Co giãn của cầu theo giá hàng hóa Chúng ta thấy khi giá di chuyển từ P1 xuống P2 thì lượng cầu tăng thêm ở H3 lớn hơn nhiều với ở H2 nguyên nhân là do độ dốc của hình 2 lớn hơn độ dốc củ
Trang 1NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA KINH TẾ HỌC
I: CO GIÃN CỦA CUNG VÀ CẦU
Ta thấy là đường cầu và đường cung là các đường thẳng có độ dốc Độ dốc này thểhiện mức độ nhạy cảm về giá của cả người bán và người mua Trong kinh tế học người ta gọi đó là hệ số co giãn
1 Co giãn của cầu theo giá hàng hóa
Chúng ta thấy khi giá di chuyển từ P1 xuống P2 thì lượng cầu tăng thêm ở H3 lớn hơn nhiều với ở H2 nguyên nhân là do độ dốc của hình 2 lớn hơn độ dốc của hình 3
Ví dụ như tăm tre chẳng hạn; đường cầu tăm tre sẽ gần thẳng đứng, nó thể hiện là cho dù giá tăm có tăng gấp đôi thì lượng cầu tăm tre cũng không suy giảm là bao dophần tăng thêm không ảnh hưởng nhiều tới người tiêu dùng Hay đối với những hàng hóa ta rất ít khi dùng hoặc bắt buộc phải dùng thì nó cũng sẽ dốc
Đối với lương thực thực phẩm thì người tiêu dùng nhạy cảm hơn do phải dùng hàngngày Khi giá một mặt hàng như thịt lợn chẳng hạn tăng lên thì lượng cầu sẽ giảm xuống; vì hoặc là không ăn hoặc là mua các mặt hàng thay thế như thịt bò, thịt gà
Ta gọi cái này là hệ số co giãn và có công thức:
Hệ số co giãn của cầu theo giá được định nghĩa bằng % thay đổi của lượng cầu chia cho % thay đổi giá của giá với giả đinh các yếu tố khác không thay đổi
Hệ số co giãn là một số âm do giá và sản lượng có mối quan hệ nghịch chiều Giá tăng thì lượng cầu giảm mà giá giảm thì lượng cầu tăng; ví dụ nếu giá đều chỉnh
Trang 2tăng 5% thì lượng cầu sẽ điều chỉnh giảm nên nó là số âm ví dụ -10% Hệ số co giãn của cầu theo giá là một số giá trị tuyệt đối nhưng ngầm định đó là số âm.
Nếu cầu có công thức P = b + aQ ( chú ý là đôi khi ta viết ngược lại Q=c+dP; về bản chất là không sao; quan trọng là Q và P phải nghịch đảo có nghĩa là hệ số a hay
d phải là số âm) Thì công thức tính của cầu:
(Trong công thức này vì là P=b+aQ nên sẽ là 1/a; còn nếu công thức của cầu
là Q=c+dP thì sẽ là = d*(P/Q)
Các trường hợp của hệ số co giãn cầu:
0< < 1: Cầu không co giãn, đường cầu dốc: % thay đổi trong lượng cầu ít hơn % thay đổi trong lượng giá
> 1: Cầu co giãn, đường cầu thoải: % thay đổi trong lượng cầu nhiều hơn % thay đổi trong giá
= 1: Cầu co giãn đơn vị (% thay đổi của giá và % thay đổi của lượng cầu bằng nhau): sự thay đổi % trong lượng cầu bằng % thay đổi trong lượng giá (Tử số và mẫu số bằng nhau)
= 0: Cầu hoàn toàn không co giãn, đường cầu thẳng đứng: lượng cầu không thayđổi khi giá thay đổi
= ∞: Cầu hoàn toàn co giãn, đường cầu nằm ngang: Khi lượng cầu thay đổi rất lớn mà giá không thay đổi
Trang 3Các yếu tố ảnh hưởng tới hệ số co giãn:
– Tính chất thay thế của hàng hóa: ví dụ thay vì ăn thịt lợn thì có thể ăn thịt bò
– Thời gian: càng dài thì cầu sẽ càng co giãn vì với thời gian dài thì người ta sẽ tìm thấy sản phẩm thay thế do vậy có nhiều lựa chọn hơn là với một khoảng thời gian ngắn
– Tỷ trọng hàng hóa trong thu nhập của người tiêu dùng càng cao thì cầu càng co giãn Giống như trường hợp của tăm tre, do tỷ trọng quá thấp nên ta không quan tâm tới; nhưng nếu là thịt lợn hay gạo thì vấn đề lại khác hẳn
2 Co giãn của cung theo giá hàng hóa:
Tương tự với cầu, đường cung cũng có độ dốc và độ dốc này cũng thể hiện mức độnhạy cảm với giá bán của nhà sản xuất Thông thường việc tăng sản lượng là một
sự đánh đổi theo mô hình đường giới hạn năng lực sản xuất ta đã biết Khi sản xuất thêm một mặt hàng hóa A thì sẽ phải đánh đổi với một lượng hàng hóa B và càng ngày chi phí cơ hội sẽ càng tăng dần
Trang 4Trong sơ đồ ta thấy khi giá tăng từ P2 lên P1 thì sản lượng đều tăng nhưng ở H3 nhiều hơn ở H2.
