1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vietnam export performance in 1999 and beyond (vietnamese)

29 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 406,69 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Những cải cách nhằm mở rộng quyền thương mại và khả năng tiếp cận tới xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ của Việt Nam đ∙ có tác dụng, xuất khẩu không kể dầu thô của

Trang 1

Public Disclosure Authorized

26984

Trang 2

Kết quả hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 1999 và dự báo những năm tiếp theo

Báo cáo không chính thức của Ngân hàng Thế giới Hội nghị giữa kỳ Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam

TP Đà lạt, 22-23 tháng Sáu, 2000

Trang 3

Lời cảm ơn

Báo cáo này do nhóm công tác của Ngân hàng Thế giới bao gồm Patrick Belser và

Đinh Tuấn Việt cùng sự cộng tác chặt chẽ của Kazi Matin và Phạm Minh Đức thực hiện

Nhóm công tác chân thành cảm ơn Bộ Thương mại, Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hảiquan, Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (Vinatex), Hiệp hội Da Giày Việt Nam, Sở Kế hoạch

& Đầu tư thành phố Hải phòng, và Ban quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệp thànhphố Hồ Chí Minh về sự hợp tác trong quá trình hoàn tất báo cáo

Nhóm công tác cũng xin cảm ơn l∙nh đạo của các công ty sau đây đ∙ chia sẻ quan

điểm và ý kiến đóng góp cho báo cáo: Công ty may 10, Công ty TNHH May mặc xuất khẩuVĩnh phát, Công ty TNHH sản xuất-dịch vụ-xuất khẩu Nguyễn Hoàng, Công ty Da Giày HảiPhòng, Công ty TNHH May mặc xuất khẩu Minh Thành, Công ty cổ phần Dệt may xuất khẩuHải phòng, Công ty xuất nhập khẩu may mặc Việt Tiến, Công ty xuất nhập khẩu may mặcNhà Bè, Garmex Sài Gòn, Công ty cổ phần may mặc Bình Minh, Công ty TNHH Bình Tân,Khu chế xuất Tân thuận, TP Hồ Chí Minh, Công ty Tea Kwang Vina Industrial Ltd., Nike IncViệt Nam, Công ty Pouchen Việt Nam Enterprise Co Ltd., Công ty Matai Việt Nam Ltd., vàCông ty Vietnam Sweneo International Ltd

Trang 4

Tóm tắt các kết quả

Nhận xét chung

• Tăng trưởng xuất khẩu vượt bậc ở mức 23% năm 1999, đặc biệt là những mặt hàng không phải dầu thế giới Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đ∙ vượt các nước khác trong khu vực.

• Những cải cách nhằm mở rộng quyền thương mại và khả năng tiếp cận tới xuất nhập khẩu cho các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ của Việt Nam đ∙ có tác dụng, xuất khẩu không kể dầu thô của những doanh nghiệp này đ∙ tăng 73% trong 2 năm (1997-1999), chiếm 39% trong tăng trưởng xuất khẩu ngoài dầu thô.

• Nếu tiếp tục có những cải cách nhằm tự do hoá khu vực tư nhân và nếu khả năng tiếp cận bình thường với tất cả các thị trường trên thế giới được mở rộng, các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ và các nhà đầu tư nước ngoài có khả năng sẽ tiến hành đầu tư giúp duy trì tăng trưởng xuất khẩu cao cho Việt Nam.

• Căn cứ vào tình hình xuất nhập khẩu 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất khẩu dự tính

Tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam và một số nước khác

Nguồn: Ngân Hàng Thế giới: Báo cáo Quý I của Khu vực Châu š - Thái bình

dương, 21-3-2000 và Tổng cục Thống kê Việt Nam

• Trong những mặt hàng xuất khẩu không phải dầu, ba ngành chiếm chủ đạo là may mặc, giày dép, và hải sản - tăng theo thứ tự là 29,3%, 39,1%, và 16,3% Tổng cộng, ba ngành

