1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chủ Đề : Vùng văn hóa Nam Bộ

15 1,2K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nam Bộ có thể chia thành 2 tiểu vùng : Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ .Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía b

Trang 1

THE COLLEGE OF FPT POLYTECHNIC IN DA NANG

Chủ Đề : Vùng văn hóa Nam Bộ

Trang 2

Mục Lục

1 Lời nói đầu

2 Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên Nam Bộ

3 Thành phần tộc người Nam Bộ

4 Văn hóa vật chất Nam Bộ

5 Văn hóa tinh thần

Trang 3

Lời nói đầu

Trước kia đây là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp Thời chúa Nguyễn và nhà Tây Sơn, vùng đất này là xứ Gia Định (Gia Định thành), mới được khai khẩn từ thế kỷ

17 Năm 1698, xứ Gia Định được chia thành 3 dinh: Phiên Trấn, Trấn Biên và Long Hồ Vua Gia Long nhà Nguyễn gọi vùng này là Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (tức là Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường

và Hà Tiên

Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương Năm 1933, quần đảo Trường Sa sát nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp Tháng 3 năm 1945 Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ

Năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam độc lập Sau khi Cách mạng tháng Tám nổ ra, Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ đã ra mắt ngày 25 tháng 8 năm 1945

do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch

Thực dân Pháp nổ súng ở Sài Gòn ngày 23 tháng 9 năm 1945 rồi dần dần đánh rộng ra chiếm lại Nam Bộ Chính phủ Nam Kỳ quốc được thành lập theo sự chỉ đạo

của Pháp hòng tách Nam Bộ ra khỏi Việt Nam với tên Nam Kỳ Quốc

Trang 4

I Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của Vùng Nam Bộ

Vùng Nam Bộ có 6 tỉnh và một thành phố: Bà Rịa-Vũng Tàu; Bình Dương; Bình Phước; Đồng Nai; Tây Ninh; Thành phố Hồ Chí Minh Diện tích tự nhiên 23.564 km2, chiếm 7,3 % diện tích cả nước Nam Bộ có thể chia thành 2 tiểu vùng : Đông Nam Bộ

và Tây Nam Bộ Địa hình trên toàn vùng Nam Bộ khá bằng phẳng, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía đông và Đông Nam giáp biển Đông, phía bắc và Tây Bắc giáp Campuchia

và một phần phía tây Bắc giáp Nam Trung Bộ

1.Vị trí địa lí :

1.1 Đông Nam Bộ

Đông Nam Bộ có độ cao từ 0 - 986m, có cấu tạo địa chất chủ yếu là đất đỏ bazan và đất phù sa cổ Khu vực đồng bằng sông nước ở đây chiếm diện tích khoảng

6.130.000ha cùng trên 4.000 kênh rạch với tổng chiều dài lên đến 5.700 km

1.2 Tây Nam Bộ

Tây Nam Bộ có độ cao trung bình gần 2m, chủ yếu là miền đất của phù sa mới Có một số núi thấp ở khu vực tiếp giáp với vùng Tây Nguyên, miền Tây tỉnh Kiên Giang

và Campuchia

Hai hệ thống sông lớn nhất trong vùng là sông Đồng Nai và sông Cửu Long

 Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù sa khá thấp, tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như Cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Phú Mỹ,

 Ngược với dòng Sông Đồng Nai có lượng phù sa thấp, dòng sông Cửu Long

có lượng nước đổ về trung bình khoảng 4.000 tỷ mét khối và hàng năm vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, giữ vai trò rất quan trọng đối cho đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.734 km² Sông Cửu Long đã phối hợp với biển Đông để tạo ra những vật đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông, các giống cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười , Tứ Giac Long Xuyên, sông Hậu và bán đảo Cà Mau

Trang 5

Bản đồ vùng Đông Nam Bộ

2 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên :

2.1 Điều kiện tự nhiên

 Địa hình:

Đông Nam Bộ nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến Đồng bằng sông Cửu Long Độ cao địa hình thay đổi từ 200 đến 200 mét, rải rác có một vài ngọn núi trẻ Nhìn chung địa hình của vùng tạo thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp và đô thị, xây dựng hệ thống giao thông vận tải,

Cánh đồng ven núi Bà Đen – Tây Nin

 Khí hậu:

Nam Bộ có đặc điểm của vùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và hầu như không thay đổi trong năm Đặc biệt có sự phân hoá sâu sắc theo mùa, phù hợp với hoạt động của gió mùa Lượng mưa dồi dào trung bình hàng năm khoảng 1.500 – 2.000 mm

Trang 6

Khí hậu của vùng tương đối điều hoà, ít có thiên tai Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Tuy nhiên về mùa khô, lượng mưa thấp gây khó khăn cho sản xuất và sinh hoạt

2.2 Tài nguyên thiên nhiên

 Đất đai:

Đất nông nghiệp là một thế mạnh của vùng Trong tổng quỹ đất có 27,1% đang ược

sử dụng vào mục đích nông nghiệp Có 12 nhóm đất với 3 nhóm đất rất quan trọng là Đất nâu đỏ trên nền bazan, đất nâu vàng trên nền bazan, đất xám trên nền phù sa cổ Ba nhóm đất này có diện tích lớn và chất lượng tốt thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển như cao su, cà phê, điều, lạc, mía, đỗ tương và cây lương thực Đất chưa sử dụng chiếm 22,7% diện tích đất tự nhiên (so với cả nước là 42,98%) Tỷ lệ đất sử dụng trong nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyên dùng và đất thổ cư khá cao so với mức trung bình của đất nước

 Tài nguyên rừng:

Diện tích rừng của vùng Nam Bộ không lớn, còn khoảng 532.200 ha chiếm 2,8% diện tích rừng cả nước và phân bố không đều ở các tỉnh Rừng trồng tập trung ở Bình Dương, Bình Phước với 15,2 nghìn ha; Bà Rịa - Vũng Tàu 14,3 nghìn ha

Rừng Nam Bộ có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp gỗ dân dụng, phòng hộ cho cây công nghiệp, giữ nước, cân bằng sinh thái cho toàn vùng Đặc biệt rừng quốc gia Cát Tiên là một cơ sở cho nghiên cứu lâm sinh và thắng cảnh

Vườn quốc gia Nam Cát Tiên là một khu bảo tồn thiên nhiên nổi tiếng ở miền Đông Nam Bộ Vùng đất này nổi tiếng với hệ sinh thái đa dạng, là nơi cư ngụ của 40 loài nằm trong Sách đỏ thế giới, đặc biệt nhất là tê giác một sừng Đặc biệt, có những loài cây lên tới 500 tuổi vô cùng quý hiếm

Vườn quốc gia Cát Tiên, Đồng Nai

 Tài nguyên nước:

1 Nguồn nước mặt đa dạng, đáng kể là hệ thống sông Đồng Nai là 1 trong

3 con sông lớn của Việt Nam Lượng nước mưa trung bình 1.500 - 2.000 mm tương ứng với 183 tỷ m3 Ngoài ra còn có một số hồ ở phía

Trang 7

Đông, tổng dung tích khoảng 300 triệu m3 Với lượng nước mặt này

đủ cung cấp nước cho vùng bao gồm cả cho phát triển công nghiệp

2 Nguồn nước ngầm có trữ lượng khá lớn, nhưng mực nước sâu từ 50 -

200 mét phân bố chủ yếu khu vực Biên Hoà- Long An, thành phố Hồ Chí Minh

3 Bờ biển dài 350 km với vùng biển Ninh Thuận- Bà Rịa Vũng Tầu là một trong bốn ngư trường trọng điểm của nước ta với trữ lượng cá khoảng 290-704 nghìn tấn chiếm 40% trữ lượng cá của vùng biển phía Nam Diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản là khoảng 11,7 nghìn

ha

=> Thiên nhiên ưu đãi cho Đông Nam Bộ bãi biển Vũng Tàu, Long Hải phát triển

ngành du lịch trong vùng

Bãi biển Vũng Tàu Bãi biển Long Hải, Vũng

II Thành phần tộc người :

Thành phần tộc người Địa bàn phân bố Số lượng người

Minh

428.576 người

Trang 8

Chăm Nam Trung Bộ 132.873 người

 Các tộc người khác thì di dân vào Nam Bộ theo ba đợt chính: di dân có

tổ chức vào các năm 1954, 1975, và di dân tự do ồ ạt từ năm 1994 Trường hợp tiêu biểu là địa bàn tỉnh Bình Phước Vào năm 1998, trên địa bàn này