Công thức tính hệ số co giãn của cung
Công thức của cung P= b + aQ
Dựa vào công thức này ta có thể suy ra rằng hệ số a càng lớn thì càng ít co giãn; hệ
số a càng nhỏ thì càng co giãn.
Ảnh hưởng của co giãn
Trang 5Hệ số Co giãn và ứng dụng:
1 Co giãn và Chính sách thuế
Giả sử chính phủ đánh thuế t/sp bán ra Người bán hàng sẽ cộng thuế vào giá bán;
vì vậy công thức cung từ P=b + aQ thành P=b + t + aQ
Trang 6Như vậy đường cung mới sẽ là St thay vì S như cũ Cân bằng cung cầu chuyển
từ E tới E1 Tùy thuộc vào hệ số co giãn của đường cầu mà lượng mua sẽ giảm nhiều hay ít
Giá P2 là giá tại sản lượng cần bằng E1 trong khi đáng nhẽ người bán phải bán với giá P3=P1+t thì mới đẩy hết thuế về phía người tiêu dùng Vì vậy trong trường hợp thuế tăng thêm t thì người tiêu dùng sẽ chịu thiệt là b=P2-P1 và nhà sản xuất sẽ chịu thiệt là a=t-(P2-P1)
Như vậy ta thấy đường cầu càng ít co giãn thì người tiêu dùng càng thiệt và sản lượng giảm càng ít Chính phủ khi tăng thuế sẽ tập trung vào hàng hóa đường cầu ít
co giãn vì nếu làm ngược lại thì sản lượng giảm khiến cho tổng thu thuế giảm trong khi mục đích của tăng thuế là tăng nguồn thu
Chú ý thuế này là thuế đánh vào toàn bộ hàng hóa, khác với mô hình trong bài thuế quan là thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu
2 Co giãn và doanh thu
Doanh thu bằng giá bán nhân với số lượng bán Vì để bán được thì phải có người mua nên doanh thu là theo hàm cầu
Tại giá P2 doanh thu = P2 *Q2 = Tr1 +TR
Tại giá P1 doanh thu = P1*Q1= Tr2 + TR
Trang 7Ta thấy là trong trường hợp đường cầu không co giãn ( < 1 ) thì khi tăng giá
từ P2 lên P1 thì doanh thu cũng tăng một lượng là TR2-TR1 Trong trường hợp này giá tỷ lệ thuận với doanh thu
Trường hợp cầu hoàn toàn không co giãn ( = 0) thì người mua sẽ mua bằng mọi giá; doanh thu tăng theo giá
Trường hợp cầu co giãn đơn vị ( = 1) thì tăng hay giảm giá thì doanh thu cũng không đổi và tổng doanh thu là tối đa
Trường hợp cầu co giãn ( > 1) thì khi giá tăng từ P2 lên P1 doanh thu cũng bị giảm đi một lượng TR1-TR2 Mặc dù mỗi đơn vị hàng giá bán cao hơn nhưng vì lượng hàng bán ít hơn nên doanh số cũng ít hơn Trường hợp này giá tỷ lệ nghịch với doanh thu
3 Co giãn của cầu theo hàng hóa liên quan (co giãn chéo)
Hàng hóa liên quan có hai nhóm 1.Bổ sung: là những hàng hóa khi sử dụng phải sử dụng cùng nhau như xe với xăng xe, bếp gas với gas, tivi với giá điện,… và 2.Thay thế: là hàng hóa khi mà lợi ích mang lại khi sử dụng tương đối giống nhau như Coca
và Pepsi; như máy giặt Mitsu và máy giặt samsung,…
Cầu co giãn là % thay đổi lượng cầu hàng hóa này chia cho % thay đổi của giá hànghóa liên quan
Trang 8-X và Y là hai hàng hóa bổ sung: Khi giá X tăng thì lượng cầu Y sẽ giảm (khi giá gas tăng thì cầu bếp gas giảm) : < 0
– X và Y là hai hàng hóa thay thế: Khi giá X tăng thì lượng cầu Y tăng (khi tăng giá Pepsi thì Coca sẽ bán được nhiều hơn): > 0
4 Co giãn của cầu theo thu nhập:
Thu nhập càng tăng thì người tiêu dùng ngày càng có khả năng mua vì vậy cùng một mức giá bán lượng cầu sẽ tăng lên