Trang 5

này chiếm hai phần ba trong tăng trưởng xuất khẩu không dầu, và hai phần năm trong tổng tăng trưởng xuất khẩu Do đó, xuất khẩu dầu thô cộng với ba ngành này chiếm trên 80% tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm 1999 Nông nghiệp chỉ chiếm 5% tăng trưởng xuất khẩu, chủ yếu do giá giảm Sau khi tăng trưởng 12,8% năm 1998, giá nông sản tính theo gia trọng xuất khẩu đ∙ giảm 13,9% trong năm 1999.

b) Cầu:

• Trong số tăng trưởng xuất khẩu 23,4% của Việt Nam, hơn một nửa là do tăng xuất khẩu sang ba nước: Trung Quốc, Australia, và Nhật bản 70% trong tăng xuất khẩu không phải dầu thô là do mở rộng xuất khẩu sang bốn nước Châu á (Nhật bản, Trung Quốc, Lào và Hàn Quốc) và bốn nước Châu ÂAu (Bỉ, Anh, Đức, và Pháp) Ngược lại, xuất khẩu hàng hoá không phải dầu thô sang Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc) giảm 30% và 26% theo thứ tự - do giảm những hợp đồng phụ hoặc do đa dạng hoá nhập khẩu từ những nguồn rẻ hơn.

• Tăng xuất khẩu hải sản chủ yếu sang các nước Châu á (Nhật bản và Hàn quốc) và Mỹ Xuất khẩu giày chủ yếu sang Châu Ââu (Đức, Hà lan, Pháp, và Anh) và may mặc sang cả Châu á (Nhật bản và Đài loan) và Châu ÂÂâu (dẫn đầu là Pháp).

Cùng với sự phục hồi của khu vực, xuất khẩu của Việt Nam sang những nước Châu á ngoài khối ASEAN tăng 14,7% trong năm 1999, sau khi giảm 8,5% năm 1998 Song xuất khẩu sang các nước ASEAN lại giảm trong năm 1999 - một phần do Indonesia và Philippines được mùa và nhập khẩu ít gạo hơn.

• Nếu tính gộp theo khu vực, Châu ÂAu tiếp nhận gần một nửa (49%) trong lượng xuất khẩu

gia tăngcủa hàng hoá không phải dầu thô của Việt Nam Châu á đ∙ phục hồi - mặc dù là

bạn hàng lớn nhất của Việt Nam - cũng chỉ chiếm 30% trong tăng trưởng xuất khẩu không phải dầu.

c) Cung:

• Từ 1997 đến 1999, xuất khẩu của khu vực tư nhân tăng rất nhanh và nhanh hơn nhiều so với các DNNN; trong hai năm 1998-99, xuất khẩu không phải dầu thô của các doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ tăng 72,5%, trong khi xuất khẩu không phải dầu thô của DNNN chỉ tăng có 4,6% Do đó, mặc dù quy mô nhỏ, nhưng khu vực tư nhân trong nước

đ∙ chiếm 39,1% tăng trưởng xuất khẩu không phải dầu của giai đoạn này.

Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu không kể dầu thô 1997-99

1997 (triệu USD)

1999 (triệu USD)

Tăng XK của 2 năm (%)

Tỷ lệ đóng góp vào tăng trưởng XK (%)

Trang 6

• Xuất khẩu của khu vực tư nhân tăng mặc dù đầu tư giảm từ năm 1997 Theo các nhà quản

lý của các công ty định hướng xuất khẩu, điều này đạt được là do đầu tư trong những năm 1996-97 đ∙ dẫn đến việc dư thừa công suất vào năm 1997-98, khi cuộc khủng hoảng Châu á nổ ra Do đó, tăng xuất khẩu trong năm 1999 một phần lớn là do mức sử dụng công suất hiện có cao hơn Các công ty cũng cho biết đ∙ chuyển hướng khỏi việc xuất qua trung gian sang xuất khẩu trực tiếp (FOB) với giá trị gia tăng cao hơn hẳn.