đã có 468.000 người Việt (hơn 82% dân số), 12.000 người Tày, và 11.000 người Nùng Trong lúc đó, dân số người Stiêng tại chỗ chỉ tăng từ 49.177 người vào năm 1989 lên 55.250 người vào năm 1999 Do đó mà người Stiêng ngày càng thiếu đất canh tác và luật tục về quyền sở hữu cộng đồng của họ đối với đất rừng bị xâm phạm nghiêm trọng

 Nhận xét:

- Nam Bộ cũng là một vùng đất đa tộc người

- Tuy nhiên, chủ thể văn hoá chính của toàn vùng vẫn là người Việt, người kinh chiếm đa số dân số ở Nam Bộ lên đến hơn 26 triệu người, chiếm 90,9% dân số của vùng

- Riêng ở tiểu vùng Tây Nam Bộ, chủ thể văn hoá chính bên cạnh người Việt còn có người Khmer và người Hoa

- Người Khmer là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 5 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển

- Người Hoa cũng là một tộc người thiểu số đông dân, xếp thứ 6 trong 54 tộc người ở Việt Nam, và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển

Trang 9

- Ngoài ra, trong văn hoá Nam Bộ còn có những yếu tố Chăm Nhưng đó

là do người Việt đã hấp thu từ văn hoá Chăm ở Nam Trung Bộ

III Văn hóa vật chất :

1.Ẩm thực của người Việt Nam Bộ cũng theo truyền thống bảo đảm cân bằng âm

dương và theo quy luật ngũ hành tương sinh tương khắc của người Việt nói chung Tuy nhiên, do điều kiện địa lý đặc thù và giao lưu tiếp biến văn hoá, cơ cấu bữa ăn thông thường của người Việt nơi đây đã được điều chỉnh thành cơm - canh - rau - tôm cá Để cân bằng với khí hậu nóng nực, người Việt nơi đây rất chuộng ăn canh, và do tiếp biến các món canh chua của người Khmer, nên các món canh chua Nam Bộ cực kỳ phong phú Do nguồn thuỷ sản dồi dào, thành phần thuỷ sản như cá, tôm, cua, rùa, rắn, nghêu, sò, ốc, hến, lươn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu bữa ăn Cũng do môi trường lắm tôm cá, nên các loại mắm nơi đây phong phú hơn hẳn các vùng miền khác: mắm cá lóc, mắm cá sặc, mắm

cá linh, mắm tôm chua, mắm rươi, mắm còng, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm nêm Cách chế biến cũng rất đa dạng và đặc sắc: mắm sống, mắm kho, mắm chưng, lẩu mắm, bún mắm Từ các nguồn nguyên liệu thuỷ sản này kết hợp với các loại rau trái phong phú, người Nam Bộ đã sử dụng các kỹ thuật nấu nướng khác nhau như nướng, hấp, chưng, luộc, kho, xào, khô, mắm để chế biến ra các loại món ăn khác nhau với những hương vị độc đáo Rất nhiều món ăn bình dân nhưng hấp dẫn: canh chua cá kèo, chuột đồng xào sả ớt, cháo cá rau đắng, cá lóc hấp bầu, bún mắm Đồng Tháp, bánh canh Trảng Bảng, v.v đã có mặt trong thực đơn của các "làng ẩm thực", nhà hàng sang trọng trong vùng

Bên cạnh đó, mỗi địa phương lại có những đặc sản nổi tiếng của mình Tây Ninh có bánh canh Trảng Bàng, bánh tráng Trảng Bàng Long An có dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, rượu đế nếp Gò Đen Đồng Tháp có bánh phồng tôm Sa Giang, nem Lai Vung, quýt hồng Lai Vung, chuột đồng Cao Lãnh, sen Trà Vinh có cốm dẹp trộn dừa kiểu Khmer, các món đuông như đuông chà là, đuông đất, đuông dừa, mắm rươi, rượu Xuân Thạnh, bánh tét, bánh tráng ba xe,mắm kho, bún nước lèo, lươn um lá cách, cá cháy Cầu Quan, tôm càng nấu lẩu chua cơm mẻ, chuột đồng khìa nước dừa, vọp chong nướng lụi, bánh xèo,bánh ống, bánh canh Bến Có Sóc Trăng có bánh pía, lạp xưởng, bún nước lèo, bánh cống Đại Tâm (Mỹ Xuyên), bò nướng ngói Mỹ Xuyên, bún xào Thạnh Trị, bún gỏi già Hậu Giang

có khóm Cầu Đúc (Vị Thanh), bưởi Năm Roi (Châu Thành), cá thát lát mình trắng (Long Mỹ) Kiên Giang có nước mắm Phú Quốc, rượu sim, bánh tằm bì, tôm khô, phồng mực, bún cá, tiêu, xôi Hà Tiên, bún nước lèo Cà Mau có mắm lóc U Minh, ba khía Rạch Gốc (Ngọc Hiển), sò huyết Bãi Bồi (Ngọc Hiển), tôm khô Bãi Háp (Năm Căn), v.v

Trang 10

Người Khmer Nam Bộ cũng có cơ cấu bữa ăn thông thường là cơm - canh - rau - tôm cá,

với các món ăn đặc trưng như mắm prahoc, canh sòm lo ko kô, bún sòm lo mun mờ chat Mắm prahoc (người Việt gọi là mắm bò hóc) được làm bằng nhiều loại cá, cách làm rất công phu và tốn thời gian (khoảng hơn 4 tháng) Bên cạnh đó còn có các loại mắm pro

ot (bò ót), ơng pa, pơ ling làm bằng tép mồng, tép bạc, và một loại mắm chua rất ngon có tên là pha ơk (mắm chao) Dùng tôm tép trộn muối và cho vào nhiều thính (gạo rang) xong đem phơi nắng khoảng 7-10 ngày Khi ăn người ta trộn với đu đủ xanh thái nhỏ, củ gừng,

củ riềng, ớt, chuối chát xắt mỏng Canh sòm lo ko kô (canh sim lo) thì có cách nấu rất công phu, phải dùng thịt, cá tươi nấu với rau ngổ, chuối rém, hoặc trái đu đủ non và nêm bằng mắm prahoc Đây là món canh phổ thông được dùng ở nhiều nơi Món bún sòm lo mun

mờ chat (bún nước lèo) thì cả người Khmer và người Việt đều có và ưa thích Ngoài ra, người Khmer còn có món canh vừa chua vừa cay vừa béo gọi là sòm lo mò chu được nấu với cơm mẻ rất đặc sắc, hoặc thêm trái chuối xiêm còn xanh và một ít mắm prahoc gọi

là sòm lo mò chu pha le rất ngon

Người Chăm Nam Bộ theo Hồi giáo có những món ăn riêng phù hợp với đạo Hồi, gọi là

các món halal Họ được ăn thịt, nhưng phải là các loại thịt do chính người Chăm Hồi giáo cắt tiết, đọc kinh Riêng thịt heo, thịt chó, thịt của những con vật tự nhiên ngã ra chết hoặc

bị giết bằng cách xiết cổ, đập đầu, bị ngã, bị húc, bị mãnh thú xé xác, thì không được phép dùng Trong tháng chay nhịn Ramadan, người Chăm Hồi giáo phải giữ mình trong sạch và phải chịu thử thách bằng cách nhịn mọi thứ vào ban ngày và chỉ được phép ăn, uống, hút thuốc vào ban đêm

2.Về trang phục, do sống trong môi trường sông nước, nông dân người Việt ở Nam Bộ,

cả nam và nữ, rất thích chiếc áo bà ba và chiếc khăn rằn Chiếc áo bà ba gọn nhẹ rất tiện dụng khi chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu giăng lưới, và có túi

Trang 11

để có thể đựng một vài vật dụng cần thiết Chiếc khăn rằn được dùng để che đầu, lau mồ hôi, và có thể dùng quấn ngang người để thay quần

Trang phục thường nhật của nam giới người Khmer Nam Bộ cũng là bộ bà ba đen, quấn khăn rằn Trong dịp lễ tết, họ mặc áo bà ba trắng, quần đen (hoặc áo đen, quàng khăn quàng trắng chéo ngang hông vắt lên vai trái) Riêng thanh niên hiện nay khi ở nhà thường không mặc áo và quấn chiếc xà rông kẻ sọc Trang phục nữ giới thông thường cách đây ba, bốn mươi năm là xăm pốt, một loại váy bằng tơ tằm, hình ống (kín) Chiếc váy điển hình là loại xăm pốt chân khen, một loại váy hở, quấn quanh thân, nhưng khác nhiều tộc người khác cũng có loại váy này là cách mang váy luồn giữa hai chân từ sau ra trước, rồi kéo lên giắt cạnh hông Họ thường mặc váy trong những ngày lễ lớn, mỗi ngày mặc một màu khác nhau Đó là loại xăm pốt pha muông Ngày nay các loại trên ít thấy, có khả chăng chỉ trên sân khấu cổ truyền mà thôi Thường nhật hiện nay, trang phục của người Khmer giống với người Việt ở địa phương Trong lễ tết, họ lại mặc loại áo dài giống người Chăm

Người Chăm Nam Bộ cũng sử dụng những trang phục dân tộc nhưng có tiếp nhận ảnh hưởng trang phục của các tộc người cộng cư Phụ nữ Chăm khi tiếp xúc với khách hoặc khi ra đường đều đội khăn để che kín tóc, nhưng không phải mang mạng che mặt như phụ

nữ Hồi giáo ở Trung Đông

3.Nhà ở của người Nam Bộ có ba loại chính: nhà đất cất dọc theo ven lộ, nhà sàn cất

dọc theo kinh rạch, và nhà nổi trên sông nước Nhà nổi trên sông nước là nơi cư trú đồng thời là phương tiện mưu sinh của những gia đình theo nghề nuôi cá bè, vận chuyển đường sông, buôn bán ở các chợ nổi, bán sỉ và bán lẻ trên sông

Trang 12

Người Khmer trước đây đều ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều đã chuyển thành nhà đất, nhà sàn chỉ còn phổ biến ở những khu vực gần biên giới Nhà ở của họ ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống với nhà của người Việt và người Hoa Nếu sống trên đất cao thì người Khmer thường làm nhà đất, còn ở nơi đất thấp họ phải cất nhà sàn, nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới thì dùng lá dừa chằm để lợp

Người Chăm Nam Bộ trước đây cũng ở nhà sàn, nhưng ngày nay phần nhiều cũng đã chuyển thành nhà đất Ở miền Đông, người Stiêng vẫn còn sử dụng nhà sàn dài, phù hợp với chế độ đại gia đình phụ hệ, nhưng người Chrau thì phần nhiều cũng đã chuyển nhà sàn thành nhà đất như người Việt

IV.Văn hóa tinh thần :

1.1 Tín ngưỡng tôn giáo

Về tín ngưỡng, là một vùng đất đa tộc người, Nam Bộ cũng là nơi gặp gỡ các tín ngưỡng tôn giáo sẵn có từ Bắc Bộ, Trung Bộ, đồng thời là cái nôi sinh thành những tín ngưỡng tôn giáo mới Vì vậy, đây chính là vùng đất phong phú nhất về tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam Tiếp nối truyền thống của người Việt ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, người Việt Nam Bộ cũng dành ưu tiên cho đạo Phật, kết hợp với tín ngưỡng vạn vật hữu linh và thờ cúng tổ tiên Chùa chiền có mặt ở khắp đồng bằng, đặc biệt là những vùng đồi núi sót, có sơn thuỷ hữu tình Ở Thất Sơn, có chùa Phật Lớn lâu đời, có tượng Phật Di Lặc được sách kỷ lục Việt Nam công nhận lớn nhất cả nước Ở núi Bà Đen, có chùa Bà Đen nổi tiếng, v.v Đạo Phật kết hợp với đạo Lão, đạo Khổng, đạo Kitô, đạo Thánh Mẫu, là cơ sở hình thành đạo Cao Đài trên vùng đất Nam Bộ Tây Ninh là thánh địa của đạo Cao Đài Hiện đạo Cao Đài có 2,7 triệu tín đồ Đạo Phật cũng là cơ sở hình thành đạo Hoà Hảo ở An Giang Hiện đạo này có khoảng 1 triệu tín đồ Các tôn giáo trên cũng là cơ sở làm hình thành nhiều “đạo” khác ở Nam Bộ Những “đạo” này tuy ít tín đồ nhưng cũng góp phần giải quyết nhu cầu tâm linh của cư dân trên vùng đất mới trong lúc các tôn giáo lớn chưa phát triển trong vùng: Bà Rịa – Vũng Tàu có đạo Ông Trần; Bến Tre có đạo Dừa trên cồn Phụng thuộc xã Tân Thạch, huyện Châu Thành, v.v Ngoài ra, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành cũng có đông tín đồ Bên cạnh đó, họ cũng duy trì tín ngưỡng thờ cúng Bà Chúa Xứ ở núi Sam, thờ cúng Thành hoàng ở các đình miếu, thờ cúng Cá Ông ở các làng ven biển

Ngày đăng: 10/03/2018, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w