Co giãn của cầu theo thu nhập là % thay đổi lượng cầu chia cho % thay đổi thu nhập và có công thức
Tuy nhiên không phải hàng hóa nào cũng tăng lượng cầu khi thu nhập tăng mà còn tùy thuộc nó thuộc nhóm nào:
1 Hàng hóa cấp thấp: khi thu nhập tăng lên thì người ta chuyển sang dùng loại hàng chất lượng cao, xịn hơn nên lượng cầu của hàng hóa này sẽ giảm ( <0)
2 Hàng thông dụng: khi thu nhập tăng thì lượng cầu tăng:
+ Hàng hóa thiết yếu: (0< ≤1)
+ Hàng hóa cấp cao (xa xỉ): ( >1)
Nghiên cứu ứng dụng thực tiễn tại bài Quản trị chiến lược
Những điều cần ghi nhớ:
– Dưới góc độ hình học thì co giãn thể hiện độ dốc của đường cầu hoặc cung.– Nếu đường cung, cầu không dốc thì nó song song với trục sản lượng; người ta gọi
là co giãn hoàn toàn
– Nếu đường cung, cầu thẳng đứng thì nó song song với trục giá; người ta gọi là hoàn toàn không co giãn
– Nếu biến động của giá ít gây ảnh hưởng tới sản lượng thì gọi là không co giãn.– Nếu biến động của giá gây ảnh hưởng nhiều tới sản lượng thì gọi là co giãn
Trang 9– Nếu biến động của giá gây ảnh hưởng đúng bằng với biến động của sản lượng thìgọi là co giãn đơn vị.
– Ý nghĩa của hệ số co giãn là nó thể hiện mức độ ảnh hưởng của biến động giá tới sản lượng
– Để tính co giãn tại một điểm của cung hay cầu ta đạo hàm hàm cung cầu theo giá sau đó nhân với P/Q trong đó P và Q là giá và sản lượng tại điểm đó
– Doanh thu phải tính theo hàm cầu nên độ co giãn của hàm cầu có ảnh hưởng tới quyết định tăng giảm sản lượng của DN từ đó tác động tới doanh thu Độ co giãn của cung trong trường hợp này chỉ liên quan tới vấn đề làm sao doanh nghiệp đạt được lợi ích nhất có thể vì việc tăng hay giảm sản lượng đều phải trả giá bởi chi phí
cơ hội
– Co dãn chéo thể hiện mức độ ảnh hưởng của biến động giá sản phẩm Y ảnh hưởng tới sản lượng của sản phẩm X Vì vậy công thức tính là đạo hàm của hàm cầu sản phẩm X theo giá nhân với giá sản phẩm Y chia cho sản lượng của X
II: CHỈ SỐ CPI VÀ LẠM PHÁT
Cứ đầu mỗi tháng trên tivi phát thanh viên thường hay nhắc đến chỉ số CPI của tháng trước đó và đánh giá về mức độ tăng giảm của CPI Đây cũng là chỉ số mà người dân quan tâm nhất và câu cửa miệng là tốc độ tăng của lương không theo kịptốc độ tăng của hàng hóa
Bảng dưới là bảng CPI (Consumer Price Index) của tháng 1/2014 Con số ta đặc biệt quan tâm là con số của kỳ gốc 2009
Trang 10“Chỉ số giá tháng 1 năm 2014 so với kỳ gốc 2009” có nghĩa là người ta tính theo công thức sau:
Đơn vị của CPI là %
Tạm hiểu là % tăng thêm khi tháng 1/2014 bỏ tiền ra mua một giỏ hàng của năm
2009 Xét bảng trên và công thức thì CPI của năm 2009 sẽ bằng 100%; và hiện CPI của tháng 1/2014 là 156,78%
Tương tự nếu đặt ở mẫu số là lượng và giá của tháng 12/2013 thì ta có CPI bằng 100,69% Tạm hiểu là chúng ta phải chi thêm 0,69% khi mua giỏ hàng tháng 1/2014 thay vì mua cũng giỏ hàng đó tháng 12/2013
Các bước tính CPI:
Ví dụ cách tính CPI với giỏ hàng đơn giản là có hai mặt hàng Sách và Bút để dễ hình dung
Trang 11Bước 1: lựa chọn giỏ hàng hóa và đặt trọng số cho mỗi mặt hàng trong giỏ.