• Với tình trạng giảm sút đầu tư kể từ năm 1997, liệu các ngành công nghiệp chế tạo có khả năng tăng năng lực sản xuất đủ để đảm bảo tăng trưởng xuất khẩu nhanh trong năm 2000

và 2001 không? Các cuộc phỏng vấn với những công ty xuất khẩu hàng đầu cho thấy câu trả lời là có Thứ nhất, nền kinh tế vẫn chưa sử dụng hết công suất Thứ hai, các công ty trong nước thuộc ngành giày dép và may mặc đ∙ tăng cường đầu tư trong năm 1999 Thứ

ba, và nói chung, việc nâng công suất của những ngành định hướng xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động yêu cầu ít vốn hơn và không quá 6 tháng để hoàn thành Cuối cùng, các nhà quản lý bày tỏ sự quan tâm đến phía cầu nhiều hơn là những hạn chế về phía cung.

• Mức độ hiện thực hoá đầu tư mới trong tương lai sẽ phụ thuộc phần lớn vào các chính sách của Việt Nam, và nhất là việc ký kết hiệp định thương mại với Mỹ, nhăm đảm bảo cho các nhà xuất khẩu Việt Nam được tiếp cận bình thường với thị trường Mỹ.

Phần II: Tương lai

• Giá dầu trung bình trong năm 2000 có khả năng cao hơn năm 1999, nhưng sau đó có thể

sẽ giảm mạnh Dựa theo dự báo về giá dầu của IMF, xuất khẩu dầu của Việt Nam có khả năng sẽ tăng 35% trong năm 2000, giảm 19% trong năm 2001, và tiếp tục giảm 7% trong năm 2002.

• Tình hình kinh tế 5 tháng đầu năm 2000 cho thấy xuất khẩu của năm 2000 (không kể dầu thô) dường như sẽ tăng chậm hơn so với năm 1999, ở mức khoảng 14% so với 16.3%.

Tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu dự báo sẽ tăng vào khoảng 17% trong năm 2000 so

năng chững lại do giá dầu thô giảm.

Trang 7

Giới thiệu

Những thay đổi trong chính sách thương mại là yếu tố then chốt của chính sách đổi mới

mà chính phủ Việt Nam thực hiện từ năm 1986 Dần dần, hầu hết hạn ngạch xuất khẩu đ∙

được xoá bỏ và thuế xuất khẩu xuống nói chung ở mức thấp Ngoài ra, các hoạt động xuấtkhẩu của khu vực tư nhân (cả trong nước và nước ngoài) ngày càng được khuyến khích, do đó

đ∙ xoá bỏ độc quyền ngoại thương của một số ít các doanh nghiệp nhà nước Những cải cáchnày - cùng với sự quản lý kinh tế vĩ mô đúng đắn - đ∙ dẫn đến tăng trưởng xuất nhập khẩunhanh Như nêu ở Bảng 1, từ năm 1992 đến 1997, kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu đ∙ tănggấp bốn (lên 11.592 triệu USD và 9.185 triệu USD theo thứ tự), tăng tỷ trọng xuất nhập khẩutrong GDP từ 52% lên 86% - một tỷ lệ cao theo tiêu chuẩn quốc tế

Nguồn: Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới

được lợi thế so sánh của mình trong những ngành chế tạo sử dụng nhiều lao động Bảng 2 chothấy tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu do những ngành công nghiệp nhẹ, mà phần lớn trong đó

là may mặc và giày dép Từ 1992 đến 1997, tỷ trọng của công nghiệp nhẹ trong tổng xuấtkhẩu đ∙ tăng từ 13% lên 37% - tỷ trọng ngày càng tăng, nhưng vẫn còn nhỏ so với các nướckhác trong khu vực1 Gia tăng về khối lượng xuất khẩu gạo cũng rất đáng chú ý, mặc dù tỷtrọng hàng nông sản có giảm trong tổng kim ngạch xuất khẩu Chỉ trong vòng có vài năm,Việt Nam chuyển từ một nước nhập khẩu gạo sang nước xuất khẩu lớn thứ hai trên thế giới

Bảng 2: Ngành công nghiệp nhẹ mới nổi

Tỷ trong trongxuất khẩu 1992(%)

Tỷ trọng trongxuất khẩu 1997(%)

Trang 8

Cuộc khủng hoảng Châu á đ∙ làm gián đoạn tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam Năm

1998, xuất khẩu tăng rất chậm ở mức 2,1% Để tránh thâm hụt ngoại thương, chính phủ đ∙

