết tâm làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm
Bất kì việc to, việc nhỏ phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận phải quyết tâm làm cho thành công Việc thiện dù nhỏ mấy cũng phải làm, việc
ác dù nhỏ mấy cũng phải tránh Việc gì có lợi cho mình, phải xem xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi mà hại có cho nước thì quyết không làm Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước, dù là việc nhỏ, thì một năm ta làm được 360 việc Việc lợi nhỏ cộng lại thành lợi to Hai mươi triệu đồng bào
ai cũng làm như vậy, thì nước định mau giàu, dân ta nhất định được nhiều hạnh phúc Ai chẳng muốn cho tự mình thành một người tốt Con cháu mình sung sướng Gia đình mình no ấm Làng xóm mình thịnh vượng nòi giống mình vẻ vang Nước nhà mình mạnh giàu Mục đích ấy tuy to lớn, nhưng rất thiết thực, thiết thực vì chúng ta nhất định đạt được Chúng ta nhất định đạt được vì mỗi người và tất cả dân ta đều thi đua: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
+ Như vậy, Cần, Kiệm, Liêm, chính có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, là tiền đề và kết quả của nhau, như Hồ Chí Minh đã nói:
“Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc
Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính
Thiếu một mùa thì không thành trời.
Thiếu một phương thì không thành đất.
Thiếu một đức thì không thành người”.
- Chí công vô tư: Là công minh, chính trực, công bằng, công tâm và không thiên tư, thiên vị.
+ Công và Tư ở đây không có nghĩa là chỉ vì tập thể mà quên đi cá nhân Chuẩn mực này đòi hỏi người lãnh đạo cầm cân nảy mực phải hết sức công bằng, không được có lòng riêng mà thiên tư, thiên vị
+ Chí công vô tư: là không nghĩ đến mình trước, phải đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của Đảng, lên trên hết, trước hết, không kèn cựa về mặt hưởng thụ, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, mình vì mọi người, công tâm trong sáng.
* Đối lập với “Chí công vô tư” là “dĩ công vi tư”, đó là chủ nghĩa cá nhân
ích kỷ, hẹp hòi, là một thứ vi trùng độc hại; là căn nguyên, gốc rễ đẻ ra hàng trăm thứ bệnh và thói hư tật xấu: Tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh, óc địa phương hẹp hòi, kéo bè, kéo cánh, quan liêu, độc đoán, tham ô, tham nhũng…
- MQH Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư: có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết với nhau
Theo Bác: “Cần và Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”… Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được” “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần Có Kiệm mới có Liêm được Vì xa xỉ mà sinh tham lam” “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới hoàn toàn.