Hàng hóa được lựa chọn căn vào:
– Mức độ thường xuyên tiêu thụ của người tiêu dùng
– Đặt trọng số theo cơ cấu tiêu dùng do trong những hàng hóa tiêu dùng thì có những hàng hóa tiêu dùng nhiều hơn những hàng hóa khác Trọng số ở đây được hiểu là số lượng hàng hóa đó, ví dụ nếu mục Gạo có số lượng là 4 trong giỏ hàng
sẽ khác với số lượng chỉ có 2 Tham khảo ví dụ cụ thể tại cuối entry này
– Hàng hóa/dịch vụ có khoảng thời gian tồn tại lâu Ví dụ nếu ta chọn một loại hàng năm nay mà năm sau không còn được tiêu dùng nữa thì không được
Hiện tại trong giỏ hàng hóa của ta có 396 mặt hàng và dịch vụ
Bước 2: Chọn ra năm cơ sở
là năm kỳ gốc, hiện tại ta đang tính theo kỳ gốc là 2009 Với công thức tính CPI ta
dễ dàng nhận thấy CPI của năm kỳ gốc sẽ bằng 100 do tử và mẫu bằng nhau Cũng
có nghĩa là các năm trước đó nếu tính theo kỳ gốc 2009 thì sẽ < 100
Riêng với vàng ta thấy một sự biến động rất lớn; nếu so với kỳ gốc thì bằng 171,52 trong khi so với tháng 1/2013 chỉ còn bằng 75,57 và tới 12/2013 thì lên 99,94
Trang 12Cột tiếp theo so sánh với tháng 1 năm 2013 nhằm mục đích so sánh tương đối với cùng kỳ năm trước đó là 105,45.
Cột cuối cùng là so sánh với tháng trước đó (12/2013) là 100,69 Có nghĩa là CPI đãtăng thêm 0,69%
Chỉ số điều chỉnh CPI là so sánh tương đối giữa CPI các thời điểm:
Lạm phát là tính cho 1 năm, bằng CPI kỳ này trừ CPI kỳ trước, tất cả chia chi CPI kỳtrước Dễ dàng suy ra được là vì kỳ gốc 2009 CPI = 100 nên cột đầu tiên trong bảngtrên sẽ là lạm phát của 2014 so với 2009; tương ứng với 56,78%
Chú ý là lạm phát chỉ thể hiện lượng, còn chất thì ta phải xem cơ cấu tăng của mỗi nhóm hàng và do tính cả nước nên tính cả thành thị và nông thôn, cả miền xuôi và miền ngược
Trang 13Dựa vào bảng trên ta thấy lạm phát của năm 2013 là 6,04% vì chỉ số giá tháng 12/2013 bằng 106,4% so với tháng 12/2013
Cột cuối cùng thể hiện Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với bình quân năm 2012
Trong entry Kinh tế học P1 ta biết tới chỉ số điều chỉnh GDP như sau:
Tử số là GDP danh nghĩa có nghĩa là lấy sản lượng nhân với năm tính GDP
Mẫu số là GDP thực tế là lấy sản lượng của năm tính nhân với giá của năm gốc
Trang 14Ta thấy công thức này cũng gần tương tự như cách tính chỉ số CPI, nó thể hiện sự tăng lên của mức giá Điểm khác biệt là ở cách tính sản lượng Q:
– Q trong tính CPI là một giổ hàng hóa giới hạn bởi những hàng hóa thường xuyên tiêu dùng của hộ gia đình bao gồm cả hàng nhập khẩu, mục đích là để xác định biếnđổi mức sống dân cư
– Q trong tính GDP là tính tất vì nó = C + I + G + NX Ngoài chi tiêu của hộ gia đình còn tính tới cả đầu tư của doanh nghiệp (I), chi tiêu của chính phủ (G) và không tính hàng nhập khẩu
Tham khảo các chỉ số tại trang web của tổng cục thống
kê: https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=706&ItemID=13412