đặt thêm các hạn chế nhập khẩu, và cùng với nhu cầu trong nước đang giảm sút đ∙ dẫn đếnviệc kim ngạch nhập khẩu giảm 0,8% Tất nhiên, giảm sút trong hoạt động xuất khẩu nàykhông phải chỉ riêng có Việt Nam Nó diễn ra trên toàn Châu š Song điều đáng ngạc nhiên

là tốc độ phục hồi chưa từng có trong năm 1999 Bảng 3 cho thấy rằng năm 1999, xuất khẩucủa Việt Nam tăng ở mức ngoạn mục là 23,4%, nhanh hơn nhiều so với hầu hết các nướcChâu š Trong khi Indonesia vẫn còn vật lộn để phục hồi từ khủng hoảng, thì xuất khẩu tăngnhanh ở Hàn Quốc, Malaysia và Philippines Nhưng không nước nào trong số này theo sát

được Việt Nam về tốc độ tăng xuất khẩu đáng khích lệ Như cho thấy ở Bảng 3, mức phục hồicủa Việt Nam không chỉ riêng cho những hoạt động liên quan đến xuất khẩu dầu thô Xuấtkhẩu hàng không phải dầu thô cũng tăng nhanh ở mức 16,3%

Bảng 3: Tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ trong năm 1999

Nguồn: Ngân Hàng Thế giới: Báo cáo Quý I của khu vực Châu š

Thái bình dương, 21-3-2000 và Tổng cục Thống kê Việt Nam

Bản báo cáo này sẽ xem xét chi tiết các yếu tố có thể lý giải cho kết quả hoạt độngxuất khẩu mạnh mẽ này trong năm 1999 và đặt vấn đề xem liệu mức tăng trưởng xuất khẩucao như vậy có thể được duy trì trong năm 2000 và các năm tiếp theo nữa hay không Phântích ở đây dựa trên hai nguồn: số liệu thương mại chính thức của Tổng cục Thống kê và Hảiquan Việt Nam, cũng như thông tin thu thập trong chuyến làm việc tại 16 công ty thuộcngành giày dép và may mặc ở Hà Nội, Hải Phòng, Biên Hoà, và thành phố Hồ Chí Minh vàotháng 5 và 6-2000 Các công ty được khảo sát bao gồm bảy công ty tư nhân (trong đó có mộtcông ty cổ phần hoá), bốn doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, và năm doanh nghiệp nhànước Tất cả những doanh nghiệp này đều nằm trong số những doanh nghiệp xuất khẩu lớnnhất và tăng trưởng nhanh nhất

Trang 9

Phần I: Phân tích kết quả hoạt động xuất khẩu năm 1999

I.1 Xuất khẩu theo ngành

Bảng 4 phân tích kết quả hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong năm 1999 chiatheo ngành Hai cột đầu thể hiện hai yếu tố quyết định tầm quan trọng của mỗi ngành đối vớixuất khẩu của Việt Nam: tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu và tỷ trọng trong tổng xuất khẩu Cộtthứ 3 cho thấy tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam, còncột thứ tư cũng thể hiện cùng một thông tin dưới một giác độ hơi khác; nó cho thấy tỷ lệ phầntrăm của mỗi ngành đóng góp vào trong mức tăng trưởng xuất khẩu chung 23,4% của ViệtNam

Trong hai hàng đầu của bảng 4, chúng ta có thể quan sát thấy tầm quan trọng tương

đối của ngành dầu khí và không phải dầu Chúng ta thấy rằng năm 1999, kim ngạch xuấtkhẩu không phải dầu tăng 16,3%, còn kim ngạch xuất khẩu dầu tăng gần 70% Do đó, ta thấyrằng 9,2% điểm phần trăm trong 23,4% tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam là do tăng xuấtkhẩu dầu Nói cách khác: nếu kim ngạch xuất khẩu dầu vẫn giữ nguyên như năm 1998, thìtổng xuất khẩu sẽ tăng 14,2% trong năm 1999, thay vì 23,4% Mặc dù như vậy sẽ thấp hơnnhiều, nhưng vẫn là mức tăng cao

Bảng 4: Xuất khẩu theo ngành trong năm 1999

Tỷ lệ tăngkim ngạch

XK (%)

Tỷ trọngtrong tổng

XK (%)

Phân bốtăng trưởng

XK (%)

Đóng góp điểmphần trăm vàotăng trưởng XK(%)

Nguồn: Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Thế giới

Trong số hàng hoá xuất khẩu không phải dầu thô, hàng công nghiệp chế tạo là quantrọng nhất - tăng với tốc độ đầy ấn tượng là 32,5% và chiếm gần một nửa trong tăng trưởngxuất khẩu của Việt Nam năm 1999 (10,2% trong số 23,4%) Điều này chủ yếu nhờ hai ngành:

dệt may và giày dép Tổng cộng hai ngành này chiếm trên một phần ba trong tổng tăng

trưởng xuất khẩu Xuất khẩu hàng hải sản và hàng điện tử, máy tính cũng tăng mạnh, theo thứ

tự là 16,3% và 23,5% Nông nghiệp, mặc dù là ngành thiết yếu đối với những người nghèo và

Trang 10

gần ngưỡng nghèo ở Việt Nam, song chỉ đóng góp có 1,2 điểm phần trăm trong tổng tăngtrưởng xuất khẩu.

I.2 Giá cả và khối lượng xuất khẩu

Xuất khẩu dầu thô tăng mạnh phần lớn là nhờ giá tăng vọt trên thị trường thế giới

Bảng 5 cho thấy giá xuất khẩu dầu thô trung bình của Việt Nam tăng gần 40% trong năm

1998 (hình I) Điều này có nghĩa là chỉ riêng giá dầu không thôi đ∙ chiếm hơn một phần tưtrong tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm 1999 (6,2 điểm phần trăm trong số 23,4%)

Về khối lượng, xuất khẩu dầu tăng rất khá, ở mức 22,5%, nhưng vẫn ít hơn nhiều so với tănggiá

Bảng 5: Tăng xuất khẩu dầu năm 1999: tác động của giá cả và khối lượng

Tỷ lệ tăngtrưởng(%)

Tỷ trọngtrong tổng

XK (%)

Phân phối trongtăng trưởng XK(%)

Đóng góp điểmphần trăm vào tăngtrưởng XK (%)

Nguồn: Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Thế giới

Hình I: Biến động giá dầu thô

Việt nam: giá xuất khẩu dầu 1998-99 (theo tháng)

0 50 100 150 200 250

Jan-98 Apr-98 Jul-98 Oct-98 Jan-99 Apr-99 Jul-99 Oct-99 Jan-00

Trang 11

Bảng 6: Xuất khẩu nông sản 1999

Tỷ trọng trong xuấtkhẩu nông sản (%)

Giá

(%)

Khối lượng(%)

Kim ngạch(%)

Nguồn: Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Thế giới

Về xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến, không có số liệu hệ thống về giá cả Song

khi trao đổi với l∙nh đạo các công ty xuất khẩu giày dép và may mặc thì thấy rằng giá hàng công nghệ nhẹ cũng giảm kể từ năm 1998 (khoảng 5 đến 25%) Do đó, việc kim ngạch xuất

khẩu hàng may mặc và giày dép tăng mạnh như nêu ở bảng 4 cũng chưa nói lên hết mức tăngtrưởng đáng khích lệ về khối lượng xuất khẩu

I.3 Các bạn hàng

Bảng 7 liệt kê 10 bạn hàng tiếp nhận tỷ trọng lớn nhất trong tăng trưởng xuất khẩu củaViệt Nam năm 1999 (có thể tham khảo thêm danh sách đầy đủ các bạn hàng xuất khẩu ởphần phụ lục) Hai cột đầu cho thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang mỗi nước bạnhàng vào năm 1998 và 1999 Cột thứ ba là chênh lệch giữa cột thứ nhất và cột thứ hai, phản

ánh số tăng tuyệt đối trong kim ngạch xuất khẩu Ba cột cuối cùng, theo thứ tự, cho thấy tỷ lệtăng xuất khẩu sang mỗi nước bạn hàng và tỷ trọng của mỗi nước trong tổng xuất khẩu củaViệt Nam năm 1998 và 1999 Chúng ta thấy rằng ba nước đặc biệt quan trọng đối với xuấtkhẩu của Việt Nam năm 1999 là Trung Quốc, Australia, và Nhật bản Năm 1999, ba nước này

đều tăng nhập khẩu từ Việt Nam là 300 đến 400 triệu USD (xem cột 3) Tổng cộng, họ chiếmkhoảng một nửa trong số 2,18 tỷ USD tăng xuất khẩu của Việt Nam năm 1999

Song trong một chừng mực nào đó, việc tăng kim ngạch nhập khẩu từ Việt Nam củacác nước này cũng phản ánh những biến động trong giá dầu thô Do đó, bảng 8 cũng cho thấynhững thông tin như ở bảng 7, nhưng cho những hàng xuất khẩu không phải dầu thô, thay vìtổng xuất khẩu Chúng ta thấy rằng phần tăng lớn nhất trong xuất khẩu ngoài dầu của Việt

Nam - theo thứ tự - là xuất sang Nhật bản, Trung Quốc, Lào, và Hàn Quốc Tổng cộng,

bốn nước Châu š này chiếm gần một nửa tăng trưởng xuất khẩu không phải dầu thô trongnăm 1999 (số liệu về giá trị xuất khẩu sang Lào cần có chỉnh lý lại) Tiếp đến là bốn nước

Châu Âu: Bỉ, Anh, Đức, và Pháp Tổng cộng, tám nước này chiếm 70% trong tăng trưởng

xuất khẩu không phải dầu thô

Bảng 9 cũng cho thấy 5 nước bạn hàng giảm nhập khẩu từ Việt Nam Điều đáng lưu ý

là năm 1999, xuất khẩu không phải dầu sang Singapore giảm gần 30% và sang Hồng Kông (Trung Quốc) giảm trên 25% Có thể giải thích về sự giảm sút này có thể do Việt Nam xuất

khẩu một tỷ trọng lớn hơn sản phẩm của mình trực tiếp sang thị trường Châu Âu - thay vì

Trang 12

xuất qua trung gian sang những bạn hàng như Singapore và Hồng Kông Tất nhiên, đây làmột diễn biến tích cực Song một khả năng nữa có thể là Hồng Kông và Singapore đ∙ chuyểnhướng nhập khẩu sang các nguồn Châu š khác mà gần đây trở nên cạnh tranh hơn do giảmgiá đồng tiền và do cải cách cơ cấu.

Bảng 7: Mười bạn hàng lớn nhất đóng góp tăng tổng xuất khẩu năm 1999

Tổng xuất khẩu(triệu US$)

Tăng trưởng(%)

Tỷ trọng(%)Các bạn hàng

Nguồn: Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Thế giới; (*) Các số liệu về thương mại với Lào không đáng tin

cậy do giữa Việt Nam và Lào có cơ chế buôn bán hàng đổi hàng.

Bảng 8 : Mười nước góp phần vào tăng trưởng xuất khẩu

không phải dầu năm 1999

XK không phải dầu(triệu US$)

Tăng trưởng(%)

Tỷ trọng(%)Các bạn hàng

Trang 13

Bảng 9: Năm nước giảm nhập khẩu ngoài dầu

lớn nhất trong năm 1999

XK ngoài dầu(triệu US$)

Tăng trưởng(%)

Tỷ trọng(%)Các bạn hàng

Nguồn: Tổng cục Hải quan và Ngân hàng Thế giới

I.4 Xuất khẩu hàng hoá ngoài dầu thô: vai trò của sự phục hồi trong khu vực

Sự phục hồi của khu vực Châu š đóng góp đến mức nào vào bùng nổ xuất khẩu khôngphải dầu năm 1999? Bảng 10 cho thấy hai thước đo cho sự phục hồi về cầu của các nướcChâu š: tăng trưởng GDP và tăng nhu cầu nhập khẩu Các thước đo này được trình bày theocả bình quân đơn giản và bình quân gia quyền (để tính đến tầm quan trọng tương đối của cácthị trường Châu škhác nhau đối với xuất khẩu của Việt Nam) Bảng cũng cho thấy rằng theomọi thước đo, nhu cầu của Châu š đ∙ tăng lên đáng kể Nhu cầu nhập khẩu gia quyền theothương mại đ∙ đặc biệt tăng mạnh trở lại Theo cách đo này, nhu cầu nhập khẩu của các nướcASEAN và ngoài ASEAN đối với hàng của Việt Nam năm 1999 đ∙ tăng 7,6% và 8,2% theothứ tự - sau khi giảm 24,9% và 14% năm 1998

Bảng 10: GDP và Nhu cầu Nhập khẩu của Châu á

ASEAN Châu š ngoài ASEAN

Trang 14

năm 1998 và 1999 Í cột thứ nhất của bảng 11, chúng ta thấy rằng năm 1998, Châu š (cảASEAN và ngoài ASEAN) chiếm 60,6% trong xuất khẩu không phải dầu, trong khi Châu Âuchiếm 31,9%và Mỹ, Canada chiếm 5,8% Trong số các bạn hàng Châu š, các nước ngoàiASEAN chiếm một thị trường lớn hơn, với 36,7% xuất khẩu không phải dầu, so với 23,9%của các nước ASEAN.

Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên là ba cột cuối của bảng 12 cho thấy rằng chính Châu

Âu là nơi đóng góp nhiều nhất vào hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 1999 Xuất khẩukhông phải dầu sang Châu Âu tăng tới 24,8% và phần gia tăng này chiếm 48,5% tổng số tăngtrong xuất khẩu không phải dầu Tăng xuất khẩu sang các nước Châu š chiếm dưới một phần

ba tổng số tăng xuất khẩu không phải dầu Do đó, có thể đi đến kết luận rằng ngay cả khikhông có phục hồi trong khu vực thì xuất khẩu của Việt Nam năm 1999 vẫn tăng mạnh.Chúng ta có thể tính toán rằng nếu tăng trưởng xuất khẩu không phải dầu sang Châu š năm

1999 tăng 0% (với điều kiện mọi thứ khác giữ nguyên) thì tổng xuất khẩu của Việt Nam sẽtăng 19,1%, thay vì 23,4% Tất nhiên, một tính toán đơn giản như vậy chưa tính đến những hệquả cân bằng chung trên toàn cầu mà sự phục hôì của Châu š đem lại, cũng như những tác

động có thể có của việc Châu š phục hồi lên cung xuất khẩu của Việt Nam (một phần lớntrong xuất khẩu là xuất phát từ những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) Tuy nhiên, nócũng cho thấy bằng chứng là thị trường Châu Âu tỏ ra tương đối quan trọng hơn so với sựphục hồi của Châu š trong việc giải thích cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam năm 1999

Ngoài ra, bảng 11 và 12 cho thấy rằng việc các nước Châu š tìm lại được mức tăngtrưởng dương không phải lúc nào cũng đi kèm theo sự tăng về cầu đôí với hàng xuất khẩu củaViệt Nam Sự phục hồi về nhu cầu nhập khẩu ở các nước Châu š ngoài ASEAN thực tế đ∙dẫn đến việc xuất khẩu của Việt Nam sang khu vực này tăng (14,7% năm 1999, so với -8,5%năm 1998) Song xuất khẩu sang các nước ASEAN lại diễn biến theo một chiều hướng đángngạc nhiên Năm 1998, xuất sang các nước này tăng mạnh (+56%) mặc dù nhu cầu nhậpkhẩu của ASEAN giảm mạnh, trong khi đến năm 1999 lại giảm (-2,1%) cho dù ASEAN đangphục hồi Điều không bình thường này có thể được giải thích một phần do nhập khẩu gạo củacác nước ASEAN Mùa vụ kém khiến Indonesia và Philippines phải nhập nhiều gạo trongnăm 1998 Sang năm 1999, nhập khẩu gạo của hai nước này giảm do họ được mùa

Bảng 11: Xuất khẩu hàng không phải dầu thô - các bạn hàng chính năm 1998

Tỷ trọngtrong XKkhông phảidầu (%)

Tăngtrưởng XKkhông phảidầu (%)

Phân phốităng trưởngxuất khẩu(%)

Đóng góp theo

điểm phần trămvào tăng XK(%)

Ngày đăng: 29/03/2018, 12:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w