Ví dụ về tính lạm phát từ CPI và từ GDP:
III: ĐỘC QUYỀN MUA
Trang 15Thị trường là nơi mà người mua và người bán gặp nhau Các đối tượng tham gia thịtrường là doanh nghiệp với vai trò mua ở thị trường yếu tố đầu vào và bán ở thị trường yếu tố đầu ra Người lao động tham gia thị trường với vai trò bán ở thị
trường đầu vào và mua ở thị trường đầu ra Nhưng bên cạnh người lao động thì nhàcung cấp của doanh nghiệp cũng có thể là doanh nghiệp mà khách hàng của doanh nghiệp cũng có thể là doanh nghiệp
Tâm lý chung của người bán là muốn tham gia vào thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, độc quyền bán để có thể bán giá cao Tâm lý người mua là muốn mua hàng ở thị trường cạnh tranh hoàn hảo hoặc là độc quyền mua để có thể mua giá thấp
Hầu hết các DN ngày nay bán hàng mà mình SX thông qua kênh phân phối tới người tiêu dùng không phải do mình sở hữu đó là các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ truyền thống,…Rất ít người ngày nay tự sản xuất và tự mang đi bán hàng tới người tiêu dùng
Một DN bất kỳ sẽ nằm trong tổng thể các yếu tố như sau:
Trang 16Doanh nghiệp phải mua các yếu tố sản xuất ở đầu vào, đó có thể là cá nhân hoặc từmột doanh nghiệp khác Ở đầu ra Doanh nghiệp sẽ bán hàng của mình tới tay người tiêu dùng hoặc cho một doanh nghiệp khác Hàng hóa đầu ra của doanh nghiệp cũng có thể là hàng hóa thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên vật liệu, dịch vụ,…
Ở đầu vào hay đầu ra DN sẽ tham gia vào các thị trường có thể rất khác nhau:
Trong bất cứ thị trường nào cũng tuân theo quy luật sau:
• Khi giá tăng lên thì người mua muốn mua ít đi và người bán muốn bán nhiều hơn Vì vậy, đường cầu dốc xuống và đường cung dốc lên
• Người bán hay người mua đều quyết định sản lượng tại điểm mà chi phí cận biên bằng với lợi ích cận biên
Người mua sẽ mua sản lượng tại điểm mà giá một đơn vị hàng hóa mua thêm bằng với lợi ích đạt được khi sử dụng hàng hóa đó Người bán sẽ bán sản lượng tại điểm
mà giá bán ra bằng với chi phí sản xuất ra hàng hóa đó ( Người bán và mua đều quyết định ở điểm biên)
Trang 17Trong hình trên ta thấy chi tiêu cận biên ME song song với trục sản lượng có nghĩa
là giá mỗi đơn vị mua thêm không đổi Tuy nhiên lợi ích có thêm được từ mỗi đơn vị mua thêm lại giảm dần nên MU là đường dốc xuống, nó chính là đường cầu Một sốnơi gọi là lợi ích biên MU là giá trị biên MV (Marginal Value) để phân biệt với lợi ích của người tiêu dùng
Đường doanh thu cận biên MR song song với trục sản lượng vì giá mỗi đơn vị bán
ra thêm không đổi nhưng chi phí để sản xuất thêm mỗi đơn vị hàng hóa lại tăng thêm vì vậy đường chi phí cận biên MC dốc lên
Đường Cung của hãng độc quyền mua
Khi nghiên cứu độc quyền bán ta nghiên cứu đường cầu Khi nghiên cứu hãng độc quyền mua ta nghiên cứu đường cung Trong các phân tích dưới tôi sẽ làm song song cả hai loại để ta dễ hình dung: